Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày càng mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp làm nảy sinh nhiều chất thải rắn, lỏng, bụi và khí độ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Dương Thị Minh Thúy
Đánh giá tác động của công nghệ đến môi trường thông qua các đơn khiếu nại tố cáo của người dân trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Luận văn ThS Kinh doanh và quản lý: 60 34 72
Nghd : GS.TS Lê Văn Khoa
Trang 2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CÁM ƠN 5
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 6
I PHẦN I MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu: 8
3 Mục tiêu nghiên cứu: 8
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 9
5 Mẫu khảo sát: 9
6 Câu hỏi nghiên cứu: 9
7 Giả thuyết nghiên cứu: 9
8 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 10
9 Luận cứ dự kiến: 11
PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ TỚI MÔI TRƯỜNG 13
I Tổng quan về môi trường 13
1.1 Khái niệm về môi trường 13
1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, khủng hoảng môi trường, sự cố môi trường 14
1.3 Khái niệm về khoa học môi trường 16
1.4 Cấu trúc và chức năng cơ bản của hệ thống môi trường 17
1.4.1 Cấu trúc hệ thống môi trường 17
1.4.2 Các chức năng chủ yếu của môi trường 17
II Ô nhiễm các thành phần môi trường 21
2.1 Ô nhiễm môi trường đất: 21
2.2 Ô nhiễm môi trường nước: 21
2.3 Ô nhiễm không khí: 21
III Các hướng tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu xã hội học môi trường 22
3.1 Tiếp cận độc học 22
3.2 Tiếp cận dịch tễ học 23
3.3 Tiếp cận công nghệ học 23
3.4 Tiếp cận kinh tế học 24
3.5 Tiếp cận giáo dục học 24
3.6 Tiếp cận sinh thái học 24
3.7 Tiếp cận chính trị học 26
3.8 Tiếp cận tư tưởng chiến lược phát triển bền vững 26
Trang 34.1 Khái niệm về phát triển bền vững 27
V Tổng quan về công nghệ 30
5.1 Khái niệm về công nghệ 30
5.2 Khái niệm về công nghệ môi trường 32
5.3 Các thế hệ công nghệ 33
5.3.1 Công nghệ truyền thống 33
5.3.2 Công nghệ sạch 33
5.3.3 Sản xuất sạch hơn 33
5.3.4 Công nghệ thân thiện môi trường 34
5.3.5 Công nghệ sinh thái 34
5.4 Tác động của công nghệ đối với môi trường 34
VI Tổng quan về xung đột môi trường 36
6.1 Khái niệm về xung đột môi trường 36
6.2 Các dạng xung đột môi trường 37
6.3 Nguyên nhân gây xung đột môi trường 38
6.3.1 Thiếu thông tin hoặc bỏ qua thông tin 38
6.3.2 Thiếu sự tham gia đống góp của các bên liên quan 38
6.3.3 Ý thức của con người trong việc sử dụng tài nguyên môi trường 39
6.3.4 Cơ chế chính sách yếu kém 39
6.3.5 Hệ thống giá trị khác nhau 39
6.3.6 Phân bố quyền lực khác nhau giữa các nhóm xã hội 40
6.4 Phương pháp giải quyết xung đột môi trường 40
6.4.1 Dự báo xung đột môi trường 40
6.4.2 Liên kết cùng giải quyết 40
6.4.5 Sự phân xử ràng buộc 41
6.4.6 Đàm phán hoặc thương lượng 41
CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, TÌNH HÌNH KIẾU NẠI, TỐ CÁO Ở HẢI DƯƠNG VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN 42
I Hiện trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp ở Hải Dương và các nguyên nhân 42
1.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường 42
1.1.1 Môi trường các khu công nghiệp 43
1.1.2 Môi trường nước 44
1.1.3 Môi trường không khí 46
1.1.4 Môi trường đất 46
1.1.5 Suy giảm hệ sinh thái rừng, tài nguyên khoáng sản và đa dạng sinh học 46
1.1.6 Môi trường đô thị và công nghiệp 47
1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường 47
II Hiện trạng vấn đề khiếu nại, tố cáo và các nguyên nhân 49
2.1 Hiện trạng và nội dung các đơn khiếu nại 49
2.2 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại của người dân 57
Trang 4A NHÀ MÁY GẠCH ỐP LÁT HẢI DƯƠNG 57
1 Đặc điểm công nghệ và tình hình sản xuất 57
2 Ô nhiễm môi trường 57
2.1 Ô nhiễm không khí và các yếu tố vật lý 57
2.2 Ô nhiễm môi trường nước 58
2.3 Ô nhiễm do chất thải rắn 58
3 Đánh giá tác động của công nghệ sản xuất tới môi trường 59
3.1 Tiếng ồn và độ rung 59
3.2 Nhiệt độ 59
3.3 Bụi 59
3.4 Các loại khí 59
3.5 Chất thải rắn 63
3.6 Tác động đến các yếu tố khác 63
4 Nội dung và nguyên nhân khiếu nại 64
4.1 Do khói, bụi, hóa chất, tiếng ồn làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sức khỏe người dân 64
4.2 Hoa màu quanh khu vực sản xuất bị thiệt hại gây ảnh hưởng tới đời sống kinh tế 67
4.3 Các chủ đầu tư chưa quan tâm đầy đủ đến xử lý ô nhiễm môi trường 69
4.4 Công tác quản lý môi trường của chính quyền địa phương còn hạn chế 69
