Mai Vủn TùngMỤC LỤC CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỂ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ CAM THÀNH CHƯƠNG 2: NGƯỜI MƯỜNG VỚI TRI THỨC s ử DỤNG NGUỔN 2.2.1 Tri thức về sử dụng đất canh tác nương rẫy 33 2.4.2 Những k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI VĂN TÙNG
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG VỂ s ử DỤNG VÀ QUẢN LÝ
NGUỔN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở XÃ CẨM THÀNH, HUYỆN CAM THUỶ, TỈNH THANH HOÁ
( LUẬN VÃN THẠC s ỉ , CHUYÊN NGÀNH DÂN TỘC HỌC )
MÃ SỐ: 5.03.10
Người hướng dần khoa học: TS Nguyễn Ngọc Thanh,
Viện Dân tộc học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Hà Nội - 2005
Trang 2Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
L Ờ I CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa tùng ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
HỌC VIÊN CAO HỌC
M ai Văn Tùng
iLuận văn cao học
Trang 3Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
BẢNG TRA CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN: Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNICEF: United Nation International Childrens Emergency Fund ( Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc)
VHTT: Văn hoá Thông tin
Luán văn cao hoe
Trang 4Tri thức địa phương Mai Vủn Tùng
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỂ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ CAM THÀNH
CHƯƠNG 2: NGƯỜI MƯỜNG VỚI TRI THỨC s ử DỤNG NGUỔN
2.2.1 Tri thức về sử dụng đất canh tác nương rẫy 33
2.4.2 Những kinh nghiệm trong khai thác rừng 46
2.5 Tri thức địa phương trong việc sử dụng nguồn nước 52
2.5.2 Những kinh nghiệm trong việc sử dụng nguồn nước 53
Luận vân cao học
Trang 5Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
CHƯƠNG 3: NGƯỜI MƯỜNG VỚI VIỆC QUẢN LÝ N G U ổN TÀI
3.1 Hệ thông quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên 60 3.2 Những quy ước trong việc quản lý tài nguyên đất 63 3.3 Những quy ước trong việc quản lý tài nguyên rùng 69 3.4 Những quy ước trong việc quản lý tài nguyên nước 75
CHƯƠNG 4: MỘT VÀI s o SÁNH TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG CỦA
4.1.1 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất 794.1.2 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên rừng 864.1.3 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước 89
4.2.1 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất 944.2.2 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên rừng 1004.2.3 Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước 103
Luận văn cao học
Trang 6Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thực tế không phải lúc nào, ở đâu việc áp dụng các tiến bộ khoa học- kỹ thuật và công nghệ hiện đại cũng mang lại kết quả tốt như mong muốn Không phải lúc nào, ở đâu áp dụng cách quản lý vĩ mô hiện đại của Nhà nước vào tất cả các làng bản đều hợp lý Nếu làm như vậy là chủ quan không khoa học mà phải áp dụng nó trong từng hoàn cảnh cụ thể
Cuộc cách mạng xanh đã góp phần đáng kể cho An ninh lương thực ở một số nước Thực tế cho thấy, cuộc cách mạng xanh không xoá được đói nghèo và An ninh lương thực ở nông thôn Nó khuyến khích các biện pháp canh tác dựa vào đầu tư bên ngoài (tức xa lạ với hệ sinh thái nông nghiệp của địa phương) như hoá nông, độ phì tự nhiên của đất, và hàm lượng các chất hữu cơ bị suy giảm; tình trạng xói mòn đất tăng; sức khỏe bị ảnh hưởng, thực
tế đã có những trường hợp bị tử vong do nhiễm độc thuốc trừ sâu Trong nhiều thập kỷ qua đã tạo ra những áp lực đối với tài nguyên đất, rừng, nước dần dần làm suy thoái môi trường và gia tăng sự nghèo đói [19: 83- 84]
Thực tế đã chứng minh, khi triển khai các mô hình phát triển kinh tế bền vững người ta không thể không chú ý đến những điều kiện sinh thái, thực trạng phát triển kinh tế- xã hội và các yếu tố khác liên quan như văn hoá tộc người ở từng vùng miền cụ thể Nhiều kết quả nghiên cứu đã triển khai cho thấy vốn tri thức mà các tộc người tích luỹ được trong lao động sản xuất, ứng
xử với môi trường tự nhiên, trong quản lý xã hội trải qua dòng thời gian và được trao truyền qua các thế hệ trong quá trình thích nghi với các điều kiện sinh thái nhân văn, đang có vai trò nhất định trong thực tiễn [19: 84]
Dán tộc Mường là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có dân số vào loại đông nhất hiện nay(l>, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Hoà Bình, Thanh
Trang 7Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
Hoá(2), Phú Thọ, S(Tn La, Yên Bái, Ninh Bình và một số tỉnh ở miền Nam Dân tộc Mường sống chủ yếu ở những vùng thung lũng chân núi hay còn gọi là vùng bán sơn địa, có những phong tục tập quán, bản sắc văn hoá riêng góp phần làm cho bức tranh văn hoá Việt Nam càng trở nên phong phú và đa dạng
Hiện nay, dân tộc Mường còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hoá truyền thống, nhất là trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Do vậy, việc nghiên cứu văn hóa nói chung và tri thức tộc người nói riêng, đặc biệt là ứng xử của con người với môi trường tự rihiên là vấn đề đặt
ra không chỉ trong việc nhận thức di sản văn hoá tộc người, di sản văn hoá dàn tộc mà còn là đòi hỏi cấp bách trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ đối với nước ta hiện nay là: “ Phát triển toàn diện kinh tế nông thôn , gắn phát triển nông, lâm, ngư nghiệp với phát triển ngành kinh
tế thủ công nghiệp ”
2 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đế tài là tri thức địa phương của người Mường ở xã cẩm Thành, huyện cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm tri thức sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên nước, cả trong xã hội truyền thống và trong hiện tại
Địa bàn nghiên cứu là xã cẩm Thành, huyện cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá Đây là một xã có người Mường cư trú sinh sống từ lâu đời, còn bảo lưu nhiều yếu tố văn hoá truyền thống của người Mường Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu thêm làng Phâng Khánh, xã cẩm Thành là nơi cư trú của người Việt và làng Thành Điền, xã Điền Hạ, huyện Bá Thước là nơi cư trú của người Thái để so sánh với người Mường
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn còn có
Trang 8Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
những khái niệm khác nhau như: Tri thức địa phương; kiến thức bản địa; tri thức dân gian; luật tục; tri thức tộc người; phong tục tập quán trong sản xuất.v.v Để phân biệt rõ hơn tri thức địa phưomg và tri thức khoa học, Lê Trọng Cúc cho rằng: “tri thức địa phương không giống với tri thức khoa học;
nó được hình thành chủ yếu dựa vào sự tích luỹ mò mẫm chứ không phải dựa vao những thực nghiệm mang tính khoa học và có hệ thống”[l 1:21] Còn John Ambler cho rằng: tri thức địa phương của mỗi cộng đồng thường bao gồm hai loại chính: Một loại có thể gọi là “tri thức kỹ thuật” Một loại khác liên quan đến tên gọi như “luật lệ địa phương” (local regulation) hoặc là
“phong tục” hay “tục lệ”.v.v [l:36] Dù gọi như thế nào, nhưng có thể hiểu
đó là những hiểu biết những kinh nghiệm của một tộc người nhất định, được
tích luỹ chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Nhìn chung, tri thức địa phương là phương thức ứng xử là đặc tính thích nghi những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người.
