1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) vai trò của quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay

84 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 5,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn, những mặt tích cực và những tồ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THỤC

VAI TRÒ CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC VÙNG NÔNG THÔN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THỤC

VAI TRÒ CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRONG

HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC

VÙNG NÔNG THÔN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Bích San

Hà Nội - 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Ý tưởng của luận văn này được xuất phát từ dự án: “Điều tra đánh giá thực trạng

các quỹ bảo vệ môi trường cộng đồng, đề xuất cơ chế xây dựng, quản lý, vận hành

và phát triển quỹ” do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện tại

Hà Nam, Thanh Hoá, Bắc Giang trong 2 năm 2008-2009 Do đó, trước tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành của mình đối với Ban lãnh đạo Trung tâm Phát triển

Xã hội và Môi trường Vùng đã cho phép và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Phạm Bích San vì

đã có những chỉ dẫn, động viên quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn của tôi Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, Trợ lý Đào tạo sau Đại học, các thầy, các cô trong và ngoài Khoa đã chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ từ người thân, đồng nghiệp những người

đã luôn ủng hộ, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Mặc dù đã có nhiều có gắng, tuy nhiên luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót, do đó tôi rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, bổ sung để tôi có thể hoàn thiện luận văn của mình./

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2009

Học viên

Nguyễn Văn Thục

Trang 4

CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÁC QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG

Trang 5

1.1 Quá trình hình thành các quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã

1.2 Mô hình quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA CÁC QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG

2.1 Tóm lược một số vấn đề môi trường tại các địa bàn khảo sát 48

2.3 Vai trò của quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng 26 Bảng 1.2: Tác giả ý tưởng thành lập quỹ môi trường cộng đồng 27 Bảng 1.3: Quan điểm của người dân và cộng đồng về việc thành lập quỹ môi trường cộng đồng

28

Bảng 1.4: Phân tích SWOT các mô hình thu gom rác thải 30 Bảng 1.5: Kinh phí hàng tháng đóng góp quỹ môi trường cộng đồng (đồng) 41 Bảng 2.1 Các lĩnh vực chi tiêu của quỹ môi trường cộng đồng 51

Biểu đồ 2.4 Các hình thức xử lý rác thải của hộ gia đình 56 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của người dân về hoạt động thu gom rác thải 58 Biểu đồ 2.6 Đánh giá của người dân về tầm quan trọng của quỹ môi trường

cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường

61

Biểu đồ 2.7 Nhu cầu về sự gia tăng các hoạt động khác của quỹ môi trường 62 Biểu đồ 2.8 Đánh giá về tình hình môi trường tại các địa phương 64

DANH MỤC HỘP

Hộp 1.2: Ví dụ về mô hình cấp 1: Quang Minh-điểm sáng về vệ sinh môi

trường nông thôn

30

Hộp 1.3: Ví dụ về mô hình cấp 3: Hợp tác xã môi trường Thành Đạt 30

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Cấp độ chuyên nghiệp của các mô hình thu gom rác thải cộng đồng 30 Hình 1.2: Sơ đồ quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại Tân Sơn cho hoạt động thu gom rác thải

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Sau một năm 2007 tăng trưởng mạnh mẽ, liên tiếp trong 2 năm 2008 và 2009, Việt Nam đã phải điều chỉnh lại chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, rà soát và thay đổi hàng loạt các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Mặc dù đà tăng trưởng của Việt Nam đã bị chậm lại trong năm 2009 tuy nhiên sau hơn 20 năm Đổi mới, vị thế và diện mạo của đất nước đã hoàn toàn thay đổi Tuy nhiên, phát triển là một quá trình đa diện và không dễ để điều hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cho dù rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã quen và

đã áp dụng chiến lược phát triển bền vững Sau Vedan, Miwon…sẽ còn không ít các công ty, tập đoàn khác có tên trong danh sách gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Rõ ràng, để có thể phát triển về kinh tế các quốc gia trên thế giới nói chung

và Việt Nam nói riêng cũng đã phải đánh đổi rất nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chấp nhận một môi trường sống đang ngày càng bị ô nhiễm Về khía cạnh không gian, các vấn đề về ô nhiễm môi trường thường gắn liền với các khu vực đô thị, tuy nhiên đó đã là một câu chuyện cũ bởi hiện nay khu vực nông thôn - lá phổi của quốc gia ở rất nhiều nơi cũng đã và đang bị ô nhiễm một cách nghiên trọng mà phần nhiều nguyên nhân trong số đó xuất phát từ sự gia tăng dân số, thay đổi các thói quen tiêu dùng và thói quen trong sản xuất

Ở góc độ chính sách, trong những năm vừa qua số lượng các chính sách có liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều, các quy định cũng ngày càng chặt chẽ và bám sát diễn biến của đời sống xã hội Sự gia tăng nhanh chóng về mặt

số lượng cũng như sự chặt chẽ các chính sách của Nhà nước liên quan tới lĩnh vực

bảo vệ môi trường cho thấy hai vấn đề: (i) Nhà nước ngày càng quan tâm hơn tới

các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển và (ii) Các vấn đề về bảo

vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay ngày càng trở nên bức thiết Dễ nhận thấy điểm chung trong các chính sách này đó là chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi

trường của Nhà nước, có thể dẫn ra Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (ngày

Trang 8

25-6-1998), Nghị quyết 41-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi

trường hay Luật Bảo vệ Môi trường là những ví dụ điển hình

Ở góc độ cộng đồng, cách thức tổ chức xã hội của đô thị khác với nông thôn và sự khác biệt này một phần lớn là do sự mạnh yếu trong tính cố kết cộng đồng Đối với vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đô thị ví dụ như rác thải thường có các công ty môi trường đô thị chịu trách nhiệm giải quyết, trong khi đó tại nông thôn vì nhiều lý

do vấn đề này thường được mỗi người dân tự giải quyết theo những cách khác nhau hoặc được giải quyết bởi đội thu gom rác do cộng đồng tổ chức Thực tế, tại nông thôn hiện nay ngoài vấn đề rác thải, môi trường nông thôn còn tồn tại rất nhiều các vấn đề bức xúc khác đòi hỏi cần những cách thức tổ chức quản lý và giải quyết các vấn đề môi trường của cộng đồng dưới dạng các quỹ môi trường cộng đồng

Ở tầm vĩ mô, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam được thành lập năm 2003, với mục đích hoạt động hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm

vụ bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, tại một số địa phương cũng đã có các

quỹ Bảo vệ Môi trường như ở Hà Nội Ở khía cạnh vi mô, tại nhiều vùng nông thôn

hiện nay các mô hình quỹ môi trường cộng đồng được xây dựng và vận hành chủ yếu là giải quyết các vấn đề môi trường đang tồn tại trong cộng đồng Tuỳ thuộc vào từng cộng đồng cũng như từng vấn đề môi trường cụ thể mà cách thức tổ chức, hoạt động của các mô hình này là khác nhau nhưng nhìn chung đặc trưng của các quỹ môi trường cộng đồng thường đơn giản về tổ chức quản lý và chủ yếu dựa và các đóng góp tài chính của cộng đồng với mục tiêu chính nhằm giải quyết vấn đề rác thải Trong một vài năm tới, các mô hình này sẽ có xu hướng gia tăng bởi các vấn đề môi trường tại các vùng nông thôn cũng ngày càng lan rộng và phức tạp Đồng thời, cơ cấu quản lý các mô hình quỹ môi trường cộng đồng cũng sẽ thay đổi

từ đặc trưng tự cấp, tự túc sang cơ chế “khoán” Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn, những mặt tích cực và những tồn tại cũng như những khó khăn và thách thức của các quỹ môi trường cộng đồng đối với các hoạt động bảo vệ môi trường Do đó, hoạt động của các quỹ môi trường tại cộng

Trang 9

đồng vẫn thường chỉ giới hạn cho từng cộng đồng chứ chưa có sự chia sẻ, học tập kinh nghiệm và nhân rộng điều này cũng đồng nghĩa vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với các hoạt động bảo vệ môi trường chưa được thừa nhận một cách

rộng rãi Chính vì thế với đề tài: “Vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong

hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay” hi vọng sẽ có những đánh giá cụ thể và chính xác về vai trò của các quỹ môi trường của cộng đồng hiện nay cũng như đưa ra được những khuyến nghị, giải pháp để hoàn thiện và nhân rộng

mô hình quỹ môi trường cộng đồng tại các vùng nông thôn

1.2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.2.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài được thực hiện sẽ góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết hành vi lựa chọn, lý thuyết hành động xã hội…đồng thời chỉ ra những bằng chứng thực tiễn để vận dụng có hiệu quả các lý thuyết và cách tiếp cận của xã hội học nông thôn, xã hội hội học môi trường, xã hội học quản lý…

