1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) những vấn đề triết học về con người trong tác phẩm hệ tư tưởng đứccủa c mác và ph ănghen

125 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 21,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải thích đúng vấn đề này chúng ta thấv được bản chất nhân đạo triệt để của chủ nghĩa Mác.Trong tình hình phát triển như hiện nay của nhân loại, với nhiều vấn đề đặt ra cho con người nh

Trang 1

m / z

tữũị>

ĐẠI I I ọ c QUỐC GIA IỈẢ NỘI

TRI INC ; TÂM t)À( ) TẠ< ), HOI 1)1 ỈỠN( ỉ (ỈIẢNí ; VU ;N IÁ I IẬN ( IIÍNII I RỊ

-d t o

-L Ê THỊ THANH IIÀ

NHfN<; VẤN f)Ể TRIKT IKK ví: CON NC.rÒ! TKONCỈ TÁC PHẨM

"Ilf: I IrTƯỚNG HỨC" CÙA c MÁC VÀ m.ANCCUKN

( ’huyên Iiị>ành: TRI€T HỌC Mil so: 60 22 80

LUẬN VÃN TH ẠC s ĩ T R IẾ T HOC

Ị” đT ~ J O C ỈRU N to IÔ N G

Trang 2

L ờ i cam đoan

Tôi xỉn cam đoan đây là công trình nghiên cứ u của riêng tôi\ dưới s ự h ướ ng dẫn của PGS, TS Trần N gọc Linh Các vấn

đề nêu ra trong luận văn là trung thực, đàm bảo tính khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất x ứ rõ ràng.

Hà nội, ngày 5 thảng 4 năm 2006

Tác giả luận văn

t

L ê Thị Thanh Hà

Trang 3

Mục lục

Trang

Mở đ ầ u 1

Chương 1 Vị trí của tác phẩm "Hệ tư tường Đ ứ c" 6

1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm 6

1.2 Ý nghĩa của tác phẩm 19

Chương 2 Quan niệm triết học về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng ĐứcM 30

2.1 Con người "hiện thực" trong tác phẩm "Hệ tư tường Đức" theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ángghen 30

2.2 Bản chất con người theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đ ức" 44

2.3 Tư tường về giái phỏng con người theo C.Mác và Ph.Ăne&hen trong tác phẩm "Hệ tư tường Đ ức'' 62

Chương 3 Những giá trị lý ĩuận và ý nghĩa phưong pháp iuận của quan niệm về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức” đối với phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 74

3.1 Những giá trị về lý luận và phương pháp luận của vấn đề con người trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” 74

3.2 Vấn đề phát triển con người Việt Nam hiện n a y 97

Kết luân 113

Danh mục tải ilệutaam khảo 116

Trang 4

M ở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Con người là đối tượne nghiên cứu của nhiều môn khoa học Mồi khoa học tiếp cận con người theo một phươns pháp riêng phù hợp với đối tượng, đặc điểm cùa mình Song, giải đáp những vấn đề chune nhất về con người như bàn chất con người là gì? Vị trí vai trò của con người đối với thể giới như thế nào? mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong đời sổng con người là nhiệm vụ của triết học Nhiều nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề con người theo những cách khác nhau, nhưng chi đển triết học Mác mới xem xét vấn đề con người, vai trò và bản chất của con người một cách nhất quán, đầy dù và sâu sác trên lập trườne duy vật biện chứng triệt để và khoa học

Neày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tuy được điều khiển bời bộ óc và bàn tay con người, nhưng đã tạo ra nhữne điều kỳ diệu mà chính con người nhiều khi cũng không thể lường tới, đồng thời cũng đang đặt ra những vấn đề cần được gấp rút giải đáp một cách chuns nhất dưới eóc dộ triết học: Con người là gì? Con người có vị trí như thế nào trong xã hội? Tương lai loài người rồi sẽ ra sao? Con người có thể làm chủ được kỹ thuật hay không? Hay là kỹ thuật sẽ thống trị con người? Liệu con người có thể tạo ra nhừnạ cỗ máy có năng lực trí tuệ như chính mình, thay thê được vai trò con người trong hoạt động sản xuất vật chất hay không? Do đó cỏ thể nói rằng, việc nghiên cứu những vấn đề triết học về con người khône phài là một đề tài mới, song

nó vẫn là vấn đề có tính thời sự cần phải được quan tâm nghiên cứu

Tác phẩm "Hệ tư tường Đức” là một ưong nhữna tác phẩm đánh dấu sự trường thành của chủ nghĩa Mác Đây là tác phẩm viết chung của C.Mác và Ph.Ăngghen Trone tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ảngghen đã thể hiện một cách toàn diện quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử - vấn đề triết học về

Trang 5

con người là một trong những nội duna được đề cập ờ đây, lần đâu tiên những tiền đề con người hiện thực tham dự vào lịch sử được đề cập và giải quyết triệt để Những tiền đề đỏ là: con người, hoạt động của họ và những điều kiện vật chất của hoạt độns đó Đồng thời đây cũng là những tiền đề của bàn thân lịch sử và những tiền đề của quan niệm duv vật lịch sử Giải thích đúng vấn đề này chúng ta thấv được bản chất nhân đạo triệt để của chủ nghĩa Mác.

Trong tình hình phát triển như hiện nay của nhân loại, với nhiều vấn đề đặt ra cho con người như trên, thỉ việc tìm hiểu quan điểm của những người sáng lập ra triết học Mác về vị trí, vai trò, bản chất con người không những giúp chúng ta có một cơ sở lý luận vững chẳc để đấu tranh với các quan điểm phi Mác xít về vấn đề này, mà còn nhận thức sâu sẳc hơn nữa vai trò to lớn của con người trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước la hiện nay

Nhận thức được ý nghĩa chiến lược và tính thời sự cấp bách của vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài "Những vẩn đề triết học về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" của C.Mảc và Ph.Ảngghen" làm luận văn

thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Quan điểm triết học về con người của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay Trong điều kiện hiện nay, nhừng kết quả nahiên cứu trước đây vẫn

có những giá trị nhất định Có thể đề cập các tác phẩm và đề tài sau đây: Con người những ý kiến mới về'đề tài cũ, tập 1, tập 2, Nhà xuất bàn Sự thật, Hà Nội 1986, 1987; vấn đề con người và chù nghĩa "Lý luận không cỏ con người" của GS Trần Đức Thào Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 1988;

Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Trang 6

Hà Nội 1995; vấn đề con người trong công cuộc đổi mới cùa GS, Viện Sĩ Phạm Minh Hạc, KX 07, Hà Nội 1994; Con neười và phát triển con người trong quan niệm cùa C.Mác và Ph.Ảngehen, Hồ Sĩ Quý (chủ biên), Nhà xuẩt bàn Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003: Phát triển con neười và con người trong quan niệm của C.Mác và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoà nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay của TS Đặna Hữu Toàn- Tạp chí Triểt học số 1/1997; Sự hinh thành con người với tư cách là chủ thế sáng tạo cùa TS Nguyễn Văn Huyên- Tạp chí Triết học số 4/ 1997; Con neười- chủ thể sáng tạo lịch sử của Vũ Thiện Vươne- Tạp chí Triết học số 6/2000; Những tư tưởng của Ph.Ăngghen về quan hệ eiữa con người và tự nhiên trong "Biện chứna cùa tự nhiên" cùa Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học số 4/1980;

Vị trí cùa vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin luận văn thạc sỹ triết học của Cao Đức Dũng; Quan niệm về bản chất con nsười trone lịch sử triết học phương Tây từ triết học cổ đại đến triết học Mác Luận vãn thạc sỹ triết học cúa Trần Ngọc Ánh; Tư tưởng eiải phóng con người trone triết học Mác

và sự vận dụng của Đảng ta trone chiến lược phát triển con nsười hiện nay, Luận văn thạc sĩ của Đồ Kim Thanh; Góp phần tim hiểu vấn đề con người trong triết học Mác và việc phát huv nhân tố con người trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Khanh; Quan niệm Mác xít về bản chất con người với việc xây dựng nhân cách thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ của Đào Như Thiết.v.v

Những bài viết về con người ưên đây đã đề cập đến vấn đề con người

từ nhiều góc độ khảc nhau: Đề cập đến mặt tự nhiên, mặt xă hội con người, bản chất con người, vai trò đon nguời trong ưiết học Mác Nhưng "nhìn chung các vấn đề triết học về con người chưa được hệ thống hoá đầy đủ, chưa được phát triển sâu (thường lảng tránh những vẩn đề phức tạp) để trở thành một hệ thống các vấn đề triết học về con người" [70, tr.35] và đặc biệt là, hầu như rất

Trang 7

ít nhà khoa học đi sâu nghiên cứu nhữne vấn đề triết học về con người trong một tác phẩm, như tác phẩm "Hệ tư tườna Đức" Tuv trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn, song là một nghiên cứu viên làm việc tại Viện nghiên cứu Kinh điển Mác - Lê nin, tôi mạnh dạn chọn vấn đề nàv là luận vãn tốt nghiệp thạc sĩ.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

* Mục đích nghiên cứu:

Tác giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề triết học về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", từ đó rút ra những giá trị về lý luận và phương pháp luận để vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vể vấn đề con neười trong triết học vào việc phát triển con người Việt Nam hiện nay

* Nhiệm vụ của luận văn:

Tìm hiểu vị trí và ý nghĩa của tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" trong hệ thống chủ nghĩa Mác Khai thác di sàn kinh điển những vấn đề triết học về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" Đề xuất một số phương hướng và kiến nghị chủ yếu để xây dựng con người Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm VI nghiên cứu

* Đổi tượng nghiên cứu:

Tác giả chi tìm hiểu những vấn đề triết học về con người

* Phạm vi nghiên cửu:

"Hệ tư tưởng Đức" là tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề lớn và khó, nó đòi hỏi người đọc có trình độ cao thời gian nghiên cứu dài Do giới hạn của luận văn nên tác giả chi tập truna nghiên cứu: Những vấn đề triết học về con

người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức” của C.Mảc và Ph.Ăngghen.