Theo quy luật phát triển của xã hội thì phát triển kinh tế giữ vị trí hàng đầu vô cùng quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động xã hội khác như y tế, văn hoá, giáo dục Nhận thức được tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm khuyến khích người nông dân trên mọi vùng miền của đất nước tập trung đầu tư phát triển ngay trcn nguồn tài nguyên thiên nhiên mà người dân đang cư trú và sinh sống
Ngoài việc đầu tư sức người sức của, người nông dân còn kết hợp những kinh nghiệm sản xuất được chắt lọc, tích luỹ và trao truyền qua nhiều thế hệ để khai thác nguồn lợi, cũng như việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên với mục đích đem lại nguồn lợi kinh tế cao nhất mà vẫn cân bằng sinh thái tự nhiên, đảm bảo cho quá trình phát triển bcn vững lâu dài Như vậy, sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau, con người sống phải khai thác tự nhiên và muốn khai thác tốt hơn thì phải bảo vệ, nếu không nguồn tài nguyên sẽ cạn kiệt Đây là triết lý sống mà
Trang 9Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
các dân tộc thiểu số ở miền núi nước ta rất chú ý quan tâm
Mỗi một vùng không gian địa lý có những điều kiện tự nhiên riêng buộc con người sống ở đó phái có những ứng xử cho thật phù hợp, đó cũng chính là những tri thức của người dân ở từng địa phương, vùng miền cụ thể Đây là kho tàng tri thức dân gian không ngừng được bổ sung và cực kì có giá trị không thể thiếu được trong đời sống tộc người Do đó, trong những năm gần đây tri thức địa phương hay kiến thức bản địa đã có nhiều công trình
nghiên cứu Đầu tiên phải nói đến công trình Kiến thức bản địa của đồng bào
ở vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiền nhiên của Trung
tàm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp [52], đã khẳng định rõ tầm quan trọng của tri thức bản địa, nhất là trong việc kết hợp, sử dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp; Lê Trọng Cúc với Quản lý bền vững các hệ sinh thái miền núi Việt N'am [11]; Vương Xuân Tinh, Bùi Minh Đạo với Truyền thống sở hữu và sử diụng đất đai của các dân tộc thiểu s ố Việt Nam [41]; Tạ Long, Ngô Thị Cỉhính với Sự biến đổi nông nghiệp châu thổ Thái Bình ở vùng núi Điện Biên Liai Châu [23] Tất cả các công trình đã khẳng định giá trị to lớn của tri thức
đua phương trong việc sử dụng và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Với dân tộc Mường đã có một số cuốn sách, bài viết đề cập đến tri thức địia phương trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên như: Dân
tộic Mường trong Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Nxb
KI hoa học Xã hội [50]; Jeanne Cuisinier với Ní>ưởi Mường - Địa lý nhân văn và xcđ hội học (bản dịch), Nxb Lao động, Hà Hội, 1995 [12]; Nguyễn Thị Thu với
T rì thức địa phương trong canh tác ruộng nước của người Mường, Kỷ yếu Hội
thiảo hưởng dụng đất ở vùng cao Việt Nam, Trung tàm nghiên cứu giới, môi tnường và phát triển bền vững [39]; Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc
Tlhanh (chủ biên) Người Mường ở Tân Lạc Hoà Bình [27]; Le Thanh Hoa của
Trang 10Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
Roberquain (Bán in Rô nê ô của Ty Văn Hoá Thanh Hoá 1973) (31 ị; Đe’đất đẻ nước của Vương Anh, Hoàng Anh Nhân [2]; Dàn tộc Mitimg trong Địa chí Thanh Hoá, lập I (2000) [43]; Tục ngữ, Dân ca Mường Thanh Hoá của Minh Hiệu [ 18J; hay Văn htìá ẩm thực Mường của Hoàng Anh Nhân [30]; v.v
Nhìn chung, từ năm 1975 cho đến nay việc nghiên cứu về người Mường nói chung và tri thức địa phương nói riêng đã đạt được những thành tưu nhất định Tuy vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về tri thức địa phương trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với người Mường ở Thanh Hoá, lĩnh vực này còn là một khoảng trống cần có sự đầu tư nghiên cứu
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu có hệ thống những tri thức địa phương của người Mường
ở xã Cẩm Thành, huyện cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Góp một phần tư liệu khoa học giúp các nhà quản lý hoạch định việc
sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên sao cho hợp lý và hiệu quả nhất
- So sánh tri thức địa phương trong sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên với các tộc người Thái, Việt để thấy được nét tương đồng
và khác biệt
5 Nguồn tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của giới khoa học, chúng tôi tham khảo và sử dụng các nguồn tài liộu thành văn đã công bố có liên quan trực tiếp, gián tiếp đến đề tài Đây là nguồn sử liệu quý giá, giúp chúng tôi có được cái nhìn toàn cảnh về đối tượng nghiên cứu Nguồn tài liệu quan trọng chủ yếu được sử dụng trong luận văn này là các tài liệu do chúng tôi thu thập tại địa bàn điền dã Ngoài
ra, luận văn còn sử dụng các số liệu thống kê, báo cáo, các văn bản, chỉ thị của các cấp chính quycn có liên quan
Trang 11Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiẽn cứu
Luận văn vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc xcm xét, đánh giá những ứng xử của con người đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp điền dã dân tộc học, lấy tư liệu tại thực địa đặt lên hàng đầu Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê hồi cố, chụp ảnh, đo vẽ Bởi vậy, các tư liệu được mô tả, trình bày trong luận văn là thu thập tại các làng Mường xã Cẩm Thành Trong quá trình tiến hành điền dã các vấn đề khoa học đã được đặt ra và trở thành giả thiết nghiên cứu của chúng tôi Vài câu hỏi khoa học
để phục vụ trong quá trình nghiên cứu trên thực địa là:
- Người Mường đã ứng xử như thế nào đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, phương thức quản lý nguồn tài nguyên trước kia và hiện nay có điểm nào giống và khác nhau ?
- Trong giai đoạn hiện nay tri thức địa phương có thể kết hợp với những tri thức khoa học hiện đại trong việc sử dụng cũng như quản lý nguồn tài nguyên hay không ?
- Liệu có nét tương đồng và khác biệt về hình thức sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các dân tộc sống gần kề nhau hay không ? Nếu có, khác nhau đó như thế nào ?
Đối tượng phỏng vấn và trao đổi chủ yếu là các cụ già có độ tuổi từ 60 trư lên, còn minh mẫn và am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình, những người đứng đầu một số đoàn thể (Hội nông dân, Hội phụ nữ ) của xã
và thôn làng được nghiên cứu, những cán bộ đã từng kinh qua tham gia công tác chính quyền hoặc trong ban quản lý hợp tác xã thời kỳ từ 1954- 1986 và một số chủ hộ gia đình nông dân
Về chọn địa bàn nghiên cứu: do không có điểu kiện nghiên cứu hết các làng của xã cẩm Thành nên chúng tôi chỉ chọn hai làng đại diện để nghiên
Trang 12Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
cứu sâu tri thức địa phương về sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên của người Mường
Để hoàn thành đề tài khoa học này chúng tôi đã dành 3 tháng (từ tháng
5 đến tháng 7 năm 2004) làm việc tại địa phương Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định Thuận lợi lớn nhất là được các thầy giáo trong khoa Lịch Sử nhiệt tình ủng hộ và khích lệ, nhất là được sự cố vấn của thầy Lâm Bá Nam và đăc biệt là sự nhiệt tình quan tâm của thầy Nguyễn Ngọc Thanh người trực tiếp hướng dẫn luận văn khoa học này Bên cạnh thuận lợi chúng tôi không tránh khỏi những khó khăn nhất định, khó khăn lớn nhất đó là địa bàn nghiên cứu đi lại không thuận lợi, nhất là đường đến xã, thời gian có hạn và kinh phí eo hẹp Hơn nữa mới làm quen với nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm làm việc có hạn, do đó luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Dẫu vậy, với nỗ lực cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tâm đầy trách nhiệm của các thầy và sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và nhân dân địa phương, chúng tôi đã hoàn thành bản luận văn đúng thời hạn
7 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm một hệ thống tri thức địa phương của người Mường ở một địa phương cụ thể trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Góp thêm tư liệu khoa học về tri thức địa phương của người Mường, làm phong phú thêm nguồn tư liệu về tri thức địa phương vào kho tàng tri thức dân gian, làm cơ sở cho việc hoạch định những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế bền vững của người Mường nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung
- Góp thêm tư liệu khoa học về tri thức địa phương của người Mường trong việc so sánh, đối chiếu với các vùng Mường và các dân tộc khác ở nước
Luận vãn rao học
Trang 13Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
8 Bô cục của luận văn
Ngoài lời Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chương
Chương 1 Khái quát về người Mường ở xã cẩm Thành huỵên cẩmThuỷ
Chương 2 Người Mường với tri thức sử dụng nguồn tài nguyên thiênnhiên
Chương 3 Người Mường với việc quản lý nguồn tài nguyên thiênnhiên