1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá chính xác vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn từ đó cung cấp những khuyến nghị để hoàn thiện mô hình của các quỹ môi trường cộng đồng và đề xuất các cơ chế nhân rộng mô hình Thực tế đây là một mô hình đặc trưng điển hình của quá trình xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng cần được xem xét nhân rộng điều này không chỉ góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường tại khu vực nông thôn mà còn góp phần đáng kể trong việc nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường

1.3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1.Mục đích nghiên cứu

Mô tả vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn đồng thời chỉ ra được các giải pháp để hoàn thiện mô hình này cũng như các cơ chế để nhân rộng mô hình

Trang 10

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích thực trạng hoạt động, cơ chế quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại khu vực nông thôn hiện nay

- So sánh sự khác biệt về cách thức tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động của từng

mô hình quỹ môi trường tại các địa phương

- Đánh giá vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện về cơ chế quản lý, các thức tổ chức hoạt động các quỹ môi trường cộng đồng, kiến nghị các giải pháp để nhân rộng mô hình

1.4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay

1.5 Giả thuyết nghiên cứu

- Các quỹ môi trường cộng đồng tuy có những đặc trưng khác nhau nhưng đều có

cơ chế quản lý đơn giản

- Các quỹ môi trường cộng đồng đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vấn

đề môi trường tại cộng đồng đặc biệt là vấn đề rác thải

- Có sự khác biệt về cách thức tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động của các quỹ môi trường tại Hà Nam và Bắc Giang

1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.6.1 Phương pháp luận

a Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 11

giúp cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề - sự kiện xã hội trong mối quan hệ phổ biến, qua lại, biện chứng với các vấn đề -sự kiện khác Trong đề tài này, chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở để chỉ ra vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng tại nông thôn đối với các hoạt động bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với các đặc điểm kinh tế, xã hội, đặc trưng văn hoá…chính từ những đặc trưng này sẽ chỉ rõ sự khác biệt về vai trò và quá trình vận hành của từng quỹ môi trường cộng đồng tại

Hà Nam và Bắc Giang

b Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Yếu tố lịch sử cụ thể là một căn cứ không thể thiếu

để xác định một sự vật, hiện tượng trong đó đặc biệt là vấn đề không gian và thời gian Thực tế, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng trong những bối cảnh không gian

và thời gian cụ thể khác nhau các giá trị, chuẩn mực để đánh giá sự vật, hiện tượng

là khác nhau Dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử những đặc trưng bản chất của quỹ môi trường cộng đồng tại Hà Nam và Bắc Giang sẽ bộc lộ những điểm tương đồng và sự khác biệt Đây chính là cơ sở cho việc so sánh và đánh giá vai trò, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với từng quỹ môi trường cộng đồng tại các địa phương

1.6.2 Các lý thuyết xã hội học

• Lý thuyết cấu trúc-chức năng

Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội (social structure) được hiểu: “là mô

hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này

đến xã hội khác Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai

trò, nhóm và các thiết chế …”[2, tr.205] Trong khi đó: “chức năng là nhu cầu, lợi

ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống”[5, tr.201] Bản chất của thuyết cấu trúc-chức năng đều nhấn mạnh tới tính ổn định và khả năng thích ứng của cấu trúc Xã hội là một hệ thống tương đối chặt chẽ được cấu thành từ nhiều hệ thống có mối quan hệ tác động và phụ thuộc lẫn nhau tạo nên sự ổn định

Trang 12

của cấu trúc xã hội: “Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích

nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định”[5, tr.199] Các tác giả của trường phái cấu trúc-chức năng cũng đặc biệt đề cao vai trò của các yếu tố giá trị, chuẩn mực để góp phần duy trì tính ổn định và trật tự của cấu trúc

Quan điểm lý thuyết cấu trúc-chức năng trong đề tài này được sử dụng với 3 mục đích chính: (i) đánh giá cấu trúc của hệ thống các quỹ môi trường cộng đồng tại Hà

Nam và Bắc Giang, (ii) đánh giá mối quan hệ, tác động, phụ thuộc giữa các thành

tố hình thành nên quỹ môi trường cộng đồng và (iii) từ đó chỉ ra vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường ở các vùng nông thôn hiện nay

• Lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans (1910-1989) [2, tr.150-151]

Homans là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của lý thuyết trao đổi xã hội George Homans đã đưa ra “mô hình lựa chọn duy lý” của hành vi cá nhân theo các nguyên tắc cơ bản

 Nếu một dạng hành vi được thưởng, hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại

 Hành vi được thưởng hay được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có

xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh như vậy

 Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều “ chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó

 Mức độ hài lòng, thoả mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần

Với lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans những cách lý giải về hành vi của cá nhân trong cộng đồng liên quan tới môi trường và quỹ môi trường cộng đồng

sẽ được nhìn nhận ở nhiều chiều cạnh hơn, không chỉ liên quan đến khía cạnh kinh

tế mà còn liên quan tới khía cạnh giá trị, chuẩn mực, nhận thức về môi trường của các cá nhân trong cộng đồng Những lý giải này cũng sẽ cho thấy tầm quan trọng của quy chế bảo vệ môi trường cấp cộng đồng trong việc điều chỉnh hành vi môi

Trang 13

trường của mỗi người dân và hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng

1.6.3 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

a Phương pháp thu thập thông tin:

• Phương pháp phân tích tài liệu: Trong nghiên cứu này có 3 nguồn tài liệu chính

được thu thập và phân tích: (i) các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

(chủ yếu là các công trình nghiên cứu liên quan ở mức độ gián tiếp), (ii) các tài

liệu, thông tin thu thập từ Internet có liên quan tới đề tài và (iii) các tài liệu, thông tin kinh tế-xã hội do các địa phương cung cấp

• Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Toàn bộ số liệu định lượng (dựa trên

phỏng vấn bằng bảng hỏi) và số liệu định tính (dựa trên phỏng vấn sâu và thảo luận

nhóm) của luận văn này được khai thác từ bộ số liệu của dự án: Điều tra đánh giá

thực trạng các quỹ bảo vệ môi trường cộng đồng, đề xuất cơ chế xây dựng, quản lý, vận hành và phát triển quỹ” do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện tại Hà Nam, Thanh Hoá, Bắc Giang trong 2 năm 2008-2009 Trong đó,

tác giả chỉ khai thác thông tin của 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Giang

b Kỹ thuật xử lý thông tin:

- Thông tin định lượng: các thông tin định lượng trong đề tài này được nhập và xử

lý bằng phần mềm SPSS 11.5

1.6.4 Hệ thống khái niệm

• Vai trò [2, tr.212] : một vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền, và

những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể

Thực tế khái niệm vai trò được trình bày trong đề tài này là sự vay mượn khái niệm vai trò trong mối quan hệ với vị thế của cơ cấu xã hội vốn được dùng chủ yếu để nói

về vai trò của con người Tuy nhiên, nếu coi quỹ môi trường cộng đồng là một chủ thể trong hệ thống bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay thì bản thân quỹ môi trường cộng đồng cũng là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa

vụ như bất kể như một vai trò nào khác - ở đây là vấn đề bảo vệ môi trường chính tại cộng đồng

Trang 14

• Quỹ môi trường (hay quỹ bảo vệ môi trường) [7, tr.113]: Là tổ chức tài

chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động

bảo vệ môi trường

Như vậy khái niệm quỹ môi trường cộng đồng có thể được hiểu như sau: Quỹ môi trường cộng đồng là quỹ tài chính do cộng đồng hoặc chính quyền địa phương thành lập trên cơ sở nhất trí của cộng đồng để hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng Hiện nay tất cả các quỹ môi trường cộng đồng đều dựa trên

và chủ yếu là các đóng góp tài chính, không có các dạng quỹ môi trường cộng đồng theo hình thức không có đóng góp tài chính Thu gom rác thải là hoạt động chính của các quỹ môi trường cộng đồng

Bảo vệ môi trường [7, tr.8]: là hoạt động giữ cho môi trường trong lành,

sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,

sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học

Nông thôn: [1, tr.115] “Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã

hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với các điều kiện địa lí tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian Tuy nhiên nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó Nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn ở nông thôn loại hình hoạt động lao động kém đa dạng (so với đô thị), tính thuần nhất về xã hội và nghề nghiệp cao hơn Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ thống không gian -

xã hội Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ (không gian) của cơ cấu xã hội”

1.6.5 Mẫu nghiên cứu

- Mẫu định lượng: 300 đơn vị mẫu phỏng vấn các hộ gia đình tại các địa phương có

mô hình quỹ môi trường cộng đồng Trong đó bao gồm một số các đặc trưng nhân

Trang 15

khẩu học sau: (1) Giới tính: 96 nam (32%), 204 nữ (68%); (2) Độ tuổi: dưới 40

tuổi: 101 người (33,7%), từ 41-50: 77 người (25,7%), từ 51 tuổi trở lên: 122 người

