Một số câu hỏi thuộc về nội dung nghiên cứu mà luận văn đặt ra và giải quyết là: - Tìm hiểu về thực trạng đời sống hiện nay của những phụ nữ đã từng là thanh niên xung phong nhiều tháng
Trang 2Lời cảm ơn
Lời cảm ơn
Luận văn được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của cô giáo –PGS.TS Lê Thị Quý PGS.TS Lê Thị Quý PGS.TS Lê Thị Quý cùng thầy cô giáo trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Trước hết, tác giả muốn dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới các thầy cô
Trong quá trình thực hiện Luận văn, nhất là quá trình điều tra, khảo sát thực tiễn tại Hà Nội, tác giả nhận được sự giúp đỡ quý báu và nhiệt tình của các cô, các bác ở Ban liên lạc cựu thanh niên xung phong thành phố Hà Nội (Thành đoàn Hà Nội), đặc biệt trực tiếp của các cô, các bác cựu thanh niên xung phong huyện Từ Liêm và quận Đống Đa thành phố Hà Nội Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với họ
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Các Viện, các trung tâm nghiên cứu, các thư viện và các tổ chức trong và ngoài nước trên địa bàn Hà Nội đã đón tiếp, giúp đỡ chu đáo và nhiệt tình trong quá trình tác giả thu thập tài liệu
Cuối cùng, tác giả dành lời cảm ơn đến Bố, Mẹ, các anh chị em cùng những người thân trong gia đình vì những động viên, khích lệ của họ dành cho tác giả suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc dành cho họ-những người trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại thành công ngày hôm nay cho tác giả
Kim Văn Chiến
Trang 3MỤC LỤC
Trang
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài 15
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 19
1.1.1 Chủ nghĩa duy vật biên chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử 19 1.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng TNXP 19
1.3.1 Giới tính
Trang 41.3.2 Giới
Chương II Đời sống hiện nay của nữ TNXP chống Mỹ 43
2.2 Một số đặc trưng về bản thân nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ hiện nay 53
2.3 Một số vấn đề nổi bật về đời sống hiện nay của nữ TNXP 61
2.3.2 Mối quan hệ của nữ TNXP trong gia đình và ngoài cộng đồng, xã hội 75
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu và kết quả điều tra ghi trong luận văn là do bản thân tôi trực tiếp thu thập, chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU VÀ HỘP
Ảnh 1; 2 Các nữ TNXP chụp ảnh lưu niệm trước khi đi làm nhiệm vụ 55
Ảnh 4; 5 Những hình ảnh nữ TNXP học tập văn hoá tại chiến trường 60 Ảnh 6; 7; 8; 9 Những hình ảnh nữ TNXP tham gia văn hoá, văn nghệ tại
Bảng 3 Trình độ học vấn của nữ TNXP trước khi tham gia chiến trường 54 Bảng 4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nam, nữ TNXP 56
Bảng 7 Mức thu nhập cá nhân hàng tháng của nữ TNXP 63 Bảng 8 Tương quan giữa thu nhập và lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp
Bảng 10 Tương quan giữa mức chi cho lương thực, thực phẩm hàng
tháng với thu nhập cá nhân hàng tháng của nữ TNXP
Bảng 14 Tương quan giữa trình độ học vấn hiện nay của nữ TNXP với
mức độ hưởng thụ văn hoá tinh thần trong một số hoạt động
74
Bảng 15 Sự thăm hỏi của người thân, bạn bè tới nữ TNXP 75
Bảng 17 Sự tham gia của nữ TNXP vào các phường, hội ở địa phương 79
Trang 7Bảng 18 Tình trạng bệnh tật của nữ TNXP hiện nay 81
Bảng 20 Những khó khăn hiện nay của nữ TNXP quận Đống Đa và
huyện Từ Liêm
86
Biểu 5 Mức độ hài lòng của nữ TNXP khi có người đến thăm hỏi 76 Biểu 6 Mức độ thăm hỏi của làng xóm, chính quyền và các tổ chức đoàn
thể tới nữ TNXP
77
Biểu 7 Sự can thiệp, giúp đỡ của họ hàng, hàng xóm và các tổ chức
đoàn thể khi nữ TNXP gặp khó khăn
78
Biểu 9 Những khó khăn hiện nay của nữ TNXP quận Đống Đa và huyện
Trang 8DANH MỤC QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT
(Xếp theo ABC chữ cái viết tắt đầu)
GDP Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
LĐ-TB&XH Lao động-thương binh và xã hội
QLTTXD-ĐT Quản lý trật tự xây dựng-đô thị
TTATXH Trật tự an toàn xã hội
Trang 9LêI NãI §ÇU
Trong các phong trào yêu nước của thanh niên suốt gần nửa thế kỷ qua TNXP luôn xứng đáng là một trong những biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam Ra đời trong khói lửa của cuộc chiến chống Pháp được sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ kính yêu, TNXP là những người trẻ tuổi đi đầu, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ hy sinh vì Tổ quốc,
vì nhân dân Qua nhiều chiến dịch lớn hàng vạn lượt cán bộ, đội viên TNXP
đã đi đầu trong công tác mở đường, phá bom nổ chậm, vận chuyển lương thực, vũ khí ra mặt trận tải thương, kéo pháo, đào hào, phục vụ chiến đấu, phục vụ sản xuất! Có thể nói bất cứ làm việc gì, bất cứ ở đâu cán bộ đội viên TNXP với tất cả kiên cường và nghị lực, một lòng một dạ thực hiện lời Bác
Hồ dạy:
“ Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lập biển Quyết chí cũng làm nên”
Đây là một phần ký ức không thể nào quên, không những của riêng cán bộ, đội viên TNXP, mà cũng là tất cả những ai đã từng sống, chiến đấu, lao động cùng TNXP hoặc được TNXP phục vụ trên mọi nẻo đường đất nước
Và cho đến nay, đã hơn 30 năm trôi qua, được sống trong hoà bình, nhưng cứ mỗi lần kỷ niệm chiến thắng lịch sử của đất nước, mỗi khi thế hệ trẻ vui mừng kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tình cảm của tác giả thật vui buồn lẫn lộn Nhất là khi báo, đài nhắc đến những kỳ tích của TNXP và sự thiệt thòi của những gia đình liệt sỹ TNXP, nhiều cán bộ, đội viên TNXP đang bị thương tật, mất sức mà cho đến nay (vì nhiều lý do) vẫn chưa được hưởng một chế độ chính sách thoả đáng…đặc biệt là đối với các chị là nữ Tác giả với tư cách là thế hệ thanh niên ngày nay, lương tâm
Trang 10cắn rứt, đau xót như người mắc nợ chưa có gì để trả, đền ơn các thế hệ thanh niên đi trước
Sau nhiều năm học tập và nghiên cứu, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề
tài: “Một số vấn đề hiện nay về đời sống của nữ thanh niên xung phong
chống Mỹ” (Qua nghiên cứu, khảo sát tại địa bàn huyện Từ Liêm và quận Đống Đa thành phố Hà Nội) làm luận văn xã hội học của mình
Một số câu hỏi thuộc về nội dung nghiên cứu mà luận văn đặt ra và giải quyết là:
- Tìm hiểu về thực trạng đời sống hiện nay của những phụ nữ đã từng
là thanh niên xung phong (nhiều tháng đến nhiều năm) tại các mặt trận chiến đấu nay trở về cuộc sống bình thường tại quê hương hoặc tại các địa phương khác Cụ thể đó là đời sống của của các cựu nữ TNXP về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của cá nhân và gia đình họ