Chương 4 Một vài so sánh tri thức địa phương của người Mường với một số tộc người khác
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn Phòng văn hoá huyện cẩm Thuỷ, UBND xã Cẩm Thành đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian chúng tôi ở địa phương Xin trân trọng cảm ơn ông Cao Ngọc Rạng, ông Bùi Chí Hăng và các cụ ở làng Muốt, làng Phâng Khánh, làng Thành Điền đã trực tiếp cung cấp tư liệu và giúp đỡ hiệu đính phiên âm tiếng Mường Chúng tồi cũng bày
tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô khoa Khoa học Xã hội, Ban giám hiệu trường Đại học Hồng Đức, các thầy cô trong khoa Lịch Sử trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, thầy PGS.TS Lâm Bá Nam
và đặc biệt thầy TS Nguyễn Ngọc Thanh người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn khoa học này
Bản luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Chúng tôi mong các thầy, các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu về người Mường cùng các bạn đồng nghiệp chỉ bảo thêm để công trình này ngày càng hoàn chỉnh hơn
Trang 147 /7 thức địa phương Mai Văn Từng
CHƯƠNG 1KHÁI QUÁT VỂ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ CAM THÀNH
HUYỆN CẨM THUỶ
1.1 CẢNH QUAN MÔI TRUỒNG
Từ thành phố Thanh Hoá có thể đi theo hai hướng, hướng tây đi qua thị trấn Vạn Hà (huyện Thiệu Hoá) rồi đến thị trấn Vĩnh Lộc, hoặc hướng bắc qua thị trấn Hà Trung (huyện Hà Trung) rẽ trái theo quốc lộ 217 đến huyện Vĩnh Lộc và từ đây tiếp tục đi dọc quốc lộ 217 là đến thị trấn huyện cẩm Thuỷ cách thành phố Thanh Hoá vừa tròn 80 km về phía tây bắc Đây là một huyện miền núi có địa hình bán sơn địa ở xứ Thanh, có quá trình hình thành gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử dân tộc
Từ thị trấn cẩm Thuỷ đi dọc theo quốc lộ (217) 13 km nữa là đến UBND xã Cẩm Thành Đây là một trong 20 xã của huyện cẩm Thuỷ, đặc biệt lại là một xã được Nhà nước xếp vào diện vùng cao hẻo lánh [42], có vị trí địa lý ở toạ độ 22°37’ đến 22°44’ vĩ độ bắc và từ 105°33’ đến 105°36’ độ kinh đông Nhìn về góc độ địa- văn hoá, địa- kinh tế nó có tầm quan trọng cực kỳ đối với huyện cẩm Thuỷ, về mặt lịch sử có mối quan hệ mật thiết, gắn liền với lịch sử hình thành huyện cẩm Thuỷ cũng như tỉnh Thanh Hoá Người Mường cư trú trong những làng cổ ở những thung lũng chân núi chủ yếu làm kinh tế nông nghiệp lúa nước kết hợp làm rẫy và khai thác lâm thổ sản Nhiều làng còn bảo lưu được đậm nét văn hoá người Mường nói chung, trong đó phải kể đến tri thức địa phương trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguycn thiên nhiên Xã cẩm Thành là một xã điển hình trong lĩnh vực bảo tồn và kế thừa được nhiều vốn liếng văn hoá dân gian- dân tộc Mường
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3055,97 ha, trong đó có 2244,25 ha đất rừng, 481,15 ha đất nông nghiệp, 172,74 ha diện tích mặt nước khe suối và
Trang 15Tri thức địa phiửmg Mai Văn Tùng
157,83 ha các loại đất khác
Xã Cẩm Thành nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình 23,3(K, lượng mưa khoảng 1900mm có năm đạt tới 2200mm cao hơn so với lượng mưa phổ biến của tỉnh hàng năm (1700mm), cũng là cao hơn so với lượng mưa phổ biến hàng năm của cả nước, khí hậu đôi khi thay đổi đột ngột có năm rét lanh đến o00, nhiều sương
mù, từ tháng 5 đến tháng 9 ban ngày thời tiết nắng nóng còn về ban đêm thì lại dịu mát, có độ ẩm cao
Diện tích độ che phủ của rừng chiếm 55,1% tổng diện tích đất tự nhiên
mà chủ yếu là rừng đầu nguồn, đó là một lợi thế cực kỳ quan trọng đối với đòi sống cư dân ở đây Bởi lẽ rừng nó có vai trò không chỉ cân bằng 0 2 và
C 0 2 của không khí mà còn tích luỹ và điều hoà chế độ nước, giảm bớt dòng chảy bề mặt, hơn nữa rừng còn có quan hệ rất chặt chẽ với lớp phủ thổ nhưỡng ngăn chặn nguy cơ xói mòn đất, đặc biệt rừng còn chứa một hệ sinh vật phong phú đa dạng Riêng về thực vật gần 90% số loài gặp ở vùng nhiệt đới và hơn một nửa trong số đó là ở rừng ẩm
Điều đáng nói ở đây là, xã cẩm Thành chủ yếu là rừng rậm nguyên sinh thường gọi là rừng trên đồi núi đất Thảm thực vật phong phú và đa dạng với nhiều loài gỗ quý như Lim Xanh, Chò Chỉ, Tán Mật, Sến, Chò Nâu, Trám Ngoài ra còn có khá nhiều rừng nứa, giang, vầu, luồng mọc thuần loại hoặc mọc hỗn giao với một số loài gỗ lá rộng như: sồi, dẻ, lim
Về động vật mặc dù chưa có cuộc điều tra thống kê nào mang tính tổng quát để phát hiện đầy đủ loài của động vật nói chung và động vật rừng nói riêng Tuy nhiên khi tập hợp những dẫn liệu từ cuộc điều tra thăm dò và quan sát trong nhân dân thì có thể nhận biết hệ động vật ở đây rất phong phú
và đa dạng về giống loài như loài thú, chim, bò sát, côn trùng,v,v [43:196,197]
Trang 16Tri tlĩức địa phương Mai Văn Tùng
Tuy nhiên, do sức ép của dân số đặc biệt sự quản lý thiếu chặt chẽ và chưa khoa học của các cấp chính quyền, ngành Lâm nghiệp từ khoán 10( 1988) đến đầu những năm 90 đã làm cho rừng cẩm Thành không nằm ngoài thảm hoạ chung, đó là sự chặt phá bừa bãi làm cho nguồn động thực vật cạn kiệt, nhiều cánh rừng trở thành đất trống đồi trọc, từ năm 1994-1995 Nhà nước đã giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đinh, rừng đã nhanh chóng trớ lại màu xanh như xưa
Nhìn chung, rừng xã cẩm Thành có diện tích rất lớn có hệ thảm động thực vật phong phú và đa dạng, không những cung cấp nguồn vật liệu cho người dân như gỗ, luồng để làm nhà mà còn cung cấp nguồn thức ãn nguồn dinh dững từ động thực vật.v.v Đặc biệt rừng còn là lá phổi chung, mang lại bầu không khí trong lành cho việc dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ cho con người Hơn nữa rừng không chỉ cung cấp và lưu giữ nguồn nước sạch, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi
Xã Cẩm Thành được bao bọc bởi đồi rừng, với độ dốc vừa phải 8°-15° nghiêng dần từ tây sang đông(3) Từ độ dốc vừa phải ấy tạo nên một hệ thống
ruộng bậc thang thấp, người Mường còn gọi là ruộng trên, ruộng dưới Ngoài
ruộng bậc thang thấp, địa thế lòng chảo còn tạo nên một hệ thống ruộng trũng cấy được hai vụ lúa một năm, cho năng suất cao
Thành phần đất đai của xã cẩm Thành có những đặc điểm chung của
đất vùng đồi núi huyện cẩm Thuỷ, gồm có hai loại đất: Thứ nhất là: đất vùng trũng ven đồi núi (thuộc tiểu vùng 1; đất lầy, nhiều than bùn, ngập nước
thường xuyên Đặc điểm có tầng đất dày, thành phần cơ lý của đất từ trung tính đến đất thịt nặng Đất lầy không có tầng đế, gơ lây mạnh, có nhiều chất độc H:s, CH4 Đất chua tỷ lệ mùn trong đất cao, đặc biệt mùn thô đang phân giải Các chất dinh dưỡng tổng cao, các chất dễ tiêu nghèo Một số vùng gieo cấy một vụ chiêm bằng những giống cây cao, giống địa phương, đa số trồng cày ưa nước và bỏ cỏ mọc tự nhiên Nhờ có cải tạo đào mương thoát nước
Trang 17Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
một số vùng cấy được hai vụ lúa trong năm) Thứ hai là đất vùng đồi níti
(thuộc phụ tiểu cùng 3b: Đất phát triển chủ yếu trên phiến sét, cát kết và các loại đá biến chất khác Thành phần cơ lý từ đất thịt nặng đến đất thịt nhẹ Đất của tiểu phụ vùng 3b là loại đất tốt chỉ đứng sau đất phát triển trên đá mác
ma, ma fic và trung tính, rừng tự nhiên hỗn giao trc nứa, gỗ phát triển mạnh (đặc biệt họ tre nứa) [43: 91-93]
Bên cạnh diện tích rừng và diện tích đất trồng trọt giàu có về tiềm năng
thì ở các làng còn có trữ lượng nước lớn được lưu giữ ở tất cả những cánh
rừng đầu nguồn bao quanh làng Và chính những cánh rừng này lộ thiên ra
những mó nước mà người Mường gọi là (vó rác) hoà lưu thành những con suối (hớn cái) con khe (hón con) chảy quanh năm suốt tháng, người dân dùng
nước sạch từ những mó nước này để ăn và sinh hoạt hàng ngày, đồng thời đắp bai đào mương dẫn nước về đồng ruộng để trồng lúa
Những thuận lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như địa thế đất đai địa hình tự nhiên tạo điều kiện cần và đủ cuốn hút con người sớm đặt chân đến vùng đất này tụ cư sinh sống và lập nghiệp Người Mường đã có mặt ở đây từ rất lâu và sớm thích ứng với điều kiện môi trường tự nhiên
1.2 NGUỔN GỐC LỊCH s ử VÀ TÌNH HÌNH CƯ DÂN
Qua tài liệu khảo cổ học, xã cẩm Thành được xác định là vùng đất cổ, một trong những địa bàn cư trú và sinh sống của người Việt cổ Các nhà khảo
cổ học Việt Nam đã tim thấy dấu vết cư trú sinh sống của người nguyên thuỷ thuộc thời đại đồ đá giữa và sơ kỳ thời đại thời đá mới tại hang Cát- cẩm Liên, Nậm Trẹn- Phâng Khánh- cẩm Thành, khu Đống Nhót làng Muốt- cẩm Thành Những phát hiện này, cùng với phát hiện trước đó của bà Madeleina Colani khẳng định rằng vùng núi đá vôi Karstic và các thung lũng
xứ Thanh (Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành) là địa bàn quan trọng của
hai nền văn hoá Hoà Binh và Bắc Sơn nổi tiếng Đông Nam Á và thế giới có niên đại C14 trcn dưới một vạn năm Cũng theo ý kiến của Giáo sư Trần
Trang 18Tri thức địa phương Mai Vãn Từng
Quốc Vượng và Tiến sỹ Phạm Hổ Đấu (Bảo tàng Thanh Hoá) thì xứ Thanh (cũng như Nghệ Tĩnh- Bình Trị Thicn- Huế) còn là không gian văn hoá Sơn