B CÔNG TY LIÊN DOANH SẢN XUẤT TẤM LỢP ĐÔNG ANH FACO, THỊ TRẤN PHẢ LẠI, HUYỆN CHÍ LINH 70
1 Đặc điểm công nghệ và tình hình sản xuất 70
2 Đánh giá tác động của công nghệ sản xuất tới môi trường 70
2.1 Tác động đến môi trường không khí 70
2.2 Tác động đến môi trường nước 71
2.3 Tác động của chất thải rắn 74
2.4.Tác động của tiếng ồn 74
2.5 Tác động đến kinh tế xã hội 75
3 Nội dung và nguyên nhân khiếu nại 76
3.1 Do khói, bụi, khí độc, tiếng ồn làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sức khỏe người dân 76
3.2 Ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng đến sức khỏe người dân 79
3.3 Các nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm đến xử lý ô nhiễm môi trường 81
C KHU VỰC SẢN XUẤT XI MĂNG HUYỆN KINH MÔN 81
1 Đặc điểm công nghệ và tình hình sản xuất 81
2 Đánh giá tác động của công nghệ sản xuất tới môi trường 83
3 Nguyên nhân dẫn đến kiếu nại, tố cáo của người dân 84
3.1 Khói, bụi, hóa chất, tiếng ồn làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sức khỏe người dân 84
Trang 53.2 Hoa màu của người dân quanh khu vực sản xuất bị thiệt hại gây ảnh hưởng tới đời
sống kinh tế 87
3.3 Người dân bị mất đất nhưng không được hỗ trợ việc làm và đền bù không thỏa đáng 88
3.4 Các nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm đến xử lý ô nhiễm môi trường 88
3.5 Công tác quản lý của chính quyền địa phương về đánh giá tác động môi trường và BVMT còn hạn chế 89
III Phân tích các dạng xung đột môi trường chính và biện pháp xử lý xung đột 89
3.1 Các dạng xung đột chính 89
3.1.1 Xung đột nhận thức 89
3.1.2 Xung đột về mục tiêu 90
3.1.3 Xung đột về lợi ích 91
3.1.4 Xung đột về quyền lực 91
3.2 Biện pháp xử lý xung đột 91
3.2.1 Nguyên tắc đối thoại 91
3.2.2 Nguyên tắc đối đầu 91
3.2.3 Nguyên tắc né tránh 92
3.2.4 Nguyên tắc nhượng bộ 92
CHƯƠNG III 93
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ 93
TỚI MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 93
I Một số giải pháp phòng chống ô nhiễm môi trường do tác nhân công nghệ gây ra 93
1.1 Nâng cao nhận thức, kiến thức cơ bản về công tác BVMT cho người quản lý và người dân trên địa bàn tỉnh 93
1.2 Cung cấp kịp thời các nguồn thông tin về công nghệ, các kinh nghiệm quốc tế, chính sách quản lý và các giải pháp kỹ thuật xử lý chất thải công nghiệp cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 94
1.2.1 Giải pháp về cơ sở vật chất 94
1.2.2 Giải pháp công nghệ xử lý chất thải trên địa bàn tỉnh 96
1.2.3 Giải pháp về quản lý và Bảo vệ môi trường 99
Phần III: 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6
LỜI CÁM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo của khoa Khoa học Quản lý, đặc biệt là các thầy: PGS TS Vũ Cao Đàm, TS Phạm Ngọc Thanh, TS TRần Văn Hải, Th.s Đào Thanh Trường đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn GS TS Lê Văn Khoa – Trường Đại học Tự nhiên đã hướng dẫn chỉ bảo, khuyến khích, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Cám ơn ông Nguyễn Hoài Khanh - chi cục trưởng chi cục Bảo vệ môi trường Hải Dương đã cho những ý kiến đóng góp để tôi hoàn chỉnh luận văn này
Cảm ơn sự hợp tác nhiệt thành của Phòng Thanh tra Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương, Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Hải Dương, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Hải Dương tạo điều kiện giúp đỡ tôi có đủ các thông tin để tiến hành nghiên cúu
Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hải Dương ngày 12 tháng 11 năm 2008
Dương Thị Minh Thúy
Trang 8I PHẦN I
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày càng mở rộng các cơ sở sản xuất công nghiệp làm nảy sinh nhiều chất thải rắn, lỏng, bụi và khí độc hại, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của nhiều cộng đồng dân cư, đặc biệt tại những vùng xung quanh các khu công nghiệp, các nhà máy,
xí nghiệp Từ đó dẫn đến những xung đột môi trường, những khiếu nại và tranh chấp Trong nhiều trường hợp, chính quyền Trung ương và địa phương, các doanh nghiệp công nghiệp và cộng đồng dân cư khó đạt được sự thoả hiệp mong muốn và cũng khó tìm được những giải pháp ôn hoà Hải Dương là một tỉnh nằm trong tam giác phát triển của khu vực phía Bắc, trong 5 năm qua, tỉnh đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển Tổng vốn đầu tư thực hiện 5 năm ( 2001-2005) ước đạt 22.615 tỷ đồng, tăng 64% so với 5 năm ( 1996-2000), tăng 37% so với kế hoạch, trong đó vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đạt 10.943 tỷ đồng, chiếm 48,3% tổng vốn đầu tư, bằng 183,9% kế hoạch; vốn đầu tư cho phát triển sản xuất đạt 11.672 tỷ đồng, chiếm 51,7% tổng vốn đầu tư, bằng 112% kế hoạch [ 17] Trong chiến lược phát triển kinh