- Tìm hiểu những tâm tư, tình cảm và nhu cầu mong muốn về mặt tâm
lý xã hội của cựu nữ TNXP
- Trên cơ sở dữ liệu nghiệm thu được, thiết kế các khuyến nghị và giải pháp tới các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức đoàn thể xã hội có liên quan để có chính sách xã hội phù hợp điều chỉ và bù đắp những thiếu hụt của các nữ TNXP giúp họ bắt kịp với cộng đồng
Thông tin lượng giá những nội dung đã được phối hợp thu thập thông qua phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi, sưu tầm-phân tích tài liệu
và các phỏng vấn sâu với các chị cựu thanh niên xung phong
Cuối cùng, do thời gian và nguồn lực hạn chế, chắc chắn nghiên cứu
mà luận văn thực hiện sẽ không tránh khỏi thiếu sót
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà chuyên môn, các
cô các bác cựu thanh niên xung phong và các bạn đồng nghiệp
Trang 11PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi Nam, Bắc sum họp một nhà, đất nước thống nhất Làm nên chiến thắng lịch sử đó là công lao của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh
Đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, cùng toàn dân, lực lượng thanh niên xung phong (TNXP) chống Mỹ cứu nước không quản khó khăn, gian khổ, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước Đặc biệt trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ xâm lược Hàng chục vạn nam nữ TNXP đã có mặt kịp thời trên khắp mọi trọng điểm, mọi tuyến đường…cùng bộ đội và nhân dân chiến đấu quyết liệt mở thêm đường mới, quyết tâm đảm bảo mạch máu giao thông luôn luôn thông suốt, vận tải liên tục, thực hiện khẩu hiệu: “Địch phá, ta sửa ta đi” tiến lên “Địch phá ta cứ đi” hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của, vũ khí súng đạn, lương thực…của hậu phương lớn miền Bắc XHCN đối với tiền tuyến miền Nam
Lực lượng nam, nữ TNXP đã ghi đậm nét trang sử vẻ vang không những trong phong trào thanh niên, phong trào phụ nữ, mà cả trong lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam
Tinh thần hăng hái, xung phong, dũng cảm và thành tích của nam nữ TNXP là hết sức to lớn, hết sức vẻ vang…Nhưng các cán bộ, đội viên TNXP cũng đã gặp và chịu đựng không ít những hy sinh, gian khổ, đặc biệt đối với các nữ TNXP
Thật cảm động biết bao những hình ảnh các nữ TNXP ngày đêm bất chấp bom đạn kẻ thù san lấp hố bom, mở rộng đường ra tiền tuyến, những các chị đứng bên bom nổ chậm cho xe đi qua; có người đã quàng mảnh vải trắng, tự mình làm cọc tiêu sống đứng suốt đêm bên đường để hướng dẫn cho từng đoàn xe ra mặt trận; có chị tình nguyện ngồi suốt ngày đêm cho
Trang 12thương binh tựa lưng để bớt phần đau đớn; hoặc có những chị nuôi đã lặn lội hết núi rừng, khe suối tìm từng cọng rau về cải thiện bữa ăn đạm bạc ở trên núi rừng Trường Sơn, nhiều chị đã hiến toàn bộ tuổi thanh xuân của mình cho mặt trận đảm bảo giao thông, chịu đựng những khó khăn, thiếu thốn về tinh thần và vật chất…
Dù gian khổ, khó khăn ác liệt bao nhiêu các nữ TNXP không bao giờ cúi đầu khuất phục, dù nhiệm vụ nặng nề đến mấy các chị TNXP cũng sẵn sàng gánh vác và luôn hoàn thành nhiệm vụ
Tinh thần hăng hái, say sưa lao động, chiến đấu, học tập, cuộc sống lạc quan, yêu đời “Tiếng hát át tiếng bom”, dù phải hi sinh xương máu, các chị TNXP vẫn một lòng, một dạ trung thành với cách mạng, tuyệt đối tin tưởng ở Đảng, ở Bác Hồ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Đó là bản chất tốt đẹp là chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thế hệ thanh nhiên Việt Nam thời chống Mỹ
Hơn 30 năm đã đi qua, chiến tranh đã kết thúc, công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế trong đất nước hoà bình, thống nhất đã và đang
nở hoa kết trái
Hàng vạn hố bom đã được san lấp thành đồng ruộng xanh tươi, hàng chục con đường và hàng trăm chiếc cầu trước đây bị sập, bị hỏng, nay đã được xây dựng lại to rộng hơn, nhiều vùng núi bị đạn cày xới, cảnh tàn phá của chiến tranh đã lùi dần về quá khứ
Những ký ức sâu sắc những chiến công hào hùng của một thời oanh liệt của TNXP vẫn còn sống mãi với non sông đất nước, với những con đường lịch sử và sẽ còn ghi lại những dấu ấn không thể nào quên đối với thế
hệ trẻ ngày nay và mai sau
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những hậu quả nặng nề để lại cả về vật chất và tinh thần cho những lực lượng đã từng tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là đối với hàng ngũ nữ TNXP Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã giành sự quan tâm đặc biệt đối với những người có công trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Sự quan tâm, giúp đỡ, chăm sóc đó
đã tạo điều kiện cho hàng triệu người có công có cuộc sống ổn định, có điều kiện hoà nhập cộng đồng
Trang 13Trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, cũng còn không ít những đối tượng đã từng cống hiến một phần tuổi xuân và sức lực trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đang gặp nhiều khó khăn trong đời sống, trong hoà nhập cộng đồng Trong số đó có một bộ phận là cựu nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ cứu nước
Ở Việt Nam, vì nhiều lý do, cho đến nay, tuy chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm nhưng chưa có những cuộc điều tra quy mô hoặc những cuộc khảo sát trên thực địa nhằm tìm hiểu đời sống của phụ nữ TNXP Cụ thể đó
là những ảnh hưởng, hậu quả tâm lý xã hội của chấn thương do chiến tranh
để lại mà những chấn thương tâm lý đó có thể lưu lại lâu dài trong kho ký ức
và thường xuyên đe doạ làm sống lại những giây phút khủng khiếp, hãi hùng Trong những cơn ác mộng, người ta cảm thấy tính mạng bị đe doạ, thậm chí cái chết đang đến gần hoặc đe doạ làm hại người khác, nhất là những người thân trong gia đình
Những hậu quả chấn thương tâm lý do chiến tranh không phải day dứt trong tâm khảm những người trực tiếp trải nghiệm trong chiến cuộc (những người từng là chiến sỹ, là TNXP…) gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống vật chất, tinh thần của họ mà còn tác động gián tiếp cả những người chỉ chứng kiến hoặc chỉ nghe kể lại những cảnh tượng đó, những người thân của
họ Do đó, đây là đề tài còn bỏ ngỏ cần được nghiên cứu
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Trang 14
Nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của họ và các chính sách xã hội đối với họ như thế nào?