Vi cuối đá cũ, tiền Hoà Bình, có niên đại 12 vạn năm [54:271]
Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn sơ kỳ đá mới được xác nhận là màn dạo đầu (Prelude) của cuộc cách mạng đá mới- còn gọi là cách mạng đá nông (Agrolithique), nghĩa là sự ra đời của nông nghiệp bắt nguồn nảy sinh ở vùng thung lũng chân núi xứ Thanh cũng như toàn Việt Nam và Đông Nam
Á, và trong nông nghiệp thì trồng trọt trội vượt hơn chăn nuôi (cho đến nay,
xứ Thanh và toàn Việt Nam) tinh hình nông nghiệp vẫn vậy [54:272J
Nguồn gốc tộc người Mường qua những tài liệu dân tộc học, ngôn ngữ, văn hoá dân gian đã chứng minh người Mường và người Việt (Kinh) có chung một nguồn gốc từ người Việt cổ Quá trình phân tách thành hai tộc người được diễn ra cùng với những bước thăng trầm của lịch sử từ thời Bắc thuộc Tộc danh Mường chỉ mới có từ thời Pháp thuộc, sự tách biệt từ người Việt vùng Mường thành dân tộc Mường chỉ là quy định định hành chính theo chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp cách đây khoảng 100 năm(4) Điều
đó phù hợp với thực tế về địa bàn cư trú của người Việt và người Mường trước thế kỷ XV chưa vượt quá đèo Ngang, bởi vì địa bàn cư trú người Việt
cổ chủ yếu ở những vùng thung lũng chân núi và đồng bằng ven sông, ven biển từ lưu vực sông Lam, sông Cả, sông Mã trở ra phía ngoài Bắc Ngay cả hiện nay địa bàn cư trú người Mường cũng chưa vượt qua bờ Nam sông c ả
mà vẫn chủ yếu cư trú ở những địa bàn cũ, vùng thung lũng chân núi từ Thanh- Nghệ trở ra Hoà Bình, Hà Tây, Phú Thọ tạo thành một địa bàn cư trú liên tục hình cánh cung ôm sát các đồng bằng châu thổ Chính vì thế văn hoá Mường còn bảo lưu được nhiều cơ tầng văn hoá của người Việt cổ nói chung và người Việt nói riêng tạo nên một sắc thái văn hoá đặc sắc đó là văn hoá thung lũng chân núi lấy nền tảng kinh tế trồng lúa nước là chính kết hợp với khai thác lâm thuỷ sản
ĐAI H O C G U Ố C G IA HÀ NỎI
Luận văn cao học TRUNG TÂM THÔNG Tin ĨHƯ VIỂN
V- L 2 1 *3,99
Trang 19Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
Ở các huyện Thạch Thành, cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc có tỷ lộ người Mường sinh sống chiếm 50% dân số toàn huyện Trước năm 1945 xã cẩm Thành có tên là mường Trám dưới sự quản lý của lang đạo dòng họ Phạm Phúc Hiện nay xã cẩm Thành có 13 làng, với 7 dòng họ: Bùi, Phạm, Cao, Trương, Lục, Nguyễn, Hà cùng sinh sống Tính cho đến tháng 4- 2004 xã có
số dân là 6564 người, trong đó người Mường chiếm 2/3 dân số (4547 người) còn lại là người Việt (2012 người) và 5 người khác thuộc dân tộc Thái, Dao
L àng Sô hộ Người Người M ường Người Việt
Trang 20Trị thức địa phương Mai Văn Tùn í>
1.3 ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VÃN HOÁ, XÃ HỘI
1.3.1 Đời sông kỉnh tế
Cư trú ở những vùng thung lũng chân núi, người Mường đã lấy trồng trọt và chăn nuôi làm hoạt động kinh tế chính Các hoạt động như săn bắn, hái lượm chỉ có ý nghĩa bổ trợ cho nền kinh tế tự cung tự cấp Song dù sao rừng và sông suối vẫn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong đời sống của họ, bời nó cung cấp nguồn lương thực và thực phẩm lúc giáp hạt hoặc khi đói kém, cung cấp gỗ để làm nhà và củi đun, nguyên liệu cho nghề thủ công như đan lát, cây thuốc chữa bệnh và nhiều lâm thổ sản quý hiếm khác Hiện nay đời sống kinh tế của các gia đình trong xã nhìn chung ổn định với mức sống binh quân trên đầu người là 317.000 đ
Ngoài sản xuất kinh tế nông nghiệp đồng bào ở đây còn kết hợp làm các nghề thủ công như dệt thổ cẩm, đan lát phục vụ chính đời sống sinh hoạt hàng ngày Hiện nay phần nhiều gia đình ở đây trong thời gian rảnh rỗi chị
em phụ nữ nhận đan cót thuê mỗi ngày cũng thu nhập được từ 10 đến I5.000đ mỗi người đủ để phụ chi thêm nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Xưa kia, bên cạnh công việc đồng áng nam giới còn kết hợp tổ chức săn bắn, ngoài mục đích đem lại nguồn thức ăn còn là một thú vui giải trí của giới mày râu gắn kết mối quan hệ cộng đồng Bên cạnh việc săn bắn đàn ông còn dành thời gian hàng ngày cho việc đánh bắt cá, tôm, cua, ốc ở khe suối, đồng ruộng quanh làng Đây là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng cần thiết trong từng bữa ăn của đồng bào
Vì nhu cầu cuộc sống cũng như sức ép về dân số dẫn đến một thực trạng số ruộng đất canh tác trên mỗi một nhân khẩu rất ít dẫn đến thời gian
dư thừa trong một năm rất nhiều, nên nhiều thanh niên trong độ tuổi lao động nhất là các nữ thanh niên chưa lập gia đình đã rời làng đi vào các tỉnh, thành phố trong miền Nam làm nghề may hoặc giúp việc để kiếm thêm thu nhập cho bân thân và gia đình, còn các nam thanh niên trong thời gian rảnh rỗi
Trang 21Tri thức địa phương Mai Vãn Tùng
cũng đi tìm kiếm thêm việc làm chủ yếu là những công việc cần đến sức khoẻ như phụ hồ, bốc vác, làm đường
1.3.2 Văn hoá, xã hội
Tất cả những người dân nơi đây chung sống hoà thuận, thương yêu đùm bọc lẫn nhau tạo nên sức sống cộng đồng cao, và đó cũng là một trong những
lý do để văn hoá Mường có sức sống trường tồn cùng thời gian Văn hoá dân gian của người Mường khá phong phú, bên cạnh truyện thơ như: ú t Lót- Hồ Liêu, Nàng Nga- Hai Mối, Nàng Ờm- Chàng Bồng Hương, Con Côi(5)còn có
ca dao, tục ngữ Mường phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của con người với thiên nhiên, ca ngợi trong lao động, tinh yêu, kinh nghiệm sản xuất
Cồng chiêng trước kia được sử dụng để báo tin, về sau cồng chiêng được trở thành dàn nhạc như hát Xéc bùa, trở thành một trong những thể loại
âm nhạc truyền thống của dân tộc được dùng trong ngày tết, đón khách đến làng, mừng nhà mới, mừng thọ, cưới vợ Hiện nay, một số làng còn giữ được trên 30 chiếc cồng và vẫn là nét sinh hoạt âm nhạc chủ yếu của làng
Trong nghi lễ có nhiều bài cúng, các bài mo dài như Mo đẻ đất đẻ nước dùng cho lễ lên số (thượng thọ) hay Mo lên trời dùng cho đám ma
Lễ hội Pồôn Pôông được người Mường tổ chức cứ 3 năm một lần vào tháng 3 âm lịch, phần lễ ông tổ nghề làm thuốc và phần hội là cuộc hát giao duyên của những trai thanh gái lịch tham gia
Chèo ma là một hình thức diễn xướng dân gian dùng để tiễn đưa người chết cao tuổi về cõi vĩnh hằng Chủ yếu là diễn các trò vui như Đánh ghen, Một ông hai bà tạo nên những động tác gây cười để làm giảm đi những nỗi buồn gia chủ, anh em họ hàng làng xóm khi phải vĩnh biệt một người thân
Ngoài ra còn có lễ hội đầu năm tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng
là lễ hội lớn nhất của làng đây là lễ thờ thành hoàng làng gồm có cúng tế, rước kiệu và tổ chức các trò chơi dân gian như kéo co, chọi gà, chơi đu, ném còn, cổng chiêng
Trang 22T i l thức địa phương Mai Ván Tùng
Trong xã hội truyền thống, các làng Mường nằm trong sự vận hành của
chc độ lang đạo Tuy nhiên, chế độ lang dạo ở đây chưa đến nỗi hà khắc lắm,
sự phân chia giai cấp chưa sâu sắc Đứng đầu mỗi mường là một lang cun (nêu là mường lớn), là lang (nếu là mường vừa và nhỏ), đứng đầu mỗi làng, chòm là đạo Đó là chế độ cha truyền con nối có quyền thế lớn về tinh thần,
kinh tế và hành chính Dân trong làng xưa kia cũng phải cấy cày phục dịch
cho lang đạo nhưng cũng chỉ ở mức độ vừa phải Triều đình phong kiến các thòi kể cả thực dân Pháp sau này cai trị vùng mường thông qua tầng lớp lang đạo Ở Mường Trám tầng lớp lang đạo thuộc về dòng họ Phạm Phúc, nơi ở
chính là ở làng Chiềng Trám (nay là địa phận UBND xã cẩm Thành) Chính
Pham Phúc Sơn là con cháu nhà lang họ Phạm đến khai phá những con ruộng
đầu tiên có công lập nên làng Muốt hiện nay và ông được dân làng phong thành thành hoàng làng Ở Thanh Hoá chế độ lang đạo được xoá bỏ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
Ở Cẩm Thành bên cạnh tầng lớp thống trị lang đạo, tầng lớp bị trị là
nhán dân còn có một tầng lớp khác không nhiều đó là tầng lớp Ậu- Mo Có thể xem đây là một tầng lớp trung gian có học và cũng có thể gọi là tầng lớp trí hức Mường, đây không phải là tầng lớp thống trị cũng không phải là tầng lớp bị trị song có quan hệ ngang hàng với tầng lớp lang đạo được nhân dân kính trọng và sùng bái Vị thế của các Ậu- Mo nhiều khi quan trọng hơn lang đạo, thậm chí ông lang còn phải nhờ cậy đến ông Ậu trong việc tế lễ, cưới xin, ma chay, làm nhà Nếu nhìn rộng ra không gian văn hoá Mường trong
cả nước nhất là những nơi mà bà Jeanne Cuisinier đã từng biết đến thì thấy trong từng không gian văn hoá Mường cụ thể mối quan hệ cũng như vai trò củc Ậu-Mo mỗi vùng cũng có những khác biệt ít nhiều
Mặc dù tầng lớp thống trị bị lật đổ đã nửa thế kỷ, song những ông Mo ông Ậu vẫn còn được nhân dân kính trọng, họ cũng chỉ là những người dân
Trang 23bình thường giúp làng xóm láng giềng ổn định về mặt tinh thần thông qua những công việc cúng bái hương khói khi trong làng có người nhắm mắt xuôi tay, tế lễ hàng năm ở đình làng đó là những công việc mà hàng ngàn đời nay ông cha họ vẫn làm, đó chính là những nghĩa cử tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, cầu mong cho cuộc sống ngày càng thịnh vượng hơn.