(40,6%); (3) Học vấn: dưới lớp 5: 71 người (23,7%), từ lớp 6-9: 160 người (53,3%), từ lớp 10 trở lên: 69 người (23%); (4) Nghề nghiệp: nông dân: 195 người (65%), nghề khác: 105 người (35%); (5) Hôn nhân: chưa có vợ chồng: 11 người

(3,7%), đang có vợ chồng 239 người (79,7%), ly hôn: 2 người (0,6%), goá: 48 người (16%)

- Mẫu định tính: 10 cuộc phỏng vấn sâu và 2 thảo luận nhóm bao gồm nhóm cán bộ đoàn thể tại địa phương và một số người dân

1.7 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.7.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Do đây là một đề tài mới chính vì thế ở thời điểm hiện tại, các công trình nghiên

cứu hay các bài viết có liên quan trực tiếp tới quỹ môi trường cộng đồng là không

có, chỉ có các nghiên cứu và các tài liệu gián tiếp liên quan tới đề tài1 Trên thực tế, các quỹ môi trường cộng đồng thường được hình thành thông qua hai con đường chính Thứ nhất dựa vào nội lực của chính các cộng đồng: trường hợp này lại bao

gồm 2 trường hợp (i) do cộng đồng khởi xướng và (ii) do chính quyền địa phương

khởi xướng, thứ hai dựa vào sự hỗ trợ từ các dự án phát triển cộng đồng, bảo vệ môi trường thường được thực hiện bởi các INGO2 hoặc các VNGO3 (tuy nhiên cũng có

sự tham gia của chính quyền địa phương) Bản thân các quỹ môi trường cộng đồng cũng có nhiều hình thức tồn tại khác nhau và nhìn chung được vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với tình hình thực tiễn tại các địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên đại

đa số các dạng quỹ môi trường cộng đồng được tổ chức và quản lý dựa trên cơ sở đóng góp về tài chính của người dân trong cộng đồng Đóng góp tài chính này được xác định trên cơ sở sự đồng thuận của cộng đồng và thường được đảm bảo hoạt động bằng các quy định về bảo vệ môi trường do cộng đồng soạn thảo và thông qua

1 Thực tế chưa có một đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này các kết quả tổng quan dưới đây chủ yếu đều được rút ra từ các dự án cụ thể có liên quan

2 Tổ chức phi chính phủ của quốc tế

3 Tổ chức phi chính phủ của Việt Nam

Trang 16

Các hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng cũng có mức độ da dạng khác nhau phụ thuộc vào từng bối cảnh kinh tế xã hội nhất định, tuy nhiên nhìn chung hầu hết các quỹ này đều tập trung vào giải quyết vấn đề ô nhiễm rác thải một vấn đề đang rất nóng tại các vùng nông thôn hiện nay

Đối với các nghiên cứu có liên quan gián tiếp tới đề tài, có thể kể đến một số các công trình sau4:

Năm 1999, trên tạp chí Xã hội học số 3&4 tác giả Vũ Cao Đàm đã nêu ra các vấn đề

“nghiên cứu xã hội học trong sự phát triển của tư tưởng môi trường” trong đó tác

giả đã chỉ rõ tầm quan trọng của các nghiên cứu xã hội học liên quan đến lĩnh vực môi trường cùng với việc chỉ ra các cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về

môi trường như: tiếp cận dịch tễ học, tiếp cận sinh thái học, tiếp cận công nghệ học,

tiếp cận kinh tế học Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra những phương hướng nghiên cứu của xã hội học môi trường (Environmental Sociology), đặc biệt tập trung vào vấn đề xung đột môi trường cũng như vấn đề điều hoà và quản lý xung đột môi trường Có thể nói sau 10 năm các hướng nghiên cứu của xã hội học môi trường đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau một mặt thể hiện tính đa dạng, phức tạp của diễn biến môi trường, mặt khác thể hiện sự quan tâm ngày càng nhiều của cộng đồng xã hội đối với các vấn đề môi trường, điều này được thể hiện rất rõ trong một

số các báo cáo, dự án dưới đây

Báo cáo: “Nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng” của

tác giả Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh trong khuôn khổ dự án: “Tăng cường năng

lực thể chế quản lý thông tin môi trường” do WB tài trợ 2000-2002 Trong báo cáo này các tác giả chỉ ra tầm quan trọng của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường trong đó giải pháp tối ưu để huy động sự tham gia của người dân dựa trên các biện pháp phổ biến thông tin Ngoài việc nêu và phân tích kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới các tác giả cũng đã đánh giá các hiệu quả các hoạt động triển khai công tác huy động cộng đồng và phổ biến thông tin môi trường ở một số các

4 Các công trình, dự án được sắp xếp theo thứ tự tăng dần về thời gian

Trang 17

tỉnh, thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Mặc dù vậy, phạm

vi vấn đề mà các tác giả nghiên cứu mới chỉ tập trung tại các khu vực đô thị (nơi vốn có nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phổ biến thông tin môi trường) trong khi đó ở khu vực nông thôn, vấn đề này còn bỏ ngỏ

Dự án SES/1/03: “Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và sản xuất an toàn

thực phẩm Xây dựng mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường tại xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” do Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thuỵ Điển (SIDA) tài trợ đã hướng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân Các nội dung có lồng ghép với Luật Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Trong báo cáo của dự án, các biện pháp được triển khai, hướng dẫn cho cộng đồng tương đối xác thực, có giá trị thực tiễn cao như xây dựng các mô hình biogas, thành lập đội vệ sinh môi trường tự quản…Tuy nhiên tính bền vững của dự án cũng

bị ảnh hưởng bởi cơ chế để duy trì dự án khi kết thúc tài trợ chưa được tính toán một cách cụ thể

Dự án: “Nâng cao nhận thức và xây dựng mô hình văn hoá môi trường cho các

cộng đồng làng nghề tại tỉnh Hà Tây” triển khai tại xã Đông Phương Yên, xã Phùng

Xá và xã Tân Hoà do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện Trong dự án này, mô hình văn hoá môi trường làng nghề được xây dựng tại xã Đông Phương Yên dựa trên nền tảng quỹ môi trường cộng đồng bằng việc kết hợp giữa quy chế bảo vệ môi trường cộng đồng do chính người dân tham gia xây dựng với mô hình đội thu gom rác thải tại cộng đồng Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa mô hình thực tế và quy chế quy phạm các hành vi, chuẩn mực của các cá nhân trong cộng đồng đối với vấn đề môi trường đã giúp nâng cao nhận thức và bước đầu hình thành những đặc trưng văn hoá môi trường cho cộng đồng này Mặc dù vậy, kết quả

dự án cũng đồng thời cho thấy những thách thức khi một cộng đồng “tự lực” giải quyết vấn đề môi trường của mình mà không có những hỗ trợ từ bên ngoài

Kết quả nghiên cứu của dự án trình diễn: “Xây dựng mô hình xã hội hoá để giải

quyết những vấn đề chất thải rắn cho 4 xã: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Văn Xá và Thị trấn Quế ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái và

Trang 18

PGS.TS Nguyễn Thị Loan thực hiện cho thấy tính cấp thiết của việc xây dựng và đẩy mạnh các mô hình xã hội hoá bảo vệ môi trường khi mà những tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường (chủ yếu rác thải) ngày càng hiển hiện rõ rệt trong khi tính đồng thuận của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường và sự quyết liệt của chính quyền địa phương chưa được thể hiện rõ Kết thúc báo cáo đánh giá, nhóm tác giả đã đưa ra những phương án lựa chọn xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương Tuy nhiên báo cáo chủ yếu tập trung nhiều vào các phân tích kĩ thuật về thu gom và xử lý rác chưa chưa đi sâu đánh giá nhận thức của cộng đồng về hoạt động bảo vệ môi trường và những thách thức đối với tính bền vững của các mô hình thu gom rác thải

Dự án: “Nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và xây dựng mô hình thí điểm hệ

thống thu gom, xử lý rác thải” tại Thị trấn Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam thực hiện dưới sự tài trợ của chương trình

SEMLA, trong dự án này có 2 mục tiêu hết sức quan trọng được đặt ra: “xây dựng

một mô hình thu gom rác, tự quản bảo vệ môi trường với sự tham gia của đông đảo nhân dân và các tổ chức xã hội Đồng thời với việc tuyên truyền phổ biến chính sách, kỹ năng hoạt động bảo vệ môi trường để nâng cao nhận thức và trình độ hiểu biết khả năng tự bảo vệ môi trường của cộng đồng” [15] Các hoạt động của dự án

đã mang lại những thay đổi tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ tại Đồng Văn mà tại nhiều khu vực lân cận với các hoạt động của đội thu gom rác thải và hàng loạt các hoạt động truyền thông môi trường

1.7.2 Chủ trương xã hội hóa lĩnh vực bảo vệ môi trường

Mô hình quỹ môi trường cộng đồng là một ví dụ điển hình của hoạt động xã hội hoá trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Hiện nay, xã hoá hoá không chỉ là một thuật ngữ

về mặt khoa học mà còn là một thuật ngữ của chính sách Chính sự thay đổi của tư duy quản lý Nhà nước đã khiến cho thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng phổ biến Hiện nay, có rất nhiều các lĩnh vực quản lý Nhà nước được khuyến khích xã hội hoá như: Giáo dục, Y tế, văn hoá, thể dục thể thao…Xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường là một chủ trương lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua Nhờ vào chủ