5 C ơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

* Cơ sở lý luận :

Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tường Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng Cộng Sàn Việt Nam

4

Trang 8

* Nguồn tài liệu:

Nguồn tài liệu bao gồm: các tác phẩm cùa Chù nahĩa Mác- Lênin, đặc biệt là tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", t ư ìưỡns Hổ Chí Minh, văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhữne tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước

* Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chù nghĩa duy vật lịch sử, phươne pháp lô gíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

* về mặt lý luận:

Luận văn nghiên cứu lý luận cơ bản của triết học Mác về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởna Đức’’ giúp tác ỉiià nắm VŨT12 thêm lý luận cơ bản của những vấn đề triết học Mác về con neuời

* về măt thưc tiễn:« »

Luận văn này sẽ đưa lại một cống hiến nhỏ trone việc đẩu tranh với các quan điểm phi Mác xít về vấn đề con neười Đồng thời, nội dung luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo đê hoạch định chính sách va quân iý

xã hội liên quan đến con người

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liện tham khảo, luận văn gồm có 3 chương với 7 tiết

Chương 1 : Vị tri tác phẩm "Hệ tư tường Đức"

Chương 2: Quan niệm triết học về con người trong tác phẩm "Hệ tư

Itường Đức"

Chương 3: Những giá trị lý luận và ý nghĩa phương pháp luận của quanniệm về con người trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" đối với phái triểncon người Việt Nam hiện nay

Trang 9

Chương 1

VỊ T R Í TÁC PHẨM “HỆ T Ư TƯỞNG ĐỨC”

1.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm.

- Điều kiện kinh tế- xã hội nước Đức và Châu Ẩu nửa đầu thể Ạỷ XIX

Tư duy lý luận của mỗi thời đại đều £ẩn liền với và là sản phẩm cùa thời đại đó Chủ nghĩa Mác nói chung và tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" nói riêng với tính cách là thành tựu của nhân loại cùng vậy được ra đời từ nền sản xuất vật chất trên cơ sở lực lượng sản xuất đã được xà hội hoá của chủ nghĩa

Trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bàn ở Đức lạc hậu hơn ở Anh và Pháp Tới những năm 30 cùa thể kỷ XIX, đời sống kinh tế ở Đức về cơ bàn vần mang đậm nét điển hình của thời Trung cổ Nhirp.2 đo ành hưởng cùa các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, đặc biệt ià sự thành lập liên minh thuế quan khiển cho chủ nghĩa tư bản Đức có sự phát triển nhất định Nền công nghiệp ở Đức có sự phát triển rõ rẹt Ví dụ như công nghiệp than và luyện kim ở vùng Ranh, Vét-xpha-len, công nghiệp bông sợi ở Xi-lê-di và Dấc den Nhiều trung tâm công nghiệp ra đời với nhung xí nghiệp chế tạo lớn Nhưng

nhìn chung, đỏ mới là những bước chuyển biến đầu tiên vì lực lượng sàn xuất mới còn bị kìm hãm bời quan hệ sản xuất nửa phong kiến và tình trạng phân cất về chính trị

6

Trang 10

Sự phát triển của cuộc cách mạng công n&hệ đã tạo nên những tiền đề cần thiết, chuẩn bị cho sự thảng lợi của giai cấp tư sàn Đức đổi với chế độ phong kiến ờ Đức Cuộc cách mạna công nghiệp làm cho chế độ công xường, với đặc trưng hệ thốne cơ khí và lao động làm thuê đã giành được địa vị thống trị, hình thành các thành thị, trung tâm công nghiệp Đại công nghiệp cơ khí sản xuất ra đại bộ phận hàng hoá giá thành hạ và nãna suất cao, đã loại trừ người iao động cá thể và công trường thủ công trên cơ 5Ờ lao động thủ công, cuối cùng khiến họ bị mất công cụ sản xuất, buộc họ rơi xuống địa vị vô sản

Sự hình thành chế độ công xưởng và trung tâm công nghiệp đã biến quan hệ giai cấp trong xã hội phân hoá thành sự đối lập của hai giai cấp lớn - giai cấp

tư sản và giai cấp vô sàn - khiển quan hệ sản xuất trons xã hội Đức thay đổi triệt để

Như vậy ờ Châu Âu nói chung, nước Đức nói riêng, cách mạns công nghiệp vừa là cuộc cách mạne về kỹ thuật sản xuất và lực lượng sản xuất, vừa làm thay đổi quan trọng quan hệ sản xuất Sự thay đổi quan hệ sản xuất trong thời kỳ này nhanh hom bất kỳ thời đại nào trước kia C.Mác và Ph.Ảngghen đã nhận xét: "sự đảo lộn liên tiếp của sàn xuất, sự rune chuyển không ngừng trong tất cả những quan hệ xã hội, sự luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước Tất cà những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen ri, với cả tràng những quan niệm và tư tường vốn được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan hệ ấy, đều đane tan rã; những quan hệ

xã hội thay thế những quan hệ đỏ chưa kịp cứng lại đã bị già cỗi ngay Tất cà những gì mang tính đẳng cấp và trì trệ đều tiêu tan như mây khói, tất cả những gì là thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mọi người đều phải nhìn nhừng điều kiện sinh hoạt của họ và những quan hệ giừa họ với nhau bàng con mẳt tinh táo” [40, tr.601] Sự thay đổi nhanh chóng trong quan hệ xã hội

Trang 11

đã đem lại cơ sờ khách quan cho việc phê phán quan niệm siêu hình, hinh thành quan điêm duy vật biện chứns.

Cách mạng khoa học côna nghệ phát triển, khiến cho giai cấp vô sản tăng nhanh về sổ lượng Sự phát triển của nền sàn xuất lớn xã hội hoá làm xuất hiện khả năng liên kết của eiai cấp vô sàn, tăng cường tinh thần giác ngộ, tính tổ chức và tính chiến đấu của giai cấp công nhân Các nhà tư bàn do đuổi theo lợi nhuận cao, đã áp dụng mọi phương pháp đê hạ thấp tiền công cùa công nhân, kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động, hòng bóp nặn thật nhiều giá trị thặng dư Vi thế, đời sống của eiai cấp công nhân hết sức nghèo khổ Khủng hoảng kinh tế bẳt đầu từ nước Anh trong những năm

1825, 1836, 1847 sau đó lan sang Đức đã đưa đến tai hoạ nặng nề cho giai cấp công nhân Mâu thuần giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trờ nên gay gắt Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản phát triển theo chiều rộng lẫn chiều sâu Ph.Ảneahen đã trình bày một cách sâu sẩc nguồn gốc của sự biến đổi to lớn của quan hệ giai cấp và tình hình đấu tranh giai cấp như sau: "Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sàn và giai cấp tư sàn đã dần dần chiếm địa vị hàng đẩu ưong lịch sừ các nước phát triển nhất ờ Châu

Âu, một mặt là tuỳ theo trình độ phát triển của đại công nghiệp, mặt khác là tuỳ theo trình độ phát triển của quyền thống trị chính trị mà giai cấp tư sản mới giành được” [42, tr.302] Ỏ Anh, phong trào Hiến chương của công nhân trở thành một phong trào chính trị có tính chất quần chúng rộng lớn ớ Pháp, cuộc đấu tranh của công nhân chổng bọn tư bàn đã phát triển thành một loạt cuộc khời nghĩa VÜ trang

Tuy nhiên, nước Đức? vào nhừng năm 40 của thể kỳ X IX vẫn là một nước nửa phong kiến, nửa tư bản, mâu thuẫn đan xen phức tạp giữa tư sản và phong kiến, giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản Giai cấp vô sản chịu hai tầng áp bức nặng nề của giai cấp tu sản và thế lực phong kiến Do đó, việc bãi

8

Trang 12

công và hoạt độne chống lại eiai cấp thốne trị cùa cône nhân nsày càng dồn dập Tháng 6- 1844, nổ ra cuộc khởi nghĩa của côna nhân dệt ở Xi-lê-đi Công nhân khởi nghĩa không nhữne phá phách nhà máy và nhà ờ của chủ xí nshiệp, đốt mọi giấy tờ chứng nhận tài sản, mà còn trực tiếp chĩa mũi nhọn đẩu tranh vào chế độ tư hữu, vào sự bóc lột kiểu tư sản, tỏ rõ sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề xã hội, chế độ xã hội so với công nhân Anh và Pháp Ph.Ảngghen đã khẳng định: "cuộc nổi dậy ở Xi-lê-di bắt đầu đúne bằp.2 cái mà nhũms cuộc nổi dậy của công nhân Pháp và Anh kết thúc, cụ thể là bằng việc nó ý thức

được bàn chất của giai cấp vô sản" [37, tr.609] Lần đầu tiên cuộc khởi nghĩa

đã thức tinh công nhân Đức, khiến họ ý thức được ràng trong cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản, giai cấp vô sản cần đoàn kết nhất trí, tăng cường tính tổ chức và tính tự eiác Cuộc đấu tranh của eiai cấp côna nhân đã đào tạo nên một loạt lãnh tụ của giai cấp vô sản như nhà ]ý luận Vinhem Vaitlinh của

"Liên đoàn những người chính nehĩa" là người sána lập ra chủ nghĩa cộng sản Đức Học thuyết về chủ nghĩa cộng sản bình quân không tưởng của ông đã có

ý nghĩa quan trọng đối với cuộc vận động lý luận đầu tiên cua giai cấp vô sàn Đức

Đồne thời với sự phát triển kinh tế-xã hội thi những thành tựu đạt được ưong khoa học tự nhiên cùng đã tạo tiền đề cho việc hình thành các quan điểm duy vật biện chứng và phát minh về chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác và Ph.Ăngghen Sau này Ph.Ảngghen đă nói: "Quan niệm mới về giới

tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bàn: tất cả những cái gì cứng nhẳc đều bị tan ra, tất cả những cái gỉ cố định đều biến thành mây khỏi, và tất

cà những gì đặc biệt mà người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trờ thành nhất thời: và người ta đã chứng íninh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh viễn" [43, tr.471] Sự phát triển của khoa học

tự nhiên đã lật đồ quan niệm cũ siêu hình và vạch rò: khoa học tự nhiên chỉ có thể phát triển khi dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 13

A -f I r ■ >>k _

- Tien đê lý luận

Triết học cổ điển Đức- với các nhà triết học nổi tiens là Cantơ, Selinh Phích tơ, Hê ghen Phoi ơ bắc - là một trona nhữna tiền đề lý luận cho việc hình thành thế giới quan mới trong "Hệ tư tưởng Đức"

Các nhà triết học cổ điển Đức đã đề cao vai trò tích cực củã hoạt động con người, thực hiện bước ngoặt trong lịch sử tư tưởne triết học Phương Tây

từ chồ chủ yéu bàn về nhữna vẩn đề bản thổ luận, nhận thức luận đến chồ coi con người là chủ thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn

đề triết học Thực ra, đề tài con người được bàn đến ngay từ triết học cổ đại,

Xô crát đã hiểu triết học là tự ý thức của con người về chính bản thân mình

Kế tục tư tưởng đỏ là khuynh hướng đề cao con người thời Phục Hưng Đến Cantơ, người sáng lập ra triết học cổ điển Đức lần đầu tiên đã xác định con người là chủ thể, đồne thời là kết quà cùa quá trình hoạt động cùa mình, khảng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận, bản thân lịch sừ là phương thức tồn tại của con người; mỗi cá nhãn hoàn toàn làm chủ vận mệnh cùa mình Tư tườne đó được Hêghen phát triển thêm, khãne định con người là sàn phẩm của một thời đại nhất định Đồng thời Hêehen đề cao sức mạnh trí tuệ

và hoạt động con neười tới mức cực đoan; thần thánh hoá con người tới mức coi con người là chúa tể của tự nhiên, bản thân giới tự nhiên cũng chi là kết quả hoạt động của con người Quan niệm duy tâm đó càng được củng cổ, bời

sự thống trị mạnh mẽ của tôn giáo trong xã hội Đức thời đỏ, cũng như sự thoà hiệp của giai cấp tư sản với ý thức hệ phong kiến

Đặc biệt trong những năm 40 của thế kỳ XIX ở Đức nổi lên một số khuynh hướng đáng chú ý: '

+ Thứ nhất là khuynh hướng xét lại truyền thổng nhưng không vượt

khỏi truyền thống, đại biểu là phái Hêghen trẻ và Phoi a bẩc

10

Trang 14

Phái Hêghen trẻ, tự xưng là "những nhà triết học cách mạng Đức hiện đại" ra sức tuyên truyền quan niệm duy tâm anh hùng làm nên lịch sử họ cổ

vũ cho triết học "tự ý thức" nhằm đề cao tinh sáng tạo của tinh thần, hạ thấp

và coi vật chất không có vai trò gi Mục đích thực sự của họ là đề cao bản thân họ, ià những người sáng tạo ra lịch sử, có năng lực phê phán, đồng thời đánh giá thấp đả kích phone trào công nhân, vu cáo công nhân là đám quần chúng "không biết phê phán", là loại "vật chất" tiêu cực Nhừne quan niệm đó tác động mạnh và có ảnh hưởng xấu đến phong trào công nhân Đức và cả giới tri thức Châu Âu Do đó, đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm ấy của phái Hêghen trẻ lúc này cũng là một yêu cầu cấp bách

Những quan điểm triết học nhân bản của Phoi ơ bắc, mặc dù được xây dime trên lập trườne thể giới quan duy vật, nhimg vẫn bị hạn chế bời tính trừu tượng của nó, lách rời khỏi thế giới hiện thực và những quá trình diễn ra trong

xã hội loài người Ông là nhà duy vật trong tự nhiên, nhưng những quan điểm

về lịch sử của Phoi ơ bẳc lại duy tâm Nhận xét về triết học lịch sử cùa Phoi ơ bắc, C.Mác và Ph.Ảngghen viết: "Khi Phoi ơ bắc là nhà duy vật thì ông không bao giờ đề cập đến lịch sử CÒI1 khi ông xem xét đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật ở Phoi ơ bắc lịch sử và chù nehĩa duy vật hoàn toàn tách rời nhau" [39, tr.65] Trong khi đó, Phoi ơ bắc luôn luôn tự nhận mình là người cộng sàn, C.Mâc và Ph Ảngghen đã vạch rõ con người của Phoi ơ bẳc:

"Phoi ơ bắc đã lầm lẫm biết chừng nào; khi ông dựa vào cái định nghĩa "con nRirời xã hội” để tuyên bố mình là người cộne sản” [39, tr.59-60] Điều đó đã cho thấy, c.M ác'và Ph.Ẩngghen cần phải phê phán triệt để những quan điểm của Phoi ơ bắc để phân rõ ranh giới những quan điểm duy vật với quan điểm duy tâm của ông, tạo điều kiện cho việc truyền bá thế giới quan mới cho giai cấp công nhân

Trang 15

- Thứ hai là khuvnh hướne đối lập với truyền thống Q u á trình phi cổ

điển hoá trong triết học nahĩa là xem xét lại truyền thốns cổ điển trone điều

kiện mới sau thời gian tạm lẳng, bây giờ đang phục hồi trờ lại hai khuynh

hướne chính - phi duy lý và đuy lý (khác với duy lý cổ điển) Đại biểu cho hai

khuynh hướng ấy vào năm 20 của thế kỷ X IX là A.Sô-pen-hau- ơ người Đức,

và S.Công-tơ neười Pháp Tư tưởng của cả hai ông đều thoát thai từ truyền

thống cổ điển, nhưne cho rằng các nguyên lý phổ quát cùa siêu hình học về

thê giới và nhận thức không còn phù hợp nữa Đôi với S.Công- tơ, các khái niệm triết học chủ đạo, có nguồn gổc từ triết học cổ điển, như vật chất, tồn tại,

tinh thần, ý thức, cái phổ quát, hoạt độns phản tư cũng như cuộc tranh luận triền miên xung quanh vấn đề về tính có trước và tính có sau trong quan hệ

vật chất- ý thức trở nên mơ hồ và vô giá trị trước nhừng đòi hòi của sự phát triển nhận thức khoa học, đặc biệt là khoa học thực nehiệm Vi vậy S.Công-

tơ chù trương loại bỏ vấn đề cơ bản truvền thống của triết học, toan tính vượt qua cả chủ nghĩa duy vật và chù nghĩa duy tâm xác lập cái gọi là con đường thứ ba trong triết học, hướna triết học vào các vấn đề cùa khoa học cụ thể-

thực nehiệm, nhàm kiềm chứng, tính đúng, sai của các luận điểm triết học Và thế chù nghĩa thực chứng ra đời, nó có ảnh hường không nhỏ tới tư tường

cùa nhửne người tiến bộ trong xã hội Đức lúc bấy giờ.

Ngược lại, trong ý chí luận của mình, Sô-pen-hau-ơ xem ý chí như sức

mạnh thiết định sự tồn tại của thế giới (thế giới như ý chí và biểu tượng), và

làm cho triết gia gần với nehệ sĩ hơn là với nhà khoa học Là đối thủ trực tiếp của Hêghen, Sô-pen-hau-ơ phê phán khuynh hướns duy lý, xem lý trí chi như

kè phụng sự ý chí Sự xoavlchiều tư tưởng ấy, như ta đã biết, thể hiện lô-gíc bên trong của sự phát triển tinh thần, song đồng thời phàn ánh đời sống thực

tiễn đầv mâu thuẫn không chi Đức mà còn cả Châu Ảu.

1 2

Trang 16

Thứ ba, chủ nghĩa xã hội ch ân chính, một trone nh ững biến dạn e cùa

chù nghĩa xã hội tiểu tư sản xuất hiện ở nước Đức vào giữa nhữne nãm 40 cùa thế kỷ XIX Quan điểm triết học của họ được hình thảnh trên cơ sở kết hợp một cách c hiết trung nhừng tư tường của các nhà c hủ nghĩa xã h ội không

tưởng Pháp, Anh, cùa phái Hêghen trè với đạo đức học của Phoi-Ơ-Bắc

Những người chủ nehĩa xã hội chân chính coi chù nehĩa xã hội là một học thuyết siêu giai cấp, tuyên bố chù nghĩa xã hội là việc thực hiện bàn chất nào

đó của con người nói chung, phủ nhận đấu tranh giai cấp Từ đó họ chủ

trương điều hoà các mâu thuẫn xã hội, không tham gia các hoạt động chính trị, không đấu tranh giành những quyền tự do dân chù tư sàn (một bước tiến

bộ so với chế độ phong kiến), kêu gọi giai cấp vô sản không tham gia các cuộc cách mạng chính trị.

Những người chủ nehĩa xã hội chân chính cho rằng, sự phát triển chủ

nghĩa tư bản là một tội ác, sẽ đẫn tới sự phá sản của nhừng người sản xuất nhỏ Họ chủ trương cấp không cho mồi người nghèo một mảnh đất nhỏ, biến những người vô sản thành những người sản xuất nhò, để lý tường hoá chế độ công hữu trên những mảnh đất ẩy Họ ủng hộ việc duy trì chế độ phong kiến chuyên chế, phủ nhận tính tất yếu phải tiến hành cách mạng dân chù tư sản, kêu gọi chính phù Đức đương thời cố gang không để nước Đức đi theo con

đường của Anh, Pháp, nhẳm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Vì

vậy, C.Mác-Ph.Ảngghen đã khẳng định đối với "chủ nehĩa xã hội chân chính" "lòng nhân ái chung thay cho nhiệt tình cách mạng nó không hướng về giai cấp vô sản, mà hướng về nhừng neuời tiểu tư sản và

những nhà tư tưởng của những người tiểu tư sàn ấy, tức là nhừng nhà triết

học " [39, tr.669-670] Phê phán trào lưu này là một trong những việc làm

quan trọng để C.Mác -Ph.Ầngghen trình bày một cách chính diện quan điểm

triết học của mình.

Trang 17

Như vậy là những biến đổi của thực tiền chính trị - xã hội những năm

40 của thể kỷ X IX đã được thể hiện bằng bức tranh tư tưởng phone phú và phức tạp Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đ ứ c" C.Mác và Ph Ẩngghen đã khái quát xâ hội Đức lúc bấy giờ như sau: “Nhữna nauyên lý thay thế lẫn nhau, những anh hùng tư tưởng đẩy nhau ngã với một tốc độ nhanh chưa từng thấy,

và chi trong ba năm từ 1842-1845 ở nước Đức người ta đã dọn sạch được nhiều hơn trong 3 thế kỳ trước kia” [39 tr.23] vấn đề đặt ra cần phài có một tác phẩm luận chiến chổng lại triết học phản động Đức chổng lại chủ nghĩa

xã hội Đức, chuẩn bị cho phong trào công nhân tiếp thu lý luận khoa học Tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy Đây cũng là một đòi hỏi tất yếu của xâ hội Đức nói riêng và Châu Âu nói chung thời bấy giờ.

- N h â n tổ c h ù q u a n

Cuổi tháng 8/1844, trên đường từ thành phố Mansetơ nước Anh về Đức, Ph.Ăngghen đã ghé thăm C.Mác trên quảng trường gần nhà hát lớn của thủ đô Pa ri Đây là lần gặp gỡ thứ hai giữa C.Mác và Ph.Ảngghen Nếu như lần gặp gỡ thứ nhất tại trụ sở cùa ban biên tập báo tinh Ranh ở Cô-lô-nhơ vào tháng 11-1842 "diễn ra rất lạnh nhạt" như lời của một nhà viết truvện ký đã thuật lại, thì lần gặp gỡ này là lần gặp gỡ "lịch sử", diền ra trong không khí cời mờ, chân tình và hiểu biết lẫn nhau, ý nghĩa lịch sử của cuộc gặp eỡ này

là ở chỗ: hai ông đã nhất trí với nhau về nhữna vấn đề cơ bản nhất của lý luận cách mạng vô sản; đồng thời cuộc aặp eỡ cũng cho thấy tính tất yếu nội tại về quá trình hình thành, phát triển tư tựởng của hai nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học - sự gặp gỡ của "hai tâm hồn lớn" Đây là thời điểm thuận lợi để hai ông hợp tác với‘nhau, cùng nhau trình bày một cách có hệ thổng học thuyết triết học của mình trên cơ sở thế giới quan mới: quan điểm duy vật biện chửng về lịch sử v ề sau này, Ph.Ăngghen đà kể lại "Vào mùa hạ năm

1844 khi tôi đến thăm C.Mác ờ Pa-ri, chúng tôi thấy rằng chúng tôi hoàn toàn

14

Trang 18

nhất trí với nhau về tát cà các vấn đề lv luận và chính từ lúc đó, chúng tôi bắt

đầu cộng tác với nhau" [44, tr.3 2 1 ].