Xưa kia, cũng như hiện nay, trải qua hàng ngàn năm lịch sử đã hun đúc
cho người Mường ở đây tinh thần yêu quê hương đất nước, cùng truyền thống
cần cù lao động người Mường còn xây dựng cho mình truyền thống kiên cường bất khuất trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược Theo nghĩa quíìn Lê Lợi lập nên những chiến công oai hùng như trận Bồ Mộng- Lỗi Giang
Ngày hôm nay được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào ở nơi đây đã có nhiều thay da đổi thịt, hoà nhập cùng với xu thế phát triển chung của cả nước Mọi người ai cũng có quyền lợi, sống bình đẳng, quan hệ giữa các dòng họ trong làng xã bền chặt đoàn kết
1.3.3 Y tế, giáo dục
Việc chăm sóc sức khoẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi người tự chăm lo cho bản thân mình mà đó là công việc chung của cả cộng đồng Ngoài những tri thức dân gian trong việc chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ còn
có sự quan tâm của Nhà nước trong vấn đề y tế Hiện nay xã có một trạm xá đảm nhiệm công việc khám và chữa bệnh cho nhân dân, duy trì công tác tiêm chung mở rộng, vệ sinh môi trường
Trạm xá được xây dựng ở trung tâm- cạnh UBND xã, với gần hai chục giường bệnh, cùng đội ngũ nhân viên y tế 8 người, trong đó có một trạm trưởng và một trạm phó Các nhân viên y tế được đào tạo bậc trung cấp và hàm thụ cao đẳng Bên cạnh đội ngũ nhân viên y tế của trạm xá, còn có y tá
Trang 24Tri thức địa pliư<rni> Mai Văn Tùng
thôn làm nhiệm vụ hàng tháng đến trạm xá xã nhận thuốc chữa trị cảm cúm,
ho, sốt, ỉa chảy để cấp phát cho nhân dân trong thôn khi họ cần Đồng thời có trách nhiệm kịp thời phát hiện những căn bệnh mới xuất hiện trong dân và báo cáo với trung tâm y tế xã tìm giải pháp ngăn chặn và cứu chữa Ngoài ra,
y tá Ihôn còn phổ biến, hướng dẫn cho người dân trong thôn giữ vệ sinh trong
ăn uống, chuồng trại, đường làng ngõ xóm để bảo vệ sức khoẻ, tránh ô nhiễm, bênh tật
Vấn đề giáo dục từ lâu đã trở thành chiến lược giáo dục của quốc gia,
do đó vấn đề xã hội hoá giáo đục đã và đang được tiến triển rất lốt ở nơi đây Trước đây ở vùng Mường cẩm Thành đã có nhiều người học đến bậc đại học
và từng giữ những trọng trách lớn của Đảng và Nhà nước giao phó Phát huy truyền thống cha anh người Mường ở đây đã lập ra một quỹ khuyên học khuyến tài để động viên kịp thời con em đến trường đông đủ và học tốt
Theo báo cáo của UBND xã cẩm Thành, năm học 2003- 2004 xã có
232 cháu học mầm non, 735 học sinh tiểu học, 747 học sinh THCS, 184 học sinh THPT và 16 em đang theo học đại học và cao đẳng Hệ thống trường lớp tạm đủ để thầy trò dạy và học Riêng các cháu học sinh mầm non được học tại thôn, mỗi thôn có từ 1 đến 2 cô giáo mầm non, cấp học Tiểu học và cấp học THCS học tại trường ở trung tâm xã Riêng học sinh cấp THPT phải đi học cách trung tâm xã từ 8 đến 12 km, trong khi đường xá và phương tiện đi lại còn khó khăn Đây là những khó khăn trước mắt mà đồng bào đang còn phái khắc phục cho con em được đến trường
Bên cạnh công tác giáo dục ở nhà trường còn có sự dạy bảo chu đáo của ông bà cha mẹ đối với con cháu trong từng gia đinh, ngoài ra mọi người trong làng xóm còn có trách nhiệm chung trong việc chỉ bảo, góp ý cho con
em của mình, điều này đã trở thành truyền thống tốt đẹp hàng bao đời nay Tạo cho xã hội Mường có tôn ti trật tự, mọi người đều kính trên nhường dưới, ông bà cha mẹ mẫu mực con cháu hiếu thảo
Trang 25Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
1.4 TIỂU KẾT
Nhìn chung, người Mường ở xã cẩm Thành có lịch sử cư trú khá lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành huyện cẩm Thuỷ - Thanh Hoá Đây là một xã có nhiều làng Mường cổ cư trú ở những vùng thung lũng chân núi, và cho đến hiện nay vẫn chưa có sự xáo trộn nhiều lắm về mặt dân cư Người Mường chủ yếu lấy trồng trọt và chăn nuôi làm hoạt động kinh tế chính, các hoat độns; kinh tế khác chỉ mang ý nghĩa bổ trợ
Về mặt văn hoá tinh thần đồng bào Mường ở đây còn hảo lưu được nhiều giá trị văn hoá cổ truyền như tục ngữ, dân ca, ca dao, truyện thơ, lễ hội m ang đậm bản sắc văn hoá Mường
Chưa khi nào quá trình giao lưu, giao thoa văn hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, người Mường ở đây không khước từ những giá trị văn hoá tiến
bộ từ bên ngoài, đồng thời không ngần ngại loại bỏ những văn hoá hủ tục lỗi thời và ý thức rất cao trong việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mình
Về mặt xã hội, sau khi Hoà Bình lập lại (1954) chế độ lang đạo bị xoá
bỏ Sống dưới chế độ mới của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, người Mường cũng như bao dân tộc khác sống đùm bọc thương yêu lẫn nhau thông qua mối quan hệ hàng xóm láng giềng, dòng họ trong từng làng xã
Tất cả những giá trị về mặt lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội nó là nền tảng vững chắc để người Mường ở đây tồn tại và phát triển cùng đất nước Ngày hôm nay, bước sang thế kỷ XXI người Mường cùng góp sức với cả nước xây dựng và phát triển làng xã giầu mạnh hơn, đàng hoàng hơn
Trang 267I I thức địa phương Mai Văn Tùng
CHƯƠNG 2
NGƯỜI MƯỜNG VÓI TRI THỨC s ử DỤNG NGUỒN
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tri thức địa phương tộc người ở nước ta rất đa dạng và phong phú, biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau của đời sống tộc người, bao gồm những kim nghiệm sản xuất, nhất là canh tác nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm , trong việc sử dụng và quản lý nguỗn tài nguyên thiên nhiổn như rừng, đất đai, nguồn nước, trong hệ thống y học cổ truyền như quai niệm về sức khoẻ, cách chữa bệnh, chăm sóc thai nhi và bảo vệ sức khcẻ phụ sản , tri thức về đoán định thời tiết v.v Tất cả những hằng số tri thứ: này được bảo tồn ở những dạng thức khác nhau trong phạm vi gia đinh, dòr.g họ, làng bản, các tổ chức nghề nghiệp phường hội nhiều khi nó trở thàih những bí quyết (Know- how) trao truyền qua các thế hệ nối tiếp nhau, đang góp phần làm phong phú cho kho tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam
Nói như vậy để thấy rằng tri thức địa phương là một khoa học rất rộng rất hay, rất phong phú và đa dạng song đồng thời nó cũng rất hóc búa, hóc búa ở chỗ là phải có thời gian để giải mã, giải ảo tâm thức- tri thức dân gian qua lớp bụi của thời gian trong từng không gian văn hoá cụ thể Rồi phải có thờ gian để thẩm thấu mới mong tìm được những giá trị đích thực đúng nghĩa là “tri thức” và nhất là tìm ra những “tri thức hợp lý” thì càng khó, phải cần đến cả một quá trình lâu dài trong công tác nghiên cứu Chính vì lẽ đó
mà trong đề tài này chúng tôi chỉ khuôn lại trình bày những nét chính về tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của nguời Mường, góp thêm tư liệu cho việc hoạch định các chương trình phát triển có liên quan của Nhà nước và các tổ chức nước ngoài
2.1 TRI THỨC SỬ DỤNG ĐÂT LÀM RUỘNG NƯỚC
Người Mường có tập quán làm ruộng nước (trưa) từ lâu đời, trong đó
Trang 27Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
gồm hai loại ruộng, ruộng trũng là chân ruộng nàm ở giữa làng có nước
quanh năm cấy được hai vụ lúa (gọi là ruộng trưa chiêm)’, ruộng bậc thang thấp (người Mường gọi là ruộng trên ruộng dưới) hầu hết diện tích này cũng
cấy được 2 vụ lúa trong năm
Với đặc tính chung của cây lúa, người Mường cũng như người Việt và bao dân tộc khác vẫn xem nguồn nước là yếu tố quan trọng số một quyết định đến sự sinh trưởng của cây lúa “nhất nước nhì phân ” Do đó, từ khi những người đầu tiên đến đây định cư, lập làng sinh sống thì nước là mối quan tâm hàng đầu của họ Với thuận lợi nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn tuôn chảy quanh năm bởi 8 mó nước ở khu vực rừng đầu nguồn đã đáp ứng đủ nguồn nước ăn, sinh hoạt cũng như nguồn nước làm nông nghiệp và chăn nuôi
Nguồn nước mó tạo thành những khe suối chảy quanh làng từ tây sang đông rồi thoát xuống các làng có địa bàn thấp hơn như làng Cò Cánh, làng Chanh sau đó dồn ra suối cái cuối cùng hoà lưu vào dòng sông Mã rồi đổ ra biển
Những khu ruộng bậc thang cách xa những con khe, con suối thì người dân lấy nước bằng cách tạo ra những con mương nhỏ dẫn nước về ruộng Hoặc dùng những thân cây cọ, cây luồng tạo thành những máng nước nối dài
từ nguồn nước về ruộng, bằng những cách dẫn nước đa dạng ấy nên hầu hết tất cả những ruộng bậc thang cho đến ruộng trũng đều có thể cấy được hai vụ lúa cho năng suất cao
Người Mường ở đây quan niệm “một lát mai một bát cháo”, cho nên trong khu vực phạm vi của làng chỗ nào có thể trồng lúa trồng hoa màu là đồng bào không đê lãng phí cho dù một tấc đất
Trong quá trình chọn đất làm ruộng người Mường có những kinh
n ghiệm phân loại đất tốt, đất xấu Đất tốt khi đào lên thường có màu đen, xốp
c hứng tỏ đất có độ mùn cao nhiều chất dinh dưỡng giúp cây trồng phát triển nihanh Còn đất xấu là loại đất có màu vàng, cứng có pha cát làm cho đất cằn
Trang 28cỗi cây trồng phát triển chậm(6).