Trang 19

trương này, “tốc độ” ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực đã được kìm chế đáng

kể, trách nhiệm môi trường vì thế cũng được thực thi một cách rộng rãi Ở khía cạnh vĩ mô, số lượng các văn bản quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường ngày càng dầy và đa dạng, trong đó có sự đóng góp đáng kể của các chính sách xã hội hoá Ngoài Luật Bảo vệ môi trường, khi nhắc tới vấn đề xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường các nhà khoa học và các nhà quản lý thường hay nhắc tới chỉ thị 36/CT-

TW và nghị quyết 41-NQ/TW

Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chỉ rõ: “Bảo vệ

môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Bảo vệ môi trường

là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo

đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước” Trong đó các mục tiêu về bảo vệ môi trường được xác định như

sau:“Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những

nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn…” Rõ ràng việc đạt các mục tiêu bảo vệ môi trường nói trên là một thách thức trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chính vì thế chỉ thị

36/CT-TW đã đưa ra hàng loạt các giải pháp: (i)Thường xuyên giáo dục, tuyên

truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường, (ii) Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành Luật bảo vệ môi trường, (iii) Chủ động phòng chống ô nhiễm và sự cố môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường, (iv) Khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên, (v) Tăng cường và đa dạng hoá đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, (vi) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương, (vii) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ môi trường, và (viii) Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường Trong 8 giải pháp nói trên, việc nâng cao nhận thức, cải thiện hành vi của

Trang 20

cộng đồng và thúc đẩy các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường (một phần của hoạt động xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường) được đưa lên hàng đầu điều này cho thấy tầm quan trọng của xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và phát huy vai trò của quần chúng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng, đặc biệt tại các vùng nông thôn – nơi rộng lớn và các dịch vụ môi trường như ở đô thị chưa thể vươn tới

Sau chỉ thị số 36/CT-TW, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng

11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước Sau thời gian chạy đà, Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng đồng nghĩa với sự gia tăng đáng kể nguy cơ, sức ép và những tác động tiêu cực tới môi trường Sự tăng tốc của hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi sự “quyết liệt” trong các chính sách về bảo vệ môi trường, do đó dễ hiểu khi có sự thay đổi về mục tiêu bảo vệ môi trường cụ thể của Việt Nam giữa Nghị quyết số 41-

NQ/TW và chỉ thị số 36/CT-TW:“Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm,

suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.” Như vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã được đưa lên hàng đầu, tuy nhiên không thể kiểm soát ô nhiễm, không thể sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nếu ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của mỗi người còn hạn chế và những hành vi thiếu thân thiện với môi trường vẫn được tiếp diễn Các nghiên cứu về xung đột môi trường đã cho thấy sự “lệch pha” về mặt giá trị giữa hành động bảo vệ môi trường với các hành động kinh tế và các hành động “có lợi” khác của con người Xét về mặt lịch sử, con người đã được lĩnh hội và thường xuyên trau dồi các hành động kinh tế nhưng lại mới hoặc ít biết, thực hiện các hành

vi về mặt môi trường Bên cạnh đó, tâm lý con người thường chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt (đặc biệt là lợi ích kinh tế) trong khi lợi ích của các hành động về môi

Trang 21

trường lại ít hoặc khó nhìn thấy ngay lập tức Do đó, xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường vừa là một sự lan toả, vừa là một sự thâm nhập của hệ giá trị về môi trường thông qua nhiều cách thức, mô hình khác nhau (bao gồm cả các mô hình kinh tế và phi kinh tế) Chính vì thế, Nghị quyết số 41-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trong hệ thống các văn bản pháp quy có liên quan tới hoạt động xã hội hoá về bảo

vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (sửa đổi) là văn bản đề cập đến

nhiều nội dung về xã hội hoá hoặc động bảo vệ môi trường nhất: “Khuyến khích,

tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường” [7, tr.12] Trong Luật Bảo vệ môi trường 2005 cũng có nhắc đến chính sách của Nhà nước liên quan

tới việc thành lập các quỹ môi trường: “Quỹ bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động

bảo vệ môi trường Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác thành lập quỹ bảo vệ môi trường”[7, tr.113] tuy nhiên cách hiểu trong Luật thiên về

mặt hành chính và cũng chưa đề cập “nhiều” tới các quỹ môi trường cộng đồng Như vậy, cùng với sự ra đời của hàng loạt các chính sách bảo vệ môi trường, các giá trị chuẩn mực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tuy đã được hình thành nhưng chưa thực sự phổ biến và được tiếp nhận một cách rộng rãi, sức sống của các giá trị này trong thực tiễn xã hội vì thế mà cũng không thật ổn định Do đó, nhằm tiếp tục “đẩy mạnh”, nâng tầm các giá trị, hành động bảo vệ môi trường ngày 21/1/2009, Ban Bí

thư đã ban hành Chỉ thị 29-CT/TW: “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” với 7 nhiệm vụ trọng tâm trong đó tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội hoá về bảo vệ môi trường được xem là một nhiệm vụ

không thể thiếu: “Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế,

chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Xây dựng và phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường Tăng cường

sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng

đối với bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Phát triển các

Trang 22

dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác bảo vệ môi trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế…

Tóm lại, xét về mặt cơ sở pháp lý các quỹ môi trường cộng đồng được khuyến khích

ra đời với rất nhiều ý nghĩa quan trọng: (i) phát huy nguồn lực tự chủ của cộng đồng,

(ii) giải quyết tại chỗ và giải quyết sớm các vấn đề môi trường của cộng đồng (iii) nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường Đó cũng chính là những vai trò mà các quỹ môi trường cộng đồng đang thực hiện tại các vùng nông thôn hiện nay Tuy nhiên, cơ cấu của các dạng quỹ bảo vệ môi trường cũng có những điểm khác biệt thể hiện sự chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp trong việc tổ chức quản lý, vận hành, phát triển của quỹ này Do đó, cũng có những điểm khác biệt trong quá trình thực hiện các chức năng nhằm đạt các mục tiêu

về bảo vệ môi trường đã được đề ra

1.7.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Xã Tân Sơn là một xã miền núi đông dân của huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nằm cách trung tâm thị trấn Quế 4km về hướng Tây Ngoài nông nghiệp, kinh tế của nhiều hộ gia đình tại Tân Sơn phụ thuộc và nghề đi xây đã có từ nhiều đời nay Chợ Tân Sơn hiện nay là một trong những chợ lớn của huyện Kim Bảng, nơi tập trung buôn bán, giao thương của các xã ở khu vực phía Tây Do có địa hình đồi núi nên mật độ dân cư của xã tập trung cao tại các khu vực đồng bằng, đặc biệt khu vực chợ Tân Sơn Do đó, khu vực chợ Tân Sơn cũng là trung tâm xã là nơi vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc hơn cả Chính vì thế, tại Tân Sơn quỹ môi trường cộng đồng đã được thành lập từ khá sớm (2004)

Nằm ngay cạnh trung tâm thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, xã Bích Sơn được coi là điểm sáng của tỉnh trong các phong trào cộng đồng, hoạt động quần chúng Tính đến năm 2009, toàn xã có 1354/1436 hộ gia đình văn hoá, 4 làng văn hoá cấp tỉnh, thôn nào cũng xây dựng các nhà văn hoá khang trang trở thành nơi sinh hoạt cộng đồng thường xuyên của người dân Đây cũng là nơi ra đời HTX dịch vụ môi trường Đồng Lợi một trong những đơn vị điển hình về bảo vệ môi trường của cả nước hiện nay

Trang 23

1.8 Khung lý thuyết

ĐẶC TRƯNG DÂN SỐ ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ

QUỸ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI ĐỊA PHƯƠNG

ĐIỀU KIỆN KINH TỄ XÃ HỘI

ĐẶC TRƯNG

VAI TRÒ CỦA QUỸ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VÙNG NÔNG THÔN

NÂNG CAO NHẬN THỨC

CỦA CỘNG ĐỒNG VỀ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 24

CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Phần nội dung chính của luận văn bao gồm 2 chương:

- Chương 1: Mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và Bích Sơn

- Chương 2: Vai trò của các quỹ môi trường cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại các vùng nông thôn hiện nay