Tháng 9-1844 hai ôna sans Anh để tim hiểu phong trào công nhân

Anh Chuyển đi này đã giúp hai ông có thêm cơ sở lý ỉuận và thực tiễn để vượt qua chủ nghĩa duy vật cũ, xâv dựng chủ nghĩa đuy vật mới củà mình.

Sau khi từ nước Anh trở về, hai ông đã xác nhận: trong nội bộ phong trào cộng sản tồn tại một số tư tườne gây trở ngại cho việc tiếp thu Ịý luận mới của hai ông nên hai ông đã bẳt tay vào giải quyết nhiệm vụ đó.Trong thư gửi Carl Vilhelm Leck ngày 1-8-1864 C.Mác viết: "Tôi thấy ràng, điều hết

sức quan trọng là irirớc khi tôi trình bày vấn đề một cách chính diện, thi cần

phải có một tác phẩm luận chiến nhằm chống lại nền triết học Đức và chổng lại chủ nghĩa xã hội Đức xuất hiện hồi bấv giờ Điều đỏ là cần thiết cho công chúng tiếp thu quan điểm của tôi trong lĩnh vực kinh tế chính trị, quan điểm này trực tiếp đối lập với khoa học Đức tồn tại cho đến neày nay" [46, tr.378].

Lúc đầu C.Mác dự kiến viết tác phẩm này theo hình thức tập thể, sau

đó C.Mác biên tập lại nên C.Mác và Ph.Ăngehen đã thu hút Modét - Ghét xơ (một trong nhừng người sảng lập ra "chủ nghĩa xã hội chân chỉnh") viết một

sổ chương có tính chất phê phán Nhưna sau khi gần gũi với Ghét xơ, các ông thấy, Ghét xơ tiếp thu hời hợt một sổ nét mới cùa học thuyết duy vật mới và một thời gian sau, ông ta ngả về phe những đổi thủ với C.Mác và Ph.Ăngghen Vì thế, hai ông đã không sử dụng Ghét xơ nữa Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cuổn "Hệ tu tưởng Đức", C.Mác và Ph.Ăngghen đà thực hiện một hình thức cộng tác mới, cao hơn sự cộng tác cùa lần viết tác phẩm

"Gia đình thần thánh" *

Từ tháng 11.1845, C.Mác và Ph.Ảngehen bất tay vào viết tác phẩm

"Hệ tư tưởns Đức” Trước hết, hai ông cần phải trình bày sâu hơn nhữne quan điểm đã được đưa ra trong tác phẩm "Gia đình thẩn thánh" - về sự phát triển

Trang 19

của xã hội loài người, tức là quan điểm duy vật về lịch sử Hai ông cảm thấy

thôi thúc phải làm việc đó vì không thiếu sự cône kích đối với những tư tường

của hai ông đã trình bày trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" Tác phẩm

được hoàn thành vào tháng 4.1846 Công việc đó còn được bổ sung tiếp trong một năm và kết thúc bằng bài báo của Ph.Ăngghen "những người xã hội chân chỉnh" với tư cách là chương kết thúc.

Mục đích của tác phẩm là từ việc vạch ra và phê phán hệ tư tưởng đang thống trị tại Đức những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ảngghen từng bước xác lập những luận điểm nền tảng cùa triết học mới, đặc biệt là quan niệm duy vật về ỉịch sử, phân tích một cách khoa học sự vận động cùa xã hội như một quá trình lịch sử - tự nhiên Hon nữa, các nhà triết học Đức cho đến thời bấy giờ luôn có những quan niệm sai về con người và quan hệ của con người là do thần thánh: “Cho đến nay, con người luòn luôn tạo ra cho mình những quan niệm sai lầm về bản thân, về minh hiện đang là như thế hoặc sau này sẽ là như thế nào Họ đã Xây dung những quan hệ cùa họ căn cứ vào những quan niệm cùa họ về thần, về kiểu mầu của con người,.v.v.” [39, tr 19] nên C.Mác và Ph Ảngghen đâ viết tác phẩm “Hệ tư tường Đức” với mục đích: “chúng ta hãy giải thoát họ khỏi những ảo tường, những khái niệm, nhữna giáo điều, những điều tưởng tượng mà cái ách của chúng đã giày vò họ” [39 tr 19] và “Cuốn sách này nhàm mục đích vạch mặt cuộc đẩu tranh triết học chống cái bóng của hiện thực - cuộc đấu tranh với dân tộc Đức mơ mộng và nừa tính nửa mê - và làm cho cuộc đấu tranh đỏ mấi túi nhiệm’" [39, ữ 19-20]

- Kết cẩu của tác phẩm.

Ngày nay, tác phẩm âã được xuất bàn gồm gần 800 trang trong tập 3 của bộ C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Sự thật Hà Nội Ngoài phần mờ đầu, tác phẩm được chia thành hai tập Tập I Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoi-Ơ bẳc Bau-Ơ,

16

Trang 20

và Stiếc- nơ Tập II Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức thỏna qua những nhà tiên tri khác nhau cùa nó.

Tập I có nội dung hàm súc và chứa đựne hàne loạt tư tường cơ bản quan trọng vảo thời kỳ hình thành những ỉuận điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là quan niệm duy vật về lịch sử c ỏ một số điểm cần chú ý trong tập I Thứ nhất, tính luận chiến, thể hiện ở việc phân tích có phê phán

từng quan điểm thông qua các trích dẫn tác phẩm của các nhà triết học vừa

nêu Thử hai, sự đan xen các ý tường của C.Mác và Ph.Àngghen, buộc người

đọc phải tập trung cao, sử dụng tốt khả năng xử lý và tổng hợp tài liệu để hiểu được nội dung nhất quán trong quan điểm của hai ông Thứ ba, các thuật ngữ

mà C.Mác và Ph.Ăngghen nêu ra trong "Hệ tư tướng Đức" vẫn còn chịu ành hường của phái Hêghen trẻ, chúng sẽ được điều chình dần trone quá trình

hoạt động thực tiền và lý luận cùa hai ông.

Tập II cuốn "Hệ tư tường Đức" được dành cho việc phê phán "chù nghĩa xà hội chân chính", thông qua "những nhà tiên tri khác nhau" của nó Tác phẩm "Hệ tư tường Đức" kết thúc bàng sự phê phán châm biếm tiến sĩ Cunman, mật vụ của chính phủ áo, "nhà tiên tri" của ’’chủ nghĩa xã hội chân chính" cũng là "nhà hoang tưởng chân chính" dưới lớp áo của thuyết tôn giáo, duy linh luận Nội dung và thực chất cùa nó được Ph.Ảngghen phân tích cụ thể thêm trong tác phấm tiếp theo: "Những người thuộc phái "chủ nghĩa xã hội chân chính""- được coi như sự bổ sung cần thiết cho tập II "Hệ nr tưởng Đức".

- \riệc Xuất bản tác phẩm

Trong những năm 1846-1847, C.Mác và Ph.Ảngghen đã nhiều lẩn cố tìm ở nước Đức một người ảồng ý xuất bản tác phẩm của mình Nhưng vi trở ngại do chế độ kiểm duyệt của nhà cầm quyền Đức lúc đó, khône một nhà xuất bản nào dám đứng ra xuất bản một tác phẩm mang đầy nội dung cách mạng như vậy; mặt khác, bản thân các nhà xuất bản vốn là những đại biểu

Trang 21

liên quan đến những khuynh hướng mà C.Mác và Ph.Ảngghen phê phán

Điều này chính M ác đã nhận thấv thé hiện trone bức thư neày 28.12.1846

C.Mác gửi An-nen-cốp, nói về khó khăn cùa việc xuất bản "Hệ tư tưởns Đức”

như sau: "ngài không thể hình dung những khó khăn mà V iệc xuất bản tác

phẩm ấy vấp phải ở Đức, thứ nhất là từ phía cành sát, thứ hai là từ phía các nhà xuất bàn mà bản thân họ lại là những đại diện có liên quan của tất cả những xu hướng mà tôi đả kích" [46, tr.672-673] Sau thất bại đó, C.Mác và Ph.Ảngghen không còn hy vọng in cả hai tập tại một nhà xuất bản, nên hai ông bẳt đầu tìm kiếm khả năng công bổ những chương riêng lẻ của nó.

Tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" lần đầu tiên được in toàn bộ vào năm

1932 ở Liên xô, nhiều năm sau khi tác giả của nó qua đời Mặc dù toàn bộ tác phẩm không được xuất bản khi các tác giả còn sống, nhưng công lao bỏ vào việc xây dựng tác phẩm đó không mất di một cách vỏ ich Những kết quả lý luận đã đạt được là cơ sờ của hoạt động khoa học và thực tiễn tiếp theo sau đỏ

của C.M ác và Ph.Ăngghen.

Trong khi Hêghen cùng như những bậc tiền bối và học trò cùa ông coi

sự phát triển của giới tự nhiên, cùa con nsười và các điều kiện xã hội là bẳt nguồn từ sự phát triển của tinh thần, thì ngược lại, C.Mác và Ph.Ảngghen lại nhận thức rằng phải lấy con người hiện thực, phải lấy tự nhiên, lấy vật chất để giải thích tinh thần Với cổng hiến này, các ông đã làm cuộc cách mạng trong triết học, đặc biệt là cuộc cách mạng trone triết học quan niệm về con người,

mỡ ra một thời kỳ mới trong lịch sử ụr tường nhân loại.

Đây là một tác phẩm luận chiến mẫu mực về phê phản, bác bỏ đối phươrm về mặt phương pháp, nội dung Cuổn sách đòi hỏi cao đối với độc

giả, nhưne những ai đọc được tác phẩm này sẽ được chứng kiến sự ra đời của thế giới quan mới của C.Mác và Ph.Ảngghen.