Những kết quả nghiên cứu nhằm giúp các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách có định hướng điều chỉnh chính sách cho phụ nữ thanh niên xung phong để họ có một cuộc sống bình thường hoà nhập với sự phát triển của cộng đồng và xã hội
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
3.1 Mục đích nghiên cứu
3.1.1 Tìm hiểu về thực trạng đời sống hiện nay của những phụ nữ đã từng là thanh niên xung phong tại các mặt trận trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ nay trở về cuộc sống bình thường tại quê hương hoặc tại các địa phương khác Cụ thể đó là đời sống của của các cựu nữ TNXP về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của cá nhân và gia đình họ
3.1.2 Tìm hiểu những tâm tư, tình cảm và nhu cầu của nữ TNXP
3.1.3 Trên cơ sở nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị và giải pháp mang tính khả thi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, xem xét một số đặc trưng về bản thân nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ, với các đặc điểm như tuổi, thời gian phục vụ, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân…để thấy được khái quát về cựu nữ TNXP Từ những đặc trưng đó ta thấy được bức chân dung sơ lược về họ
Phân tích các vấn đề nổi bật về đời sống nữ TNXP hiện nay từ điều kiện sinh sống (nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, thu nhập, chi tiêu…) đến tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, cho đến mối quan hệ của họ với gia đình và cộng đồng, xã hội
Trang 15Từ những phân tích trên, đưa ra các đặc điểm nổi bật về đời sống cựu
nữ TNXP Đó là bức tranh về một số vấn đề đời sống của cựu nữ TNXP hiện nay
Cuối cùng, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số vấn đề về đời sống hiện nay của nữ thanh niên xung phong chống Mỹ
4.4 Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu của đề tài bao gồm 200 đối tượng cựu nữ TNXP ở huyện Từ Liêm (100 người) và quận Đống Đa (100 người)
* Quá trình chọn mẫu:
Bước 1 Từ đơn vị đầu tiên là Ban liên lạc cựu TNXP - Thành Đoàn Hà Nội chọn ra hai địa bàn: Một thuộc nội thành; một thuộc ngoại thành Cụ thể là huyện Từ Liêm và quận Đống Đa
Bước 2 Từ Hội cựu TNXP của huyện Từ Liêm và quận Đống Đa lấy ngẫu nhiên 12 đến 16 đối tượng nữ TNXP/1 xã (phường)
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5 1 Phương pháp phân tích tài liệu
• Phân tích và tổng hợp các tư liệu (các báo cáo, văn bản liên quan …)
về phụ nữ thanh niên xung phong
• Phân tích và tổng hợp các số liệu, tài liệu thứ cấp liên quan
Trang 16• Thu thập, phân tích và tổng hợp các biểu thống kê với các chỉ tiêu lựa chọn sẵn tại các địa bàn nghiên cứu
5 2 Phương pháp điều tra Xã hội học
5.2.1 Phương pháp định lượng
Thu thập thông tin bằng bảng hỏi được xây dựng sẵn và tiến hành thu thập với 200 nữ TNXP (100 ở Từ Liêm và 100 ở Đống Đa) tại các quận/huyện trên địa bàn Hà Nội trên cơ sở danh sách của Ban liên lạc cựu Thanh niên xung phong của Thành Đoàn Hà Nội thới thiệu, cụ thể Ban liên lạc cựu TNXP huyện Từ Liêm và quận Đống Đa cung cấp
5.2.2 Phương pháp định tính
• Phỏng vấn sâu : 16 người
Trong đó bao gồm:
- 1 Chủ tịch Hội cựu TNXP huyện Từ Liêm
- 1 Chủ tịch Hội cựu TNXP quận Đống Đa
- 1 Trưởng ban nữ-Ban liên lạc cựu TNXP - Thành Đoàn Hà Nội
- 1 Trưởng ban nữ-Hội cựu TNXP huyện Từ Liêm
- 1 Trưởng ban nữ-Hội cựu TNXP quận Đống Đa
- 1 Trưởng ban chính sách - Hội cựu TNXP quận Đống Đa
- 10 cựu nữ TNXP (Từ Liêm: 5 người và Đống Đa: 5 người)
6 Giả thuyết nghiên cứu của đề tài
6.1 Khi ở chiến trường nữ thanh niên xung phong phải chịu đựng nhiều áp lực của bom đạn, phải gánh vác các công việc nặng nhọc của chiến trường, chịu đựng khí hậu khắc nhiệt của núi rừng Trường Sơn, ăn uống thiếu thốn, muỗi, vắt cắn… Chính vì lẽ đó sức khoẻ của nữ TNXP hiện nay đã bị suy giảm, bệnh tật phát triển nhưng họ ít điều kiện được chăm sóc, điều trị Hơn
Trang 17nữa, cho đến nay cuộc sống của nữ TNXP còn nhiều khó khăn cả về vật chất
và tinh thần nhưng chính sách xã hội chưa thoả đáng với họ
6.2 Cuộc sống của số đông phụ nữ TNXP là khó khăn, thiếu thốn so với mặt
bằng chung của xã hội Họ túng thiếu thường xuyên, đặc biệt ở các trường
hợp như: nữ TNXP sống cô đơn sống một mình, nữ TNXP có “xin” con
nuôi
7 Khung lý thuyết
8 Những đóng góp về của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề hiện nay về đời sống của nữ
TNXP chống Mỹ, từ đó phát hiện những thuận lợi và khó khăn trong cuộc
sống của nữ TNXP hiện nay
Đề xuất những phương hướng và giải pháp trong việc đề ra nhưng
chính sách xã hội đối với đội ngũ cựu TNXP, đặc biệt đối với cựu nữ TNXP
Đề tài luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà
nghiên cứu về nữ TNXP, đồng thời có ý nghĩa tham khảo đối với các cơ
quan hoạch định và thực hiện chính sách đối với TNXP
Nữ thanh niên xung phong
Mong muốn, nguyện vọng
Đời sống tinh thần Tình trạng
sức khoẻ
Trang 189 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời nói đầu, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành các phần chính như sau:
PHẦN I MỞ ĐẦU
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Đời sống hiện nay của nữ thanh niên xung phong chống Mỹ
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Khuyến nghị
Trang 19PHẦN II KẾT QUẢ NGHIấN CỨU Chương I CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng làm phương pháp luận nhận thức và giải thích các vấn đề xã hội một cách khách quan và khoa học, tránh những sai sót về tư duy, nhận thức Quan
điểm nhận thức về xã hội trên lập trường này yêu cầu các nghiên cứu xã hội học, công tác xã hội phải lưu ý đến những đặc điểm:
* Trước tiên, các thông tin, các phân tích từ xã hội học thực nghiệm phải phản ánh đúng với thực tế xã hội (tuân theo các qui luật của sự vận động
và phát triển của xã hội) Cơ cấu xã hội, các mối quan hệ xã hội được coi là
đối tượng của xã hội học phải được xem là đang tồn tại, đang thể hiện, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của nhà nghiên cứu Do vậy, các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm hướng tới những qui luật, những hiện tượng xã hội diễn ra một cách bình thường, tránh những hiện tượng mang tính ngẫu nhiên, bất bình thường, không bản chất
* Quá trình nhận thức trong xã hội học không chỉ dừng lại xem xét bên ngoài sự vật, hiện tượng mà việc cần thiết là phải nhận thức được bản chất bên trong hoặc chỉ ra được tính qui luật vốn có của nó Mặt khác, các sự kiện, hiện tượng trong đời sống con người phải được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng có tác động quan lại với nhau
* Cuối cùng, các nghiên cứu phải xuất phát từ thực tế lịch sử của một xã hội cụ thể và phản ánh trung thực lịch sử đó
Trang 201.1.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng thanh niên xung phong
1.1.2.1 Các văn kiện của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với thanh niên xung phong(Từ 1965 đến 1970)
1.1.2.1.1 Về chế độ liệt sỹ (trích)
Chỉ thị 71 ngày 21 tháng 6 năm 1965 của Thủ tướng Chính phủ về quyết định thành lập lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước tập trung
Trong phần II về chế độ đãi ngộ có ghi:
“…Khi ốm đau được hưởng chế độ thuốc men, bồi dưỡng và điều trị như công nhân viên chức Nhà nước; trong chiến đấu nếu bị thương hoặc bị hi sinh được hưởng chế độ như đối với thương binh, liệt sỹ…”
độ thương binh loại B”
“Khi ốm đau do vết thương cũ tái phát, những người đó được hưởng chế độ khám chữa bệnh như khi còn tại ngũ”