Nội dung chính của chương 1 tập trung vào 2 lĩnh vực chính: (i) phân tích quá trình hình thành các quỹ môi trường cộng đồng tại các địa phương để từ đó thấy được tầm quan trọng, vai trò và sứ mạng của các quỹ môi trường cộng đồng và (ii) phân tích cụ thể mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại 2 địa phương bằng việc

mô tả hệ thống sơ đồ quản lý với sự tham gia của các bên liên quan: chính quyền địa phương các cấp, đội thu gom rác, cộng đồng…Bên cạnh đó, trong phần này 2 vấn đề đặc trưng cốt lõi gắn với quá trình hình thành, vận hành, quản lý, phát triển các quỹ môi trường cộng đồng là vấn đề tài chính và quy chế của các quỹ môi trường cộng đồng cũng được phân tích cụ thể

Nội dung chính của chương 2 tập trung vào việc đánh giá vai trò của quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động bảo vệ môi trường tại Tân Sơn và Bích Sơn thông qua việc phân tích về tình hình môi trường hiện tại ở các địa bàn, những so sánh về vấn đề môi trường hiện tại với thời điểm khi thành lập, các hoạt động mà quỹ môi trường đã và đang thực hiện qua đó tổng kết lại vai trò của các quỹ môi trường dựa trên đánh giá và nhu cầu của người dân

Trang 25

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÁC QUỸ MÔI TRƯỜNG

CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ TÂN SƠN VÀ XÃ BÍCH SƠN

1.1 Quá trình hình thành các quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã Bích Sơn

Nền tảng cho sự ra đời của các quỹ môi trường cộng đồng tại các vùng nông thôn nói chung và 2 xã Tân Sơn, Bích Sơn nói riêng trước hết và quan trọng nhất chính

là thực trạng vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường tại chính các cộng đồng này Tuy nhiên, do thời điểm nghiên cứu của đề tài cách xa so với thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng tại các địa phương khá lâu (từ 5 đến 10 năm), chính vì thế việc hỏi các thông tin chi tiết liên quan tới thực trạng môi trường tại các địa phương vào thời điểm thành lập quỹ bảo vệ môi trường là điều không thể Do đó, những đánh giá của người dân về điều kiện môi trường của địa phương vào thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng chỉ dừng lại ở những thông tin căn bản nhất

Biểu đồ 1.1: Lý do thành lập quỹ bảo vệ môi trường cộng đồng (%)

Môi trường đang códấu hiệu bị ô nhiễm

Muốn bảo vệ môitrường ngay từ đầuKhác

Số liệu trên biểu đồ cho thấy những đánh giá về “thực trạng môi trường” tương đối khác nhau của người dân tại thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng Đa số người dân (63,7%) đều cho rằng thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng là

Trang 26

thời điểm ở địa phương đã xuất hiện các dấu hiệu ô nhiễm môi trường Thực tế, việc người dân “nhìn ra” được các dấu hiệu ô nhiễm môi trường tại khu vực nông thôn là một điều đáng mừng nhưng cũng đáng lo Mừng vì sự chuyển biến trong nhận thức của người dân nhưng lo vì có thể đó đã là thời điểm “không còn sớm” như nhiều người nghĩ bởi đơn giản khu vực nông thôn là “lá phổi xanh” với đặc trưng rộng rãi

về đất đai, vườn tược nên dễ dàng “chứa” được rác Cũng chính vì thế mà nhiều người dân luôn “vin” vào cớ này để không tham gia quỹ môi trường cộng đồng Ở một khía cạnh tiêu cực hơn, có 19% ý kiến người dân được hỏi khẳng định lý do quỹ môi trường ra đời có liên quan tới những vấn đề ô nhiễm môi trường đang hiển hiện trong cuộc sống hàng ngày của họ Tuy nhiên, số lượng ý kiến trái chiều với quan điểm trên cũng chiếm một tỷ lệ khá tương đương (16,3%)

Câu trả lời này có sự liên quan tới quan điểm: để giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi

trường tại nông thôn hiện nay tại sao không phát động phong trào thành lập các quỹ môi trường cộng đồng tại tất cả các địa phương Rõ ràng để làm được điều này đòi hỏi trước hết người dân ở nông thôn cần có một “tư duy chiến lược” về bảo vệ môi trường như quan điểm chiếm tỷ lệ 16,3% ở trên Tuy vậy, đây lại là một nhiệm

vụ bất khả thi ở thời điểm hiện tại, sử dụng định đề của Homans “nếu như phần

thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó” là cách giải thích phù hợp nhất Sức hút từ những “phần thưởng” mà môi trường có thể mang lại cho con người nhìn một cách tổng thể không thể so sánh với những giá trị kinh tế Mặt khác, bảo vệ môi trường là “công việc chung”, trách nhiệm bảo vệ môi trường mặc dù ai cũng thừa nhận “của tất cả mọi người” nhưng thực tế với nhiều người đó không phải là trách nhiệm của họ Do vậy, cơ hội để được lựa chọn đối với các hành vi về môi trường luôn thấp hơn đáng

kể so với các hành vi khác của con người Nếu theo quan điểm trên của Homans chỉ khi con người phải “nếm trải” vị của ô nhiễm môi trường mới mong có sự thay đổi tích cực trong hành vi của con người đối với vấn đề môi trường Tuy vậy, có nhiều bằng chứng cho thấy con người đã phải trả giá đắt trước khi có sự thay đổi tích cực, đây là điều đáng tiếc và hoàn toàn có thể thay đổi nếu các biện pháp truyền thông

Trang 27

nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường được “đầu tư” tương xứng với tầm quan trọng của các biện pháp này

So sánh lịch sử, quá trình thành lập quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và Xã Bích Sơn cho thấy đã có những sự khác biệt nhất định trong nguyên nhân dẫn tới việc thành lập quỹ môi trường cộng đồng

Biểu đồ 1.2: Sự tương đồng và khác biệt về lý do thành lập quỹ bảo vệ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã Bích Sơn (%)

18.7 19.3

70

57.3

10 22.7

1.3 0.7 0

Môi trường đang

có dấu hiệu bị ô nhiễm

Muốn bảo vệ môi trường ngay từ

đầu

Khác

Tân Sơn Bích Sơn

Hộp 1.1: Giải quyết rác thải ở nông thôn

Ở nông thôn trước đây, phần lớn chất thải thực vật như lá cây, rơm rạ, rau thừa… đều được bà con dùng vào việc hữu ích như chế biến thành phân xanh, chất đốt hay ngâm thành nước tưới, đem chôn, ủ mục… Ở nhiều địa phương bây giờ, thói quen xưa đã phần nào thay đổi do quá trình đô thị hóa

Nhiều hộ nông thôn giờ đã dùng bếp ga; rau tươi sản xuất chuyên canh, hàng hóa; túi nylon thay cho rổ rá, mủng mẹt ngày xưa Nylon lại là chất khó phân hủy nên vấn đề ứ đọng rác thải là tất yếu Tình trạng vứt rác thải bừa bãi ra đường, ra chợ theo kiểu “đèn nhà ai nhà ấy rạng” gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng

Nước thải ở khu vực nông thôn cũng là vấn đề đáng lo ngại Trước kia do đất đai rộng rãi, đường sá phần lớn là đường đất, nước thải theo phương pháp tự thấm nên rút rất nhanh Giờ thì đã khác hẳn, đường sá đã được bê-tông hóa, nhựa hóa nên nước không còn tự thấm nữa, ao chuôm đã bị lấp đi để xây nhà, nước không còn chỗ thoát…

Nam Thanh

thon/20088/12176.datviet

Trang 28

http://www.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Thoiluan/Giai-quyet-rac-thai-o-nong-Biểu đồ 1.2 có 2 sự tương đồng và 2 sự khác biệt Điểm tương đồng thứ nhất “môi trường đã bị ô nhiễm” và điểm tương đồng thứ 2 ở lý do khác Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý trên biểu đồ này thể hiện ở xu hướng bảo vệ môi trường khác nhau dù không rõ rệt tại xã Tân Sơn và xã Bích Sơn cho dù kết quả cộng dồn các ý kiến ở cột 2 và cột 3 trên biểu đồ (tính từ trái qua phải) của 2 xã đều là 80% nhưng có vẻ như tại xã Bích Sơn tính “chủ động” trong việc bảo vệ môi trường cao hơn ở xã Tân Sơn Bằng chứng của xu hướng này thể hiện ở việc phát hiện sớm các dấu hiệu môi trường bị ô nhiễm và mong muốn sớm bảo vệ môi trường trước khi các dấu hiệu ô nhiễm rõ rệt hơn Rõ ràng phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh, các vấn đề về môi trường cũng không phải là một ngoại lệ, nếu mọi người đều nhận thức và hành động đúng với phương châm này có lẽ đã giảm đáng kể sức ép dành cho môi trường, điều này còn đặc biệt quan trọng đối với các nhà quản lý

(Rác ở trên đường và tại bãi rác của xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam)

Trang 29

Có một điểm hết sức thú vị về thời điểm triển khai quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã Bích Sơn khi có sự phân tán đáng kể trong câu trả lời của mỗi người dân về thời điểm này

Bảng 1.1: Thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng (%)