tế- xã hội đã được Tỉnh Đảng bộ thông qua với các mục tiêu: "Đến năm 2015 về cơ
bản Hải Dương là một tỉnh công nghiệp và đến năm 2020, Hải Dương sẽ trở thành một tỉnh có nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ phát triển, có nền văn hoá- xã hội tiên tiến và chiếm lĩnh vị trí quan trọng vùng đồng bằng sông Hồng" Thật vậy,
hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 khu công nghiệp tập trung và 22 cụm công nghiệp được cấp giấy phép đang hoạt động với rất nhiều cơ sở sản xuất và loại hình sản xuất
đa dạng, cùng với hơn 25.000 cơ sở tham gia sản xuất công nghiệp Tốc độ phát triển công nghiệp hàng năm đạt 22% Một số ngành công nghiệp như: cơ khí điện tử, chế biến nông sản – thực phẩm, dệt may, da giầy, công nghiệp hóa chất và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng…phát triển mạnh Ngoài ra, tỉnh cũng khôi phục được một
số làng nghề truyền thống, với những lợi thế đó đã giúp cho tỉnh Hải Dương ngày một phát triển về mặt kinh tế, đời sống người dân dần được nâng cao
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì một vấn đề khác nảy sinh cũng đang được tỉnh quan tâm, đó là vấn đề ô nhiễm môi trường xung quanh các cơ
Trang 9sở sản xuất công nghiệp và làng nghề Môi trường nước, không khí quanh các khu công nghiệp, doanh nghiệp, làng nghề đã bị ô nhiễm, thậm chí ô nhiễm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, của cải vật chất của người dân Điều đó làm phát sinh các đơn khiếu nại, tố cáo của người dân xung quanh các khu vực gây ô nhiễm Để tìm
hiểu rõ vấn đề này, đề tài: “Đánh giá tác động của công nghệ sản xuất đến môi
trường thông qua các đơn khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Hải Dương” được đặt
ra và tiến hành nghiên cứu Các ngành công nghiệp ở Hải Dương rất đa dạng và phong phú, nhưng nội dung của luận văn chỉ đề cập đến ngành công nghiệp vật liệu xây dựng- một ngành công nghiệp hiện được phát triển mạnh nhất của tỉnh Từ đó đề xuất một số chính sách công nghệ, những giải pháp quản lý khác để phòng chống và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh
2 Lịch sử nghiên cứu:
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến môi trường như:
- Chế tạo lò đốt chất thải y tế cho các bệnh viện cấp huyện
- Nghiên cứu chế tạo chất tẩy rửa để xử lý cặn dầu trong các thiết bị tồn chứa
và phương tiện vận chuyển
- Xây dựng công nghệ sản xuất axit stearic và một số hoạt chất hoạt động bề mặt từ dầu mỡ động thực vật phế thải
- Điều tra nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra
Tại Hải Dương cũng có một số đề tài về đánh giá tác động công nghệ tới môi trường như: báo cáo quy hoạch môi trường tỉnh Hải Dương
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu tác động của công nghệ đến môi trường thông qua các đơn khiếu nại, tố cáo của người dân, doanh nghiệp… trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phát hiện, đánh giá các tác nhân công nghệ gây ô nhiễm môi trường từ phía các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, làng nghề trên địa bàn tỉnh gây ra, thông qua các đơn khiếu nại, tố cáo
Trang 10- Đề xuất một số chính sách công nghệ để phòng chống và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh
4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu:
- Tác động công nghệ của các Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tới môi trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Đối tượng nghiên cứu: là các cơ sở công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các đơn khiếu nại, tố cáo có liên quan đến ô nhiễm môi trường trên địa bàn của 3 cơ
sở công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là:
+ Nhà máy gạch ốp lát Hải Dương
+ Công ty liên doanh sản xuất tấm lợp Đông Anh- FACO Phả Lại, Chí Linh + Khu vực sản xuất xi măng Kinh Môn
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2006 đến nay
5 Mẫu khảo sát:
Tiến hành thu thập số liệu và lấy mẫu khảo sát tại một số cơ sở sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh :
- Khu vực sản xuất Xi măng huyện Kinh Môn
- Công ty liên doanh sản xuất tấm lợp Đông Anh FACO tại thị trấn Phả Lại, Chí Linh
- Nhà máy gạch ốp lát Hải Dương – TP Hải Dương
6 Câu hỏi nghiên cứu:
- Qua các đơn khiếu nại, tố cáo phát hiện được những tác nhân công nghệ nào gây nên ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh?
