M ục đích Luận văn muốn khẳng định vai trò quyết định của chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vai trò quyết định của chất lượng nguồn nhân lực trong q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TAO, B ổ i DƯƠNG GIÀNG VIÊN LÝ LUẬN CHINH TRI
LƯƠNG NGỌC BÌNH
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO, ĐÁP ÚNG YÊU CẦU CÓNG NGHIỆP HOÃ - HIỆN ĐẠI HOÂ ĐẤT m m Nước TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAYm m
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của GS.VS Nguyễn Duy Quý Các s ố liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính
khách quan, khoa học Cấc tài liệu tham khảo có nguồn gốc
xu ấ t x ứ rõ ràng.
Hà N ội, ngày 01 tháng 11 năm 2004
Tác giả luận văn
Lương Ngọc Bình
Trang 3MỤC LỤC
T rang
Chương 1 Thực trạng nguồn nhân lực V iệt Nam và vai trò của
giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng nguôn nhàn
lự c 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về sự phát triển và sự phát triển bển vững - vai trò của giáo dục đối với sự phát triển 7
1.2 Một số lv luận vể nguồn nhân lực và chất lượng nguồn lực 17
1.3 Những mặt mạnh của nguồn nhân lực nước ta đã được phát huy trong quá trình đổi mới đất nước [9
1.4 Những yếu kém của nguổn nhàn lực Việt Nam còn tổn tại nhìn từ góc độ giáo dục đào tạo 22
Chương 2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh thời cơ và thách thức giai đoạn phát triển trước m ắt 33
2.1 Bối cảnh quốc tế 33
2.2 Bối cảnh trong nước 43
2.3 Thời cơ và thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong thời đại của kinh tế tri thức 52
Chương 3 Những giải pháp nhằm nàng cao chất lượng nguồn nhân lực qua sự phát triển giáo dục đào tạo 39
3.1 Những căn cứ khoa học để đề xuất siải pháp 59
3.2 Đề xuất các giải pháp 62
3.3 Những giải pháp ưu tiên 69
Kết luận 72
Danh mục tài liệu tham khảo 73
Trang 41 Lí do chọn để tài
Mục tiêu tổng quát của cách mang nước ta đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc là: quyết tâm xâv đựng thành công chủ nshĩa xã hội trên đất nước ta và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển, phát triển nhanh và phát triển bền vững.
Kể từ Đại hội III của Đảng năm 1960 những quan điểm trên của Đảnơ
đã được đề cập rõ và càng được đặc biệt nhăn mạnh qua các kỳ Đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới như Đại hội: Đại hội VI, Đại hội v n , Đại hội v m , Đại hội IX trong đó quan điểm: "Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kì quá độ thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nơhĩa biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến" luôn được ta Đảng ta ngày một khẳng định rõ [4, tr.78-79].
Hiện nay chúng ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhằm xây dựng.một ữền công nghiệp, hiện đại - tạo cơ sở vật chất
kỹ thuật cho CNXH.
Nhân tố con người luôn là nhân tố quyết định sự phát triển của mọi quốc gia trong mọi thời đại, đặc biệt càng quan trọng hơn trong giai đoạn hiện nay của nước ta Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đang là vấn đề cấp bách nhất hiện nay, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phân công lao động quốc tế hiện nay, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đã và đang có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mọi quốc gia nói chung Khi Việt Nam chúng ta đang đứng trước những khó khăn bất cập giữa số lượng và chất lượng của nguồn nhân
MỞ ĐẨ U
1
Trang 5lực, có sự chưa tương xứng giữa thực trạns với tiềm năng hiện có của nguồn nhân lực, khi mà xu thế hội nhập và phát triển là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Vấn đề chất lượn2 nguồn nhàn lưc hiện nay lai càng ơia tăng khi chúng ta tham sia hôi nhập và phàn công lao động quốc tế Mục tiêu tổng quát của sự phát triển kinh
tế xã hội đất nước? giai đoạn trước mắt tới năm 2020, đang đặt ra những vấn'
đề bức thiết cần phải giải quyết kịp thời Làm gì để từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhàn lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá? đưa đất nước bước vào thời kì của sự phát triển nhanh và bển vững, đang là một vấn đề lớn đặt ra cho những người nghiên cứu về vấn đề nguồn nhàn lực cần có lời giải đáp.
Nhận thức rõ tình hình đó, luận văn muốn góp một tiếng nói, đề xuất một số giải pháp thông qua con đường phát triển giáo đục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên đất nước ta hiện nay.
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề chất lượng nguồn nhân lực, nêu ra những yếu kém bất cập về mặt chất lượng của nguồn nhân lực, tính mất cân đối về cơ cấu và chất lượng của đội ngũ nhân lực Việt Nam
và thực trạng chất lượng nsuổn nhân lực chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là khi đặt trong bối cảnh hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa đang là xu thế tất yếu khách quan Các văn kiện của Đảng cụ thể như Nghị quyết Hội nghị TW4 khoá VII, Nghị quyết TW2 khoá VUI, Nghị quyết TW6 khoá IX, chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo từ năm 2001 đến 2010 Đó ỉà những văn kiện quan trọng có tính khái quát cao đã đề cập tới vai trò nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, vấn đề chất lượng nguồn
Trang 6nhân lực của Việt Nam đã được các văn kiện trên để cập tới một cách tổng hợp và hết sức khái quát.
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 M ục đích
Luận văn muốn khẳng định vai trò quyết định của chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vai trò quyết định của chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng để khẳng định: phát triển giáo dục đào tạo là giải pháp thiết thực nhất cho việc nâns cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta trong giai đoạn hiện tại và tương lai lâu dài.
3.2 N h iệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách hệ thống vai trò của giáo dục và mối quan hệ của giáo dục với sự phát triển bền vững cùa xã hội.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng của chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam.
- Vận dụng các quan điểm của triết học, giáo dục để học đề xuất một số giải pháp cụ thể, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng con đường đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đ ố i tượng nghiên cứu
Xuất phát từ tính chấp thiết của vấn đề chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đặt trong hoàn cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập hiện nay, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu của mình là những yếu tố có liên quan đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nước ta, tìm ra những giải pháp để khắc phục tình trạng vếu kém về chất lượng nguồn nhân lực hiện có của nước ta.
3
Trang 74.2 Phạm vi nẹhiên cứu
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đã xác định
ở phần trên do đó phạm vi nghiên cứu của luận văn là: nshiên cứu về thực trạng chất lượns nguồn nhân lực Việt Nam, xét từ góc độ giáo dục - đào tạo.
Những yêu cầu có tính chất khách quan đối với chất lượng nguồn nhân lực đặt trong bối cảnh và viễn cảnh sự phát triển trên thế giới có ảnh hưởng trực tiếp tới nhân lực Việt Nam hiện nay.
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu của luận ván
Đã có một số nhà nghiên cứu viết về nguồn nhân lực của Việt Nam, đã từng đề cập tới những giải pháp chung nhất để nàng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy tiềm năng con người Việt Nam Các cống trình khoa học
đó đã có giá trị về lí luận và thực tiễn rất lớn đó chính ỉà nguồn tài liệu cơ bản
sẽ được tác giả khai thác và trình bày trong nội dung của ỉuận văn Cái mới của luận văn này là góp phần làm sáng tỏ hơn việc phát huy chất lượng nguổn nhân lực trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thông qua lĩnh vực giáo dục - đào tạo với những đề xuất cụ thể trong tình hình, hiện tại của kinh tế - xã hội nừớc ta, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của giáo dục - đào tạo và đánh giá đúng chất lượng nguồn nhân lực căn cứ vào mục tiêu, định hướng của sự phát triển đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trons bối cảnh của hội nhập quốc tế hiện nay.
5.2 Phương ph áp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sẽ sử dụng phương pháp và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hổ Chí Minh, dựa ừên quan điểm của Đảng đã được thể hiện trong các văn kiện qua các kì đại hội Đảng và các hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam, để nghiên cứu và luận giải vấn đề phát huy nguồn lực con nsười, đánh giá một cách khách quan các mặt, các
Trang 8vếu tố trên cơ sở thưc trạng nguồn nhân lực Việt Nam đặt trong bối cảnh trons nước và quốc tế hôm nay cũng như viễn cảnh tương lai gần và xa của sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung trong khu vực và trên thế giới.
- Sử dụns phương pháp logic và lịch sử để làm rõ yêu cầu của công nghièp hoá - hiện đại hoá trong những giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể của đất nước trên từng vùng, từng lĩnh vực kinh tế cụ thể.
- N sh iên cứu tìm hiểu sự liên hệ khách quan, sự tác động qua lại giữa phát triển của giáo dục - đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội, liên hệ biện chứng siữa phát triển chất lượng nguồn nhân lực với phát triển kinh tế - xã hội trons điều kiện của nước ta hiện nay.
- Luận văn dựa trên nguyên tắc tính khách quan và tác động biện chứng giữa lí luận và thực tiễn để đưa ra một số giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong điều kiện hiện tại.
6 Đ óng góp của luận văn
Luận văn muốn góp một số ý kiến nhằm giải quvết những bất cập về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay, bằng con đường phát triển giáo dục - đào tạo, dựa ttên tinh thần các tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nêu rõ trong các văn kiện của Đảng luận văn muốn sẽ bàn
về việc làm gì để thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản và cụ thể của giáo dục - đào lạo là nàng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Gia tăng chất lượng nguồn lực con người, cụ thể là bằng những giải pháp nào đó để nâng cao chất lượns nguồn nhân lực là vấn đề
mà thực tiễn đang đặt ra một cách cấp bách, đâv là vấn đề đang có sự bàn luận rất nhiều với mục đích chung là tìm ra những giải pháp khả thi, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện tại Khơi dậy và phát huy tiềm năng con người Việt Nam một cách tối ưu hoàn thành sứ mệnh lịch sử là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta - đó là một vấn đề có ý
5
Trang 9nshĩa thực tiễn quan trọns và được đề cập nhiều trong nội dung của luận văn nàv từ góc độ đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
7 Kết cấu của luận văn
Nsoài phần mở đầu, luận văn được kết cấu với 10 tiết thuộc 3 chương Chương 1: đề cập tới thực trạng chất lượns nguồn nhân lực V iệt Nam và vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Chươns 2: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh thời cơ và thách thức của giai đoạn phát triển trước mắt.