Năm Chung Tân Sơn Bích Sơn Năm Chung Tân Sơn Bích Sơn

Thực tế quỹ môi trường cộng đồng bắt đầu được triển khai tại xã Tân Sơn vào năm

2004, còn ở xã Bích Sơn là năm 2006 Tại xã Tân Sơn dù phân tán nhưng câu trả lời năm 2004 vẫn có tỷ lệ cao nhất, trong khi đó năm 2007 mới là năm được nhiều dân

xã Bích Sơn lựa chọn Số liệu trên bảng 2.1 có thể được lý giải theo 2 cách: thứ nhất việc thu phí của quỹ môi trường ở cả 2 địa phương chỉ diễn ra 2 lần/1 năm cùng với thu sản lượng (thu các khoản thuế ở địa phương) nên “ấn tượng” của người dân thường không rõ ràng Thứ 2, dù có 100% người dân biểu quyết thành lập quỹ môi trường cộng đồng, không có nghĩa 100% người dân đóng phí ngay lập tức, thậm chí sau nhiều năm hoạt động tại các địa phương vẫn có những hộ dân không tham gia đóng quỹ môi trường cộng đồng Tuy vậy, con số này thường tăng lên qua từng năm điều này giải thích tại sao tại xã Bích Sơn thời điểm thành lập quỹ môi trường cộng đồng chính xác là năm 2006 nhưng phần đông người dân lại khẳng định là năm

2007 (25,3% so với 56,7%) Theo đánh giá của đại diện chính quyền địa phương nhiều người dân ban đầu không tham gia các quỹ môi trường cộng đồng vì nghi ngờ hiệu quả của các mô hình này nhưng sau khi đã được kiểm chứng họ đã tham gia, một số khác tham gia do bị sức ép từ dư luận xã hội trong cộng đồng liên quan tới việc thu gom rác thải Do đó, tại nhiều nơi ban đầu khi mới thành lập các quỹ môi trường cộng đồng chỉ có 50% số hộ tham gia, mặc dù vậy sau một thời gian, con số này đã được cải thiện đáng kể Như vậy, trong các hành vi liên quan tới quỹ môi

Trang 30

trường cộng đồng của mỗi người dân đều thể hiện sự cân nhắc tính toán giữa chi phí

và phần thưởng như lý thuyết về hành vi lựa chọn của Homans ngay cả trong những trường hợp những người dân tham gia quỹ môi trường do sức ép từ dư luận xã hội Như trên đã phân tích hiện nay tại các vùng nông thôn đang tồn tại rất nhiều các mô hình quỹ môi trường cộng đồng tuy vậy đại đa số các quỹ môi trường cộng đồng dựa vào nội lực là chính, các mô hình “tài trợ” của các INGO và VNGO chủ yếu dừng lại ở mức “thí điểm” Tuy nhiên dù ở mô hình nào thì vai trò của chính quyền địa phương cũng đều hết sức quan trọng như khởi xướng, hỗ trợ, quản lý, giám sát…hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng…điều này thể hiện rất rõ tại 2 mô hình quỹ môi trường cộng đồng ở xã Tân Sơn và xã Bích Sơn

Với một câu hỏi có nhiều lựa chọn (10 lựa chọn) nhằm xác định người/tổ chức đề xuất ý tưởng thành lập quỹ môi trường cộng đồng tuy nhiên câu trả lời lại hết sức ngắn gọn với sự áp đảo tuyệt đối (83,3%) của chính quyền địa phương và sự vắng bóng hoàn toàn của các tổ chức đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, các cơ quan chuyên về môi trường của Nhà nước, mặc dù vậy cũng có một tỷ lệ đáng kể khẳng định người dân là tác giả của ý tưởng thành lập quỹ môi trường cộng đồng (31,3%)

Tỷ lệ cho rằng quỹ bảo vệ môi trường được thành lập dựa trên sáng kiến chung của chính quyền và người dân là 16,7%, trong đó tỷ lệ ở Tân Sơn cao hơn ở Bích Sơn (5,2%)

Bảng 1.2: Tác giả ý tưởng thành lập quỹ môi trường cộng đồng (%)

Trang 31

tắc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” sẽ tạo ra một sự đồng thuận lớn đối với các chủ trương, chính sách tại địa phương Do vậy, khi các quy trình thành lập quỹ môi trường cộng đồng đi đúng theo trình tự và thực hiện theo đúng tinh thần của pháp lệnh dân chủ cơ sở các con số trong bảng dưới đây đã được giải thích:

Bảng 1.3: Quan điểm của người dân và cộng đồng về việc thành lập quỹ môi trường cộng đồng (%)

Quan điểm

Đồng tình

Bình thường

Không đồng tình

Đồng tình

Bình thường

Không đồng tình

tương tự như các lý do cơ bản đã nêu ở trên: (i) muốn giải quyết các vấn đề ô nhiễm

môi trường (rác thải) tại địa phương, (ii) muốn bảo vệ môi trường sớm

1.2 Mô hình quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại xã Tân Sơn và xã Bích

Sơn

Có thể nói “rắc rối chính” của đại đa số các khu vực nông thôn hiện nay về môi trường liên quan tới rác thải, do vậy xu hướng “ứng phó” tất yếu của các cộng đồng nông thôn hiện nay là thành lập các đội thu gom rác Để đảm bảo các đội thu gom rác hoạt động (chưa nói tới hiệu quả) mỗi địa phương cần phải có các quỹ môi trường cộng đồng (chủ yếu dựa trên các đóng góp tài chính) Trước mắt, các đội thu gom rác do cộng đồng lập ra tuy nhiên với xu hướng “diễn biến phức tạp” của vấn

đề môi trường tại các vùng nông thôn, các mô hình thu gom rác thải tại nhiều cộng đồng đã và đang có những sự thay đổi đáng kể Nói cách khác, mô hình thu gom rác

Trang 32

thải tại các vùng nông thôn trong tương lai không xa là mô hình của các hợp tác xã dịch vụ môi trường

Có thể hình dung một cách đơn giản về sự thay đổi trong mô hình thu gom rác thải,

vệ sinh môi trường tại các khu vực nông thôn như sau:

Hộp 1.2: Ví dụ về mô hình Cấp 1:

Quang Minh - điểm sáng về vệ sinh môi trường nông thôn

Xã Quang Minh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Năm 2004 thành lập các tổ thu gom rác Sau 5 năm thực hiện, xã có 6 tổ thu gom rác thải, trong đó 5 tổ ở 5 thôn và 1 tổ ở khu vực chợ Bóng Mỗi tổ thu gom rác gồm hai người, được xã trang bị một xe chở rác chuyên dụng, hai chiếc xẻng và các dụng cụ bảo đảm vệ sinh, an toàn như: găng tay, khẩu trang, áo bảo hộ…Cùng với việc lập hệ thống thu gom rác thải, xã cũng đã lập bãi chôn lấp rác tập trung, xa khu dân cư “Từ khi tổ thu gom rác ra đời, không những VSMT được bảo đảm, mà ngay bản thân người dân cũng ý thức được việc không xả rác, rơm rạ ra đường nên đường làng lúc nào cũng sạch Mỗi tuần, các tổ thu gom rác 3 lần, vào mùa hè từ 4-5 lần/tuần Tiền công cho những nhân viên thu gom rác do nhân dân đóng góp, trung bình 3 nghìn đồng/gia đình/tháng Tính ra mỗi “công nhân” thu gom rác của xã được hơn 300 nghìn đồng/tháng

(PGS.TS Nguyễn Đình Hoè, Bài giảng: Xã hội hoá mô hình bảo vệ môi trường, tháng

5/2009)

Hộp 1.3: Ví dụ về mô hình Cấp 3: HTX Môi trường Thành Đạt

Từ Tổ hợp tác thành lập HTX môi trường thu gom rác thải khu vực nông thôn Được

sự nhất trí, đồng tình ủng hộ của lãnh đạo xã và Công ty Môi trường đô thị Sơn Tây, tháng 8-2004, Tổ thu gom rác thải VSMT Thành Đạt, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Tây ra đời Sức vươn của HTX ngày một mạnh sau hơn một năm hoạt động mang lại hiệu quả lớn Khối lượng thu gom khoảng 3 tấn/ngày, rác được vận chuyển đến bãi rác Sơn Tây để xử lý Các xã viên được trang bị đầy đủ các phương tiện như xe thu gom, thiết bị bảo hộ lao động

Tổng nguồn thu của HTX một tháng khoảng 12 triệu đồng, trừ chi phí, nhân công, lãi khoảng 2 triệu đồng Đây là một hình thức dịch vụ kinh tế-xã hội cộng đồng, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động: 600 ngàn đồng đối với lao động thu gom, 800 ngàn đồng đối với lái xe Thời gian tới, HTX sẽ tuyển thêm nhân công lên khoảng 25 người và đầu tư thêm 4 xe vận chuyển nhằm mở rộng thu gom trên địa bàn toàn huyện

(TS.Nguyễn Mạnh Hùng, http://www.vca.org.vn/default.aspx?tabid=425&ID=1544 )