18

Trang 22

1.2 Ý nghĩa tác phẩm

"Hệ tư tường Đức" là một tác phẩm đồ sộ và lớn nhất trone eiai đoạn

hình thành chủ nghĩa Mác nên nó có nhiều nội dung và ý nehĩa lớn trong

nhiều lĩnh vực Nhưng trong khuôn khổ cùa luận văn thạc sĩ, chúng tôi chì

khái quát một số ý nghĩa cơ bản của tác phẩm Đặc biệt là những ý nghĩa cỏ

liên quan đến vấn đề của luận văn muốn trình bày.

- Đây /ờ tác phẩm chín muồi đầu tiên của chù nghĩa Mác về quan điểm duy vật lịch sử.

"Hệ tư tưởng Đức" là tác phẩm quan trọng đánh dấu sự chuyển biến

của C.Mác và Ph.Ảngghen từ lập trườne duy tâm sang lập trường duy vật

Khi trình bày "chủ nghĩa duy vật mới", đường lối triết học mới, các ông đã

trình bày có hệ thống một sổ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch

sử và trên cơ sờ đó, luận chứng có căn cứ vừng chắc một lý luận mới về chủ

nghĩa xã hội khoa học.

Trong khi trình bày và phân tích đường lối ưiết học mới của mình,

C.Mác và Ph.Ảngghen đặc biệt nhấn mạnh điểm xuất phát Điểm xuất phát

của chủ nghĩa duy vật lịch sử của các ông đó là, con người đang hoạt động

thực tiễn Chính từ việc xác định đúng đắn tiền đề của mọi lịch sử, các ône đà

đi đến quan niệm duy vật về lịch sử.

Quan điểm duy' vật về lịch sử mà C.M ác và Ph.Ảnaghen trình bày trong

tác phẩm trước hết là m ổi quan hệ biện chứng giừa lực lượng sản xuất và

quan hệ sản xuất, là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển nhất

định của lực lượng sản xuất Khái niệm khoa học về lực lượns sản xuất được

xác lập khi phê phán lý luậrt duy tâm về lực lượng sản xuất trong kinh tế học

dân tộc của Lixtơ.

Trong "Hệ tu tưởng Đức", phạm trù quan hệ sản xuất về thực chất đã

được hình thành C.Mác và Ph.Ăngghen từ tất cả các mối quan hệ nhiều chiều

Trang 23

và hết sức phức tạp của đời sống xã hội, đã vạch ra các mổi quan hệ vật chất

và từ đó là các mổi quan hệ e,iao tiếp, là "hình thửc aiao tiếp - cái mà trong tất

cả các eiai đoạn lịch sừ từ trước đến nav đều được quyết định bời lực ỉượne sản xuất và đến lượt nó lại quvết định lực lượng sàn xuất,- là xã hội công dân"

[39, tr.51] K h i b àn và phân tích sâu thêm v ề quan hệ sản xuất, C.M ác và

Ph.Ăngghen còn liên hệ nó với phân công sản xuất và chế độ tư hừu, do đó đã liên hệ với sự phát triển lịch sử Trên cơ sở của những phân tích trên, các ông

dã khái quát về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Theo hai ông: "tổng thể nhừng lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quy định trạng thái xã hội" [39, tr.42], theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, "người ta thay thế hình thức giao tiếp cũ đã trờ neại bằng một hỉnh thức mới phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triển hơn, và do đó phù hợp với phương thức hoạt động tiên tiến hơn cúa các cá nhân; hình thức mới này đến lưcrt nỏ lại trờ thành trở ngại và lại được thay thế bàng một hình thức khác" [39, tr 104] Như vậy, sự phát triển xã hội trước khi rất khó nhận thức, nay đă được lý giải trong sự vận động của mối quan hệ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Trong "Hệ tư tường Đức" C M ác và Ph.Ảneehen căn cứ vào mâu thuẫn

bản của xã hội, đồna thời phân tích sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chế độ tư bản đã tìm ra cách giải quyết: "Hiện nay cá nhân phải xoá bỏ chế độ tư hữu, bởi vỉ lực lượng sản xuất

và các hình thức giao tiếp đã phát triển tới mức là đưới sự thống trị của chể độ

tư hũu, chúng đà trở thành lực lượng phá hoại, và bời vì sự đối lập giữa các giai cấp đã đạt tới cực điểm" [39, tr.644].

Lý luận về chủ nghĩa cộng sản khoa học trong lác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" là kết quả trực tiếp cùa lý luận về chủ nghĩa duy vật lịch sử C.Mác và Ph.Ảngghen cho rằng: "Đối với chúng ta, chù nshĩa cộne sàn không phải là

2 0

Trang 24

một tình trạng cần được xác lập, cũng không phài là một lý tưởng mà hiện

thực cần thích ứng với nó Cái mà chúng ta gợi là chủ nghĩa cộng sản là cuộc vận động hiện thực để xoá bỏ tình trạng hiện tồn" [39, tr.5 1 ] Hai ông còn

nhấn mạnh: "việc thiết lập chủ nghĩa cộng sản, về thực chất, là có tính chất kinh tế" [39, tr.102] về thực chất kinh tế đó, được "Hệ tư tường Đức" phân tích trên hai mặt Một mặt chủ nghĩa cộng sản nảy sinh ra trên cơ sở vận động mâu thuẫn giữa lực lượng sàn xuất và quan hệ sàn xuất Mặt khác, chủ nghĩa cộng sản là tổ chức xã hội có lực lượng sản xuất phát triển cao độ và có nguồn của cải phong phú, đối với xã hội đó nó được "đặt dưới quyền lực của các cá nhân đã liên hợp lại" Chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ tính tự phát trước kia, là lực lượng sản xuất phát triển cao độ trở thành "điều kiện của sự liên hợp" của những cá nhân đã liên hợp lại [xem 39, tr.102] "Các cá nhân đã liên hợp lại” này tiếp tục sử dụng "những sáng tạo của những thế hệ trước đó", xã hội hóa chúng, xoá bỏ chế độ tư hừu tư bản về tư liệu sản xuất chứ không phải xóa bỏ mọi quyền tư hữu vể sở hữu nói chung Sở dì phải xoá bỏ chế độ tư hừu tư bàn "bởi vì lực lượng sản xuất và các hình thức giao tiếp đã phát triển tới mức

dưới sự thống trị của chế độ tư hữu, chúng đã trở thành lực lượng phá hoại” [39, ư.644] Như vậy, chì khi nào dưới sự thống trị của chế độ tư hữu, quan

hệ sản xuất trở thành lực lượng phá hoại, thành xiềng xích của sự phát triển,

"chi khi nào sự giao tiếp và lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ phổ biến

mà chế độ tư hửu và sự phân công lao động trở thành xiềng xích đổi với chúng" [39, tr.642] thì sự xoá bỏ chế độ đó mới là đòi hỏi khách quan, mới là tất yếu Trái lại cả khi sự tồn tại của nỏ vần còn có ích cho xã hội, cả khi các lực lượng sản xuẩt tuy còn thấp kém hay ở trình độ rất cao nhưng vẫn còn phát huy tác dụng của chúng thì sự tồn tại của chế độ đó cũng phải được coi là khách quan, cho nên không được dùng sắc lệnh hay mệnh lệnh để xoá bỏ nó,

Trang 25

càng không thể vì mục tiêu chính trị thiển cận nào đó mà bất chấp quy luật

kinh tế khách quan.

Khẳns định "việc thiết lập chù nehĩa cộne sàn về thực chất là có tính chất kinh tế", C.Mác và Ph.Ảngghen đã nhắc nhở chúng ta ràng: chủ nghĩa cộng sản không phải là một cái gì đó trừu tượng hoặc một phác đồ lý tưởng cao đẹp chi thuần tuý trong tư duv, mà nó phải có sự vận độne hiện thực trên

cơ sở và một nền tảng kinh lẻ phát triển Các ône viết “lịch sử của chủ nghĩa

cộng sản đã chứng tỏ; ỷ niệm về cuộc cách mạn2 này dù có được phát biểu hàng trăm lần đi nữa, cũng hoàn toàn chẳng có V nghĩa gì đổi với sự phát triển thực tế cà” [39, tr.55] Nói cách khác, để có chủ nahla cộng sản đích thực, mà trước hết là chù nghĩa xã hội, thì nhiệm vụ phát triển kinh tế, tạo dựng một cơ

sở kinh tể phát triển cao, vững chắc phài là un tiên hàng đầu Cái đích mà chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản nhắm tới là lao động từ chỗ là hoạt động cường bức bên ngoài, trở thành hoạt động tự chủ thực sự cùa những người tự

do Xã hội biến thành một thể liên hợp thực sự eiữa người và người, con người thực sự được coi là vốn quý nhất.

C.Mác và Ph.Ăngehen sáng lập nên quan điểm duv vật về lịch sừ là một thành tựu hình thái kinh tế - xà hội vĩ đại, là cuộc cách mạng chân chính

về học thuyết xã hội, đúng như VI Lênin đã khẩne định, học thuyết của Mác trở nên "hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chồ nhận thức giới tự nhiên đến chồ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duV vật lịch sứ của Mác là thành

tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học" [34 tr.53] Đó là cuộc cách mạng thực

sự trong triết học về xã hội.

Giá trị nổi bật của tác phẩm "Hệ tư tuờng Đức" là tính định hướng thế giới quan và phương pháp luận của nó đối với việc nhận thức và giải thích đời sống thực tiền, là cơ sở lý luận khoa học siúp chúns ta đấu tranh với quan niệm duy tâm thần bí về xà hội, phê phán những biểu hiện không đúng đắn,

2 2

Trang 26

chù nghĩa eiáo điều và duy ý chí, trong việc nhận thức quy luật xã hội phổ

biến "Hệ tư tưcme Đức" tiếp tục thể hiện giá trị của minh trong thế giỏi hiện đại.

- Tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức” đặt nền móng cho việc nghiên cửu con người

"Hệ tư tườna Đức" là một tác phẩm quan trọng đánh dấu sự chuyển biến của C.Mác và Ph.Ărmehen từ lập trườns duy tâm sang lập trường

duy vật và là mốc dánh dấu sự chín muồi cùa quan niệm duy vật về lịch sử

Điều đó thể hiện trước hết ở cách chọn đối tượne nehiên cứu của các ông, đó

con người.

Thực ra, vấn đề con người vốn là vấn đề truyền thống của triết học nói chung và của triết học Mác nói riêng Triét học cổ đại Phương Đông

cũng như Phương Tây xem xét vấn đề con người trong lĩnh vực ý thức, tư

tường hoặc xem bản chất con người là cái gì đó được quy định sẵn từ nhừng

lực lượng siêu tự nhiên.