Chươns 3: những giải pháp nàng cao chất lượng nguồn nhàn lực qua sự phát triển giáo dục đào tạo.
Cuối cùng là phần kết luận, lời cảm ơn của tác giả.
Trang 10THỰC TRẠNG NG U Ớ N NHÂN L ự c VIỆT NAM
VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC Đ ố i VỚI VIỆC NÂNG CAO
C H Ấ T LƯỢNG N G U Ổ N N H Â N Lực
Quá trình đổi mới toàn diện đất nước kể từ sau Đại hội VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát húy tiềm năng
con người Việt nam, hướng vào mục tiêu xâv dựng thành công CNXH trên đất nước ta, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc Việt nam xã hội chủ
nghĩa Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế quản lí kế hoạch
hoá tập trung, sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, đã mở đường cho
mỗi cá nhân có điều kiện phát huy cao độ năng lực bản thân, tham gia vào
mọi hoạt động của xã hội tuỳ theo khả nàng mỗi cá nhân, nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất Nhưng do những điều kiện lịch sừ cụ thể của quá khứ và những
điều kiện khách quan khác của thời kì quá độ của nước ta bên cạnh những
thành tựu quan trọng chúng ta đã đạt được, vẫn còn tổn tại dưới dạng tiềm ẩn
những hạn chế về chất lượng của nguổn nhân lực nhất là khi chúng ta tham gia
vào quá trình hội nhập quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước Những yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực càng bộc lộ rõ ở mức độ
đáng báo động, thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chưa theo
kịp yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, đặt trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đây là vấn
đề hết sức bức xúc Phải làm gì để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực? đang
là một câu hỏi lớn cần lời giải đáp.
Vai trò của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển
Khái niệm phát triển được đề cập ở đây, bắt nguồn từ khái niệm phát
triển của triết học duy vật biện chứng khi nói tới quá trình nội tại sự vận động
Chương 1
7
Trang 11từ tháp lên cao lừ giản đơn đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật hiện tượng, trons hiện thực khách quan.
Theo quan điểm đó, phát triển là một trường hợp đặc biệt tronơ sự vận động tất veil khách quan của hiện thực Trong quá trình vận độns phát triển
đó, sẽ nảy sinh những tính qui định mới cao hơn cả về chất và lượng, nhờ vậy làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, hiện tượng và của sự liên hệ giữa chúng, làm cho cả cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng cùng chức năng vốn có của nó ngàv càng hoàn thiện hơn Trons xã hội sư phát triển của nhân lực biểu hiện ở nâng iực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội với mức độ ngày càng cao trons sự nghiệp xây dựns xã hội tiến bộ
và sự nghiệp giải phóng con người Do vậy sự phát triển của nguồn nhàn lực được biểu hiện cơ bản và chủ yếu ở khả năng Iihận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ và đúng đắn hơn về hiện thực khách quan (tự nhiên và xã hội), cùng với khả nănơ vận dung thiết thực vào quá trình hoạt động thực tiễn - cải tạo hiện thực khách quan của con người.
Trái với quan niệm và phương pháp luận của chủ nghĩa duy tâm, thường tìm nguồn gốc của sự phát triển từ những lực lượng siêu tự nhiên hay từ ở ý thức của con người Chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm nguồn gốc của
sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do việc giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật qui định Phát triển là quá trình vận động tự thân của mọi
sự vật và hiện tượng, là xu hướng chung của thế giới, phát triển là một quá trình khách quan độc lập với ý thức con người Tuy nhiên, việc tháo gỡ những vướnơ mắc để tạo những động lực thúc đẩy sự phát triển theo mục đích xác định, đó lại là việc của con người có ý thức.
Liên hệ với quá trình phát triển của nguồn nhân lực nước ta, chúng ta không thể chỉ dùng ý chí chủ quan mone muốn cho chất lượng nguồn nhân lực phát triển một cách "duy ý trí", mà phải tự giác tìm ra những giải pháp tạo
ra nhữnơ động lực cần thiết cho nó phát triển Với tư tưởng biện chứng duy
Trang 12vật, chúns ta hiểu rằng sự phát triển là: trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướn 2 để dẫn tới cái cao, cái chưa hoàn thiện vừa là tiền đề vừa là cái hiện thực đang chứa đựng những yếu tố để phủ định chính
nó và vươn tới cái hoàn thiện hơn ơ cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu
là sự thay đổi khách quan về phươns thức của vận động vật chất từ tăng trưởng tạo ra tiến hoá phân hoá, chuyển hoá, mở rộng và cuối cùng tạo ra sự biến đổi
về chất của sự vật hiện tượng trong đó có chất lượng nsuồn nhân lực Sự phát triển đó diễn ra theo đường xoáy ốc đi lên, con đường của sự phát triển không diễn ra đơn thuần là một đường thẳng hay một đường tròn khép kín mà nó là con đường quanh co, gổm cả những bước dùng lại, những bước thụt lùi; nhưng
xu thế tiến lên vẫn là xu thế bao trùm tất cả các bước phát triển của sư vật hiện tượng Trong chu kỳ của các bước phát triển, có hiện tượng sự vật dường như lặp lại cái cũ, nhưng thực chất nó đã ở một trình độ cao hơn, qui m ô rộng lớn hơn, trong thực tiễn đó là những bước thăng trầm của lịch sừ - xã hội mang tính khách quan, tất yếu do những yếu tố khách quan của hiện thực quy định.
Hoạt động kinh tế là một hoạt động thực tiễn mang tính đặc thù của xã hội loài người, do con người làm chủ thể và nhằm vào những mục đích cụ thể xác định phục vụ đời sống con người Quá trình phát triển kinh tế, gắn liền với quá trình phát triển con người và xã hội loài người, sự phát triển kinh tế đặt nền tảng cho sự phát triển hài hoà cân bằne toàn vẹn của con người Hay nói cách khác nàng cao chất lượng nguồn nhàn lực là để phát triển kinh tế và chính sự phát triển kinh tế lại tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị, kinh
tế với văn hóa, kinh tế với giáo dục, y tế Phát triển sản xuất luôn là cội nguồn của mọi sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế - xã hội luôn hàm chứa nội dung phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ỉà công việc thiết thực mà giáo dục - đào tạo đóng góp vào trong hoạt động thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
9
Trang 13Trong những năm đầu ra đời lĩnh vực kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế nhìn chung được xem như đồn? nghĩa.
Tuy nhiên theo thòi gian của chính sự vận động trons nhận thức xã hội, người ta ngàv càng thấy rõ rằng tăng trưởng kinh tế dù bản thân nó hiển nhiên
là điều kiện cần, sons chưa phải là điều kiện đủ để đảm bảo tâng phúc lợi xã hội và nâng chất lượng cuộc sống.
Ân trong khái niệm phát triển kinh tế là cái ý niệm về sự tiến bộ xã hội Phát triển kinh tế do đó có hàm nghĩa là sự tăng trưởns cùns với sự tăng cường chất lươns cấu trúc và thể chế của kinh tế - xã hội mà con người là chủ thể Chúng liên quan đến các mục đích không chỉ gia tăng kinh tế vật chất mà còn là sự biến đổi về chất của quá trình xã hội hóa như vãn hoá, giáo dục y tế, còng bằng xã hội, dân chủ xã hội Tăng trưởng kinh tế được thực hiện gắn với tái sản xuất mở rộng, trong đó tái sản xuất mở rộng còn được thực hiện theo hai con đường là tái sản xuất mờ rộng theo chiều rộns và tái sản xuất mờ rộng theo chiều sâu, tái sản xuất mờ rộns theo chiều rộng mans tính hữu hạn do nó phụ thuộc vào số lượng của tư liệu sản xuất, còn tái sản xuất mở rộns theo chiều sâu dựa trên nền tảng của sự phát triển tri thức con người, và ià không có giới hạn Do đó tăng trưởng kinh tế trẽn nền tảng của tái sản xuất mờ rộng theo chiều sâu, là đặc trưng của sự phát triển bền vững.
Cuối thập kỉ 80 của thế kỷ XX lí thuyết về phát triển kinh tế ghi thêm một đóng góp mới là xuất hiện khái niệm "phát triển bền vững".
Phát triển bền vững được hiểu là giai đoạn sau của sự phát triển là những bước tiến hơn hẳn cả về số lượng và chất lượng so với giai đoạn trước,
xu thế đi lên nhanh và mạnh là xu thế bao trùm toàn bộ các bước phát triển.
Phát triển bền vững còn là sự hài hòa của tất cả các yếu tố có liên quan như phát triển kinh tế mà không ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục, tới ván đề
m ôi trường sinh thái, tới vấn đề việc làm và thu nhập của người iao động, vấn
đề dân chủ xã hội, vấn đề công bằns giữa các tấna lớp dân cư và khổng ảnh
Trang 14hưởng tới sự phát triển bình thường của các thế hệ tương lai do nguồn tài nguvên không bị khai thác cạn kiệt hoặc nợ nần chổng chất.
Phát triển bền vững, trên phươns diện kinh tế là sư đồng bộ và phù hơp giữa lực lượns sản xuất với quan hệ sản xuất cả về tính chất và trình độ, được đặt trons mối quan hệ hài hòa với xu thế phát triển chung của kinh tế - xã hội của khu vực và thế giói.