Trang 33

Hình 1.1: Cấp độ “chuyên nghiệp” của các mô hình thu gom rác thải tại cộng đồng:

Cấp 3 Cấp 2

Cấp 1

Hình 1.1 chỉ dùng để thể hiện tính chuyên nghiệp trong việc thu gom rác thải và vệ sinh môi trường tại các vùng nông thôn chứ không hàm ý là một quy trình biến đổi bắt buộc với các mô hình thu gom rác thải, điều này có nghĩa có những địa phương

có thể chuyển từ cấp 1 sang cấp 3 hoặc bắt đầu ngay từ cấp 2 hoặc cấp 3 chứ không nhất thiết phải đi qua cấp 1 Kết quả phân tích SWOT dưới đây sẽ chỉ rõ điểm tương đồng và sự khác biệt của các mô hình

Bảng 1.4: Phân tích SWOT các mô hình thu gom rác thải

- Hỗ trợ của chính quyền cao

- Bộ máy quản lý tương đối chặt chẽ

- Phạm vi hoạt động tương đối lớn

- Trang thiết bị thiếu thốn

- Hoạt động thiếu đa dạng

- Phạm vi hoạt động nhỏ

- Kinh phí đóng thấp

- Trang thiết bị còn thiếu thốn

- Hoạt động thiếu đa dạng

- Thu nhập của người lao

- Kinh phí đóng thấp

- Rác mới chỉ xử lý được 1 phần

Mô hình thu gom rác

do các HTX dịch vụ môi trường thành lập

Trang 34

- Nhân lực biến động

- Thu nhập của người lao

động thấp

- Chưa xử lý được rác

- Thiếu các hoạt động truyền

thông môi trường

động tương đối thấp

- Chưa xử lý được rác

- Thiếu các hoạt động truyền thông môi trường

truyền thông môi trường

Cơ hội - Cơ chế chính sách trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Sự phát triển của các mô

hình bảo vệ môi trường

cộng đồng

- Sự ủng hộ của chính quyền

địa phương

- Nhận thức của người dân

về bảo vệ môi trường

- Cơ chế chính sách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Sự phát triển của các mô hình bảo vệ môi trường cộng đồng

- Sự ủng hộ cao của chính quyền địa phương

- Nhận thức của người dân

về bảo vệ môi trường

- Cơ chế chính sách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Sự phát triển của các mô hình bảo vệ môi trường cộng đồng

- Sự ủng hộ cao của chính quyền địa phương

- Nhận thức của người dân

về bảo vệ môi trường

- Vấn đề quản lý khi mở rộng địa bàn

Hiện tại, mô hình thu gom rác thải ở xã Tân Sơn tương ứng với mô hình 1, còn ở xã Bích Sơn là mô hình 3 Như vậy khi mô hình thu gom rác thải ở 2 địa phương là khác nhau tất yếu dẫn tới mô hình quản lý các quỹ môi trường cộng đồng tại 2 địa phương cũng khác nhau bởi: mô hình thu gom rác thải là “trái tim” của các quỹ môi trường cộng đồng ở các vùng nông thôn Thực tế, với sự phát triển kinh tế-xã hội như hiện nay ở các vùng nông thôn cộng với sự thay đổi đáng kể trong thói quen tiêu dùng, sinh hoạt của cộng đồng sẽ khiến cho việc kìm hãm tốc độ ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn ngày càng khó khăn hơn Đối với Tân Sơn, mặc

dù là một xã thuần nông nhưng Tân Sơn lại có một phần lớn diện tích nằm dọc theo

Trang 35

quốc lộ 21B, bên cạnh đó chợ Tân Sơn được coi là chợ chính của 4 xã trong vùng (Tân Sơn, Thụy Lôi, Lê Hồ, Tượng Lĩnh), do đó sức ép môi trường đối với địa phương là rất lớn Bên cạnh đó, việc thu gom rác thải tại các xã này thậm chí còn không được “đầu tư” như tại Tân Sơn Dưới đây là sơ đồ quản lý quỹ môi trường cộng đồng tại Tân Sơn và Bích Sơn cho hoạt động thu gom rác

Hình 1.2: Sơ đồ quản lý Quỹ môi trường cộng đồng tại Tân Sơn cho hoạt động thu gom rác thải

Hình 1.3: Sơ đồ quản lý Quỹ môi trường cộng đồng tại Bích Sơn cho hoạt động thu gom rác thải

UBND XÃ

CÁC TRƯỞNG THÔN

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THU GOM RÁC

THÀNH VIÊN ĐỘI THU GOM RÁC

UBND XÃ

HTX DỊCH VỤ

THÀNH VIÊN ĐỘI THU GOM RÁC

: Báo cáo : Chỉ đạo, giám sát

: Báo cáo : Chỉ đạo, giám sát : Giám sát

: Hỗ trợ, giám sát

Trang 36

Như vậy, cùng với mục đích sử dụng quỹ môi trường cộng đồng cho các hoạt động thu gom rác thải nhưng cách thức tổ chức quản lý hoạt động của quỹ môi trường cộng đồng ở Tân Sơn và Bích Sơn là rất khác nhau, trong đó điểm khác biệt đáng kể nhất chính là tính chất “dịch vụ” của hoạt động thu gom rác thải Đối với mô hình thu gom rác thải tại Tân Sơn tính tự cấp, tự túc là rất rõ rệt, trong mô hình này có sự tham gia của chính quyền địa phương (chủ yếu ở cấp thôn) vào nhiều hoạt động của đội thu gom rác như tổ chức, lập kế hoạch, quản lý, chỉ đạo, giám sát Do hiện tại,

xã mới chỉ quy hoạch tạm một bãi rác trong núi (cách UBND xã khoảng 2km) nên các đội trưởng đội thu gom rác (mỗi đội khoảng 3 người cho một đội/xóm) còn kiêm nhiệm vụ đổ và giám sát việc đổ rác đúng nơi quy định của các đội thu gom rác từng xóm Trong mô hình của Tân Sơn trưởng thôn là đầu mối thu các khoản phí của quỹ môi trường sau đó chuyển cho các tổ trưởng, đồng thời trưởng thôn cũng là người trực tiếp chỉ đạo, nhắc nhở các hoạt động của đội thu gom rác khi có vấn đề Mặc dù có sự “hỗ trợ” từ phía chính quyền địa phương, tuy nhiên mô hình thu gom rác này mang nặng tính tự cấp, tự túc, các hoạt động thu gom rác thải chủ yếu được dựa trên ý thức của người dân nhiều hơn dựa trên các quy chế, quy định

cụ thể Mặt khác, mức lương của các thành viên đội thu gom rác thấp hơn đáng kể

so với mặt bằng chung của các công việc khác như đi ở hay làm phụ hồ…chính vì thế nhân lực của các đội thu gom rác ở Tân Sơn cũng thường có sự biến động Rác ngày càng nhiều hơn, trong khi việc điều chỉnh mức phí vệ sinh môi trường là rất khó khăn và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương là hết sức hạn hẹp Chính vì vậy,

mô hình thu gom rác thải của Tân Sơn như hiện nay dự báo sẽ chỉ tồn tại thêm từ 1 đến 2 năm nữa để chuẩn bị cho sự ra đời của một mô hình mới như ở Bích Sơn khi huyện Kim Bảng đang chuẩn bị cho việc xây dựng bãi rác tập trung của cả huyện

Xã Bích Sơn là điểm khởi đầu cho sự ra đời của HTX dịch vụ môi trường Đồng Lợi Ngay từ khi bắt đầu triển khai mô hình quỹ môi trường cộng đồng tại Bích Sơn

đã gắn liền với vai trò của HTX dịch vụ môi trường Đồng Lợi Việc thu gom rác thải và vệ sinh môi trường ở Bích Sơn được thực hiện một cách chuyên nghiệp, do

Trang 37

vậy những người đi thu gom rác tại Bích Sơn thường được người dân gọi là “công nhân vệ sinh môi trường”

Khác với Tân Sơn, mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động thu gom rác thải tại xã Bích Sơn được giao hoàn toàn cho HTX dịch vụ môi trường, trong đó các trưởng thôn đóng vai trò là những người hỗ trợ và giám sát các hoạt động vệ sinh môi trường của HTX chứ không tham gia chỉ đạo thực hiện các hoạt động vệ sinh môi trường: “Chất lượng phục vụ tốt Hai bên phải thường xuyên trao