- Sự tác động công nghệ của các Doanh nghiệp, trên địa bàn tỉnh có ảnh hưởng như thế nào đối với môi trường?
- Thông qua các đơn khiếu kiện phát hiện những xung đột môi trường nào trên địa bàn tỉnh?
- Cần có những chính sách công nghệ gì để phòng chống và kiểm soát ô nhiễm
môi trường trên địa bàn tỉnh?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
- Các đơn khiếu nại, tố cáo từ phía người dân, doanh nghiệp khác chỉ phản ánh được một phần tác động của công nghệ gây ô nhiễm môi trường
Trang 11- Các doanh nghiệp, làng nghề vì năng lực công nghệ có hạn, vì lợi ích kinh tế
cá nhân cho nên không áp dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ trong quá trính
xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường và do vậy họ chỉ áp dụng công nghệ trong vấn
đề môi trường khi có sự kiểm tra của các cơ quan chức năng
- Nồng độ khí thải, chất thải, chất độc do các doanh nghiệp, làng nghề gây ra cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép gây ô nhiễm nguồn nước, khô héo hoa màu, ảnh hưởng sức khỏe người dân trong vùng
- Sở tài nguyên môi trường tỉnh và các cơ quan chức năng có liên quan cần phối hợp chặt chẽ và đề ra một số chính sách hỗ trợ các Doanh nghiệp, làng nghề trong quá trình xử lý ô nhiễm môi trường như:
+ Hỗ trợ về mặt công nghệ xử lý chất thải
+ Hỗ trợ về mặt kiến thức, ý thức bảo vệ môi trường
+ Tiến hành kiểm tra định kỳ
- Khi tiếp nhận các đơn khiếu kiện từ phía người dân hoặc doanh nghiệp nên: + Tiến hành kiểm tra hiện trạng môi trường xung quang khu vực gây ô nhiễm,
đo nồng độ khí bụi, độ ồn, độ ô nhiễm
+ Chỉ rõ tác nhân công nghệ gây ô nhiễm
+Yêu cầu xử lý ô nhiễm bằng công nghệ
+ Đề ra các quy chế xử lý vi phạm tùy theo mức độ công nghệ gây ô nhiễm
8 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Phương pháp tiếp cận: Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp luận nhận thức
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của K Marx để nhận thức các vấn đề nghiên cứu Theo quan điểm chủ nghĩa DVBC thì các sự vật, các hiện tượng phải được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại, trong mâu thuẫn, vận động và phát triển không ngừng của lịch sử xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa DVLS thì mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không gian và thời gian nhất định.Chủ nghĩa DVBC và chủ nghĩa DVLS của K Mark cho chúng ta phương pháp luận nhận thức các sự vật và hiện tượng với quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể và thực tiễn
Trang 12Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức luận án sử dụng cách tiếp cận hệ thống và các phương pháp của xã hội học và quản lý học với sự tham gia của người dân trong việc thu thập và xử lý thông tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu
8.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa và phân tích tài liệu: đã tiến hành phân tích, tổng kết các
tài liệu liên quan đến nội dung luận án gồm: (a) - Cơ sở lý thuyết và các thành tựu lý thuyết đã đạt được liên quan đến chủ đề nghiên cứu (b)- Kết quả nghiên cứu đã công bố của nhiều tác giả ( c) - Chủ trương và chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu ; (e)
- Các tài liệu thu thập trong quá trình đi thực địa và kiểm nghiệm thực tế
- Phương pháp điều tra thực địa gồm:
+ Phương pháp quan sát: tiến hành khảo sát và quan sát thực tế các quy trình
sản xuất của các cơ sở công nghiệp, các xung đột và công tác quản lý môi trường tại các địa bàn nghiên cứu
+ Phương pháp phỏng vấn người dân bằng phát phiếu với các câu hỏi đã có sẵn + Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu với các lãnh đạo UBND
xã, phường, lãnh đạo một số ban ngành, đoàn thể
- Các phương pháp xử lý thông tin định tính và định lượng:
+ Đối với các thông tin định lượng: số liệu thu thập bằng phương pháp thống kê + Đối với các thông tin định tính: xử lý lôgic, tức là đưa ra những phán đoán về
bản chất của các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ lôgic của các sự kiện, hệ
đã cộng hưởng và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng trong khu vực
Trang 13- Xí nghiệp sản xuất tấm lợp Đông Anh - FACO tại phố Lục Đầu Giang thị trấn Phả Lại - Chí Linh trong quá trình hoạt động phát sinh các chất thải, chủ yếu là bụi ảnh hưởng đến môi trường ( amiang, xi măng), các khí CO, CO2, SO2, NO2, tiếng ồn, nước thải sản xuất (có độ pH cao, chất rắn lơ lửng…), chất thải rắn (vỏ bao, bavia, sản phẩm hỏng, bùn xi măng đóng cứng…) gây phát sinh khiếu kiện từ phía người dân