1.1.2.1.3 Về tính thời gian công tác của thanh niên xung phong để tính trợ cấp Bảo hiểm xã hội (trích)
Thông tư số 05/NV ngày 27 tháng 05 năm 1970 của Bộ Nội Vụ nói rõ:
“Quân nhân làm nghĩa vụ quân sự, khi hết thời hạn được chuyển ngay sang
cơ quan, xí nghiệp Nhà nước hoặc đã về địa phương một thời gian rồi mới được chuyển vào cơ quan, xí nghiệp đều được tính cả thời gian làm nghĩa vụ quân sự với thời gian làm việc tại cơ quan, xí nghiệp, tính là thời gian công tác liên tục để hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (trợ cấp hưu trí, mất sức lao động, tiền tuất…)
Trường hợp TNXP thoát ly hết hạn về địa phương một thời gian rồi mới được tuyển vào cơ quan, xí nghiệp Nhà nước thì nay cũng được giải quyết như trên”
Trang 211.1.2.1.4 Về thanh toán truy lĩnh tiền phụ cấp làm nhiệm vụ chiền trường B,C cho TNXP
Theo Chỉ thị số 235/TTg ngày 15/8/1972 của Phủ Thủ tướng trong thời gian làm nhiệm vụ ở B, C các gia đình của TNXP được hưởng các quyền lợi trợ cấp hàng tháng theo quy định như đối với gia đình quân nhân nghĩa vụ đi làm nhiệm vụ ở B, C
Căn cứ công văn SL số 79/Hg của Cục Tài vụ, Bộ Quốc phòng, thì “Từ tháng 1/1973, Đoàn 559 sử dụng 1.927 TNXP chống Mỹ cứu nước thuộc các tỉnh Ninh Bình, Hải Hưng, Hà Tĩnh, Hà Tây, Hà Bắc
Các tỉnh nói trên xác định phiên hiệu và số lượng TNXP địa phương mình đã chuyển sang quốc phòng vào thời điểm 1973 Thông báo cho cán bộ đội viên TNXP biết để, làm thủ tục truy lĩnh trợ cấp B, C
Các tiến hành, các bộ đội đội viên TNXP thuộc diện nói trên, “có đủ hồ sơ giấy tờ cần thiết, nộp cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, có sự tham gia ý kiến của Tỉnh đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chi trả tiền truy lĩnh và quyết toán theo hệ thống về Cục Tài vụ của Bộ Quốc phòng mà không cần lập dự toán…
1.1.2.1.5 Về trao tặng kỷ niệm chương TNXP
Theo quyết định số 444 ngày 14-11-1995 của Ban Thường vụ TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và thông tư hướng dẫn số 34 ngày 15-11-1995 cũng của Ban Thường vụ TW Đoàn thanh niên Tất cả cán bộ, đội viên TNXP (tập trung) thời chống Pháp và TNXP thời chống Mỹ đã hoàn thành nhiệm vụ, không bị kỷ luật từ khiển trách trở lên, có đủ giấy tờ phải có 2 người cùng công tác TNXP chứng nhận, đều được TW Đoàn tặng kỷ niệm chương TNXP Các cơ sở lập danh sách báo cáo lên Tỉnh thành Đoàn, Tỉnh thành Đoàn tổng hợp đề nghị lên Ban Thường vụ TW Đoàn xét quyết định tặng
Lễ trao tặng do cấp bộ Đoàn Tỉnh, Thành phố tổ chức trao tặng vào ngày
26-3 hoặc 15-7 hàng năm [11; P.295-296], [6; 269-271]
1.1.2.2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến
Thủ tưởng Chính phủ quyết định căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ ngày
30 tháng 9 năm 1992; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương
Trang 22binh và Xã hội và Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam; Quyết định:
Điều 1 TNXP được hưởng chính sách theo Quyết định này là:
TNXP tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ ngày 15 tháng 7 năm 1950 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, đã hoàn thành nhiệm vụ trở về gia đình hoặc đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ
Điều 2 TNXP theo quy định tại Điều 1 Quyết định này được hưởng một số
chính sách sau:
1 Trong thời gian làm nhiệm vụ bị thương, có vết thương thực thể hoặc hy sinh, được xác nhận là thương binh hoặc liệt sỹ được hưởng chính sách đối với thương binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ theo quy định hiện hành
2 Được ưu tiên vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, Quỹ xoá đói giảm nghèo để sản xuất cải thiện đời sống
3 Trường hợp không còn khả năng lao động, sống cô đơn không nơi nương tượng thì được xét hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng với mức tương đương
12 kg gạo (theo giá thời điểm của thị trường địa phương) theo Quyết định số 167/TTg ngày 8 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời được hưởng xét hưởng trợ cấp một lần bằng 1.500.000 đồng/người do ngân sách Trung ương chi
4 Trường hợp ốm đau kéo dài, không có khả năng lao động, thuộc diện hộ nghèo đói nhưng còn có nơi nương tựa, thì được xét hưởng trợ cấp một lần bằng 1.500.000 đồng/người do ngân sách Trung ương chi
5 Những chính sách quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 2 nói trên không áp dụng đối với TNXP đang hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội, thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh
Điều 3 Bộ lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Uỷ ban Quốc gia
về Thanh niên Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan hướng dẫn việc lập hồ sơ, thủ tục xác nhận đối tượng, hướng dẫn việc thực hiện chính sách quy định tại Điều 2 Quyết định này, đồng thời
có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện Quyết định này
Điều 4 Đề nghị TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Uỷ ban Quốc
gia về Thanh niên Việt Nam và Bộ Lao độn, Thương binh và Xã hội chỉ đạo
Trang 23tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp lập và duyệt danh sách các đối tượng là TNXP được quy định tại Điều này, làm thủ tục đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc TW ra quyết định công nhận và chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách quy định tại Điều 2 Quyết định này
Điều 5 Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký Điều 6 Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phó trực thuộc TW chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này (Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm
Thực tế, đơn cử theo báo cáo tổng kết của Hội cựu TNXP quận Đống
Đa cho thấy tình hình thực hiện chính sách như sau: Trong số 1.448 cựu TNXP ở toàn quận Đống Đa thì có tới số người được hưởng trợ cấp 1 lần 1.500.000 là 35 người (chiếm 2,41%), số người được vay vốn là 7, số hộ được sửa chữa nhà cửa là 3 (Nguồn: Biểu tổng hợp cựu TNXP được hưởng
một số chính sách theo quyết định 104/1999 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Từ 2000 đến 2006) Điều này phản ánh tình hình thực hiện chế độ chính sách cho các cựu TNXP còn nhiều hạn chế
Hơn nữa, một số cựu TNXP nhiễm chất độc hoá hay bị thương liệt sỹ vẫn chưa được công nhận hay chưa được hưởng chính sách gì, đặc biệt lại là các nữ TNXP: Quận Đống Đa trong tổng số 1448 cựu TNXP thì có
minh-11 cực TNXP nhiễm chất độc hoá học chưa được công nhận trong đó 8 cựu
nữ TNXP (chiếm 72,7%); có 23 thương binh-liệt sỹ là TNXP chưa được xét công nhận trong đó nữ có tới 16 đồng chí (chiếm 69,56%); có 36 cựu TNXP trong tình trạng cô đơn, trong đó nữ là 33 người (chiếm 91,6%);có 171 cựu TNXP thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo theo tiêu chuẩn nghèo 2006 của Bộ
Trang 24Lao động-Thương binh và xã hội, trong đó có 100 cựu nữ TNXP thuộc diện
nghèo và cận nghèo (chiếm 58,47%) (Nguồn: Ban chính sách-Hội cựu
TNXP quận Đống Đa, năm 2006) Điều này càng khẳng định tình hình thực hiện chính sách đối với cựu TNXP nọi chung và nữ TNXP nói riêng, đặc biệt đối với các cựu TNXP có hoàn cảnh đặc biệt còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ Các cựu TNXP vẫn phải sống trong những điều kiện khó khăn,
thiếu thốn không những về vật chất mà còn cả tinh thần
Theo thống kê khảo sát thực tế của chúng tôi về sự đánh giá của các
nữ TNXP đối với các nội dung, chương trình nhằm thực hiện chính sách xã hội đối với cựu TNXP cho thấy:
Chưa hài lòng
Không trả lời