đổi, bên nào chưa được thì sẽ bổ sung cho nhau Chẳng hạn như bên thôn chưa được về tài chính hay người đi thu gom rác thải có vấn đề gì vướng mắc với người

dân thì hai bên sẽ gặp gỡ nhau để trao đổi”(Nam, 50 tuổi, trưởng thôn, xã Bích Sơn) Do đó, việc quản lý, điều động, tổ chức hoạt động thu gom rác thải hoàn toàn

do HTX dịch vụ môi trường Đồng Lợi chủ động trên nguyên tắc hợp đồng đã ký kết với từng thôn Về phía HTX dịch vụ môi trường căn cứ trên số hộ thu gom rác sẽ đối chiếu lại với danh sách đóng góp quỹ môi trường của các trưởng thôn, nói cách khác là giám sát vấn đề tài chính của quỹ môi trường Có một điểm dễ nhận thấy đối với các mô hình như ở Bích Sơn đó là quy mô hoạt động của các HTX dịch vụ môi trường không thể chỉ bó hẹp ở 1 thôn, 1 xã mà phải nhiều xã thậm chí cả 1 huyện Mặt khác, tính chất của các hoạt động thu gom rác thải của các HTX dịch vụ môi trường cũng khác với mô hình do cộng đồng tự tổ chức không chỉ dừng lại ở việc thu gom, vận chuyển rác mà phải tái chế rác Nói cách khác, phải biến rác thành hàng hoá, biến rác thành tiền Tại HTX dịch vụ môi trường Đồng Lợi, các loại rác bằng nhựa đều được tái chế thành các sản phẩm như dép nhựa, hạt nhựa…một mặt khối lượng rác thải ra môi trường mỗi ngày đã được giảm đi đồng nghĩa giảm ô nhiễm môi trường, mặt khác hoạt động này đã dần hình thành thói quen phân loại rác cho người dân, cuối cùng góp phần tăng thêm thu nhập cho

HTX: “Nói thật với bạn việc phân loại tại nguồn đang là một việc rất khó khăn

Người dân hầu như là rất sợ rác, miễn làm sao trút cho thật nhanh, gói cho thật

kỹ, quẳng đi thật xa thế là được nó là cái độc hại Chính qua việc bọn mình đưa

nó thành sản phẩm được thì nó mới trở nên thân thiện với người dân” (Nam, chủ

Trang 38

nhiệm HTX môi trường Đồng Lợi) Qua nghiên cứu đây là mới là nguồn thu nhập chính của HTX để bù lại phần thua lỗ trong khâu thu gom, vận chuyển rác do kinh phí đóng góp quỹ môi trường của người dân thấp

Như vậy, về cơ bản tính chất của quỹ môi trường cộng đồng ở Tân Sơn và Bích Sơn không khác nhau đều là một quỹ tài chính do cộng đồng hoặc chính quyền địa phương thành lập trên cơ sở nhất trí của cộng đồng để hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng Và thu gom rác thải là hoạt động chính của các quỹ môi trường cộng đồng Một điểm giống nhau căn bản của 2 mô hình đó là vai trò và sự tham gia của người dân Trên cả 2 sơ đồ tuy không thể hiện có “vị trí” của người dân nhưng đây lại là vị trí có tính bao trùm toàn bộ hệ thống quản lý của cả 2 mô hình, trong đó người dân vừa là chủ thể thực thi các hành vi môi trường lại vừa là chủ tài khoản của quỹ môi trường Do đó, nếu người dân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các vai trò của một trong 2 vị trí đã được quy định trong mô hình này, hệ thống sẽ có vấn đề Trong cả 2 trường hợp hoặc người dân không đóng góp quỹ môi trường cộng đồng, đóng không đủ, không đúng hạn hoặc người dân không có các hành vi tốt với môi trường (ví dụ như không vứt rác bừa bãi) đều dẫn đến một hệ quả chung: môi trường sẽ bị ô nhiễm Do đó, khi nói tới quỹ môi trường cộng đồng có 2 biểu hiện hữu hình và vô hình thường được nhắc

tới: (i) biểu hiện hữu hình: hoạt động thu gom rác thải và (ii) biểu hiện vô hình: các

quy chế, giá trị, chuẩn mực của cộng đồng về bảo vệ môi trường Đây là 2 biểu hiện thường đi liền với nhau như 2 mặt của một vấn đề nếu thiếu một trong 2 yếu tố này

quỹ môi trường cộng đồng tự khắc sẽ mất đi ½ thậm chí nhiều hơn các vai trò mà

mình có thể thực hiện đối với hoạt động bảo vệ môi trường: “Có quy chế chung là

mọi gia đình đều phải tuân thủ theo quy định chung của thôn là những ngày đó phải mang rác ra đổ, hai là các hộ phải vệ sinh sạch sẽ và không được để ra ngoài trước những ngày đó, để cho chó bới mất vệ sinh và mỹ quan môi trường xung quanh” (Nam, 50 tuổi, trưởng thôn, xã Bích Sơn)

Qua những phân tích trên đây, dễ dàng chỉ ra được rất nhiều các điểm khác nhau giữa 2 mô hình quỹ môi trường cộng đồng ở Tân Sơn và Bích Sơn, trong đó điểm

Trang 39

khác nhau căn bản là dịch vụ thu gom rác thải mà các quỹ môi trường hiện nay đang

sử dụng Trong khi ở Tân Sơn, thu gom rác thải vẫn chưa được coi là một dịch vụ môi trường như đúng bản chất của hoạt động này cần có thì ngược lại ở Bích Sơn, hoạt động thu gom rác thải gần như đã đạt đến một quy trình cao nhất Mặt khác, tính chất xã hội hoá của mô hình thu gom rác thải ở Tân Sơn là chưa rõ rệt khác hẳn với mô hình ở Bích Sơn Bản thân chính quyền và người dân tại xã Tân Sơn đang mong muốn có được những dịch vụ tốt hơn từ hoạt động thu gom rác thải và vệ sinh môi trường, tuy nhiên mấu chốt của vấn đề nằm ở tính chất triệt để của hoạt động xã hội hoá bảo vệ môi trường lại chưa được xem trọng Vấn đề này một phần có thể lý giải bởi ở tầm cao hơn (cấp tỉnh), Hà Nam vẫn chưa có được một mô hình xã hội hoá hoạt động vệ sinh môi trường nào như ở Bắc Giang

Mặc dù có nhiều điểm khác nhau nhưng dễ dàng nhận thấy tính chất đơn giản của

mô hình quản lý các quỹ môi trường cộng đồng ở Tân Sơn và Bích Sơn trước tiên

và chủ yếu thể hiện ở sự đơn giản trong mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng đối với hoạt động thu gom rác thải tại 2 địa phương Trong mô hình quản lý quỹ môi trường cộng đồng nổi bật lên vai trò của trưởng thôn

Hình 1.4: Sơ đồ quản lý Quỹ môi trường cộng đồng tại Tân Sơn và Bích Sơn

Trong sơ đồ này trưởng thôn được đặt ở vị trí trung tâm với ý nghĩa là đại diện cho

cả chính quyền địa phương và cộng đồng cùng lúc thực hiện nhiều vai trò khác

nhau: (i) thu phí quỹ môi trường cộng đồng, (ii) giám sát hoạt động thu gom rác

thải, (iii) giám sát việc thực hiện các quy chế môi trường, các hành vi môi trường

UBND XÃ

CỘNG ĐỒNG

THU GOM RÁC THẢI

CỘNG ĐỒNG

KINH PHÍ

QUY CHẾ MÔI TRƯỜNG

Trang 40

tại cộng đồng Tại nhiều địa phương (bao gồm cả Tân Sơn và Bích Sơn) nhiều người dân cho rằng quỹ môi trường cộng đồng tại địa phương có 1 ban quản lý quỹ, thực tế ban quản lý quỹ môi trường cộng đồng tồn tại một cách vô hình, nói cách khác đó là công việc “kiêm nhiệm” thêm của chính quyền cấp thôn, chủ yếu là trưởng thôn

Qua khảo sát 91,7% người dân cho rằng ở địa phương có ban quản lý quỹ môi trường cộng đồng, chỉ có 2,6% khẳng định không có và 5,7% là không biết Đại đa

số người dân đều xác định ban quản lý quỹ do cơ quan chính quyền địa phương lập

ra (74,2%), cá nhân lập ra chiếm 11,6%, còn lại là các “chủ thể” khác

Trong lý thuyết về địa vị và vai trò của xã hội học có nói đến vấn đề xung đột vai trò khi cá nhân chiếm giữ nhiều địa vị khác nhau và có sự xung đột về mặt vai trò giữa các địa vị này Tuy vậy, trong trường hợp kể trên khả năng xung đột vai trò rất khó xảy ra Mặc dù vậy kết quả đánh giá của người dân về hiệu quả của ban quản lý quỹ môi trường cộng đồng dưới đây có khá nhiều điểm thú vị:

Biểu đồ 1.3: Hiệu quả hoạt động của ban quản lý quỹ môi trường cộng đồng (%)

Số liệu trên biểu đồ cho thấy mức đánh giá tốt nhỉnh hơn không đáng kể so với mức đánh giá bình thường Đây cũng là điều dễ hiểu bởi có thể do công việc mang tính chất kiêm nhiệm và bản thân các trưởng thôn vốn đã rất bận nên việc thực hiện các

“vai trò” của ban quản lý quỹ môi trường cộng đồng bị sao nhãng Ngoài ra, có thể

Ngày đăng: 09/12/2020, 19:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w