ở triết học Phươna Đông Khổng Tử (4 7 9 -5 5 1 ) là người sáng lập ra học

thuyết Nho eiáo neuvên thuỷ Ỏng cho rằns "mệnh trời" như một lực lượng

có ý chí chi phối vận mệnh của con người và xã hội Theo ông, những gì vổn

có của bản thân con người là do lực lượng siêu tự nhiên mà ông gọi là "mệnh

trời" quy định Ồng mong muốn xây dựng một xã hội mà trong đó quan hệ

giữa người và người là tốt đẹp Muốn vậy, con người phải được giảo dục

Chúng ta không phủ nhận quan điểm đánh giá con người của Khổng Tử là thông qua các quan hệ xã hội Nhưng, Nho giáo chưa eiải thích đúng bản chất con người, cũng như chưa tìm ra được phương thức hữu hiệu để giải phóne con người, bởi nó chưa thoát khỏi thê giới quan thân bí và lập trường của giai

cấp thống trị Những luận điểm đỏ hạ thấp vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo vốn cỏ của con người.

Trang 27

Mạnh Từ - là học trò cùa Khổng Tử - cho ràng thế giới này là thế giới

tâm linh, mà bản tính tâm linh được thể hiện qua bản tính cùa con người Theo ône, bàn tính con nsười vốn là "thiện", tính thiện được biểu hiện qua

bốn đức lớn là nhân, nghĩa, lễ, trí Đây là bốn đức vốn có bẩm sinh do trời

phú Con người "biết cái tám của mình là biết được cái tính của mình", "biết được cái tính của mình là biết được cái tính cùa trời" Con người không cần

học hòi, không cần đi tìm chân lý trong thế aiới khách quan mà chi cần suy xét ờ trong tâm minh theo quy tắc đạo đức "tận tâm ", "phản tinh nội tâm" là

có thể hiểu được trời, thấu được đạo lý.

Nếu như Mạnh Tử cho rằng bản chất con người bẩm sinh là "thiện" thì Tuân Tử lại cho ràng bản chất con người là ác, là xấu và cũng thuộc về bản năng Vì thế, ông chủ trương dùng pháp trị để cải tạo bàn tính xấu trong con người.

Nhìn chung, dù có chứa đựng những yếu tố tiến bộ, tích cực song Nho giáo đã không giải thích đúne bàn chất con người Nho giáo đua ra một mầu hình con người trừu tượns phi lịch sử, không gắn liền với những điều kiện kinh tế- xã hội Do vậy Nho giáo không đưa ra được phương hướng, giải

pháp để giải phóng con neười triệt để.

Cùng với quan điểm của Nho giáo là quan điểm của Đạo gia ở Trung Quốc cổ đại cũng đề cập đến vấn đề con người Theo Lào Tử - người sáng lập

ra đạo gia - cho rằng, Đạo là bản nguyên của thế giới, là nguồn gổc sinh thành

và biến hoá của mọi vật, ưong đó có con người Vì vậy con người phải tuân theo lẽ tự nhiên, hoà đồne cùng tự nhiên, không can thiệp vào tự nhiên, không được làm gì ngược với tự nhiên Ông chủ trương đưa con người về với trạna thái tự nhiên nguyên thuỹ không ham muốn, khône dục vọng, không thể chế pháp luật, không cần tri thức, văn hoá Có thể nói đây là thế giới quan của tầng lớp quý tộc suv đồi tiêu cực, khuyên người ta chạy trốn vào tự nhiên, chạy trốn vào thế 2ĨỚÌ huyền bí, đánh mất bản chất xã hội cùa con người, hạ

2 4

Trang 28

thấp địa vị của con người, xem con người chi là một chủng loại tự nhiên như các loài động vật khác.

Phật eiáo cũng lấy con neười làm trune tâm của hệ thống giáo lý Phật giáo xem cuộc đời con người là bể khổ, nguồn eốc sâu xa của mọi nồi khổ là

do "vô minh", "ham dục" Muốn giải thoát con người khỏi bể khổ thì phải diệt trừ "vô minh" và diệt dục Con đườne diệt trừ vô minh và diệt dục đó là thực hành chính tâm, tu thân theo con đường "bát chính đạo" để đi tới cõi Niết bàn, chấm dứt sinh tử luân hồi ở đây, từ lúc đặt vấn đề về con neười Phật giáo đã thể hiện thiếu căn cứ khoa học Họ thấy được nồi thống khổ của con người nhưng không lý giải được nguyên nhân của nỗi thống khổ đó là từ trong quan

hệ xã hội, là do áp bức của giai cấp thống trị Đồng thời, Phật giáo cũng không thấy được vai trò của con người trong cải tạo tự nhicn và xà hội Do vậy, dù chứa đựng những vếu tố tích cực sons Phật eiáo cũng không chi ra được con đường giải phóng cho con người, cho xà hội.

Trong triết học Phương Tây cũna có nhiều cách lý giải khác về vẩn đề con người và bản chất con người cụ thể như sau:

Xuất phát từ quan điểm cho rằns con nsười là linh hồn bất tử, Pitago cho ràng cơ thể con người chết đi thì linh hồn chuvển nhập vào cơ thể khác thực hiện cuộc tái sinh Xôcrat phê phán quan niệm triết học trước đây về con người và cho ràng triết học là tự ý thức của con người về chính bản thân mình Platôn: đại biểu lớn nhất của chủ nehĩa duy tâm cổ đại cho rằng, thân thể con người chì ià cái tù của linh hồn ờ đấy linh hồn cỏ thể nhớ lại thời kỳ chưa nhập vào thân thể, nó đã ở trone các thế eiới V niệm Sau khi con người chết đi linh hồn bất tử đừợc giải thoát khòi sự giam hâm trong cái thân thể chết của con người để trở về với thế giới ý niệm Ồng cũng cho rằng chì cỏ bọn chủ nô mới có đạo đức, còn thường dân và nô lệ thì không.

Trang 29

Nhìn chung, triết học Hy - La cổ đại coi trọng vấn đề con người Mặc

dù giũa các nhà triết học vẫn còn nhiều bất đồne về vấn đề này, nhưng họ đề khẳns định con người là tinh hoa của tạo hoá Tuy nhiên, hoạt động thực tiền của con người hầu như khône được bàn đến.

Suốt hom một nghìn năm của "đêm trường Trung cổ", con người bị thống trị bời ý thức hệ phong kiến, tôn eiáo và chính nó đã tạo nên bước phủ định cho sự ra đời của thời kỳ Phục Hưng - thời kỳ ca ngợi con người, ca ngợi

tự do cá nhân, tư hữu, chủ nghĩa nhân đạo với ước mơ giãi phóng con người khỏi chế độ phong kiến, ờ đây, vấn đề con người đã được đặt ra nhưng chưa được giải quyết đúne đắn trên quan điểm duy vật hay duy tâm các loại.

Cho đến các nhà Khai sáng và duy vật Pháp với chủ nghĩa duy vật chiến đất đã đấu tranh quyết liệt chống tôn giáo, dẫn đắt "thời đại lý tính", khai sáng cho đầu óc con người khi đề cao giáo dục Họ đề cao quyền tự nhiên, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì con người, phấn đấu cho "tự do, bình đăng, bác ái" trong nền cộng hoà nhân dân (Jrutxô) Tuy vậy, họ rơi vào quan điểm duy tám khi lý giài nguồn eốc bất công cùa con người cũng như khi tìm con đường giải phóng con người, ở đây, con neười mới được đề cập đến chù yếu ở khía cạnh cá thể, bản chất xã hội cùa con người chưa được đề cao.

Các nhà triết học cổ điển Đức có nhừng bước tiến đáng kể trong nhận thức triết học về con nguời.

Cantơ - người khai sáng triết học cổ điển Đức - cho rằng bản chất con người là một thực thể hoạt động tích cực, sáne tạo con người vừa là chù thể, đồng thời vừa là kết quả của quá trinh hoạt động của mình Song đó là con người riêng lè không thay đổi Mặc dù quan điểm của Cantơ về con người cỏ tính nhị nguyên, nhưng với nhừng luận điểm về con người đã nêu ờ trên, chúng ta thấy Cantơ đã có cách nhìn nhận tích cực đối với con người, tức đà

2 6

Trang 30

quan niệm con người là chủ thể hoạt độne sána tạo ra nền văn hoá, văn minh, đồng thời con người cũng là kết quả của hoạt độns của chính mình.

Hêghen - nhà triết học duv tâm khách quan - đã có quan niệm duy tâm

về con người khi ông cho rằng con người là hiện thân của "ý niệm tuyệt đối" Tuy nhiên, néu gạt bỏ những yếu tổ duy tâm chúng ta thấy Hêghen đã nêu lên những tư tường tiến bộ, sâu sắc về con người Theo Hêghen, con người là chủ thể của sự sáng tao, nhưng bản thân mỗi con nsười lại là sản phẩm của mỗi thời đại nhất định Không ai có thể tách rời khòi thời đại của mình, cũng như không ai có thể phán xét lịch sử phải diễn ra theo cách này hay cách khác.

Trong triết học Phoi ơ bắc, vấn đề con người vần dành được vị trí ưu tiên đặc biệt Không phải ngẫu nhiên mà triết học Phoi ơ bẳc được gọi là triết học nhân bàn Triết học của ông lấy con người làm đối tượng nghiên cứu Ông cho ràng, con người là một thực thể thống nhất eiừa thể chất và tư duy, không thể tách rời thể xác con người ra khỏi quá trinh tâm sinh lý, quá trình ý thức Với ông con người là sản phẩm của tự nhiên, là "cái gương của vũ trụ" Đồng thời, con người là sản phẩm của con người, của văn hoá và của lịch sử.

Trong tác phẩm "Bàn thào kinh tế - triết học năm 1844", C.Mác còn đề cao quan điểm triết học của Phoi ơ bấc, tiếp thu quan điểm duy vật của ông Nhưng bắt đầu sang năm 1845, C.Mác viết 11 "Luận cương về Phoi ơ bắc", phê phán những mặt hạn chế và khuyết điểm của Phoi ơ bắc Trong tác phẩm

"Hệ tư tưởng Đức" C.Mảc và Ph.Ăngghen tiếp tục phê phán những thiếu sót

đó của Phoi ơ bắc Các ông đã đặc biệt nhằm vào triết học Phoi ơ bắc vì "ông

là người duy nhất đã ít nhất là tiến được một vài bước" [39, tr.25] C.Mác và Ph.Ăngghen đã chì ra nhưng mặt hợp lý và nhừne thiếu sót trong quan niệm của Phoi ơ bấc về con người, ông có một ưu điểm lớn là thấy rằng, con người cũng là một "đối tượng được cảm giác", nhưng ôns khône xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ trona những điều kiện sinh hoạt

Trang 31

hiện có của họ và "quan điểm của Phoi ơ bắc về thế giới càm giác được chi giới hạn một mặt ờ sự ngấm nhìn thế siới đó và mặt khác, ở cảm eiác đơn

thuần Ông vẫn dừng lại ờ một sự trừu tượng con người, đó là n hừng con nsười cá thể bằng xương, bằna thịt, có cảm giác,có tinh cảm Theo C.M ác và

Ph.Ăneghen thì một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến sự thiếu sót của

Phoi ơ bắc về vấn đề con người là do ông không nhận thức được vai trò to lớn của hoạt độnơ thực tiễn, không thấv được vấn để "tẩt cả những sự thần bí

đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bi đều được giải đáp trone thực tiễn của

con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy" [39, tr 10]

Stơrauxơ và Stiếcnơ (nhà tư tường Đức lúc bấy giờ) lại xem xét con

người trên thế giới quan tôn giảo C.Mác và Ph.Ăngghen trong "Hệ tư tường

Đửc" đã nói: "Toàn bộ sự phê phán triết học ở Đức, từ Stơrausơ đến Stiếcnơ,

đều bó tròn trong việc phê phán những quan niệm tôn eiáo Người ta xuất

phát từ tôn giáo chính cống và từ tinh thần hoá chính cổng xét cho cùng

"con người nói chung" là con người tôn giáo Người ta ỉẩy sự thống trị của tôn

giáo làm tiền đề và dần dà, người ta tuyên bổ mọi quan hệ thổng trị là mội quan hệ tôn giáo" [39, tr26-27].