Phát triển bền vững (XHCN), là tăng trưởng kinh tế gắn liền công bằng
và tiến bộ xã hội, luôn luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển, phát triển kinh tế bầnơ mọi giá là hết sức xa lạ với khái niệm phát triển bền vững (XHCN).
Phát triển bền vững là sự phát triển dựa vào nội lực là chính, nhân tố cơ bản có tính quvết định là chất lượng nguồn lực con người (nội lực) trên cơ sở biết vận dụng hợp lý những nguồn lực từ bên ngoài.
Phát triển bền vững là đổng thời với sự phát triển kinh tế thì bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc vẫn luôn được bảo tổn và phát triển, bèn cạnh khả năng tiếp thu chọn lọc tinh hoa vãn hóa thế giới cũng không ngừng được nâng cao,
A -peccei - chủ tịch câu lạc bộ Rôma, thời gian đó đã cảnh báo 10 vấn
đề cơ bản, mang tính chất toàn cầu, mà mọi quốc gia và dân tộc cần phải ra sức giải quyết.
(1) Sự bùng nổ dân số và dân số đông làm gay gắt thêm tất cả các vẫn
đề khác.
(2) Việc thấu hiểu những kế hoạch và những chương trình hành động thoả mãn những yêu cầu cơ bản của đại đa số dân cư.
(3) Sự tàn phá và thoái hoá môi trường sinh thái.
(4) Sự khủng hoảng của kinh tế thế giới gây nên sự nghi ngờ đối với tương lai của bản thân hệ thống công nghiệp.
(5) Việc chạy đua vũ trang và quân sự hoá thế giới.
11
Trang 15(6) Sư suv thoái của đạo đức xã hội, tha hoá, thờ ơ, nghiện ma tuv, tội
ác, bạo lực khủng bố tự sát, diệt chủng.
(7) Tính chất vỏ chính phủ của việc phát triển khoa học kĩ thuật mà chi phí và kết quả được phàn bố ngàv càng không đồng đểu.
(8) Tính chất sià cỗi và xơ cứng của cái thể chế chính trị.
(9) Các sự đối đầu về chính trị, sự rạn nứt trong quan hệ Bắc-Nam, hậu quả của việc chưa trường thành về chính trị và tâm lý của một số đông cộng đồns và của các thủ lĩnh các cộng đổng này.
(10) Sư phá sản vể đạo đức và chính trị của một số thủ lĩnh.
Từ sư cành báo của Apeccei và của những người trong câu lạc bộ Rôma, nhiều hội thảo quốc tế về các vấn đề của toàn cầu đã đi đến kết luận: Sự phát triển của cuộc sốns hiện tại phải đạt tới sự phát triển bền vững.
Thuật ngữ "Phát triển bền vững” ra đời năm 1987 trong báo cáo của uỷ ban quốc tế về môi trường và phát triển.
G.HBrunthand là người đầu tiên phát biểu về khái niệm này Ý tưởng phát triển bền vững biểu thị sự hài hoà, đổng tiến hoá và cộng sinh giữa con người xã hội và giới tự nhiên, trong mối quan hệ này con người là trung tâm Phát triển bền vững được hiểu là sự tương tác hài hoà giữa xã hội của con người và cá nhàn nhằm bảo vệ sinh quyển mà con người đang sống trong đó
và bảo đảm sự phát triển lâu dài vô hạn của con nsười Mục đích của sự phát triển bền vững là siải quyết mâu thuẫn giữa nền văn minh và sinh quyển, các mâu thuẫn có thể dẫn đến sự diệt vong của cả hai nếu không có sự tỉnh táo khắc phục kịp thời Vấn đề đặt ra là, con người nói chung của m ỗi quốc gía, cần có một năns lực mới, nhận thức mới để một mặt vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế, mặt khác vừa đảm bảo sự dân chủ và hài hoà giữa con người với con người cũng như giữa sự hài hoà con người với mỏi sinh môi trường của họ Trong mối quan hệ nói trên con người là trung tâm và phụ thuộc phần lớn vào
Trang 16chất lượng người vào trong sự tương tác hài hoà giữa con người (cá nhân) với
xã hội và với tự nhiên.
Giáo dục có vai trò to lớn, giúp cho sự phát triển bền vững của xã hội biểu thị trên 3 mặt: giáo dục với sự phát triển cá nhân, giáo dục với sự phát triển xã hội và giáo dục với sự phát triển của kinh tế.
Theo nghiên cứu của giáo dục học và tâm lí học, mỗi cá nhân ngay từ khi sinh ra đều chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là: di truyền, điều kiện môi trường
và hoàn cảnh siáo dục [32, tr.36] Bên cạnh sự ảnh hưởng quan trọng của yếu
Cố di truyền và môi trường cùng góp phần hình thành giá trị nhân cách cho cá nhàn, thì giáo dục nổi bật lên là yếu tố chủ yếu và giữ vai trò quyết định cho
sự phát triển nhân cách cá nhàn Đây là quan điểm duy vật về xã hội, đã bác
bỏ quan niệm duy tâm tôn giáo về sự hình thành nhân cách con người: là do các lực lượng siêu tự nhiên quyết định "cha mẹ sinh con trời sinh tính".
Bác bỏ quan điểm duy tâm tổn giáo đó, Hồ Chí Minh khẳng định:
"Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy phàn ra ke' dữ hiền
Hiền dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nền (N hật ký trong tù - HCM) [29, tr.383]
Theo Người, giáo dục đã góp phần nhiều và chủ yếu cho việc hình thành nên giá trị nhàn cách cá nhàn, mà cốt lõi của nó là đạo đức của mỗi cá nhàn đó.
* Giáo dục với sự p h á i triển của x ã hội:
Xã hội, trong bản thân nó đã chứa đựng 2 khả năng là x ã hội hoá và
phân hoá.
Với xã hội hoá, được hiểu là mức độ mặt bằng tối thiểu của nhân cách đạo đức và sự hiểu biết cá nhân, để cá nhân có thể sống trong xã hội, trong sự hòa nhập bình thường với xã hội: "Phàm đã là con neười" cá nhàn phải đảm
13
Trang 17bảo mức độ tối thiểu như vậy Dù là tối thiểu, thì yếu tố xã hội hoá cũng không phải tự nhiên sẵn có mà phải nhờ có sự giáo dục nhất định của nhà
"trường và cộng đồng Sự giáo dục này mang tính đa phương, tự nhiên và rất phons phú về hình thức, mang tính giai cấp và thời đại.
Tính chất phàn hoá của xã hội, đó là kết quả tất yếu trong sự vận động
xã hội của các cá nhân phân hoá xã hội làm cho các cá nhân sống trong xã hội
ở cùng một thời cũng có sự khác nhau nhất định về nãng lực, sở thích, nghề nghiệp và địa vị xã h ộ i Quá trình này diễn ra một cách tự nhiên chậm chạp
và mò mẫm dưới sự tác động của các điều kiện sống như môi trường tự nhiên
cụ thể, môi trường xã hội cụ thể, điều kiện kinh tế và yếu tố bẩm sinh, di truvển Vai trò tích cực là giáo dục? giáo dục đã tác độns đến quá trình phân hoá này giúp cho nó diễn ra nhanh hơn, đúng hướng và hợp lí hơn ưên cơ sở căn cứ vào nãng lực vốn có của từng cá nhân và những điều kiện cụ thể của nó qua đó mà giúp cho quá trình sống và làm việc của cá nhân đạt hiệu quả cao hơn, thuận lợi hơn.
Hai quá trình phân hoá và xã hội hoá gắn bó hài hoà với nhau trong sự tác động của giáo dục, hai q.uá trình này rất cần có sự quản lí, điều chỉnh của các cấp quản lý vì sự phân hoá tự nhiên có khả nâng dẫn đến sự phân cực xã hội một cách tiêu cực - cội nguồn của những mâu thuẫn xã hội phức tạp cản trở sự phát triển hài hoà của xã hội nói chung.
* Giáo dục với sự p h á t triển của sản xuất và kỉnh tế:
Trước đây không ít những quan điểm cho rằng giáo dục đứng ngoài quá trình hoạt động kinh tế và họ xếp giáo dục thuần tuý nằm ờ kiến trúc thượng tầng xã hội Thực chất không phải như vậy, giáo dục đã góp phần quyết định quá trình tái sản xuất thông qua việc tổng hợp, lưu trữ, tái tạo, sáng tạo và - truyền thụ những tri thức những kinh nghiệm thực tế, của những thế hệ trước
và của hiện tại cho cá nhân, giúp cho cá nhân hoạt động kinh tế trong thực tiễn hiệu quả hơn Con người lao động sản xuất bằng vốn tri thức "chất xám" là
Trang 18chủ yếu và ngàv một gia tăng thông qua con đường giáo dục - đào tạo, con n°;ười hướng dẫn trao đổi kinh nghiệm cho nhau nhầm mục đích ngàv một ngày hiệu quả lao độna xã hội Con người thời hiện đại sở đĩ khôn ngoan hơn
tổ tiên của họ là do họ biết "đứng trên vai người khổng 16" cái chính đó là khối lượng tri thức khổng lồ của quá khứ để lại và những tri thức hiện đại, thông qua con đườns giáo dục đào tao, nhữnơ tri thức đó "biến thành1' của cá nhân, một cá nhân hiểu biết rõ quá khứ, hiện tại thì từ đó mà có thể tiên đoán tương đối chính xác tương lai một khách thể nhất định vốn tri thức cá nhân thu nạp được thông qua nhiều con đường của quá trình giáo dục, năng lực lao động và hiệu quả lao động tỷ lệ rhuận vói khối lượng - chất lượng của vốn tri thức đó, đây cũng là những biểu hiện phong phú của giáo dục cộng đổng trong một xã hội học tập, con người không chỉ học tập trong nhà trường mà còn học ngoài xã hội, học trong quá trình lao động, học thầy, học bạn Học suốt đời Học để sống, để làm việc, để hòa nhập, để vươn lên.