Căn cứ vào địa hình, chất đất người Mường chia ruộng thành 3 loạiRuộng loại 1: là loại ruộng trũng sâu nhất ở giữa làng cấy được hai vụ lúa trong một năm, có lợi thế mỗi khi trời mưa thì khối lượng nước từ trong làng chảy dồn xuống ruộng mang theo nguồn phân trâu, bò, lợn, gà cho năng suất lúa cao nhất so với các loại ruộng khác trong làng
Ruộng loại 2: là loại ruông gần kề khu ruộng trũng cũng gieo trồng một năm được hai vụ lúa, có lớp đất bùn khoảng 40 cm cho năng suất thấp hơn ruộng trũng
Ruộng loại 3: là loại ruộng xấu nhất có lớp đất bùn mỏng lẫn đá sỏi thường chỉ cấy được một vụ lúa mùa từ tháng 5 đến tháng 10 cho năng suất cây trồng thấp nhất
Cũng theo kinh nghiệm dân gian chọn được đất để làm ruộng thì cũng p-hài mất ba năm đầu cải tạo bằng cách cày, bừa, bón phân chuồng, phân
X anh nhằm tạo nên độ xốp, độ phì cho đất Phân xanh được dùng ở đây chủ
y ếu là lá xoan, cây bông hôi<7) không những có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng mà còn có tác dụng khử chua cho đất, sử dụng loại phân này bằng cách nhấn chìm xuống ruộng khi thối rữa dùng trâu bừa đều trên ruộng Ngoài dùng phân chuồng, phân xanh trong thời gian cải tạo đất cũng như
g ieo trồng người dân ở đây từ xa xưa đã biết sử dụng phân dơi từ các hang đá
d ùng để bón cho ruộng có chất đất cứng, khô Phân dơi không những cung cáp thêm cho đất hàm lượng dinh dưỡng, đáp ứng sự phát triển của cây trồng
m à còn có tác dụng tạo cho đất mềm và nhão Đối với ruộng bậc thang thì bờ ruộng là cực kỳ quan trọng, nó không những có chức năng giữ nước, điều pihối nước mà còn có chức năng chống sạt lở giữa chân ruộng trên và ruộng
d ưới Chính vì thế, theo kinh nghiệm người Mường không bón phân dơi vào ruộng có đất xốp và ruộng trũng vì nó tạo cho đất lỏng và nhão hơn, làm ảnh
h ướng đến độ chắc bền của hờ ruộng, khi có nước dỗ bị vỡ bờ
Trang 29Ngoài công việc cải tạo đất thành ruộng, khi canh tác lúa người Mường đều phải trải qua một quy trình làm đất theo các bước sau:
Đối với ruộng trũng thì không phải cày mà chí bừa gồm các công đoạnsau:
Bước 1: bừa nạp rạ (cho rạ đổ xuống đê trong thời gian ít nhất mộttuần)
Bước 2: bừa lai rạ (bừa lại cho rạ đảo ngược trở nên thối rữa)
Bước 3: bừa trang (bừa cho nhuyễn đất, trước khi bừa có bón lót phânchuồng)
Bước 4: bừa cấy (bừa cho phẳng ruộng trước khi cấy đồng thời phát cỏ đầu hờ và đắp lại những chỗ bờ bị sạt lở)
Đối với ruộng bậc thang (ruộng cao) thì không bừa nạp rạ cho rạ đổ xuống mà cắt rạ để khô đốt thành than làm phân, sau đó tiến hành các bước làm đất như sau:
Bước 1: cày vỡ
Bước 2: bừa san
Bước 3: cày ải
Bước 4: bừa trang và bừa cấy (như ở ruộng trũng)
Trong sản xuất nông nghiệp nông cụ chính là cày, bừa, cuốc (dùng để cuốc những góc ruộng không lượn cày vào được), dao (là loại dao có cán dài bằng 2/3 độ dài của lưỡi dao dùng để phát cây, cỏ đầu bờ ruộng Sức kéo chủ yếu dùng trâu là chính, người Mường ít nuôi bò để cày, kéo Xưa kia, những gia đình nào quá nghèo không có trâu, bò thì thường dùng cuốc làm đất, kết hợp dùng chân dẫm nhuyễn đất trước khi cấy
Người Mường xưa kia trồng cả hai giống lúa, lúa tẻ Ụó chăm) và lúa nếp {ló rếp), song chủ yếu trồng lúa nếp là chính Những tên giống lúa mà người dân ở đây còn nhớ được như ló pá láo, ló pá ten, ló cẩm (nếp cẩm), ló xén nén, ló pay tà, ló cháo, ló trường khê (lúa trứng nhái), ló luống lảo, ló củ
7 ri thức dig phươnịị _ _ Mai Văn Tùng
Trang 30Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
chán, ló tri hiừmg, ló củ hoa váng (nếp cái hoa vàng), ló nếp hạt cau.v.v Trong các loại lúa nếp trên thì giống lúa nếp cái hoa vàng, nếp hạt can được người dân cho là giống lúa ngon nhất Còn lúa tẻ chủ yếu là lúa tàm (tám thơm-hạt dài) và lúa châm pdi (gần giống hạt lúa nếp-hạt tròn) Nhìn chung,
đây là những giống lúa địa phương dài ngày, kể từ khi gieo mạ cho đến khi thu hoạch là 5 tháng Có đặc điểm thân cao, cứng, năng xuất thấp so với các giống lúa hiện nay nhưng cho cơm thơm và dẻo Việc lựa chọn những giống lúa cho phù hợp với thổ nhưỡng đất cũng như điều kiện sinh thái từng vùng từng loại đất loại ruộng là cả một quá trình thử nghiệm lâu dài của người Mường từ xa xưa
Nhìn chung, giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng chậm kể từ khi gieo đến khi thu hoạch là 5 tháng Theo kinh nghiệm của người dân khi cấy khoảng cách giữa các gốc lúa từ 30cm đến 35cm nếu là lúa tẻ, từ 40cm đến 45cm nếu là lúa nếp sẽ cho năng suất cao Nếu cấy dầy hơn thì đất không đáp ứng đủ chất dinh dưỡng cho cây lúa phát triển, dẫn đến chất lượng hạt kém cho năng suất thấp
Trước sức ép dân số, được sự đầu tư giúp đỡ giống cũng như kỹ thuật của Đảng và Nhà nước mà trực tiếp là Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đã từng bước đưa các giống lúa thuần, lúa lai ngắn ngày như khang dân, kim cương, CR203, Q5, Q6, BD5 Đối với giống lúa nếp người Mường chỉ trồng duy nhất nếp thuần 97 Đặc tính của lúa thuần là những giống lúa tái giá được(8), người dân có thể tự để giống lúa từ năm nay đến sang năm gieo trồng mà không phải mua giống mới Các giống lúa lai như
838, nhị ưu 68, tạp giao, bồi tạp, xuân thanh, đây là những giống lúa không tái giá được, mỗi khi gieo trồng phải mua giống mới
Công việc lựa chọn giống và bảo quản giống cũng được người dân ở đày từ xa xưa tuân thủ nghiêm ngặt qua các bước sau: Khi lúa chín người ta chọn những bông lúa cao, to, nhiều và đều hạt, ngắt từng bông tại ruộng bó
Trang 31Tri tliức đia phương Mai Văn Tùng
thành từng bó mang về đưa lên gác bếp Năm sau đến mùa gieo mạ gia đình mang lúa xuống vò hạt rời khỏi hông, sẩy sạch hạt lép rồi tiếp tục thực hiện quy trình ủ gieo Hiện nay, ngoài những giống lúa tái giá được đồng bào mua tại phòng khuyến nông của huyện Để đám bảo cho hạt giống cũng như năng xuất vụ sau, những giống lúa tái giá được đồng bào tuân thủ những kinh nghiệm chọn giống và cách bảo quản giống như giống lúa địa phương trước đây
Về gieo trổng từ xưa người Mường đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm Trước tiên là việc ủ lúa gieo mạ, người ta vò lúa giống tách hạt khỏi bông rồi sẩy sạch lúa lép chỉ lấy hạt mẩy (hạt chắc), hoặc cho lúa vào nước, hạt nào nổi vớt ra và lấy hạt chìm cho vào bì hoặc những đồ đan bằng tre luồng như sọt, thúng mủng bịt kín cho khỏi rơi vãi rồi mang ngâm ở khe suối
2 ngày 2 đêm Sau đó vớt lúa lên đổ ra nong ra cót cho lúa ráo nước và dùng
lá ráy lót vào thúng hoặc mủng cho lúa vào đó và đậy lên một lớp lá ráy khác,(9) rồi mang ủ vào đống rơm, rạ hoặc để gần bếp sao cho đủ độ ấm, thời gian ủ thường 2 ngày 3 đêm là lúa nảy đều mầm Trong thời gian ủ lúa thỉnh thoảng tưới vào một ít nước vừa đủ để cho hạt giống lúc nào cũng giữ được
độ ẩm tạo điều kiện tốt cho quá trình nảy mầm
Từ khi vãi mạ (bắc mạ) đến khi mạ được cấy là khoảng một tháng Trong khoảng thời gian này người ta vừa tập trung chăm sóc mạ đồng thời tập trung làm đất để kịp đưa cây mạ xuống cấy Người Mường có câu “khoai đất lạ, mạ đất quen”, từ kinh nghiệm dân gian này người dân đã để dành một một số chân ruộng cho gieo mạ gọi là đất chân mạ Đất chân mạ là những khoảnh ruộng loại 1, đây là loại ruộng trũng tốt nhất ở giữa làng
Hiện nay, người Mường chủ yếu là trồng những giống lúa lai, lúa thuđn chủng nên đồng bào đã tiếp thu kỹ thuật gieo trồng mới phù hợp với quá trình sinh trưởng của cây lúa Trước khi ủ phái ngâm lúa trong chế độ nước pha 2 sôi 3 lạnh, giống lúa thuần chủng ngâm đủ thời gian 48 giờ và
Trang 32Tri thức địa phương Mai Vân Tùng
thời gian ú nẩy mầm bằng thời gian ngâm Còn giống lúa lai thời gian ngâm 16- 24 giờ và thời gian ủ cũng tương ứng thời gian ngâm
Giống lúa lai và giống lúa thuần là các giống lúa ngắn ngày do đó thời gian dành cho cây mạ sinh trưởng chỉ tối đa 15 ngày, sau đó đưa xuống ruộng cấy Xưa kia đất gieo mạ sau khi nhổ mạ không được sử dụng để cấy lúa vì nếu không đất sẽ hết chất làm hỏng đất chân mạ Hiện nay, người dân
ớ đây đã tận dụng các loại đất để gieo mạ thâm chí gieo cả trên sân, trên bờ
ao, lý do đây là giống lúa ngắn ngày thời gian sinh trưởng của câv mạ không dài Khi mạ đủ thời gian để cấy người ta dùng xẻng để xúc từng đám mạ hoặc cuốn mạ thành từng cuộn tròn sau đó xé tách mạ để cấy sao cho vừa đủ theo quy định kỹ thuật gieo trồng mới
Giống lúa mới hiện nay là giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng
có kết hợp nhiều loại phân bón hoá học kích thích từng chu kỳ phát triển của cày lúa, do vậy cho phép cấy khoảng cách giữa các gốc lúa gần hơn, gốc cách gốc 10cm và hàng cách hàng 20cm
Từ khi cấy giống lúa ngắn ngày người Mường còn thâm canh thêm một vụ ngô đông, tháng 9 âm lịch gặt lúa mùa xong là cày úp đất và trồng luôn ngô đông, đến đầu tháng 12 âm lịch là thu hoạch và trồng luôn lúa đông xuân (lúa chiêm) Đây là một hình thức thâm canh tăng vụ sử dụng triệt để sức đất trong mấy năm trở lại đây ở người Mường
Quá trinh chăm sóc và thu hoạch là một khâu rất quan trọng trong chu
kỳ mùa vụ Trải qua nhiều đời trồng lúa, người dân đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc cây lúa phù hợp với đặc tính cây lúa cũng như thổ nhưỡng đất đai ở đây
Trước đây, khi cấy những giống lúa địa phương người Mường có tập quán bón lót phân trâu(10) sau đó bừa trang đều mặt ruộng, tạo cho ruộng bằng phẳng dễ cấy Cấy được 20 ngày là làm cỏ lần một kết hợp sục bùn và dùng phân gà, vịt, phân trâu nạc để bón thúc Sau một tháng làm cỏ lần hai
Trang 33roi chờ lúa chín và thu hoạch.