1 Đánh giá về việc thực hiện chương trình kế hoạch
2 Đánh giá về việc tăng cường sự tham gia của các
tổ chức và đoàn thể xã hội tham gia công tác đền ơn
đáp nghĩa
3 Đánh giá về có những chính sách trong phân bổ
4 Đánh giá về việc tạo việc làm trực tiếp hoặc gián
5 Đánh giá về việc khám chữa bệnh miễn phí và có
chế độ y tế riêng cho cựu nữ TNXP 14,0 71,0 15,0
6 Đánh giá về việc tăng cường kết hợp giữa các ban
ngành trong công tác đền ơn đáp nghĩa 21,5 47,0 31,0
Nguồn: Số liệu khảo sát của luận văn tháng 1 năm 2006
Từ kết quả trên cho chúng ta thấy rằng đa số các cựu nữ TNXP là chưa hài lòng về những việc như thực hiện chương trình kế hoạch chung đối với cựu TNXP (51,0% chưa hài lòng; không trả lời 27,0% và hài lòng chỉ có 22,0%); về việc tăng cường sự tham gia của các tổ chức và đoàn thể xã hội tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa (57,5% chưa hài lòng; không trả lời
Trang 2536,5% và chỉ có 7,5% hài lòng); về việc khám chữa bệnh miễn phí và có chế
độ y tế riêng đối với cựu nữ TNXP (71,0% không hài lòng; 15,0% không trả lời và chỉ có 14,0% hài lòng)….Điều này chứng tỏ có chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách đối với những người có công với tổ quốc, nhưng những chủ trưởng chính sách này còn chưa được thực hiện đồng bộ hay nói đúng hơn là chưa được thực hiện tốt ở cơ sở Một phần do điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi cơ sở, mỗi địa phương nên quá trình thực hiện chưa kịp thời, một phần do cơ chế chính sách chưa triệt để khiến cho các chủ trương này chưa đến kịp với các cựu TNXP
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chưa được đồng bộ và hiệu quả nhưng những người thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa này được đánh giá cao:
Biểu 1 Đánh giá của cựu nữ TNXP về năng lực đội ngũ làm công tác đền ơn
đáp nghĩa
Nguồn: Số liệu khảo sát của luận văn tháng 1 năm 2006
Có 65,5% cựu nữ TNXP đánh giá đội ngũ làm công tác đền ơn đáp nghĩa là nhiệt tình và tâm huyết; 21,0% nữ TNXP không có ý kiến, phải chăng đây là một đánh giá nhạy cảm nên một số nữ TNXP không trả lời cho vấn đề này; chỉ có 13,5% đánh giá là chưa hài lòng Bên cạnh đó các nữ TNXP còn có những ý kiến đóng góp cho việc thực hiện các chính sách đền
Trang 26ơn đỏp nghĩa được tốt hơn như ý kiến về việc nờn tăng cường sự đúng gúp của cỏc doanh nhõn, cỏc nhà doanh nghiệp trong cụng tỏc đền ơn đỏp nghĩa (61,0% ý kiến); ý kiến về việc nờn tạo dựng phong trào đền ơn đỏp nghĩa sõu rộng hơn trong quần chỳng nhõn dõn (69,0% ý kiến) và ý kiến về việc nờn xõy dựng đội ngũ tỡnh nguyện làm cụng tỏc đền ơn đỏp nghĩa (52,0%)…Cỏc
ý kiến của cỏc nữ cựu TNXP đều rất sỏt thực khi thực hiện cỏc chớnh sỏch xó hội một cỏch nhanh chúng và đồng bộ hơn
1.1.2.4 Đánh giá về tình hình thực hiện chế độ chính sách đối với nữ thanh niên xung phong
Thông thường trong mỗi một chế độ, chính sách cụ thể không có sự phân biệt giữa nam thanh niên và nữ thanh niên xung phong, mà chỉ có một
số quy định đặc trưng cho giới tính để chị em nữ thanh niên xung phong giảm bớt phần nào khó khăn riêng của mình trong khi làm nhiệm vụ Các chế
độ, chính sách được áp dụng đối với nữ thanh niên xung phong nói riêng và lực lượng thanh niên xung phong nói chung, đã thể hiện sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước một cách tương đối toàn diện về các mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của họ trong thời gian tham gia thanh niên xung phong
được hưởng sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về hậu phương Các văn bản quy định chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong nói chung có thể chia ra thành hai nhóm:
Nhóm văn bản quy định chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong trong thời gian đang phục vụ tại các đội thanh niên xung phong chống
Mỹ cứu nước
Nhóm các văn bản quy định chế độ, chính sách đối với thanh niên xung phong khi hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương, hoặc đi công tác, học tập
Trong nhóm thứ nhất gồm có chỉ thị 71/TTg ngày 21/06/1965, thông tư 07/LĐ ngày 30/06/1965 của Bộ Lao động, quyết định số1-21/TTg ngày 06/07/1966 và hàng loạt thông tư liên bộ và công văn khác Các văn bản này
có quy định về một số nội dung chủ yếu sau:
Trang 27Chế độ ăn, ở, quần áo, trang bị bảo hộ, phục vụ cho sinh hoạt và công tác hàng ngày
Chế độ học tập văn hoá
Chế độ khám chưa bệnh, thuốc chữa bệnh
Chế độ sinh hoạt phí chung và cho nữ thanh niên xung phong nói riêng
Chế độ làm việc, điều kiện làm việc đối với thanh niên xung phong nói chung và nữ thanh niên xung phong nói riêng
Trong nhóm thứ hai gồm có một số văn bản chủ yếu như thông tư 26/TTg ngày 27/02/1968, Chỉ thị 71/TTg ngày 21/06/1965, công văn số 2225 của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/09/1968, công văn số 245/LĐ ngày 04/05/1970 của Bộ Lao động, công văn số 1385/LĐ ngày 20/06/1969 và số 3431/LĐ ngày 12/12/1969 của Bộ Lao động…
Các văn bản trong nhóm thứ hai có những quy định chủ yếu về:
Chế độ được đi học tập, đào tạo tại các trường dạy nghề, trường sơ cấp, trung cấp nghiệp vụ, trường Đại học, cao đẳng
Chế độ phụ cấp trong thời gian học tập, đào tạo
Chế độ phụ cấp sau khi hoàn thành nhiệm vụ
Chế độ về lương thực, thực phẩm
Chế độ về tai nạn lao động
Chế độ khi bị thương, hoặc hy sinh
Chế độ khi được chuyển ngành
Nhìn chung các chế độ, chính sách được ban hành trong giai đoạn từ
1965 đến 1975 đối với lực lượng thanh niên xung phong (trong đó có nữ thanh niên xung phong) trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã góp phần đảm bảo tốt các quyền lợi về đời sống vật chất, điều kiện khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho họ trong khi đang làm nhiệm vụ, cũng như học tập,
đào tạo Đối với những người bị thương tật, được giám định sức khoẻ để công nhận là liệt sỹ Chính nhờ việc thực hiện kịp thời các chính sách, chế độ đó nên đã động viên, khuyến khích lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước của lực lượng thanh niên xung phong, đã tiếp sức cho họ vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình trong chiến đấu cũng như
Trang 28trong lao động sản xuất Các chính sách, chế độ được thực hiện đã củng cố thêm lòng tin tưởng của các thế hệ trẻ vào đường lối lãnh đạo của Đảng trong mọi lúc, mọi nơi, tạo điều kiện cho họ vươn lên hoàn thành sứ mạng lịch sử giao phó trong thời kỳ mới của đất nước, thời kỳ xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Sau khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những quyền lợi cho nữ TNXP nói riêng và lực lượng TNXP nói chung vẫn tiếp tục được thực hiện theo một số những chính sách mới từ năm 1975 đến nay chủ yếu nằm trong các chính sách chung về người có công như:
- Giải quyết đi học văn hoá, học chuyên môn, vào biên chế trong các xí nghiệp, các cơ quan nhà nước và các nông trường quốc doanh đối với những TNXP có đủ điều kiện và khả năng Đối với một số thương binh là TNXP (đã qua giám định được công nhận) được hưởng chính sách trợ cấp thương tật
Đối với TNXP là liệt sỹ thì gia đình được hưởng chính sách đối với liệt sỹ
- Để khẳng định công lao của lực lượng TNXP trong cuộc kháng chiến giành
độc lập tự do cho đất nước, Chính phủ quyết định lấy ngày 15/7 hàng năm là ngày truyền thống của TNXP
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ có quyết định thành lập hệ thống ban liên lạc TNXP ở các cấp từ trung ương đến cơ sở
1.1.2.5 Những tồn đọng trong việc thực hiện chế độ, chớnh sỏch đối với TNXP