Giáo dục và văn hoá là hai phạm trù đồng giá trị, cùng; hướng tói mục riêu phát triển của một xã hội nhất định, giáo dục và văn hoá làm nền tảng cho nhau, tác động qua lại thúc đẩy nhau cùng phát triển Tuy nhiên giáo dục và
văn hóa vừa có sự thống nhất nhưng không phải là đồng nhất và vừa có
những đặc trưng phân biệt giữa giáo dục với văn hóa.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá và một nền văn hoá, song
có một nét chung: văn hoá là nền nếp, là kết quả của quá trình lưu giữ, vun đắp và phát triển, trên cơ sở những bản sắc riêng của mỗi dân tộc ứng với
những thời đại nhất định Trong hoàn cảnh hiện nay của một th ế giới m ở cửa,
văn hoá được mọi người chú ý, tầm auan trọng của văn hoá được nêu lên hàng đầu khi nó hàm chứa ý nghĩa giáo dục UNESCO thừa nhận vãn hoá là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội Trong những nước tiên tiến, sự chi tiêu cho văn hoá asày càng lớn, vượt cả sự chi tiêu để sinh sống Kinh doanh văn
15
Trang 19hoá trờ thành một ngành lớn đem lại thu nhập khôns kém thu nhập công nghiệp và thương nghiệp Sản phẩm văn hoá là một thứ sản phẩm không thể xuất khẩu, nhập khẩu một cách đơn thuần như mọi hàng hoá thông dụng, văn hoá là thứ "cho không và nhận không" thông qua sự lan tỏa, ảnh hưởng và chịu sự ảnh hưởng của một nền văn hoá nào đó với một nền văn hoá khác Với vấn đề này giáo sư Phan Ngọc đã hết sức nhấn mạnh đến "Kiểu lựa chọn" [26, tr 15] mang tính bản sắc của một nền vãn hóa nhất định.
Nói tới cách ảnh hường và cách chịu ảnh hưởng của văn hoá dân tôc vớiW • .
các nền vãn hoá khác, đặt trona hoàn cảnh của một thế giói mở cửa hiện nay đang là vấn đề cần được tập trung quan tâm Do đó giáo dục nâng cao dân trí giúp cho còng chúng có kiểu lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình
Giáo dục làm tăng sức đề kháng cho quần chúng trước tác hại xâm thực của các yếu tố phản văn hoá, và văn hóa còn là yếu tố sia tâng chất lượng nguồn nhản lực, mang bản sắc một dân tộc nhất định.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" [10, tr.72] để trong quá trình hội nhập, chúng ta hoà nhập mà không hoà tan, không mất bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam Chúng ta kiên định đi theo con đưcmg xã hội chủ nghĩa, sống chiến đấu lao động và học tập theo gương Bác Hổ vĩ đại, để có một thế hệ con người Việt Nam "vừa hồng, vừa chuyên'' phấn đấu cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Chúng ta xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng cách riêng của chúng ta, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của chúng ta
Đó chính là cách lựa chọn, thể hiện bản sắc văn hoá Việt Nam, trong đó
không thể thiếu vai trò tác động, hướng đạo của giáo dục - đào tạo c Mác đã tiên đoán từ những năm 40 thế kỉ XIX: khoa học kĩ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp điều đó đã được thực tiễn chứng minh, đặc biệt càng
rõ nét hơn trong thời đại kinh tế tn thức hiện nay Nsoai ra, giáo dục- đào tạo
Trang 20còn góp phần xây dự ns quan hệ sản xuất, đó là quá trình tổ chức phàn cônơ
lao động ch o hợp l í hơn, phàn phối sản phẩm côn g bằng hơn, quan hệ xã hội tiến bộ hơn, văn m in h hơn, ngày càng phù hợp cả về tính chất và trình độ với lực lượng sản xuất hiện tại Có thể khái quát là ư ên cả 3 phương diện: sự phát
triển cá nhân, sự phát triển xã hội và sự phát triển của sản xuất; giáo dục - đào tạo vừa là động lực chủ yếu, vừa là yếu tố quvết định nàng cao chất lượng
ngu ổn nhân lực củ a quốc g ia trong m ọi thời đại, trong đó g iáo dục, văn hoá và lao động sản xuất là những yếu tố gắn bó hữu cơ trong m ối quan hệ biện chứng của quá trình phát triển.
1.2 Một sô lí luận V6 ngucn nhan lực và chất lirợng nguồn nhân lực
Nhân lực là sức của con người bao gồm sức lực cơ bấp gọi là (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí
lự c), cùn g với những ham m uốn hoài bão của bản thân người lao đ ộ n g hướng tới m ột m ục đ ích x á c định g ọ i là (tâm lực) T óm lại, nhân lực với ý n ghĩa đầy
đủ của nó bao g ồ m 3 y ếu tô" có sự hên hệ biện chứng hài hoà với nhau là, thể
lực, trí lực và tâm lực.
"Nguổn là nơi phát sinh, nơi cung cấp" [39, tr.719] trong trường hợp
này nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh nơi cung cấp sức của con người
trên đầy đủ cá c phương d iện cho lao độn g sản xuất.
T rong thời đại ngày nay, đội với tất cả các quốc gia v iệc huy độn g, xác định đúng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực m ang ý nghĩa to lớn và quan
trọng hàng đầu trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì
vậy ở nhiều q u ố c gia , co n người được đặt vào vị trí trung tâm trong toàn bộ
.chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước ta, khi chiến lược phát triển
đất nước được xác định là "Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại koá đất nước” theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước
m ạnh, x ã h ội c ô n g bằng, dân chủ, văn minh" thì viộc xác định đúng n gu ồn lực
17
Q u ốc GiA HÀ NỘI
Trang 21co n người là n su ổ n lực quan trọng nhất, quyết định tiến trình đẩy mạnh cô n g
n sh iệ p hoá - hiện đại hoá, càng m ang ý nghĩa lớn lao hơn bao g iờ hết.
Khi xây dims chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện
nay, Đ ảng ta đã chi rõ những nguồn nhân lực làm cơ sở cho quá t ìn h côn g
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đi đến thắng lợi gồm: Nguồn lực con người
V iệ t N am hay còn gọi nguồn nhân lực V iệt N am , cùng với ngu ồn lực tự nhiên
như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí, cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học -
kĩ thuật hiện có của nước ta, cộn g với hoài bão ước m ơ của con người V iệt
nam muốn vươn dậy trong hoàn cảnh hiện tại nói gọn lại là nguồn nội lực
Bên cạnh nội lực còn có nguồn ngoại lực: bao gồm vốn, công nghệ, kinh
n g h iệm quản lí từ nước ngoài, và các hoàn cảnh; thời cơ đang tồn tại có ảnh hưởng tới quá trình xây dựng đất nước ta hiện nay V iệ c xác định các nguồn lực trên là hoàn toàn đúng đắn, vấn đề làm th ế nào để khai thác tốt nhất các ngu ồn lực đó lại phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn lực con người Các ngu ồn lực vật chất khác đều có thể bị khai thác cạn kiệt, duy nhất chỉ có
nguồn lực con người đi với chất lượng của nó là nguồn lực không bao giờ cạn
k iệt, nó có khả năng tái sinh và gia tăng trong quá trình được sử dụng với điều
kiện nó cần có một hành lang pháp lý và một động lực tác động đúng hướng
"Tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết" [31, tr.41], qua đó cũng có nghĩa khẳng định con người là một nguồn lực chủ yếu nhất, lâu bền nhất trong sự phát triển nhân loại Các nguồn lực khác s ẽ không được sử dụng có hiệu quả
nếu không có những con người có đủ khả năng khai thác chúng, các nguồn lực
khác có phát huy được hay không phụ thuộc vào chất lượng của nguồn lực con người Nói tới chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói tới khả năng lao động
củ a con người dựa trẽn cơ sở hàm lượng chất xám cao, n gh ĩa là người lao
đ ộ n g làm v iệc bằng trí lực là chủ yếu cộn g vói tinh thần hăng say năng động,
sá n g tạo, dám nghĩ, dám làm đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày m ột tốt
để đủ sức cạnh tranh trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay Chất lượng nguồn
Trang 22nhân lực là một biểu hiện của trình độ của lực lượng sản xuất về khả năng
chinh phục tự nhiên, khả năng làm chủ khoa h ọc cô n g ữghệ hiện đại, khả năng
c h ế tạo cô n s cụ lao động tinh xảo hiện đại và trình độ quản lí vận hành một
nền sản xuất x ã hội.
Chất lượng nguổn nhân lực còn phụ thuộc vào sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với lực lư ợ n s sản xuất về tính chất và trình độ và chất lượng nguồn
nhân ỉực tỷ lệ thuận với mức độ của sự phù hợp này, căn cứ vào đó Chính phủ
có những chủ trương, chính sách, giải pháp, phương pháp, biện pháp cụ thể để
n â n s cao chất lượng nguồn lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần hội đủ các yếu tố
thuận lợi từ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng của xã hội.
huy trong quá trình đổi mới đất nước
Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, cùng với sự phát triển của
kinh tế-xã h ộ i, nguồn nhân lực của nước ta đã có những tiến bộ đáng kể
Trong điều k iệ n của cơ c h ế quản lí kinh r.ế m ở cửa, hạch toán kinh doanh xã
hội chủ nghĩa - sự "cởi trói" này đã thực sự giúp cho người lao động Việt Nam
nói chung c ó m ộ t m ô i trường m ớ i phù hợp đ ể phát triển Ý thức tự quản, tự
chịu trách nhiệm, tính năng động sáng tạo của người lao động từ đó được
nàng cao; tinh thần dám nghĩ, dám làm có c ơ h ội được phát triển trong m ôi
trường kinh tế - xã hội mới.