Hiện nay, người Mường đã trồng những giống lúa mới ngắn ngày, nhưng trong quá trình gieo trồng họ vẫn bón lót và thời kỳ lúa con gái bón thúc bằng phân chuồng và phân hoá học Chỉ làm cỏ duy nhất có một lần (hoặc phun thuốc trừ cỏ) lúc cây lúa được 12 đến 15 ngày Khoảng 15 ngày tiếp theo cũng là lúc lúa bước vào thời kỳ con gái, đây là thời điểm bón thúc phán đạm, NPK cho lúa đón đòng(11), khi lúa đón đòng thì bón thêm phân lân, kali cho lúa mẩy và chắc hạt Trước khi gặt vài ngày tháo cạn nước ở ruộng để ruộng khô cho dễ gặt và vận chuyển
Trong quá trình chăm sóc cây lúa người Mường có nhiều kinh nghiệm phòng ngừa sâu bệnh, để phòng ngừa bọ xít, châu chấu người ta dùng lá xoan tươi băm nhỏ trộn lẫn với tro bếp rồi vãi đều ra ruộng lúa, cách phòng ngừa này rất có hiệu quả, không ảnh hưởng đến nguồn nước Muốn chống chuột thì dùng lông, phân dê mang vãi ra ruộng lúa cũng làm cho chuột sợ không đến nữa, khi lúa gần chín buộc túm một số thân cây lúa tạo thành một số ụ ở gaữa ruộng lấy nơi cho chim cú mèo đậu để đêm chúng rình bắt chuột, đây cũng là một cách làm cho chuột sợ rất hiệu quả Ngoài hai cách đuổi chuột trên, người Mường còn lấy một ít mỡ trăn bôi trên lưỡi dao trước khi dùng dao phát cỏ xung quanh bờ ruộng, cách này cũng làm cho chuột không dám đến ăn lúa Theo giải thích của Mường mùi mỡ trăn rất kỵ chuột và làm cho chuột sợ Ngoài ra các gia đình phải trông giữ trâu, bò, lợn, gà, vịt không để chúng phá hoại hoa màu chung của làng
Trong nhiều năm trước đây cùng với quá trình đưa khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp, dùng phân hoá học, thuốc trừ sâu với mục đíích tăng năng suất cây trồng, thực tế đã đem lại nhiều kết quả khả quan góp phán đáng kể về an ninh lương thực cho nhân dân, nhưng hậu quả để lại là nguồn tôm, cá, cua, ốc cạn kiệt, chưa kể là làm cho nguồn nước và môi trưởng ô nhiễm, các loài chim cũng giảm, đặc biệt là giống chim sáo và chim
Trang 34cú mèo Trước đây hai giống chim này là đồng minh đắc lực của con người trong việc diệt chuột, trừ châu chấu và sâu bọ.
Hiện nay, người Mường đã không lạm dụng trong việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân hoá học, họ biết kết hợp những kinh nghiệm dân gian, hạn chế sử dụng phân hoá học trong trồng trọt Đây là một thành công mà nhân dàn nhiều làng đã làm được trong một số năm gần đây
2.2 TRI THỨC SỬ DỤNG ĐÂT NƯƠNG RAY v à l à m v ư ờ n
2.2 Tri thức sử dụng đất canh tác niĩơng rẫy
Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài việc trồng lúa nước người Mường
còn kết hợp canh tác nương rẫy (roọng){i2) và làm vườn (cha).
Theo lịch nhà nông, cứ vào tháng 3, tháng 4, hàng năm là mùa phát rẫy Thông thường từ 5 đến 10 gia đình chọn một cánh rừng để cùng nhau phát đốt, trồng trọt, chăm bón, bảo vệ mùa màng và chống thú rừng phá hoại
Người Mường cho biết, để có một đám rẫy canh tác thì công việc trước tiên là công việc chọn rừng phát rẫy, đây là khâu quan trọng nhất của quy trình sán xuất Ngoài những cánh rừng đầu nguồn, rừng cấm, theo luật tục không được xâm phạm, còn lại những cánh rừng giang, nứa, vầu là được phép phát, đốt để canh tác cây lương thực Kinh nghiệm cho biết, đất ở những khu rừng này rất tốt, vì có nhiều chất mùn được tích hợp từ những lớp lá rụng và những lớp phủ thực vật trên bề mặt được phân huỷ hàng năm Đồng thời khi phát đốt cây, cỏ và lá khô trên mặt đất sẽ trở thành than tro, đây là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho lúa, ngô, sắn phát triển
Khi chọn được khoảnh rừng ưng ý, người ta dùng dao (dao ríữig) chặt
phát toàn bộ cây cối ở đó ngả xuống tại chỗ Đê khoảng 1 tháng sau, chọn ngày trời nắng to, vào lúc 2 hoặc 3 giờ chiều châm lửa đốt thành tro, đốt thời gian này thì cây khô không bị ẩm, dễ cháy
Đế chống cháy rừng, trước khi đốt các chủ rẫy phải phát quang một đường biên xung quanh có dường kính rộng khoáng 2m đến 3m ngăn cách đê
Tri thức địa pỉuarnịị _ Mai Văn Tùng
Trang 35Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
khi đốt lửa không thể cháy bén vào rừng Khi đốt rẫy người ta thường châm lửa từ dưới chân rẫy cho lửa cháy bốc ngược lên, cách đốt này vừa dễ cháy, đồrg thời làm cho các cành củi khô hầu như cháy hết đỡ mất thời gian vệ sinh rẫy trước khi tra hạt
Theo lịch sản xuất, khi làm phát rẫy xong, vào tháng 5 âm lịch người Mưttig bắt đầu tra hạt Kinh nghiệm dân gian cho biết, thổ nhưỡng đất cẩm Thính chỉ phù hợp với cây lúa, cây sắn và một số cây hoa màu khác, riêng đối với cây ngô thì không phù hợp với chất đất ở đây Bởi vậy, nhiều gia dinh
đã phải sang trồng ngô nhờ đất của họ hàng sống bên làng Ruồng, làng Đèn củahuỵên Bá Thước
Về kỹ thuật trồng lúa rẫy khác với trồng lúa nước ở chỗ không ngâm
và u lên mầm lúa giống mà tra hạt giống trực tiếp vào lỗ Theo tập quán sản xuât của người Mường, khoảng cách giữa các lỗ tra hạt lúa từ 40 đến 50cm,
mỗ lỗ tra 5 đến 7 hạt; ngô khoảng lm, mỗi lỗ tra 2 hạt là hợp lý nhất
Do địa hình đất dốc nghiêng, không bằng phẳng và nhiều rễ cây, hơn nữa để chống xói mòn, sạt lở nên người Mường không áp dụng một hình thức làm đất tơi xốp nào trước khi tra hạt giống, mà chỉ áp dụng hình thức dùng gậy chọc lỗ và tra hạt Công cụ để chọc lỗ tra hạt là một chiếc gậy đẽo nhọn mội đầu, có đường kính từ 3 đến 4 cm, dài từ 1,5 đến 1,8m
Theo kinh nghiệm dân gian, để cho chim, thú không ăn hạt giống trên rẫy cũng như muốn cho hạt giống nhanh nẩy mầm, người ta thường chọn ngà/ tra hạt vào dịp trời có mưa Tốt nhất là chọn được ngày tra hạt buổi tối
có nưa
Mỗi khi tra hạt giống trên rẫy đồng bào kết hợp tra xen các loại hạt bầu bí, mướp, đậu ở vùng biên xung quanh rẫy Xen canh còn là một tập quái trong canh tác nương rẫy của người Mường
Công việc chăm sóc rẫy của người Mường cũng rất đơn giản, từ khi tra hạt who đến khi thu hoạch thường chỉ làm c ỏ 1 lần vào thời gian lúa thì con
Trang 36Tri thức địa phương Mai Văn Tùng
gái(lì| Đồng bào không có thói quen bón phân trên đất rẫy, kể cả bón lót Do
đó, theo tập quán, một đám rẫy đồng bào cũng chỉ canh tác được 2-3 vụ (tương ứng thời gian từ 2 đến 3 năm) là phải chuyển đến canh tác ở một đám rẫy khác, đám rẫy cũ rừng tiếp tục tái sinh Cứ luân chuyển như thế khoảng
10 đến 15 năm sau mới trở lại đám rẫy ban đầu Đây là một hình thức canh tác nương rẫy theo chu kỳ luân canh khép kín của người Mường
Vì rẫy ở trong rừng nên có rất nhiều thú như: khỉ, lợn rừng, nai, hoẩng, và chuột phá hoại, do đó giữa các gia đình phải kết hợp với nhau để ngăn chặn bằng cách đánh bẫy và săn bắn, kết hợp làm những hình bù nhìn
và đội một cái nón rách đặt ở giữa rẫy Trường hợp rẫy ở gần suối, người ta chặt một số cây nứa to chẻ đôi một đầu đặt xuôi theo dòng nước, khi nước chảy hai nửa của cây nứa vỗ vào nhau tạo ra tiếng động làm cho thú sợ không dám đến gần
Lúa, ngô thường thu hoạch vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 âm lịch Dụng cụ thu hoạch lúa là một chiếc dao con, dùng để ngắt từng bông (không dùng liềm), rồi bó lại thành từng gồi khoảng 5 đến 6 kg mang về gác trên gác bếp Khi nào gia đình cần dùng để ăn thì lấy lúa xuống bỏ vào nong(l4), nia hoặc một cái máng gỗ rồi dùng chân đạp cho hạt rời khỏi cuống bông sau đó mang đi xay, giã, dần, sàng lấy gạo nấu cơm hoặc đồ xôi(l5)
Theo tín ngưỡng dân gian người Mường kiêng không đập vì sợ đau
“hồn lúa”, làm cho lúa mất vía năm sau sẽ mất mùa Hiện nay, đồng bào gặt lúa mang về nhà hoặc dùng máy tuốt luôn ở ngoài đồng, phơi khô bỏ vào hòm hoặc đóng bao cất đi sử dụng dần