- Ngày 20/10/2006 một số công dân xóm 3 thôn Cổ Phục xã Kim Lương huyện Kim Thành có đơn tố cáo Công ty Giầy Bình Dương sản xuất tái chế nhựa gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của người dân trong thôn Qua kết quả điều tra của Thanh tra sở Tài nguyên môi trường cho thấy, Công Ty Giầy có
sử dụng nguyên liệu đầu vào là nhựa phế liệu, tập kết tại ngoài trời Máy ép hạt nhựa bằng phương pháp gia nhiệt đang hoạt động có lắp máy chụp hút bụi, hơi hữu cơ, xử
lý sơ bộ bằng phương pháp sục nước nhưng ngừng hoạt động, cảm nhận có mùi khó chịu Nước thải từ rửa nguyên liệu có màu trắng đục cho chảy vào ao chứa một phần được thu hồi qua bể lắng để tái sử dụng song vẫn bị tràn, thấm, rò rỉ qua đường mương nước Không khí khu vực sản xuất có nồng dộ Acrylonitril (CH2CHCN) cao hơn tiêu chuẩn cho phép, không khí xung quanh khu vực dân cư có nồng độ Metanol (CH3OH), Metylacrylat (CH2CHCOOCH3) và Acrylonitril (CH2CHCN) cao hơn tiêu chuẩn cho phép
Trang 14PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHỆ TỚI MÔI TRƯỜNG
I Tổng quan về môi trường
1.1 Khái niệm về môi trường
Có nhiều khái niệm khác nhau về môi trường:
Theo Côc BVMT Mỹ (EPA) “Môi trường là tổng thể những điều kiện bên ngoài tác động đến cuộc sống, sự phát triển và sự tồn tại của một sinh thể”
Định nghĩa của Bộ quốc phòng Mỹ “ Môi trường bao gồm không khí, nước, đất, các cấu trúc nhân tạo, tất cả các sinh thể sống trong đó, các mối quan hệ giữa chúng và các nguồn tài nguyên khảo cổ học và văn hóa”
Theo UNESCO-1967 “Môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng”, “là tập hợp các thành tố vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh mỗi con người”
Môi trường theo UNESCO, gồm 2 yếu tố:
- Nhóm vật chất: bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, sinh học, trường vật lý và yếu tố nhân tạo như đô thị, nhà của, máy móc…
- Nhóm phi vật chất: bao gồm các yếu tố xã hội và nhân văn như quy chế, luật pháp, chương trình, dự án, đạo đức, văn hóa, truyền thống… có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng
Theo luật bảo vê môi trường Trung Quốc - 1979 “ Môi trường bao gồm không khí, nước, đất, khoáng sản, rừng, đồng cỏ, động thực vật hoang dã, các loại thủy sinh, các đặc điểm có ý nghĩa lịch sử, danh lam thắng cảnh, các suối nước nóng, các khu
du lịch và bảo tồn thiên nhiên cũng như các vùng có dân cư”
Theo bách khoa toàn thư về môi trường - 1994 “Môi trường là tổng thể các thành tố vật lý, sinh học, văn hóa- xã hội, các điều kiện trực tiếp hay gián tiếp tác động lên sự phát triển của con người, lên đồi sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”[ 1]
Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi 2005 của Việt Nam định nghĩa:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,
Trang 15Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin, ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống của con người theo định nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội, Với nghĩa hẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như số m2
nhà ở, chất lượng bữa ăn hàng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi giải trí, Ở nhà trường thì môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy cô giáo, bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội, Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện để chúng ta sống, hoạt động và phát triển Môi trường sống của con người thường được phân thành:
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng Mặt Trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nước, Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sản xuất
và tiêu thụ
- Môi trường xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó
là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu đô thị, công viên [ 10,11]
1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, khủng hoảng môi trường, sự cố môi trường
- Ô nhiễm môi trường
Trang 16Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường” Trên thế giới ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe của con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí ( khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, ho¸ häc, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên ô nhiễm môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó nồng độ, hàm lượng hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu
- Suy thoái môi trường
“ Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên”
Trong đó thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, quang cảnh thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
- Khủng hoảng môi trường
“Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu, đe dọa cuộc sống của loài người trên trái đất” Biểu hiện của khủng hoảng môi trường như:
+ Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2…) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị, khu công nghiệp
+ Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu
+ Tầng Ôzon bị phá hủy
+ Sa mạc hóa đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hóa, phèn hó, khô hạn + Nguồn nước bị ô nhiễm
+ Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng
+ Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng
+ Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng
+ Rác thải, chất thải đang tăng về số lượng và mức độ độc hại.[18]
Trang 17- Sự cố môi trường
Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam:
“Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng”.Sự cố môi trường có thể sảy ra do:
+ Bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa
đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
+ Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng;
+ Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu…
+ Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.[10]
1.3 Khái niệm về khoa học môi trường
“Khoa học môi trường là ngành khoa học nghiên cứu mối quan hệ và tương tác qua lại giữa con người và môi trường xung quanh nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống của con người trên trái đất”
Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như sinh học, địa học, hóa học… Tuy nhiên các ngành khoa học đó chỉ quan tâm một phần hoặc một thành phần của môi trường theo nghĩa hẹp mà không có một ngành khoa học nào đang có hiện nay đủ điều kiện nghiên cứu giải quyết mọi nhiệm vụ của công tác bảo
vệ môi trường là quản lý và bảo vệ chất lượng các thành phần môi trường sống của con người và sinh vật trên trái đất
Như vậy có thể xem khoa học môi trường là một ngành khoa học liªn ngµnh, được xây dựng trên cơ sở tích hợp các kiến thức của các ngành khoa học đã có cho một đối tượng chung là môi trường sống bao quanh con người với phương pháp và nội dung nghiên cứu cụ thể
Nhiệm vụ của KHMT gồm:
+ Nghiên cứu đặc điểm của các thành phần môi trường ( tự nhiên hoặc nhân tạo)
có ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng con người, nước, không khí, đất, hệ sinh thái, khu
Trang 18công nghiệp, đô thị, nông thôn…ở đây khoa học môi trường tập trung nghiên cứu mối quan hệ và tác động qua lại giữa con người với các thành phần của môi trường sống
+ Nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật xử lý ô nhiễm bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người
+ Nghiên cứu tổng hợp các biện pháp quản lý về khoa học kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững quốc gia, lãnh thổ, ngành công nghiệp + Nghiên cứu về phương pháp như mô hình hóa, phân tích hóa học, vật lý, sinh vật phục vụ cho ba nội dung trên [ 11]
1.4 Cấu trúc và chức năng cơ bản của hệ thống môi trường
1.4.1 Cấu trúc hệ thống môi trường
Các vấn đề môi trường không xuất hiện riêng rẽ mà bao giờ cũng là kết quả của nhiều tương tác phức tạp, và chính môi trường cũng là nguyên nhân tạo ra các tương tác khác Môi trường luôn là một hệ thống
Theo lý thuyết hệ thống
Hình 1: Cấu trúc hệ thống của môi trường
1.4.2 Các chức năng chủ yếu của môi trường
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng chủ yếu sau:
a Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật (Habitat)
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định
Trang 19nghiệp, lõm nghiệp, thuỷ sản, kho tàng, bến cảng, Trung bỡnh mỗi ngày mỗi người đều cần khoảng 4m3
khụng khớ sạch để hớt thở; 2,5 lớt nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm tương ứng với 2000 - 2400 Calo Như vậy, chức năng này đũi hỏi mụi trường phải cú một phạm vi khụng gian thớch hợp cho mỗi con người Tuy nhiờn, diện tớch khụng gian sống của con người ở nước ta đang ngày càng bị thu hẹp, bỡnh quõn đất canh tỏc nụng nghiệp ở nước ta hiện nay khoảng 0,1 ha/người, trong khi đú bỡnh quõn đất nụng nghiệp của Trung Quốc là 0,13 ha và của thế giới là 0,27 ha/người (bảng 1)
Bảng 1 Diện tớch đất canh tỏc trờn đầu người ở Việt Nam
Bỡnh quõn đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10 0,80