Đ ể phù hợp với trình độ nhận thức h iện có của người lao động nước ta
trong điều kiện nền kinh tế chưa thật hiện đại, tư liệu sàn xuất còn hạn chế và
lạc hậu, Đ ản g và N h à nước đã có những chính sách khoán như khoán sản
phẩm trong lao độn g còn g nghiệp, khoán doanh thu trong doanh nghiệp
thương mại, giao đất, giao rừng cho bà con đồng bào các dân tộc vùng cao,
.khoán ruộng - trao quyền sử dụng đất lâu dài vói thòi hạn 20 năm, 30 năm, 50
19
Trang 23năm đó là sự điểu chỉnh quan hệ sản xuất cho thực sự phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hiện có của ta khiến cho người lao động của chúns ta vên tâm đầu tư, phát triển sản xuất, V thức làm chủ trong lao động
sản xuất đã thực sự được khơi dậy và phát huv tốt.
Truyền thống cần cù, nhẫn nại không ngại khó ngại khổ, không chọn
việc của người lao động Việt Nam trong giai đoạn nàv càng được phát huv
mạnh mẽ, mọi người hăng say làm việc không phàn biệt đó ià côns việc nặng
nhọc hav nhẹ nhàng, "sang hay hèn", chỉ với mục đích nâng cao thu nhập
chính đáng để cải thiện đời sons, thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Phong trào thi đua cách mạng- đua nhau làm giàu hợp pháp, đua nhau
sáng tạo áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, ỹ thức cạnh tranh trong cơ
ch ế mói đã xuất hiện và phát triển trong hành lans pháp lý - kinh tế lành
mạnh Từ thực tiễn những vùng đất trống đồi trọc, những vùng hoang hoá xưa
kia, nay đã được khai thác ưở thành các trang trại, những cơ sở kinh tế đem lại
hiệu quả rất cao; vẫn chính những con người trước đây nghèo đói, thụ động
nay đã có thể trở thành những chủ trang trại, những nhà doanh nghiệp vừa và
nhỏ rất nãrig động và sắc sảo trong sản xuất kinh doanh từ thực tiễn thuyết
phục đó lại càng cổ vũ mạnh hơn cho phong trào thi đua cách mạng nói trên.
* Có những ưu điểm nêu ưên trước hết phải nói tới là do đường lối đổi mới đúng đắn hợp qui luật của Đảng ta, những chủ trương chính sách phù hợp
với lòng dân và phù hợp thực tiễn đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện tại,
ngoài ra còn do số lượng người trong độ tuổi lao động của nước ta dổi dào, có
trình độ văn hoá phổ thông (xét về bằng cấp) vào loại tương đối cao so với khu
vực và thế giói, người dân có nhu cầu vươn lên xoá đói giảm nghèo làm giàu
chính đáng lại được đặt trong điều kiện của cơ chế kinh tế mới - mở cửa và hội
nhập quốc tế đã tiếp sức cho những mặt mạnh tiềm tàng của nguồn nhân lực
nước ta có dịp được thể hiện.
Trang 24Cũng trên đà phát triển đó, nhìn từ góc độ của giáo dục đào tạo hiện nay, chúng ta thấy sự phát triển cùa nguồn nhân lực được biểu thị qua những con số sau: tổng số giáo viên, giảng viên toàn ngành là 865.485 người tăng 24% so với năm học 1995 - 1996 Trong đó số giáo viên mầm non và phổ thông là 823.091 nsười tăng 32%, số giáo viên trung học chuyên nghiệp là 10.189 người tăng 15%, số d á o viên đại học, cao đẳng là 32.205 tăng 45% về chất lượng đội ngũ, đến đầu năm học 2000-2001 đã có 42,25% giáo viên mầm non, 78,5% giáo viên tiểu học, 85,62% giáo viên trung học cơ sở và 95,8% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ chuẩn theo qui định của luật giáo dục.
Trong tổng số 10.189 giáo viên trung học chuyên nghiệp có 31 tiến sĩ,
544 thạc sĩ, 7882 giáo viên đã tết nghiệp đại học cao đẳng, 1151 giáo viên có trình độ trung học Số giáo viên đạt chuẩn chiếm 83% Trong tổng số 32.205, Giảng viên đại học và cao đẳng có 1454 giáo sư và phó giáo sư, 4500 tiến sĩ
•và tiến sĩ khoa học, 9.543 thạc sĩ và 681 chuyên khoa cấp I-n [27, tr.29-30].
Nhìn tổng quan trên tất cả các mặt của nguồn nhân lực, chúng ta thấy
kể từ khi đổi mới tới nay chất lượng nguồn nhân lực của nước ta bước đầu đã
có những tiến bộ đáng kể mặt bằng chất lượng đã được nâng lên, tuy nhiên so với mặt bằng chung của khu vực, chất lượng nhân lực nước ta mới chỉ đạt ờ trình độ thấp, lao động giản đơn bằng sức lực cơ bắp vẫn là chính chưa ở trình
độ lao động phức tạp, khả năng cập nhật và tiến sâu vào khoa học cồng nghộ hiện đại chưa cao.
V iệc phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vai trò trước hết thuộc về con người và cụ thể nằm ờ khâu phát triển giáo dục - đào tạo để nâng cao năng lực sẵn có và hình thành các năng lực mới cho người lao động Việt Nam chính là việc chuẩn bị hành trang cho con người bước vào thời đại phát triển sản xuất mới của thế giới đó là thời đại kinh tế tri thức nhằm đáp ứng yêu cầu trên, nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng con đường phát triển giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay, đó là nhiệm vụ vừa
cơ bản vừa lâu dài của giáo dục và đào tạo.
»
21
Trang 251.4 Những yếu kém của nguồn nhân lực Việt Nam còn tổn tại nhìn
từ góc độ giáo dục - đào tạo
Kỉ neuyèn phát triển của loài nsười đã bắt đầu, vấn đề đầu tư cho phát triển nguồn nhàn lực được coi là vấn đề quan trọng nhất hiện nav Đầu tư phát triển nguồn nhân lưc hiện được hiểu trên các khía cạnh sau: Chăm sóc sức khoẻ, nâng cao thể lực cho người dân nói chung và cho người lao động nói riêng; nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần để dân trí được nans cao, siúp người lao động có điều kiện tiếp cận và hội nhập với nhịp
độ của đời sống kinh tế hiện đại Phát triển giáo dục - đào tạo có vị trí quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhàn lực Để hội đủ 3 yếu
tố trí lực, thể lực và tâm lực,nghĩa là để nguồn nhàn lực của chúng ta cần có chất lượng cao "vừa hổns vừa chuvên" để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, chúng ta không thể COI nhẹ vai trò của giáo dục - đào tạo, điều đó càng đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn mà chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Khái niệm đào tạo được hiểu:
"Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sư phân công lao động nhất định phải góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người, v ề cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường phải gấn liền với giáo dục đạo đức nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc
tự đào tạo của người đó quyết định, thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả thực sự Tuỳ theo tính chất chuẩn
bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp.
Trang 26Hai loại đào tạo này gắn bó và hỗ trợ cho nhau vói những yêu cầu sản xuất và yêu cầu của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học kĩ thuật và văn hoá của đất nước quy định Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo Có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên môn, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa" [38, tr.735].
Tất cả các nước khi bước vào thế kỉ XXI đều nhận thức rằng sự phát triển của quốc gia nhờ vào nguồn lực số một là nguồn lực con người, trong đó chất lượng của nguồn lực này được nâng lên không thể bằng con đường nào khác ngoài việc đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo Giáo dục - đào tạo phát triển được coi là điều kiện đảm bảo cho một quốc gia có một nển kinh tế, nền văn hoá phát triển bền vững thông qua "chiến lược con người" Thủ tướng Phạm Văn Đổng người đầu tiên đề cập tới khái niệm "Chiến lược con người" ở Việt Nam Chúng ta hiểu rằng khi cả thế giới đều đã nhận thức và coi trọng nhân tố con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đứng từ góc độ của mỗi quốc gia thì họ cũng sẽ có cách tiếp cận và cách tác động để khơi dậy nguồn lực số một này tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của họ ở nước ta ngay từ khi đổi mới, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng nguổn lực số một này Trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khỏi sướng và trực tiếp lãnh đạo kể từ Đại hội VI của Đảng tới nay, nhân tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho công cuộc đổi mới đến thắng lợi Hội nghị Trung ương 4 khoá v n của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ 3 nhiệm vụ cơ bản của giáo dục - đào tạo là: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài", đó là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhàn lực Việt Nam Tuy vậy trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ cách mạng được Đảng đã giao phó, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ còn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước trong thời đại mới Đổng chí Tổng bí thư Đỗ Mười trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Trung ương 2 khoá v m đã nhận định: "Qua 10
23
Trang 27năm đổi mới, các ngành giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ đã có nhiều
cố sắng, đạt những thành tựu quan trọng Sons phải thừa nhận rằng những kết
quả đó vẫn còn thấp so với yêu cầu ngày càne cao của đất nước và mong mỏi
ngày càng lớn của nhân dân, nhất là trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước vì vậy cùng với sự nâng cao nhận thức đối với giáo dục -
đào tạo, chúng ta phải hiểu sâu sắc vai trò của khoa học côn 2 nghệ trong việc
phát huy nhân tố con người Để thực hiện được mục tiêu cách mạng từ nay tới
năm 2010 và năm 2020, trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn
lực con người là quý báu nhất có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta
khi nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất còn hạn hẹp" [12, tr.12] Nhìn từ
góc độ của giáo dục - đào tạo chúng ta thấy chất lượng của nguồn nhân lực
nước ta nổi rõ những yếu kém sau đây:
* Chất lượng giáo đục đại trà còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự phát triển kinh tế - xã hội, rriặc dù số lượng học sinh giỏi đạt giải trong các
kì thi quốc sia và quốc tế ngày một tăng thì bèn cạnh đó chất lượng giáo dục
đại trà còn thấp, biểu hiện tình trạng phiến diện, mất cân đối của giáo dục đào
tạo trong những năm qua, còn có khoảng cách xa giữa sản phẩm của giáo dục
- đào tạo với yêu cầu thực tế của phát triển kinh tế - xả hội Nghị quyết TW2
khoá v n i đã có nhận định: "giáo dục - đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém bất
cập cả về qui mô, cơ cấu và nhất là về chất lượng và hiệu quả chưa đáp ứng
lộp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới
kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [12, tr.25].