Tóm lại: Các nhà triết học trước Mác, dù đã cổ gắng tìm hiẻu và giải

thích về con người, bản chất con người Nhưng chưa nhận thức đúng đẳn về bản chất, vị trí, vai trò của con người Phần lớn họ không thấy được mối quan

hệ biện chứng giữa yếu tổ tự nhiên, sinh học và xã hội của con người Họ

không thấy được tính năng động, sáne tạo của con người Đồng thời không

hiểu được tính đa dạng, phức tạp và nhiều chiều của mổi quan hệ giữa con

người với tự nhiên, xã hội*và chính bản thân con người Tuy các nhà triết học

trước Mác còn hạn chế, sai lầm nhưng nó cung cấp chất liệu cho triết học Mác

nghiên cứu về con neuời.

2 8

Trang 32

Khắc phục tất cả nhữne thiếu sót cùa nhữns nhà tư tườns đi trước vê vấn đề con người, C.M ác và Ph.Ảngahen trong tác phẩm "Hệ tư tường Đức"

đã xuất phát từ tiền đề con neười sống trona; một thời đại nhất định, con người

hiện thực để nghiên cứu triết học Chính từ việc xác định đúng đắn tiền đề cùa mọi lịch sử, C M ác và Ph.Ảngghen đã làm nên cuộc cách mạna về vấn đề con

người trong triết học C.Mác và Ph.Ăngehen đã viết: "Hoàn toàn trái với triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới đất đi lên

trời, tức là chúng ta không xuất phát từ những điều mà con người nói, tường tượng, hình đung, chúng ta cũng khône xuất phát tò những con người chi tồn

tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tuòmg tượng, trong biểu tượng của người

khác, để từ đó mà đi tới những con người bàng xương bằng thịt: không, chúng

ta xuất phát từ những con người đane hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát

triển của những phản ánh tư tưởne và tiếng vane tư tường của quá trình đời

sống ấy Ngay cả những ảo tường hình thành trong đầu óc con người cũng là những vật thăng hoa tất yếu của quá trinh đời sống vật chất của họ, một quá

trình có thể xác định được bằng kinh nahiệm và gẳn liền với những tiền đề vật chất" [39, tr.37-38] Con người với tính cách là tiển đề của lịch sử là con người hiện thực chứ không phải là con neười theo quan niệm duy tâm hay trừu tượng siêu hìiih Tính hiện thực của nó được quv định trước hết bời sản xuất vật chất, con người sử dụna cône cụ vật chất, phương tiện vật chất để lao

động sản xuất nhàm mục tiêu tồn tại và phát triển Đây là điểm khác biệt căn bản nhất của triết học Mác với tất cà triết học trước đây Nội dung vấn đề triết

học về con người ờ tác phẩm "Hệ tư tường Đức" của C M ác và Ph.Ảngghen

sẽ được chúng tôi trình bày trong chươne tiếp theo.

Trang 33

Chương 2 QUAN NIỆM CỦA TR1ÉT HỌC VÈ VẨN ĐÈ CON NGƯỜI

TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯ ỞNG ĐỨC”

2.1 Con người ”hiện thực" trong tác phẩm "Hệ tư tường Đức" theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen

"H ệ tư tường Đ ức" là m ột tác phẩm triết học mà lần đầu tiên tư tường

duy vật về lịch sử - xã hội, về sản xuất vật chất, về con người hiện thực và các

nhu cầu luôn vận động biến đổi của con người, v ề vai trò của con người trong

tiến trình lịch sử được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập một cách khá hoàn chỉnh.

N hư chú ne ta đã biết, các nhà triết học trư ớ c C M á c đã lý giải vấn đề

con người dưới nhửne khía cạnh khác nhau Song, dù đứng trên lập trường

thế giới quan nào, các nhà triết học trước C M ác đều không có lý giải khoa

học về vẩn đề con người Nguyên nhân sai lầm của cá c nhà triết học trước

Mác thì nhiều, tựu trung lại, có thề thấy, họ khôna có cách tiếp cận đúng đẳn

về vấn đề con người, trên cơ sở đó họ không thấy được bản chất, vai trò chủ

thể lịch sử của con người trong tiến trình phát triển lịch sử - xã hội.

C ách tiếp cận vấn đề triết học về con người của C M á c và Ph.Ả ngehen

khác với tất cả các nhà triết học trước M ác B ư ớ c chuvển biến căn bàn trong

học thuyết của C M ác và Ph.Ảngghen về vấn đề con người là s ự thay thể

phạm trù con người trừu tượng bằng con người hiện thực trong sự phát triển

của nó C ác ông cho rằng, v iệc nhận thức con người là phải ở trong đời sổng

hiện thực của chính họ và đó "không phải là một tình trạng biệt lập và cố định

tường tượng mà là những1 con người trong quá trình phát triển - quá trinh phát

triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới nhừne

điều kiện nhất định" [39, tr.38] N ghĩa là, theo cá c ông, kh i nghiên cứu vấn đề

con người, cần phải xuất phát từ những con người cụ thể - cảm tinh, đang

30

Trang 34

sốne tồn tại trone một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, một môi trường xã hội với các điều kiện tự nhiên sinh quyển, khí quyên và nhữna

m ối quan hệ phức tạp, "đó là những cá rứián hiện thực, là hoạt độne của họ và

nhừng điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sằn

cũ n s như những điều kiện đo hoạt động của chính họ tạo ra" [3 9 , tr.2 8 -2 9 ]

Đây là nhừne con neười có khả năng sống để làm ra lịch sử của mình Bằng

hoạt độim thực tiễn của mình, hoạt động cải tạo thế giới của m ình, con người

không chì phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình, mà còn sáng tạo ra lịch sử của chính mình - lịch sử xã hội loài người.

K h ác với những nhà triết học trước M ác, cho ràng, không cần m ột tiền

đề nào cả khi nghiên cứu lịch sử - xã hội C.Mác và Ph.Ảngghen đã đi tìm

nhữne tiền đề cùa m ọi sự tồn tại của con người, đó là con người hiện thực, tiền đề của mọi lịch sử B ở i vi, đối với các ông, lịch sử ch ẩn e qua chi là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của m inh Chính từ v iệc xác

định đủng đắn tiền đề của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải quyết vấn đề

con người một cách triệt để

T heo C M ác và Ph.Ả ngahen trước hết con người cẩn phải tồn tại, phải

có khà năng sống, sau đó mới có thể làm ra m ọi sản phẩm vật chất và tinh thần N ói cách khác con neười muốn sáng tạo ra lịch sử thì trước hết phải tồn tại, phải sống Những muốn sống được thì trước hết co n người cần phải có

thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo Các ông đã khẳng định: "Người ta phải

có khả năng sống đã rồi m ới có thể "làm ra lịch sử" N hưng muốn sống được phải có thức ăn, thức uống, nhà ở , quần áo và m ột vài thứ khác nữa" [39

tr.40] - đây là nhu cầu tối thiểu của con người để có thể sống, tồn lại Một

chân lý hiển nhiên và sơ đẳng, có thể kiểm chứng được nhưng rất nhiều nhà

tư tưởng trước đó đã không nhận ra V à để cỏ thức ăn thức uổng, nhà ở quần

Trang 35

áo thì con người cần phải lao độna sản xuất Vì vậy, con người phải tham gia vào việc sản xuất ra những thứ đó.

Quá trình sản xuất ra của cải vật chất đáp ứne nhu cầu tối thiểu đầu tiên

của con người, con neười đã tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên và con

neười phài quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất: Quá trình đó con người

đã bắt đầu làm ra lịch sử cùa chính mình Hành vi sàn xuất ra những vật đụng

cần thiết đề thoà mãn nhu cầu đầu tiên, tối thiểu theo C M ác và Ph Ăngghen

đó là hành vi lịch sừ đầu tiên. C M ác và Ph.Ăngghen viết: " hành vi lịch sử

đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bàn thân đời sống vật chất Hơn nừa, đó là mội hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản cùa mọi lịch sử (mà hiện nay cũng như hàng nghìn năm

về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chì nhàm để duy tri đời sống con người" [39, tr.40].

Với C.Mác và Ph.Ảngghen, nhu cầu sống và tồn tại của con người là

nguyền nhân dẫn tới con người có sàn xuất và phâi lao động sản xuất ra của

cải vật chất Sự khác nhau giữa nhu cầu của con người và cùa con vật đã dẫn tới phương thức sổng khác nhau giữa con người và con vật Con vật sổng hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, còn con người không ngừng cải biến tự nhiên nhằm phục vụ cho mục đích, nhu cầu neày càng cao của mình Con người trao đổi chất' với tự nhiên trước hết bàng hoạt động có mục đích, hoạt động khai thác những sản phẩm có trong tự nhiên phục vụ cho nhu cầu tồn tại của mình Hơn nữa, con người tác động vào tự nhiên không chì để khai thác

mà còn làm biến đổi bộ mặt của nó, "sản xuất", "chế tạo" thêm những cái mà

tự nhiên không có Quá trinh đó con người đã tạo ra một tự nhiên thứ hai như

là tác phẩm nghệ thuật của chính mình Hay nói khác đi, con người sáng tạo

ra tự nhiên thứ hai theo quy luật của cái đẹp Đó là quá trình biến tự nhiên

3 2

Trang 36

thuần tuý thành tự nhiên - xã hội Đâv cũng chính là sự khác nhau căn bàn

nhất giữa con người và con vật.