Mặc dự cỏc chế độ, chớnh sỏch được thực hiện, đảm bảo quyền lợi kịp thời cho TNXP, đó động viờn, khớch lệ họ trờn mọi lĩnh vực hoạt động, nhưng bờn cạnh đú vẫn cũn tồn tại đỏng lưu tõm
Việc thực hiện cỏc chế độ, chớnh sỏch chỉ chỳ trọng trong thời kỳ khỏng chiến chống Mỹ cứu nước và ở một giai đoạn ngắn sau năm 1975 Từ
1986 đến nay, việc giải quyết cỏc vấn đề do hậu quả chiến tranh để lại đối với những người trực tiếp tham gia trong khỏng chiến chống Mỹ, đặc biệt đối với TNXP cũn chậm và nhiều vướng mắc Chẳng hạn như:
Về chớnh sỏch, chế độ đối với TNXP là thương bỡnh: Một số người là TNXP bị thương cũng đó được hưởng trợ cấp thương tật Song cũn rất nhiều
Trang 29TNXP bị thương tật trong khi làm nhiệm vụ, sức khoẻ kém, nhưng vì lý do này hay lý do khác mà cho đến nay vẫn chưa được giám định thương tật, chưa được hưởng chế độ, chính sách nào Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau khiến các nữ TNXP chưa được hưởng chế độ, song nguyên nhân chính vẫn là:
Một là, do thiếu thông tin: Đây là những TNXP ở ngoại thành xa trung tâm, ít có khả năng và điều kiện tiếp cận với thông tin cho nên không biết quyền lợi mà họ được hưởng bao gồm những gì
Hai là, không có người hướng dẫn làm hồ sơ, thủ tục để được hưởng chính sách Bởi vì khi xuất ngủ hầu hết không có giấy chứng nhận TNXP, hoặc có nhưng bị thất lạc Không có người có trách nhiệm đứng ra hướng dẫn cụ thể để các chị TNXP làm các thủ tục quy định theo yêu cầu của cơ quan quản lý để hưởng quyền lợi chính đáng
Ba là, ở một số địa phương cán bộ có tâm huyết đứng ra làm hồ sơ cho TNXP, nhưng do không có kinh phí, đi lại khó khăn, lại còn có tiêu cực phí nên gây rất nhiều trở ngại cho họ trong việc giải quyết chính sách tồn động sau chiến tranh
Về chế độ chính sách, chế độ khám chữa bệnh cho TNXP có tật nguyền và những TNXP có sức khoẻ yếu, kém còn chưa được giải quyết cụ thể Nhất là đối với nữ TNXP bị nhiễm chất độc hoá học, bị sức ép bom đạn,
bị bệnh thần kinh do quá căng thẳng về sức chịu đựng bom đạn, bị sốt rét do
ăn uống khám khổ thiếu chất, do lao động quá nặng nhọc, căng thẳng…Đặc biệt là những các chị bị nhiễm độc, không còn khả năng sinh con, hoặc có con thì con cái bị tật nguyền, hầu như họ chưa được hưởng sự hỗ trợ giúp đỡ nào một cách chính thống từ phía xã hội như khám chữa bệnh miễn phí hay tạo điều kiện cho họ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống
Tóm lại, các chính sách, chế độ ban hành trước đây đã được áp dụng triệt để đối với TNXP, đặc biệt là có những quy định cụ thể đối với nữ TNXP Song cho đến nay có nhiều vấn đề tồn đọng nảy sinh đòi hỏi có những chính sách bổ sung nhằm đảm bảo công bằng, tránh gây ra sự thiệt thòi cho các đồng chí là cựu TNXP nói chung và nữ TNXP nói riêng
Trang 30
1.1.3 Lịch sử lực lượng thanh niờn xung phong chống Mỹ
1.1.3.1 Hoàn cảnh ra đời của lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta
được ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam
Thắng lợi đó là kết quả của việc thực hiện triệt để đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng ta lãnh đạo
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nước ta tạm thời chia cắt thành 2 miền
ở Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước phát triển mạnh mẽ và sâu rộng ở khắp thành thị và nông thôn, đã lôi cuốn sự tham gia của hàng triệu người dân Đó
là những người dân bình dị, những sinh viên, học sinh không quản gian lao vất vả, sẵn sàng tình nguyện tham gia trực tiếp hoặc phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương, Tổ quốc Chính họ là những người đã làm nên những thắng lợi ròn rã trong phong trào đồng khởi (1954-1960) Được sự hậu thuẫn của đồng khởi, quân và dân Miền Nam liên tiếp giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc chiến tranh đặc biệt do đế quốc Mỹ tiến hành (1961-1965) Những thắng lợi đó đã làm thất bại hoàn toàn âm mưu thực hiện chế độ “thực dân kiểu mới”, buộc đế quốc Mỹ lộ rõ nguyên hình là một tên xâm lược bằng việc chúng ồ ạt đưa quân vào trực tiếp tham chiến ở Miền Nam hòng chia cắt lâu dài đất nước ta Mặt khác, để gỡ thế bị động hòng cứu vãn sự thất bại nặng nề của quân, nguỵ quyền cùng quân đội Mỹ ở Miền Nam, đế quốc Mỹ liều lĩnh tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với Miền Bắc nhằm mục đích: Ngăn chặn và triệt phá sự chi viện của nhân dân Miền Bắc đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Miền Nam; Phá hoại thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc-hậu phương vững chắc
đối với công cuộc đấu tranh của nhân dân Miền Nam
Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
11 khoa III (tháng 3-1965) đã chỉ rõ: “Tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở Miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ tập trung lực
Trang 31lượng cả nước, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn,
đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ
ở Miền Nam nếu chúng gây ra, tiếp tục xây dung Miền Bắc, kết hợp xây dung kinh tế với quốc phòng, kiên quyết bảo vệ Miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả bằng không quân, hải quân của địch Chuẩn bị sẵn sàng trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội hoặc chuyển thành cuộc chiến tranh cục bộ ở cả Miền Nam lẫn Miền Bắc, ra sức động viên tinh thần, vật chất của Miền Bắc chi viện cho Miền Nam” Đó chính là một loạt những biện pháp
mà Đảng ta đã đưa ra để chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra
Sau sự kiện vịnh Bắc bộ ngày 05-08-1964, đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng cuộc đánh phá Miền Bắc bằng không quân, hải quân; chúng tập trung máy bay đánh phá vào những tuyền đường giao thông trọng điểm từ Bắc vào Nam nằm trên một số tỉnh như Thanh Hoá, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh Các tuyến đường sắt từ Lào Cai, Hải Phòng về Hà Nội cũng liên tục bị đánh phá ác liệt
Mặc dù bị quân và dân Miền Bắc bắn rơi nhiều máy bay, song nhiều
đoạn đường giao thông trọng điểm, nhiều cầu, cống của ta bị chúng đánh hỏng Nhiệm vụ chi viện cho Miền Nam gặp nguy cơ khó hoàn thành Trong tình hình đó, thực hiện khẩu lệnh “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhiệm vụ chính trị hàng đầu phải chuyển hàng lên phía trước, đảm bảo hoàn thành kế hoạch chi viện cho tiền tuyến lớn cả về sức người, sức của trong bất kỳ tình huống nào, đã đặt ra yêu cầu khẩn trương, cấp bách bổ sung lực lượng trẻ, khoẻ cho quân đội, cho công tác đảm bảo giao thông thông suốt và phục vụ chiến đấu ở tất cả các khu vực trọng yếu
Đó là yêu cầu lịch sử đối với thế hệ trẻ Việt Nam trong suốt cuộc chiến chống kẻ thù xâm lược
Nhạy cảm với sứ mệnh lịch sử của mình, ý thức được vai trò xung kích trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc, phong trào cách mạng yêu nước của thanh niên đã dẫy lên sôi nổi, mạnh mẽ, bắt đầu từ Quảng Bình, Nghệ An, nhanh chóng lan ra các tỉnh, thành khắp cả nước Hàng chục vạn
Trang 32nam nữ thanh niên tình nguyện sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến
Đáp ứng nguyện vọng đó, Trung ương Đảng và Hội đồng Chính phủ quyết định giao cho Trung ương Đoàn Thanh niên lao động (nay là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) tổ chức các “Đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu
ước” với nhiệm vụ sau:
“…
• Xây dựng các công trình cấp thiết về quốc phòng và kinh tế;
• Xây dựng và sửa chữa các cầu, phà, đường bị địch phá hoại, bằng mọi cách khôi phục nhanh chóng giao thông, bảo đảm cho vận chuyển thông suốt, liên tục