ỏ nước ta hiện nay, chất lượng nguồn nhàn lực là yếu tố quyết định sự
thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như sự
thành công của quá trình hội nhập với loàn cầu hoá kinh tế Để có được thành
công như mong muốn, chúng ta phải giải quyết những vấn đề không nhỏ trong
quá trình phát triển nguồn nhân lực: phải khắc phục tình trạng nguồn nhân lực
Trang 28với tỉ lệ qua đào tạo thấp như hiện nay: tỷ lệ sinh viên trên dân số thấp (118
sinh viên/1 vạn dân), chất lượng lao động chuyên môn kĩ thuật còn hạn chế
theo nhận định của Nghị quyết TW2 khoá VIII "Tỉ lệ sinh viên trên một vạn
dân còn thấp; Tỉ lệ lao động qua đào tạo mới đạt hơn 10% (tính đến năm
1997) nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao độns và cán bộ có tay nghề và
trình độ kĩ thuật và nghiệp vụ cao” [12, tr 23].
Hiện nay qui mõ lao động qua đào tạo và chất lượng chuyên môn kĩ
thuật của chúng ta vẫn còn có khoảng cách xa so với các nước NĨCS (các nước
công nghiệp mới) và các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Trình
độ văn hoá binh quàn của người lao động 7,4 nãm/12 thấp hơn so với nhiểu
nước trong khu vực Tình trạng rất nghiêm trọng là thiếu công nhân lành nghề
cao, cả nước chỉ khoảng 8000 công nhân bậc cao, tương đương bậc 6 -7, do đó
thị trường lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về lao động đòi hỏi có chuyên
mòn kĩ thuật cao của các doanh nghiệp sản xuất, nhất là các doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài, dẫn đến tình trạng lao động của chúng ta trong
khi đang thiếu việc làm mà các khu chế xuất, khu công nghiệp công nghệ cao
lại đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động có tay nghề, việc xuất
khẩu lao động của ta ra nước ngoài làm viộc cũng gặp khó khăn tương tự
Chúng ta chỉ có khả năng xuất khẩu lao động có trình độ thấp, lao động giản
đơn với mức thu nhập rẻ, chỉ để xoá đói giảm nghèo chứ chưa thể làm giàu
nhờ đội ngũ lao động này vói những lý do như đã nêu trên Mặt khác do trình
.độ chuyên môn thấp chúng ta cũng gặp khó khăn lớn trong việc nhận chuyển
giao công nshệ từ những nước có trình độ công nghệ cao hơn.
* Khâu giáo dục đào tạo: mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn phiến diện, nặng về lí thuyết và lạc hậu chưa cập nhật với
tiến bộ khoa học cỏns nghệ hiện đại kéo theo tĩnh trạng mất cân đối giữa cung
và cầu về lao động có chuyên inôn kĩ thuật (cung'chưa đáp ứng cầu) Toàn cầu
hoá kinh tế tác động đến sự phát triển của một số ngành nghề tạo ra một số
25
Trang 29ngành đào tạo mới, tạo ra xu hướng đào tạo theo thị hiếu của nsười lao động, thiếu định hướns, thiếu sự phàn luồng dẫn đến hậu quả là đào tạo chưa gắn với nhu cầu của các khu vực kinh tế và các nsành, mất càn đối giữa các ngành nghề đào tạo "Hiện nay, số lượng sinh viên ngành văn hoá nshệ thuật là 1.3%, none làm ngư nghiệp 3,13%, khoa học cơ bản 15,5%, khoa học công nghệ và kĩ thuật là 15,2%, khoa học xã hội 42.78%" [28 , tr.139].
* Phàn bố lao động bất hợp l í :
Dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế và cơ chế thị trườnơ đã dẫn đến tình trạng bất cập của việc phàn bố lao động Nguyên nhân sâu xa là do, ơiáo dục - đào tao chưa tương thích với thưc tiễn phát triển của kinh tế - xã hội Do mất càn đối vể nội dung giáo dục trong nhà trường qua các cấp học, bậc học chỉ nặng về những kiến thức cơ bản hàn lâm, chưa coi trọng giáo dục hướng nghiệp dạv nghề tức là chưa chuẩn bị tốt cho chất lượng nguồn nhân lực lao động trực tiếp trong tương lai ngay từ khi còn ở trường phổ thòng dẫn đến tâm
lí coi thường việc học nghề Học sinh hiện nay chỉ có một con đường duy nhất
là sau khi học xong phổ thông là thi vào các trường đại học, cao đẳne; thực chất đây là một việc gây lãng phi' rất lén đến sức người, sức của của dân và tiềm năng của nguồn nhân lực chưa được khai thác hợp lý cho sự phát triển Tinh trạng "Thừa thầy thiếu thợ" đã là bất cập rất lớn trong việc phân bố lao động, song thực ra còn tồi tệ hơn đó là chúng ta đane thiếu cả thầy và thợ, nguồn nhàn lực chất lượng cao đúng với tiêu chuẩn là "Thầy” của chúng ta đang rất hiếm, chúng ta đang thiếu nhiều những kĩ sư, những chuyên gia, những nhà quản lí tầm cỡ đúng với yêu cầu của thời đại thông tin, mặt khác 'chúng ta cũng đang thiếu nghiêm trọng đội ngũ công nhân kĩ thuật lành nghề
có đủ sức làm chủ công nghệ hiện đại khi nhận chuyền giao công nghệ, từ các nước phát triển trong khi đó người lao động phổ thông thiếu việc làm lại đang
là một sức ép rất lớn ỉên kinh tế - xã hội nước ta Các cơ sở d á o dục dạy nghề phát triển chưa hợp ư, do chưa có sự phân luồng hợp lí trong quá trình giáo
Trang 30dục phổ thông, dạy nghề có tồn tại trong chương trình phổ thông nhưng chỉ mang tính hình thức, tình thế chưa có nội dung thiết thực phục vụ ngay cho hoc sinh sau khi ra trường, để học sinh có thể phục vụ tại địa phương theo đúng nhu cầu và năng lực của họ Một số các môn học như cắt mav, mộc, sửa chữa cơ khí v.v thực chất chỉ là lấp cho kín chương trình và chỉ mang ý nghĩa thi đua chạy theo thành tích ảo của các cơ sờ giáo dục phổ thông.
Nơay bản thân hệ thống các trường, các cơ sở đào tạo nghề còn phát triển chưa hợp lí, số lượng và loại hình chưa đảm bảo tính hợp lý và chức năng đào tạo theo yêu cầu của sự phát triển Dưới tác động của kinh tế thị trường, một số cơ sở dạy nghẻ pháĩ triển vô kế hoạch chưa thể hiên được mối liên hệ biện chứng giữa đào tạo và sử dụng giữa cung và cầu về lao động, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các ngành nghề với nhau trong một nền kinh tế thống nhất, chưa đảm bảo mối liên hệ giữa các vùng, các khu vực kinh tế cùa nền kinh tế quốc dân Chẳng hạn ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Thành Phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) các cơ sờ đào tạo nghề phát triển mạnh, đặc biệt phát triển đào tạo các nghề: Công nghẹ thông tin, điện từ, điện lạnh, xây dựng, may mặc, du lịch, cơ khí chế tạo và sửa chữa, điện công nghiệp tạo ra cung lớn, cung lao động chuyên môn kĩ thuật ở đây thường lớn hơn cầu rất nhiều Tình trạng thất nghiệp của lao động đã qua đào tạo chuyên môn kĩ thuật lại xuất hiện đã xuất hiện phổ biến ở các thành phố lớn hiện nay Trong khi đó, tại nhiều địa phương (đặc biệt là các tỉnh- vùng núi phía Bắc, miền núi các tỉnh miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long ) lại thiếu các cơ sở đào tạo, dạy nghề và thiếu lao động có chuyên môn Lã thuật, ngay cả những ngành nghề mang tính chất đặc trưng cùa các vùng địa phương đó như kĩ thuật trổng rừng, chăn nuổi gia súc, gia cầm, canh tác và chế biến nông sản đây là tình trạng bất cập chưa có giải pháp khắc phục cụ thể.
Một lĩnh vực có tính nối nghiệp, truyền nghề tại các làng nghề truyền thống cũng đang đứng trước nguy cơ mai một, thậm chí thất truyền nguyên
27
Trang 31nhàn do các trans thiết bị, cơ sở trường lớp và đội ngũ ơiáo viên dạv nshề ở
đâv không đáp ứng yêu cầu, do thị hiếu và những tác động khách quan của thị
trường, lĩnh vực này trước mắt không mans lại thu nhập cao cho người lao
độns đây là điều cơ bản không hấp dẫn người dạv nghé và học nghề tại các cơ
sở dạy nshề hiên đại, cũng thiếu các tranơ thiết bị dẫn tối người học nshề
hiếm có cơ hội thực hành, hoặc các trang thiết bị đùng để dạv nghề thườns là
những công cụ hòns nát không còn dùng được trong sản xuất thực tế, lại cổ về
thế hệ kỹ thuật nên dù cho học viên sau khi được đào tạo từ các trường nghề
loại nàv ra, khi bắt tav vào lao động thực tế tại các cơ sở, các doanh nghiệp
sản xuất vẫn rất lúng túng, phải qua một quá trình đào tạo lại mới đạt yèu cầu
Vấn đề là do chưa có sự liên thông, phối kết hợp giữa cơ sở đào tạo với nơi sử
dụns lao động qua đào tạo, đây là tình trạng bất cập gây lãng phỉ rất lớn cho
kinh tế nói chung Ngay cả các cơ sở dạy nghề có tính chính qui như các
trường sư phạm kĩ thuật, hay trường dạy lái xe ô -tô cũng chưa hẳn đã hoàn
toàn tránh được những bất cập như trên người học cứ việc học, còn sau khi học
xong có việc làm hay không còn do nhiều nguvèn nhân chủ auan, khách quan
khác, điều đó đã gảy ảnh hưởng không nhỏ tới sự hào húng học nghề của
người lao động.