Yờu cầu về khụng gian sống của con người thay đổi theo trỡnh độ khoa học và cụng nghệ Trỡnh độ phỏt triển càng cao thỡ nhu cầu về khụng gian sản xuất sẽ càng giảm Tuy nhiờn, trong việc sử dụng khụng gian sống và quan hệ với Thế giới tự nhiờn, cú 2 tớnh chất mà con người cần chỳ ý là tớnh chất tự cõn bằng (homestasis), nghĩa là khả năng của cỏc hệ sinh thỏi cú thể gỏnh chịu trong điều kiện khú khăn nhất Như vậy, mụi trường là khụng gian sống của con người (hỡnh 2) và cú thể phõn loại chức năng khụng gian sống của con người thành cỏc dạng cụ thể sau:
Hình 2 Các chức năng chủ yếu của môi tr-ờng
- Chức năng xõy dựng: Cung cấp mặt bằng và nền múng cho cỏc đụ thị, khu cụng nghiệp, kiến trỳc hạ tầng và nụng thụn
- Chức năng vận tải: Cung cấp mặt bằng, khoảng khụng gian và nền múng cho giao thụng đường thuỷ, đường bộ và đường khụng
Môi tr-ờng
Nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên
Không gian sống của con ng-ời và các loài sinh vật
Nơi l-u trữ và cung cấp các nguồn thông tin
Nơi chứa đựng những phế thải con ng-ời tạo ra trong cuộc sống
Trang 20- Chức năng sản xuất: Cung cấp mặt bằng và phụng tự nhiờn cho sản xuất nụng - lõm - ngư nghiệp
- Chức năng giải trớ của con người: Cung cấp mặt bằng, nền múng và phụng tự nhiờn cho việc giải trớ ngoài trời của con người (trượt tuyết, trượt băng, đua xe, đua ngựa, )
b Mụi trường là nơi chứa đựng cỏc nguồn tài nguyờn cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
Trong lịch sử phỏt triển, loài người đó trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con người biết làm ruộng cỏch đõy khoảng 14 - 15 nghỡn năm, vào thời kỳ đồ đỏ giữa cho đến khi phỏt minh ra mỏy hơi nước vào thế kỷ thứ XVIII, đỏnh dấu sự khởi đầu của cuộc cỏch mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực Xột về bản chất thỡ mọi hoạt động của con người để duy trỡ cuộc sống đều nhằm vào việc khai thỏc cỏc hệ thống sinh thỏi của tự nhiờn thụng qua lao động cơ bắp, vật tư cụng cụ và trớ tuệ (hỡnh 3)
Hình 3 Hệ thống sinh thái của tự nhiên
Với sự hỗ trợ của cỏc hệ thống sinh thỏi, con người đó lấy từ tự nhiờn những nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đỏp ứng nhu cầu của mỡnh Rừ ràng, thiờn nhiờn là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyờn cần thiết (hỡnh 4) Nú cung cấp nguồn
vật liệu, năng lượng, thụng tin (kể cả thụng tin di
truyền) cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản
xuất và quản lý của con người
Nhu cầu của con người về cỏc nguồn tài
nguyờn khụng ngừng tăng lờn cả về số lượng,
chất lượng và mức độ phức tạp theo trỡnh độ
phỏt triển của xó hội Chức năng này của mụi
trường cũn gọi là nhúm chức năng sản xuất tự
nhiờn gồm:
- Rừng tự nhiờn: Cú chức năng cung cấp nước, bảo tồn tớnh đa dạng sinh học và độ
Hình 4 Trái đất là nơi dự trữ nguồn tài
nguyên cho con ng-ời
Tự nhiên (các hệ thống sinh thái)
Trí tuệ
Vật t- công cụ
Lao động cơ bắp Con ng-ời
Trang 21- Các thủy vực: Có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn hải sản
- Động và thực vật: Cung cấp lương thực và thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
- Không khí, nhiệt độ, ánh sáng Mặt Trời: Để chúng ta hít thở, cây cối ra hoa
- Chức năng biến đổi lý - hoá học: Pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng; hấp thụ; sự tách chiết các vật thải và độc tố
- Chức năng biến đổi sinh hoá: Sự hấp thụ các chất dư thừa; chu trình nitơ và các bon; khử các chất độc bằng con đường sinh hoá
- Chức năng biến đổi sinh học: Khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, amôn hoá, nitrat hoá và phản nitrat hoá,
d Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Môi trường Trái Đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì, chính môi trường Trái Đất là nơi:
Trang 22- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất
và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa, [11]
- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm
mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác
II « nhiễm c¸c thµnh phÇn m«i tr-êng
2.1 Ô nhiễm môi trường đất: Môi trường đất là nơi sinh sống của con người
và nhiều sinh vật ở cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người Con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm Nhưng với nhịp
độ tăng dân số quá nhanh, tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hóa hiện nay diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm.ở Việt Nam, vấn đề suy thoái tài nguyên đất là rất lo ngại.[ 10]