Từ khi rừng được Nhà nước quản lý, cấp sổ đỏ (1994) công nhận về quyền sử dụng đến từng hộ gia đình thì hình thức canh tác nương rẫy không còn nữa Tất cả số đất rầy xưa của làng giờ đày trở thành những khu rừng tái sinh, trả lại màu xanh nguyên thuỷ của núi rùng nơi đây
Trang 372.2.2 Tri thức làm vườn
Người Mường gọi vườn là (cha), có hai loại vườn là vườn nhà (cha nhú) và vườn rừng (cha ríừỉg) Vườn nhà bao giờ cũng thuộc đất thổ cư, trước
đây chủ yếu trồng những loại cây lun niên như mít, mận, mơ, bưởi, chuối
Hoa quả ở trong vườn chủ yếu đủ để gia đình dùng, thỉnh thoảng làm quà
biếu cho khách xa gần đến chơi, chỉ những gia đình nào gần chợ nếu ăn không hết thì mới mang đi bán lấy tiền mua nhu yếu phẩm như mắm, muối Hai loài cây truyền thống không bao giờ thiếu được trong bất kỳ khuôn viên của gia đình Mường đó là những hàng cau và những giàn trầu, nó trở thành hình ảnh thơ mộng của những làng thuần Mường Nó càng không thể thiếu được trong cưới xin, ma chay, cũng như thú ăn chơi trong đời sống hàng ngày, vì người Mường đã có tục ăn trầu từ lâu lắm rồi, trở thành một nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực Mường nói chung
Ngoài những cây lưu niên là những loại rau thơm mọc tự nhiên trong vườn được tích tụ qua nhiều đời như lá mơ, xương xông, mùi tàu, lá lốt, riềng, sả, ớt.v.v làm gia vị cho nhiều món ăn mang hương vị đặc biệt trong vần hoá ẩm thực Mường [30]
Vườn của người Mường thường rất rộng, do đó nhà nào cũng tận dụng
đe nuôi thả gia súc, gia cầm, chủ yếu là lợn, gà, vịt, chó, mèo Hầu hết các gia đình đều nuôi trâu, nếu như không nhốt trâu ở dưới gầm nhà sàn thì bao giờ ở một góc vườn cũng được dựng một cái chuồng để giữ vào ban đêm và những lúc nghỉ ngơi
Ngày hôm nay, vẫn những hàng cau, những giàn trầu truyền thống tạo cho không gian ấm áp của một làng Mường cổ truyền mà không thể lẫn vào bất cứ một loại làng nào khác Song bên cạnh cái gọi là cổ truyền- cổ điển đó
là sự xuất hiện yếu tố mới- hiện đại trong khuôn viên vườn của người Mường
đó là sự có mặt của một số loại rau như mồng tơi, rau khoai, rau ngót, mướp.v.v được chăm sóc cẩn thận dùng trong bữa ăn hàng ngày mà trước
Trang 38T n thức địa phương Mai Văn Tùng
kia người dân ở đây ít để ý tới Hơn nữa, trong khuôn viên của từng gia đình còr có sự xuất hiện chuồng gà, chuồng lợn, nhiều gia đình còn đào ao thả cá
và nuôi vịt Có lẽ, một mặt do sức ép về dân số, mặt khác do sự ảnh hưởng từ bêr ngoài tác động đến mọi mặt của đời sống nên người Mường ở đây đã tập trung đầu tư khai thác những giá trị tiềm năng ngay trên mảnh vườn nhà, góp phin nâng cao hàm lượng dinh dường trong bữa ăn hàng ngày
Vườn rừng của người Mường đã có từ lâu đời, nằm ngoài phạm vi đất thổ cư có diện tích lớn hơn vườn nhà nhiều khi tới hàng mẫu Để có một khu vưcn rừng, kinh nghiệm cho biết cũng phải mất 3 năm khai phá Việc trước tiêr người ta phải làm đó là vào rừng chọn đất, thông thường người ta chọn thej 2 tiêu chí sau: Thứ nhất là ở những khu rừng gần nhà để dễ quản lý và chãm sóc, thứ hai là đất tốt và độ dốc thấp Tuyệt đối không được khai phá vưcn rùng trong phạm vi rừng đầu nguồn mà làng quy định Những gia đình
có /ườn rừng họ được toàn quyền sử dụng để khai thác và quản lý, kể cả đời cor đời cháu của họ Đây được coi như tài sản riêng của gia đình, không ai đưcc xâm phạm Chỉ khi nào khu rừng bị bỏ hoá, không khai thác và quản lý nữa thì trở thành rừng chung của làng Có thể coi vườn rừng là một khu vườn tổng hợp trồng nhiều loại cây khác nhau mang đặc trưng rừng hơn là vườn,
do vậy nên người Mường gọi là vườn rừng (cha rứng), và thường dùng để
trổrg luồng, giang, vầu, nứa Từ năm 1994- 1995 cho đến nay rất nhiều hộ gia đình phát triển kinh tế vườn rừng, chủ yếu là trồng những loại cây lấy gỗ
cỏ giá trị kinh tế cao như luồng, lim, lát , các cây ăn quả như nhãn, bưởi, mận, na hoặc còn trồng cả những cây lương thực như sắn, ngô Nhiều gia đìm làm kinh tế vườn rừng mỗi năm thu hoạch tới ba, bốn chục triệu đồng, trở hành những điển hình làm kinh tế giỏi của huyện, tỉnh
2.3 NÔNG LỊCH
Bắt nguồn từ truyền thống làm ruộng nước là chính có kết hợp làm rẫy,
do vậy người Mường đã xây dựng cho mình một hệ thống nông lịch hoàn
Trang 39Tri thức địa phương Mai Vân Tùng
chỉnh, đúc kết và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong trồng trọt, đến nay những kinh nghiệm đó vẫn còn có ích trong đời sống cư dân Chính
vì vậy, chúng tôi xin được giới thiệu nông lịch người Mường cả trong truyền thống và hiện đại để tiện cho việc hình dung công việc nhà nông trước đây, đồng thời qua nông lịch này sẽ nhận biết sự chuyển đổi mùa vụ cũng như chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng trong giai đoạn hiện nay
Lịch của người Mường gồm 12 tháng, mỗi tháng đủ 30 ngày Cho đến hiện nay người Mường ớ cẩm Thành sử dụng cả âm- dương lịch và lịch Mường Đặc biệt khi làm bất cứ việc gì như gieo mạ, cấy lúa, làm nhà, đám cưới,v.v đều tính theo lịch của người Mường và người ta rất tin vào giá trị lịch pháp của mình Dưới đây là nông lịch của một làng người Mường mà chúng tôi thu thập được
NỎNG LỊCH CỦA NGƯỜI MƯỜNG LÀNG MUỐT
1 2 3 Ản tết, cấy lúa muộn, tổ
chức lễ hội- lễ hạ điền
Ản tết, tổ chức lễ hội- lễ
hạ điền, cấy lúa muộn, làm cỏ lúa lần một, bón phân
2 3 4 Làm cỏ lúa chiêm lần
một + bón phân, trồng bông, trồng sắn
Làm cỏ lần hai + bón phân, trồng sắn
3 4 5 Làm cỏ lúa chiêm lần hai
+ bón phân, làm cỏ bông, làm cỏ sắn lần hai, phát rẫy
Làm cỏ sắn lần một, đi rừng
4 5 6 Đan chài, đan đó đi câu,
làm cỏ sắn lần hai
Gặt lúa vụ chiêm, làm cỏ sắn lầm hai
5 6 7 Gật lúa chiêm, trồng lúa
rẫy, trồng ngô, làm đất, cúng cơm mới, cúng hồn lúa
Làm đất, gieo mạ, cúng cơm mới, ãn tết mùng 5
6 7 8 Cấy lúa mùa Cấy lúa mùa, làm cỏ lần
một + bón phân
Trang 40Tri thức địa phương Mai Văn Từng
7 8 9 Làm cò lúa mùa lần một
+bón phân, làm cỏ lúa rẫy
Làm cỏ lúa mùa lần hai + bón phân
8 9 10 Làm cỏ lúa mùa lần hai +
bón phân, đi sãn
Đi rừng
9 10 Một Gặt lúa rẫy, thu hoạch
ngô, đi săn
Gặt lúa mùa, cúng cơm mới, làm đất, trổng ngô đỏng
10 1 1 Chạp Gặt lúa mùa, cúng cơm
mới, đi săn, làm đất
Làm cỏ ngỏ đông
11 12 Giêng Gieo mạ chiêm, đi săn Gieo mạ chiêm
12 1 2 Cấy lúa chiêm, thu hoạch
sắn và chuẩn bị tết
Thu hoạch ngổ đông, làm đất, cấy lúa chiêm, thu hoạch sắn, chuẩn bị tết.
Ngoài lịch nông nghiệp (lịch mùa vụ nhà nông) người Mường còn có lịch dùng hàng ngày vào nhiều công việc, theo người Mường thì đây là lịch cho cách tính ngày “linh nghiệm nhất”
Ngày
1
cân trong xướm trong kim trong phá rò kim xa xướm xa cân xa phá ngàng
2 xướm trong kim trong phá rò kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong
3 kim trong Phá rỏ kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong
4 phá rỏ kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong kim trong
5 kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong kim trong phá rò
6 xướm xa cân xa phá ngàng cân trong XƯỚITÌ t r o n g kim trong phá rò kim xa
7 cân xa phá ngàng cân trong xướm
trong
kim trong phá rỏ kim xa xướm xa
8 phá ngàng cân trong xướm trong kim trong phá rò kim xa xướm xa cân xa
9 cân trong xướm trong kim trong phá rò kim xa xướm xa cân xa phá ngàng
10 xướm trong kim trong phá rò kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong
11 kim trong phá rỏ kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong
12 phá rỏ kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong kim trong
13 kim xa xướm xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong kim trong phá rò
14 xướin xa cân xa phá ngàng cân trong xướm trong kim trong phá rò kim xa
15 cAn xa phá ngàng cân trong xướm kim trong phá rò kim xa xướm xa