* Cụm từ "Hiệu quả giáo dục thấp" muốn nói tới : trong khỉ tỉ lệ người lao động qua đào tạo nghề thấp chỉ mới đạt trên 10%, đã vậv mà lại có sự lãng
phí, chẳng hạn là người tuy đã được đào tạo mà không sử dụng được hoặc
không sừ dụng hết, do có sự bất cập với yêu cầu hiện tại, do không đủ trình độ
làm chủ công nghệ hiện có của cơ sở sản xuất yêu cầu, hoặc do cung vượt quá
cầu dẫn đến tình trạng "thừa trong thiếu' và "thiếu trong thừa” đang là tình
trạng phổ biến của nguồn nhân lực nước ta Người có chút vốn kiến thức văn
noá phổ thông tự cho mình là "tiền trí thức" không có ý định học nghề để lao
động chân tay hoặc không biết vận dụng những kiến thức đã học từ nhà trường
phổ thông vào lao động trưc tiếp ở địa phương Những sinh viên tốt nghiệp cao
Trang 32đẳng, đại học tự thoả mãn với vốn kiến thức đã được đào tạo không tiếp tục bổ
sung, rèn luyện, cập nhật kiến thức hiện đại trong tiến trình phát triển của
khoa học công nghệ họ dần trở nên lạc hậu, xa thực tế Nhiều sinh viên sau
khi tốt nshiệp cao đẳng, đại học do cố bám thành phố hoặc các nơi thuận lợi
cho cuộc sống cá nhân của họ, đã chấp nhận làm những việc không liên quan
gì đến kiến thức đã được đào tạo gây lãng phí nhiều mặt cho kinh tế cá nhân
cũng như kinh phí đào tạo của nhà nước Ngoài ra còn gây ra tình trạng thừa,
thiếu ảo tron 2 nguồn nhân lực.
Các trung tâm giáo dục thường xuyên chưa làm đúng chức năng là đào
tạo lại đào tạo nâng cao kiến thức, bổ xung kiến thức, cập nhật kiến thức cho
người lao động, mà lại thường tự biến thành nơi bổ túc văn hóa theo quan niệm
cũ Trái lại các trung tâm giáo dục thường xuyên phải là nơi hiện đại hơn cập
nhật với tiến bộ khoa học công nghệ hơn so với các cơ sở đào tạo chính quy.
* Một biểu hiện khác là kỉ luật và tác phong lao động công nghiệp, ưong một nền sản xuất lớn còn chưa đạt yêu cầu của sự phát triển vấn để là
nếu cứ để người lao động Việt Nam chúng ta tự quen, tự thích ứng dần qua
thực tế lao động để cổ nếp sống kỉ luật và tác phong ỉao động công nghiệp thì sẽ
tốn rất nhiều thời gian, vả lại trong điều kiện phát triển như vũ bão của tiến bộ
khoa học công nghệ cùng quá trình hội nhập không cho phép chúng ta có thể
chậm chạp như vậy mà cần phải xúc tiến mạnh mẽ để xốc dậy ý thức kỉ luật và
tác phong lao động công nghiệp hiện đại, nếu như chúng ta không muốn trả
một giá đắt là sự tụt hậu và bị loại ra khỏi quĩ đạo của sự hội nhập phát triển
Để giải quyết vấn đề này không thể không nghĩ tới vai trò của giáo dục-đào tạo,
phải chuẩn bị ngay, chuẩn bị tốt cho người lao động ngay từ khi còn trong
trư ờ n g phổ th ô n g , trường nghề để họ bước vào cuộc sống lao độ n g trong đ iều
kiện mới đáp ứng được yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực trên mặt này.
Nhìn một cách tổng quan chúng ta thấy chất lượng của nguồn nhân lực
nước ta còn ở mức độ thấp so với khu vực thế giới.
29
Trang 33* N suvên nhàn của những vếu kém nêu trên của nguồn nhân lực nước
ta phải xét từ hai mật khách quan và chủ quan:
Về khách quan:
- Do sự phát triển như vũ bão của cách mạns khoa học công nshệ dẫn
tới việc: mặc dù chúng ta trong những năm gần đâv chất lượng nguồn nhàn lực
nước ta tuy có được cải thiện, có những bước tiến bộ song vản bị tụt hậu một
cách tươns đối so với khu vực và thế giới, tạo ra một khoảng cách ngày một có
sự dãn rộng hơn.
- Điều đó còn do điểm xuất phát của nền kinh tế-xã hội của chúng ta
thấp, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá ác liệt, chúng ta
tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua tư bản chủ nghĩa với tư cách bỏ qua
một chế độ xã hội bóc lột Chúng ta ưánh không để nhàn dân lao động nước ta
một lần nữa phải chịu sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản, cũng có nghĩa là
chúng ta không được thừa hưởng trực tiếp những thành quả của nền sản xuất
lớn tư bản chủ nghĩa, trong hoàn cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hơn, cố
gắng hết sức để đạt được những chuẩn theo yêu cầu của một nền sản xuất
công nghiệp hiện đại và yêu cầu khác của thời đại mới.
Về mặt chủ quan:
- Xuất phát từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội với tồn tại xã
hội, nhận thức còn chưa theo kịp đòi hỏi của sự phát triển, những thói quen,
nếp nshĩ của người lao động trong một nền sản xuất nhỏ, từ nhiều thế hệ nối
tiếp có tính chất "thâm căn cố đế" không thể dễ dàng thay thế bằng những thói
.quen, nếp nghĩ mới phù hợp Có thể nói những tàn dư lạc hậu của chế độ cũ
còn tồn tại nhiều trong người lao động là những nguyên nhân tiềm ẩn cản trở
sự phát triển chất lượng của nguồn nhân lực Việt Nam.
- Bên cạnh bộ phận lao động Việt Nam năng động sáng tạo, dám nghĩ
dám làm phấn đấu vươn lên, bộ phận còn lại không phải là nhỏ lại có ý thức tự
Trang 34mãn, ỷ lại, trông chờ cơ may không chịu phấn đấu, đầu tư chưa thoả đáng, chưa nhanh nhạy, chuvển hướng chậm, lạc hậu trong sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ thời đại mới, khi phải đối mặt với sự đổi mới thì chính bộ phận này tạo ra sức ỳ, cản trở sự phát triển của chất lượng nguồn nhàn lực nói riêng và cho nền kinh tế - xã hội nói chuns.
Một nguyên nhân có tính bao trùm và rất khó tháo gỡ đó là nguồn ngân sách hạn hẹp do điều kiện kinh tế của ta chưa phát triển, chưa cho phép có thể huy động và đầu tư thoả đáng cho phát triển đào tạo, dạy nshể theo các chuẩn mực của lao động quốc tế.
Nguồn đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn hạn chế trong khi yêu cầu
mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng của công tác giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu của hội nhập vào nền kinh tế thế giới và yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước lại không ngừng tâng.
Ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo giai đoạn 1996 - 2000.
Ngân sách cho dậy nghề so với chi
ngân sách cho giáo dục - đào tạo
Nguồn :Tổng cục dạy nghề (Báo cáo ngân sách 5 năm ỉ 996 - 2000)
Hiện nay, ngàn sách Nhà nước đầu tư cho học sinh phổ thông trung bình khoảng 30 đến 50 USD/năm và 300 đến 400 ƯSD/năm cho học sinh cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp thấp hơn rất nhiều so với mức độ đầu tư của các nước khác trong khu vực Trong đó phần lớn là chi cho lương giáo viên và chi phí thường xuyên (80-90%), chi cho phát triển cơ sờ vật chất của các trường học là rất eo hẹp chỉ khoảng 10% nguồn kinh phí hằng năm.
31
Trang 35Trons khi đó, đối với các nước phát triển và khá phát triển việc đầu tư cho giáo dục là tương đối lớn Nước ta nsoài nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, còn có việc khai thác các nguồn đầu tư nsoài ngân sách trong cộng đồng từ phong trào xã hội hoá siáo dục cũng đã 2Óp phần đáng kể ở một số cơ sở siáo dục nẹoài công lập thậm chí còn là cơ bản và có tính quyết định cho sự tồn tại
và phát triển của các cơ sờ này Sons thực ra sự nhận thức vấn đề đầu tư chưa được hiểu một cách đầy đủ là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho tương lai và là nshĩa vụ trách nhiệm của Đảng của của Nhà nước và của toàn xã hội nên đầu
tư còn có tính nhỏ giọt hoặc dưới hình thức "xin - cho" Mặc dù nguồn ngàn sách đầu tư cho giáo dục đang có chiều hướng tăng lên như hiện nav, đó là sự
cố gắng hết sức của chúns ta trong điểu kiện hiện có Theo báo cáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo mới chỉ đạt 70% nhu cầu tối thiểu cho sự phát triển [27, tr.34] (Ngân sách chi cho GD-ĐT trong 5 năm từ 1998 - 2002).
Từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan nêu trên đã dẫn tới kết quả chất lượng nguồn nhân lực của nước ta chưa phát triển tốt, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, đòi hỏi chúng ta phải có rihững giải pháp thiết thực, cụ thể để khắc phục kịp thời thực trạng này, cần có sự đổi mới tư duy của toàn xã hội, thấm nhuần quan điểm chỉ đạo của Đảng "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” chúng ta cần tập trung toàn lực tạo ra "cú huých" làm đà cho sự phát triển giáo dục - đào tạo, giải quvết cái nguyên nhân cơ bản của mọi nguyên nhân đang cản trở sự phát triển của kinh tế - xã hội nước ta hiện nay.
Trang 36Chương 2NÂNG CAO CHẤT LƯƠNG NGUỚN NHÂN L ự c VIỆT NAM,
TRONG BỐI CẢNH HÔI NHẬP KINH TẾ QUỐC TÊ THỜI c ơ
VÀ THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TRI/ỚC MẮT
Nhân loại đã bước vào thiên niên kỉ thứ 3 với một tốc độ phát triển nhanh, manh chưa từng thấy và đổng thời cũng có những diễn biến hết sức phức tạp khó lường tác động trực tiếp đến cục diện kinh tế - xã hội Sự biến đổi của lực lượng sản xuất, tất yếu đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất mới phù hợp vói nó, những thói quen nếp nghĩ cổ truvền chắc chắn phải có sự thay đổi cho phù hợp trong điều kiện mới của toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hóa đời sống kinh tế và xu thế hội nhập đang là xu thế tất yếu Tinh hĩnh đó đã đòi hỏi chúng ta phải có những cách tư duy mới phù hợp với điều kiện hiện tại nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - một yếu tố có tính quyết định cho thế chủ động hội nhập của ta vào toàn cầu hoá.
2.1 Bôi cảnh quốc tế
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang vận động và phát triển trong một bối cảnh rất đặc biệt, tiềm ẩn trong đó cả những thời cơ, đổng thời cũng là những thách thức rất lổm cho sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt
là những nước đang phát triển như nước ta.
2.1.1 Sự phát triển mạnh m ẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
Loài người đã từng chứng kiến sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học, kĩ thuật thế kỉ XX - một thế kỉ có tính bản lề cho sự phát triển ngày nay Đầu thế kỉ XX, giải thưởng Nobel được thiết lập Người được giải thưởng
N o b elđ ầ u tiên về vật lí vào năm 1901 là nhà vật lí người Đức v c Rơn -ghen
vì đã phát hiện ra tia X có thể cho phép chụp được ảnh bộ xương và nội tạng của cơ thể cũng như cấu trúc nội tại các vật thể trong giới tự nhiên Tiếp đó, dồn dập là các phát kiến về phàn tử, nguvên tử, hạt nhân nguyên tử, hạt cơ bản
33
Trang 37của thế giới vi mỏ Mặt khác con nsười cũng mờ rộnơ hiểu biết về vũ trụ, về thiên hà, đại thiên hà và phát hiện ra cả sự giãn nở của vũ trụ Nhờ sự phát triển của trí tuệ sáns tạo ra côns cụ và các phương tiện mới, đã nhân lên nhiều lần, vượt xa tầm kiểm soát trực tiếp của các giác quan con người thav đổi về chất khả năns của con người chinh phục tự nhiên, ơiúp con nsười có thể khám phá sâu siới tự nhiên, tìm ra bản chất cấp I, cấp II, cấp HI của các sự vật hiện tượns trong hiện thực Con người của thế kỷ XX đã nhận thức và khẳng định được rằng vật chất là một phạm trù vô cùns, vỏ tận và luôn vận động, định nghĩa của Lè nin về vật chất đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng của vật lý học? ở cuối thế kv XIX mở đườns cho khoa học tiến lên.
Khi khoa học đã có những nền móng vững chắc là thế giới quan duy vật biện chứng thì lượng thòng tin, tri thức về giới tự nhiẻn thu được trong nghiên cứu các lĩnh vực mới này càng tăng nhanh tới mức bùng nổ, cứ khoảng một thập kỷ lượng thòng tin lại tăns gấp đôi, không những vể số lượng thông tin
mà còn cả về chất lượng (tầm sàu sắc) của thône tin Theo tính toán của các nhà khoa học: trong thế kỷ XX toàn bộ lượng thông tin tăng thêm khoảng
1000 lần so với đầu thế kỷ và vượt trội so VỚI lượng thôns tin mà ỉoài người có được trong suốt lịch sử kể từ thế kỷ XIX trở về trước.
Con người của thời đại bùng nổ thông tin đã làm được những điều kỳ diệu trên nhiều lĩnh vực của khoa học cụ thể Song bên cạnh đó cũng dần xuất hiện một bộ phận khôns nhỏ, những người thụ động trước những kĩ thuật, công nghệ hiện đại Khoảng cách giữa tầng lớp nơười cực kì hiểu biết có thể làm chủ và sáng chế ra nhữns công nghẹ hiện đại với tầng ỉớp những người thụ động trước những cái ngày càng mới lạ và hiện đai đã xuất hiện, đây là một khoảng cách xa dần, dẫn tới sự phụ thuộc, sự bất bình đẳng khône chỉ trong đời sống kinh tế mà ngay cả trong đời sống chính trị, đời sống tinh thần Cuộc cạnh tranh để chiếm lĩnh đỉnh cao diễn ra trong thời đại ngày nay mang tính chất hoàn toàn khác so với trước đây Nó khôns phu thuộc vào sức mạnh
Trang 38vũ lực hay tiềm lực vật chất mà phụ thuộc chủ yếu vào tiềm năng trí tuệ của mỗi cá nhân, suv rộng ra là của một quốc gia có thể kết luận rằng: cho ra đời cổng nshệ cao là điều kiên sống còn của các quốc gia trong cuộc chạy đua mới này.
Sư phát triển cùa cuộc cách mans khoa côns nghệ đã kéo theo sự xuất hiện của kinh tế tri thức và xã hội thòng tin, làm đảo lộn cục diện kinh tế thế giới và làm thav đổi căn bản tư duy kinh tế cổ truyền; Có thể khái quát theo dự báo của tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) như sau:
Thế kỉ XXI là thế ki của Tin học, là thế ki của khoa học công nghệ sinh học, là thế kỉ của sáng tạo ra những vật liệu mới thay thế những vật liệu cổ truvền, là thế kỉ của việc sử dụng những nguồn năng lượng mới và là thế ki của việc con người khai thác sâu không gian trái đất thậm chí cả không gian
vũ trụ Cũng theo tổ chức nàv xác định, những ngành công nghệ sau đây hiện được coi là những ngành công nghệ cao:
(1) Công nghè hàng khỏng vũ tru
(2) Công nghệ Tin học và thiết bị vãn phòng
(3) Công nghệ điện tử
(4) Công nghẹ dược phẩm
(5) Chế tạo dụng cụ cơ khí hiện đại
(6) Chế tạo thiết bị điện [32, 07.18]
Quan niệm về độc lập tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đặt trong hoàn cảnh ngày nay đã sự đổi khác Rõ nét hơn cả là khi kinh tế tri thức xuất hiện những
tư duy kinh tế cổ truyền đã không có cơ sở đứng vững bởi ngày nay một nền kinh tế toàn cầu - một nền kinh tế không biên giới đã xuất hiện, nhàn tố có quyết định cho sự phát triển của sản xuất hàng đầu không phải là vốn hay số lượng nhân lực, hay thị trường mà yếu tố giữ vai trò chủ yếu và quyết định là tiềm năng ui thức, khả năng, điệu kiện để cho ra đời công nghệ cao quy định khả nâng vượt lên trong cuộc chạy đua của thời đại kinh tế tri thức Cục diện
35
Trang 39thế giới đã có những biểu hiện bước đầu báo hiệu một sự thay đổi lớn trong tương lai khi một quốc gia biết phát huy tiềm năng trí tuệ - nàng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập truns vào những mũi nhọn kinh tế theo khả năng vốn có và yêu cầu của thực tại Những nước thuộc khu vực Đône Nam Á hoặc như Trung Quốc, Ấn Độ là những minh chứng.
Cuộc cách mans khoa học đầu thế kỷ XX tất yếu dẫn đến cách mạng
về lực lượns sản xuất mà ngày nay chúnơ ta 2ỌÍ là cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại, bắt đầu vào từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Nền kinh tế toàn thế giới bắt đầu cơ cấu lại và được trang bị lại, nhiều ngành kinh tế chói lọi một thời bắt đầu xuống dốc (sản xuất thép, xi măng, công nghiệp ôtô ) nhường chỗ cho nhiều ngành kinh tế mới xuất hiện và phát triển cực nhanh như điện tử - bán dẫn, máy vi tính, viễn thông những ngành dịch vụ liên quan đến thông tin, tri thức tăng ồ ạt (ngàn hàng, tư vấn thiết kế bảo hiểm ) làm cho khu vực kinh tế này chiếm đến 70% nền kinh tế của các nước côns nghiệp phát triển.
Sự chuyển dịch nói trên của kinh tế thế giới có nguồn gốc sâu xa ở sự phát triển công nghệ hướng về các công nghệ cao Các công nghệ cao đã tạo
ra được các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tinh thần và các sản phẩm mới này hoàn toàn không thể có được bằng các công nghệ truyền thống Công nghệ cao hiện nay thực sự đã là mũi nhọn kinh tế của một quốc gia Nói tới công nghệ thông tin là nói tới nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nó phản ánh một giai đoạn mói về chất của sản xuất trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm.
Trong cuộc cách mạng công nghiệp (thế kỷ XVII sang thế kỷ xvn i)
cánh tay con người được vươn dài nhờ kết cấu cơ khí, sức lực cơ bắp của con người được nhân lên nhiều lần nhờ lực của tự nhiên qua máy hơi nước và điện lực Còn trons cách mạng khoa học công nghệ lần nàv có sự biến đổi về chất