• Bốc xếp, chuyển tải và vận chuyển hàng hoá ở các đoạn đường khó khăn
• Cứu chữa hàng hoá và các phơng tiện vận tải trong các trường hợp bị
địch bắn phá
• Chiến đấu chống sự phá hoại của địch để bảo vệ đường, phà, cầu và các phơng tiện giao thông vận tải khi cần thiết
• Bổ sung cho quân đội trong trường hợp cần thiết…”
(Trích trong Chỉ thị số 71-TTg ngày 21-06-1965 của Thủ tướng Chính phủ)
Thực hiện nhiệm vụ đó, cùng với hàng chục thanh niên tình nguyện nhập ngũ, đã có hàng vạn nam nữ thanh niên tình nguyện gia nhập vào các
đội thành niên xung phong chống Mỹ, cứu nước theo tiếng gọi của Tổ quốc
Tóm lại, kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường của cha ông ta trong chống giặc ngoại xâm; ý thức được sứ mệnh và vai trò của mình, cùng với quân và dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lực lượng thanh niên xung phong đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng
và nhân dân giao cho, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh xâm lược vì Độc lập, Tự do và Thống nhất Tổ quốc
Trang 331.1.3.2 Vài nột khỏi quỏt về nữ TNXP thời kỳ chống Mỹ cứu nước
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc kháng chiến vĩ đại, đồng thời là cuộc kháng chiến đầy gian khổ, vất vả, hy sinh, mất mát về sức người, sức của Nó diễn ra hết sức gay go ác liệt Để đạt được mục tiêu đánh giặc Mỹ xâm lược và thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuổi trẻ được trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước vì độc lập tự do của
Tổ quốc, ngày 21-06-1965 Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 71-TTg về việc
“Tổ chức các đội thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước”
Kể từ ngày thành lập cho đến đại thắng mùa xuân năm 1975, đã có gần
14 vạn thanh niên xung phong, trong đó gần 8 vạn thanh niên xung phong là nữ Chị em nữ thanh niên xung phong là những cô gái xuất thân từ nhiều địa phương, tỉnh, thành phố khác nhau, song chủ yếu từ nông thôn ở các tỉnh Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Tây, Hà Nội…Đây là những con người trẻ về tuổi
đời, tràn trề sức khoẻ, họ sống có lý tưởng, có tinh thần yêu nước nồng nàn, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, có tinh thần dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động Bởi vậy, mặc dù chỉ là những cô gái thuộc “phái yếu”, chỉ quen với cầm bút, hoặc cầm cuốc, cầm liềm và tham gia công việc gia đình, nhưng khi gia nhập lực lượng thanh niên xung phong, họ phải tự mình đảm đương tất cả mọi công việc: từ phục vụ chiến
đấu đến trực tiếp chiến đấu đã trở thành một bộ phân xuất sắc của lưc lượng TNXP
1.2 Cỏc quan điểm và lý thuyết vận dụng để nghiờn cứu
1.2.1 Phương phỏp tiếp cận giới
Con người là trung tõm của sự phỏt triển, đảm bảo nhu cầu tham gia của con người vào mọi lĩnh vực của đời sống xó hội, khụng thể nam hay nữ
là một yếu tố khỏch quan Nhu cầu này được đỏp ứng sẽ trở thành một nhõn
tố thỳc đẩy sự phỏt triển xó hội, tạo ra một xó hội cụng bằng, dõn chủ và phỏt triển bền vững
Phương phỏp tiếp cận này yờu cầu nam giới và nữ giới trong mối quan
hệ qua lại với nhau Trước tiờn, ta phải làm rừ sự khỏc biệt và đồng nhất giữa
Trang 34nam giới và nữ giới ở những đặc điểm tự nhiờn bẩm sinh khụng thể thay đổi được; những đặc điểm xó hội do học hỏi mà cú; những đặc điểm do xó hội gỏn cho; những đặc điể cú tớnh lịch sử và co thể thay đổi được
Tiếp cận giới phải chỳ ý đến mối quan hệ của hai giới trong lĩnh vực của đời sống gia đỡnh, trong lao động, trong hưởng thụ cỏc giỏ trị vật chất-tinh thần, về quyền và nghĩa vụ của mỗi giới trong gia đỡnh và ngoài xó hội Như vậy, bằng cỏch so sỏnh mọi khớa cạnh của quỏ trỡnh thực hiện vai trũ đạo đức cho con cỏi, so sỏnh những xuất phỏt điểm đi lờn của từng giới ta cú thể đỏnh giỏ được sự phõn cụng vai trũ giữa nam giới và nữ giới trong giỏo dục đạo đức cho con cỏi ở độ tuụit vị thành niờn trong cỏc gia đỡnh
Quan điểm tiếp cận giới đũi hỏi phải nghiờn cứu mối quan hệ giới trong bối cảnh kinh tế-xó hội, trong những giai đoạn phỏt triển của lịch sử để thấy được những nguyờn nhõn xó hội quy định mối quan hệ giới
Vận dụng quan điểm tiếp cận giới trong nghiờn cứu mối quan hệ giới cần phải dựa trờn sự phõn tớch khỏch quan khoa học, dựa trờn những số liệu thực tế để khụng cú cỏi nhỡn thiờn lệch về giới nào Từ đú, ta cú thể đưa ra cỏc giải phỏp, khuyến nghị hữu hiệu nhằm thiết lập sự bỡnh đẳng giới trờn mọi mặt, phỏt huy năng lực, khả năng sỏng tạo của cả hai giới đúng gúp vào
sự phỏt triển chung của xó hội
Túm lại, cỏch tiếp cận giới là cỏch nhỡn cỏc vấn đề qua “lăng kớnh giới”, cú nghĩa là khi xem xột bất kỳ vấn đề gỡ khụng xem xột một cỏch chung là họ -nam/nữ mà xem xột một cỏch cụ thể là nam giới và phụ nữ cú địa vị như thế nào? thuộc nhúm người nào? Cú mức sống ra sao? Cú nguồn lực gỡ? Cú quyền gỡ? Nam và nữ làm gỡ? Làm như thế nào? Trong điều kiện nào? được đỏnh giỏ hưởng thụ ra sao? [17]
1.2.2 G Mead với lý thuyết hành vi
Nhà xã hội học người Mỹ này đã đa ra luận điểm về bản chất xã hội của hành vi con người như sau “chúng ta có thể giải thích hành vi của con người bằng hành vi có tổ chức của các nhóm xã hội Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu xây dựng nó từ các tác nhân các phản ứng Nó cần được phân tích hoặc có thể phân tích một cách độc lập” Điều này nghĩa là hành vi
Trang 35xã hội là một chỉnh thể thống nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đ−ợc mô tả bằng mô hình sau:
về sự hình thành và phát triển nhân cách bên trong các cơ cấu xã hội và nhấn mạnh rằng sự phát triển nhân cách xảy ra trong một quá trình trao đổi giữa một hiện thực “bên ngoài” và “bên trong” [9; 22]
1.2.3 Lý thuyết xung đột xó hội
Theo cỏc nhà xó hội học, xung đột xó hội là cỏc quan hệ và quỏ trỡnh
xó hội mà ở đú cú thể phõn biệt hai hay nhiều cỏ nhõn hay nhúm cú quyền lợi đối lập nhau trong những cỏch giải quyết vấn đề nhất định Cơ sở của xung đột xó hội là quyền lợi khỏc nhau và đối lập của cỏc đương sự xung đột Quan hệ giữa quyền lợi chung và đối lập trong một nhúm hoặc một xó hội tạo ra con đường cho cỏc quỏ trỡnh xung đột xảy ra Cú tớnh quyết định đối với sự phỏt sinh quyền lợi là sự tỏch biệt giữa một mặt là cỏc chuẩn mực
và cỏc quy tắc cố định và khụng thay đổi được với mặt kia là lĩnh vực mà trong khuụn khổ cỏc quy tắc cố định và khụng thay đổi được này là dũng để ngỏ với tư cỏch là hiện trường cho hành động chiến lược Cú thể chia thành
ba loại xung đột: Xung đột về trật tự thứ bậc (vị thế, vai trũ); xung đột về phõn phối và xung đột về quy tắc giỏ trị
Trang 36Theo quan điểm của thuyết xung đột, xã hội không có cuộc sống riêng bên trên các thành viên của nó Các xã hội hình thành như là quá trình xã hội hoá của nhiều tổ chức, cá thể và tập thể Liên kết giữa các thành viên của một xã hội không bao giờ mạnh tới mức mà bất kỳ lúc nào đường xung đột cũng giao hoà với đường thống nhất, nhưng cũng không bao giờ yếu tới mức
có thể nổ ra một cuộc chiến hốn loạn bất kỳ Thuyết xung đột được áp dụng rộng rãi trong việc giải thích các phong trào xã hội, cách mạng xã hội…
Thông thường, thuyết xung đột tập trung vào sự cạnh tranh các cá nhân hoặc giữa các nhóm Trong bất kỳ quan hệ xã hội nào, dù đang đạt tới
độ nhất trí cao cũng chứa đựng tiềm năng của sự xung đột Xung đột được coi như là động lực, nguồn gốc của biến đổi, phát triển xã hội
xã hội giữa hai hay nhiều người