C.Mác và Ph.Ảngghen trong quá trình nghiên cứu về vấn đề con người

đã thường xuyên phát triển tư tưởng của mình về điểm mấu chốt để phân biệt

sự khác nhau của con người với thế giới loài vật Ngay, trong "Bản thảo kinh

tế - triết học năm 1844", C.Mác cho rằne sự khác nhau aiữa con người và con

vật được thể hiện ờ hai điểm: thứ nhất, con người có ý thức và thứ hai: con

người biết sản xuất Đến "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác và Ph.Ảngghen khẳng định rằng: "có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức và bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bàn thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sàn xuất ra những

tư liệu sinh hoạt của mình - đó là bước tiến do tổ chức cơ thể người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cùa mình, như thế là con người đã gián

tiếp sàn xuất ra chính đời sống vật chất của mình" [39, tr.29] và đến "Biện chứng của tự nhiên", Ph.Ăngghen đã tiến xa hơn nữa bàne cách khẳng định ràng, chính lao động là yếu tố quyết định sự chuyển biến từ vượn thành người, lao động đà sáng tạo ra con người: "Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gổc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải Những lao động còn là một cái gì lớn lao hem thế nữa Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sốne loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người" [43, ư.673] Sự phát triển luận điểm này của C.Mác và Ph.Ăngghen trỏng quá trình nghiên cửu lý luận của mình, đà cho chúng ta thấy, các ông luôn quan tâm đến hoạt độne của con người, đến điểm mấu chốt để phân biệt con người với thế giới loài vật là lao động, là sản xuất Nói cách khác, con người sổng, tồn tại bằng cách lao động và sàn xuất vật chất.

Trang 37

Để sổng và tồn tại, trước hết con người phải tiến hành sàn xuất Sản xuất là hoạt động đặc trưng riêne có cúa con người và cũa xã hội loài người

Tuy nhiên, để tồn tại con vật cùne phài kiếm sốns nhưng cách thức kiếm

sổne của chúng khác hẳn với hoạt độns sản xuất của con người, về điểm này, trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm ỉ 844” chi viết trước tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” một năm C.Mác chi rõ: "Cố nhiên con vật cũng sản xuất Nó xây dựng tổ, chỗ ở cùa nó, như con one con hài ly, con kiến.v.v nhưng con vật chi sàn xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến;

nỏ sản xuất một cách phiến diện, trong khi con neuời sản xuất một cách toàn diện, con vật chi sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cà khi không bị nhu cầu đó ràng buộc" [48, tr.137] Trong quá trình sàn xuất con người hiện thực đã thể hiện vai trò chủ thể của mình ở chồ, con người đã sáng tạo ra công cụ sàn xuất Chính cône cụ sản xuất xuất hiện là dấu hiệu chứng tỏ sự khác biệt căn bàn nhất giữa xâ hội loài người với xã hội loài vật Sau này Ph.Ảngghen trong Bức thư giử La- vrốp

ngày 12-17 tháng I I năm 1875 đã nhấn mạnh: "điểm khác biệt eiữa xã hội loài người với xà hội loài vật là ở chỗ: loài vật may mẳn lẩm chi hải lượm,

trong khi con người sàn xuất" [47, tr.241].

Theo C.Mác và Ph.Ảngghen trong tác phẩm "Hệ tu tuởng Đức", quá trình sàn xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất

ra bản thân con người B a quá trình này không tách biệt với nhau, trong đỏ, sản xuất vật chất giữ vai trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội và xét đến cùng quyết định toàn bộ sự vận động của đời sốne xã hội.

Hoạt động sản xuất'vật chất tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người nói chung cũng như từng cá thể con người nói riêng Bằng việc "sản xuất ra những tu liệu sinh hoạt của mình, con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của minh" [39, tr.29] Trải qua

3 4

Trang 38

lịch sù lâu dài chinh phục eiới tự nhiên, con người ngày càng hiểu rõ hom sức mạnh cùa mình Cùng với cải biên thê siới xunc quanh, con người củng đông thời cài biến bản thân mình và các quan hệ siữa con người với nhau làm cho

việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hom Con người và xã hội loài

người được hình thành và phát triển ừone quá trình hoạt động sản xuất vật

chất, "lao động đã sáng tạo ra bản thân con người" và, xã hội đã ra đời cùng

với sự xuất hiện của con nsười hoàn chình Chính là nhờ sự sản xuất ra cùa

cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của minh, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sổng vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó.

Như vậy, xà hội tồn tại và phát triển được trước nhất là nhờ sàn xuất vật chất Lịch sừ xã hội, do vậy trước hết cùng là lịch sử phát triển cùa sản xuất vật chất C.Mác cho rằng: "việc sàn xuất ra nhừng tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp tạo ra một cơ sờ, từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cà những quan niệm tôn giáo cùa con người ta" [42, tr.500] Thực tiễn lịch sử xà hội loài neười còn

cho thấy ràna mọi quan hệ phức tạp cùa đời sốna xà hội dù thể hiện trong bất

kỳ lĩnh vực nào: chính trị hay pháp quvền nghệ thuật hay đạo đức tôn giáo

hay khoa h ọ c hết thảv đều hình thành và biến đổi trên cơ sờ sự vận động

của đời sổng sản xũất vật chất.

Nhìn chung, dù được xem xét trong toàn bộ lịch sử của sự hình thành

và phát triển xã hội loài người nói chuns hay được xem xét trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của các xã hội hiện thực nói riêng, thì sự sàn xuất vật chất

vẫn luôn luôn đỏng vai trò là cơ sở, là nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội Bời thế, đối với các hiện tượne của đời sống xã hội, người ta chi có thể đạt tới một sự giải thích có căn cứ, nếu bằne cách nàv hay bằng cách khác, sự

giải thích ấy được xuất phát từ nền sản xuất vật chất hội.

Trang 39

Trong tác phẩm "Hệ tư tường Đức" C.M ác và Ph.Ảngghen đã khẳng

định chính nhu cầu đầu tiên (như ãn ờ mặc đi lại ) cũng không giống nhau

ờ các nước, các dân tộc khác nhau Sự khác nhau của nhu cầu ờ các dân tộc

lúc đầu do điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh sống của con người quy định,

nhưng về sau, cùng với sự phát triển của xã hội sự khác nhau về nhu cầu còn

bị quy định bời các yếu tố thuộc về truvền thống và văn hoá C.Mác và Ph.Ảneehen viết: "Nhữne quan hệ qua lại giữa các dân tộc khác nhau đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của mồi cá nhân đó về mặt lực lượng sàn xuất,

sự phân công lao động, cône cụ iao động và sản phẩm lao động" [39 tr.30].

Xuất phát từ con neuời hiện thực với nhu cầu đầu tiên là phải sống và tồn tại, C.Mác và Ph.Ảngghen cho rằng, chính sự vận động, phát triển của

nhu cầu con người đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội Hoạt động sản xuất ra

của cải vật chất nhàm thoà mãn nhu cầu đầu tiên của con người được đáp ứng Nhưng khi những nhu cầu này được thoả mãn, trước sự vận động của thực tại

và đo những tác động cùa hoàn cành, ờ cá nhân con người lại xuất hiện nhu cầu mới Sự xuất hiện nhu cầu mới này, theo C.Mác và Ph.Ăngghen cũng là

hành vi lịch sir đầu tiên, ờ đâv, nhu cầu cùa con neười đóna vai trò là độne

lực của sản xuất nói riêng và lịch sử nói chung Sản xuất, trong quan hệ với nhu cầu là cái đáp ứng nhu cầu Đó ià một mặt của quan hệ giữa nhu cầu và sản xuất Mặt khác của quan hệ giữa nhu cầu và sản xuất là không có nhu cầu thì không có sản xuất vì, sản xuất ra chẳng để làm 2Ì cả Nhưng vì nhu cầu của con người là hết sức phong phú, đa dạng và biển đổi không ngừng; nhu cầu cũ được thoả mãn thì không chi một mà vô số nhu cầu mới xuất hiện Nhu cầu này được thực hiện lại xuất hiện những nhu cầu khác cao hơn, tạo ra cho con người những khả năng sáng tạo hơn để tiếp tục thoả mãn nhu cầu.

Nếu không có nhu cầu mới con người tự thoả mãn với những "tư liệu" vốn có ban đầu, thì đương nhiên xã hội sẽ dừng lại ở trạng thải không phát

36

Trang 40

triển Nhừns nhu cầu mới làm cho cá nhân luòn luôn phát huy tính năng động của bản thân, khơi dậy trons họ ý thức tư duy sáng tạo tìm ra những "phương thức" đề thoả mãn nhu cầu C.M ác và Ph.Ănaehen đã viết: "bàn thản cái nhu cầu đầu tiên đã được thoả mãn, hành động thoà mãn và công cụ để thoả mân

mà người ta có được - đưa tới những nhu cầu mới; và sự sản sinh ra nhu cầu mới này cũng là hành vi lịch sử đầu tiên" [39 tr.40] Vì vậy, chính nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩv sự tiến bộ xã hội và quả trình lao động sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người, là quá trình con người đã tạo ra lịch sử - xã hội cùa chính mình Nói cách khác, con người hiện thực là chủ thể sáng tạo

của lịch sử - xã hội.

Nhu cầu cùa con người là vô cùng, vô tận và nhu cầu sau cao hơn nhu cầu trước Cứ như thế, quá trình sản xuất nhằm thoả mãn nhu cầu của chính mình con người đã làm cho lịch sử ngày càng phát triển.

Với tư cách là phương tiện thoà mãn nhu cầu của con người, sản xuất cũng luôn luôn phát triển Sự đa dạng và phong phú của nhu cầu, cũng như sự biến đổi nhu cầu của con neười cũng là điểm khác biệt căn bàn nừa giừa con người và con vật Sự khác nhau RÌỪa con neười và con vật không chi ờ phương thức thoả mãn nhu cầu đầu tiên, mà còn ở sự đa dạng của nhu cầu, sự biến đổi và luôn luôn xuất hiện những nhu cầu mới ở con người, ở con vật, nhu cầu dường như lặp đi lặp lại và ít biển đổi Còn ở con người, nhu cầu biến đổi không ngừng với nội dung ngàv càng phong phú và đa dạng Thêm vào

đỏ, khả năng đáp ứng nhu cầu cùa con người ngày càng nhanh chóng, với chất lượng ngày càng cao.

Theo C.Mác và Ptí.Ảngghen, việc sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết để nuôi sống con người là tiền đề đầu tiên của sự tồn tại và cũne là điểm xuất phát của tiến trình lịch sử của các dân tộc Đây cũng là điểm khác

biệt của C.M ác và Ph.Ảngghen so với Phoi ơ bấc và các nhà triết học trước

Ngày đăng: 09/12/2020, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w