Homans chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội Một là hiện thực hoá-hành vi phải được thực hiện trên thực tế không phải trong ý niệm Hai là hành vi đó được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác Ba
là người khác ở đây phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của một cấu trúc xã hội nào đấy
Homans đưa ra một số định đề cơ bản về hành vi người như sau:
Định đề phần thưởng: Đối với tất cả các hành động của con người,
hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng được lặp lại
Định đề kích thích: Nếu một (nhóm) kích thích nào trước đây đã từng
chứng kiến cho một hành động nào đấy được khen thưởng thì một (nhóm)
Trang 37kích thích mới càng giống với kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự như trước đây được lặp lại bấy nhiêu
Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết
quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất
Định đề giá trị suy giảm (nhàm chán): Càng thường xuyên nhận được
một phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động
Định đề mong đợi: Nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì
người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng
Những định đề nêu trên càng có tính hiển nhiên bao nhiêu thì càng chứng tỏ chúng hiệu nghiệm bấy nhiêu khi vận dụng để giải thích hành vi xã hội và mối tương tác giữa cá nhân Mặc dù chỉ có định đề thứ tư trực tiếp nói
về tính duy lý, nhưng tất cả các định đề này cho thấy con người là một chủ thể duy lý trong việc xem xét và lựa chọn hành động nào có thể đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị nhất Đáng chú ý là con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị của kết quả hành động với khả năng hiện thực hoá hành động đó Có nghĩa là con người sẽ quyết định lựa chọn một hành động nào đó ngay cả khi giá trị của nó thấp nhưng được bù lại, họ chọn hành động
đó vì tính khả thi của nó rất cao
Dựa vào các định đề đã nêu trên, Homans đưa ra một quy tắc về sự công bằng có thể áp dụng cho mọi xã hội Quy tắc đó cho biết, con người rất quan tâm tới việc phần thưởng của họ có tương xứng với sự đầu tư và đóng góp của họ không Nói cách khác sự bất công xã hội nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ tương quan tỷ lệ nghịch giữa ba yếu tố đó: phần thưởng, chi phí
và sự đóng góp Một khi thấy phần thưởng càng lớn mà chi phí và đóng góp càng nhỏ thì mọi người cảm thấy càng bất công Rõ ràng là sự đánh giá mối tương quan đó phụ thuộc rất nhiều vào cách nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân Như vậy là, Homans đã dựa chủ yếu vào tâm lý học cá nhân, tâm lý học nhóm để đưa ra quan niệm xã hội học vi mô về một hiện tượng xã hội đặc thù là sự công bằng xã hội [16; 313-317]
Trang 381.3 Những khỏi niệm cụng cụ
1.3.1 Giới tớnh (SEX)
Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ bộ môn sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được (mọi người đàn ông đều có những đặc
điểm chung về giới tính và mọi người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới tính).Thí dụ : Phụ nữ thấy kinh, sinh con và cho con bú, nam giới thì không thể Nam giới có thể sản xuất tinh trùng cần thiết cho quá trình thụ thai, phụ nữ thì không thể Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính và đặc
điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời [20]
1.3.2.Giới (GENDER)
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nói
đến vai trò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia , các nguồn và lợi ích Giới
đề cập đến các qui tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi sinh ra chúng ta không mang theo những đặc tính giới mà chúng ta học được những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta [20]
Trang 39Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tuỳ theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên
Về mặt sinh học, thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người, bởi từ đây các em bước sang một giai đoạn mới để trở thành người lớn, người trưởng thành
Các nhà tâm lý học lại thường nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác
Từ góc độ xã hội học, thanh niên lại được nhìn nhận là một giai đoạn
xã hội hoá-thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân,
là một trong các chủ thể của các quan hệ xã hội
Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với góc độ là một lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất…
Như vậy, mỗi ngành khoa học, tuỳ theo góc độ nghiên cứu của mình
đã nhấn mạnh khía cạnh cá thể, sinh học hoặc nhấn mạnh khía cạnh tập thể,
xã hội của khái niệm thanh niên.[32; 11]
1.3.5 Thanh niên xung phong
Theo Nghị quyết số 55 về tổ chức và lãnh đạo lực lượng TNXP ra ngày 26-8-1965 của Ban Bí thư TW Đoàn nêu rõ: “Đội TNXP là tổ chức lao động đặc biệt của thanh niên, là đội quân dũng cảm và sáng tạo, là hình thức
tổ chức chặt chẽ, có tác phong làm việc khẩn trương, có kỷ luật quân sự hoá
và học tập rèn luyện”
“Nhiệm vụ của đội bao gồm 3 mặt: sản xuất, chiến đấu và học tập Về mặt sản xuất, đội cần đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều, lao động dũng cảm và sáng tạo Về mặt chiến đấu, đội cần được trang bị, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi cần thiết Về mặt học tập: Để đáp ứng nhu cầu cách mạng trước mắt cũng như lâu dài, đội cần coi trọng việc học tập văn hoá, kỹ thuật cho cán bộ, đội viên”.[8; 43]
Trang 401.3.6 Nữ thanh niên xung phong
Là thanh niên thuộc phái nữ tuổi từ 17 đến 30 đã từng tham gia xung phong ra các mặt trận phục vụ chiến trường trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước của dân tộc
1.4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các nghiên cứu về giới, phụ nữ và gia đình hơn một thập kỷ qua phần lớn nhằm vào tìm hiểu thực trạng và vẽ lên bức tranh thực tế đời sống phụ
nữ trong gia đình và ngoài xã hội Nghiên cứu phụ nữ và giới ở Việt Nam lấy
lí luận và quan điểm Mác-xít về “giải phóng phụ nữ” và bình đẳng nam-nữ làm cơ sở phương pháp luận để xem xét và giải quyết những vấn đề nảy sinh Đó là mặt mạnh có tính thực tiễn của những nghiên cứu khoa học về phụ nữ, gia đình và giới
Ở Việt Nam, như vậy trong những năm gần đây, có thể nói vấn đề giới (gender) được những nhà nghiên cứu xã hội đề cập nhiều trong các dự án phát triển và giới cũng trở thành một khoa học có tính mũi nhọn Tuy đã có nghiên cứu đời sống của phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt và một số nghiên cứu
về TNXP Nhưng các nghiên cứu này chưa đi đến cụ thể đời sống hiện nay của nữ thanh niên xung phong đã từng tham gia chiến trường
Đề tài: “Đánh giá hiện trạng về đời sống, việc làm của nữ thanh niên xung phong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và một số khuyến nghị về chính sách ưu đãi” Mã số: CB.96-02-01 của Viện Khoa học Lao động và Các vấn
đề xã hội của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội năm 1997, đã tập trung giải quyết Vai trò của lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, thực trạng chế độ chính sách đối với thanh niên xung phong nói chung và nữ thanh niên nói riêng; phân tích đưa ra những vấn đề đặt ra đối với các đồng chí nguyên là nữ TNXP trong đó có phân tích và đánh giá đời sống, việc làm của nữ TNXP Tuy đề tài có phân tích và đánh giá đời sống của nữ TNXP nhưng do là một đề tài mang tính chất của ngành Lao động-Thương binh và
Xã hội nên tập trung nhiều vào những dữ liệu để đánh giá chính sách và giải