2.2 Ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi
các tính chất lý-hóa-sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người Nước bị ô nhiễm do phù dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển…do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hóa được Kết quả làm cho hàm lượng ô xy trong nước giảm đột ngột, các khí CO2, CH4, H2S tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực Ô nhiễm nguồn nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các sông mà chưa qua xử lý đúng mức, các loại phân bón hóa học, thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ, nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông
2.3 Ô nhiễm không khí: Ô nhiễm không khí là kết quả của sự thải ra các chất
thải khí độc hại ở thể hơi, bụi, khí, làm tăng đột biến các chất như CO
Trang 23SOx…Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt, có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môi trường một lượng lớn các chất thải khác nhau, làm cho hàm lượng khí độc hại tăng lên nhanh chóng Hằng năm có:
+ 600.000 tấn kẽm, hơi thủy ngân, hơi chì và các chất độc khác.[1]
III Các hướng tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu xã hội học môi trường
Những nghiên cứu về môi trường đã trải qua một quá trình phát triển rất logic,
từ những nghiên cứu xem môi trường như một đối tượng tự nhiên đến bước phát triển xem môi trường như một tiêu điểm quan tâm của các nhóm xã hội, từ việc xem môi trường thuần túy là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên, đến việc xem môi trường đã trở nên mối quan tâm của các ngành khoa học xã hội và nhân văn
Lần đầu tiên trong các nghiên cứu về môi trường xã hội ở Việt nam, Vũ Cao Đàm( 2002) đã hệ thống hóa và phân tích khái quát các hướng tiếp cận về môi trường như sau:
3.1 Tiếp cận độc học
Con người đã nhận ra tính độc hại của chất thải công nghiệp ngay từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ ở nước Anh và Châu âu, nó được thể hiện trong các tác phẩm lý luận kinh điển của Mác viết về quá trình công nghiệp hóa ở Anh
Giải pháp duy nhất thời đó là đề cao vệ sinh công nghiệp, chống lại các yếu tố độc hại do các chất thải công nghiệp thải vào môi trường sống
Hướng tiếp cận độc học xem xét ô nhiễm môi trường từ rủi ro của các sản phẩm hóa học do các chất thải công nghiệp tạo ra tác động tới môi trường tới sức khỏe của con người và của các động thực vật khác.Theo cách tiếp cận này người ta phân thành các dạng độc tố khác nhau như rắn, lỏng, khí…từ đó người ta đề xuất các biện pháp xử lý độc tố với mục đích ngăn chặn sự lan tỏa và gây hại của các chất độc
Trang 24hại: Ví dụ, biện pháp cơ học, hóa học, sinh học… với mục đích làm lắng đọng các độc tố ( cơ học), trừ khử phân hủy độc tố (vật lý, hóa học, sinh học), với mục đích ngăn chặn không cho độc tố thâm nhập môi trường sống [6]
3.2 Tiếp cận dịch tễ học
Tiếp cận dịch tễ học xuất hiện gần như đồng thời với tiếp cận độc học Tiếp cận dịch tễ học thường xem xét tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe của cộng đồng dân cư, trực tiếp là sức khỏe của người lao động trong môi trường dộc hại
Theo hướng tiếp cận dịch tễ học, tùy theo dặc điểm của các độc tố gây ô nhiễm
mà người ta chia ra thành các nhóm bệnh khác nhau
Tiếp cận dịch tễ học và tiếp cận độc học đi vào sản xuất công nghiệp như một trong những biện pháp về bảo hộ lao động Từ những thập niên 1950 - 1960 hai hướng tiếp cận này được đưa vào giảng dạy trong tất cả các trường Đại học, trung học kỹ thuật và các trường dạy nghề ở nước ta trong khuôn khổ các môn học “An toàn lao động, “Bảo hộ lao động”, “Vệ sinh công nghiệp” hoặc “Kỹ thuật an toàn”[6]
- Nhu cầu tăng trưởng với nhịp điệu mới, dựa trên cơ sở hạ tầng công nghiệp
cổ điển dẫn đến nhịp điệu tàn phá tài nguyên mạnh mẽ hơn
- Sự xuất hiện ngày càng nhiều các chất kích thích về tăng trưởng cây trồng, vật nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, phân hoá học… với tác dụng hai mặt vừa phát triển nông nghiệp nhưng cũng lại là phương tiện gây độc hại cho con người
- Chất thải công nghiệp ngày càng đa dạng, ngày càng lớn về quy mô, không loại trừ cả chất thải đặc biệt nguy hiểm như chất phóng xạ
Tiếp cận công nghệ học cho rằng cần phải bảo vệ môi trường ngay từ trong lòng công nghệ tức là ngay trong quá trình thiết kế công nghệ thì đã phải đặt tới vấn đề
về môi trường được đảm bảo, bởi vì mọi chất thải dù ở dưới dạng rắn, lỏng, hay khí thì
Trang 25cũng gây ảnh hưởng nhất định đến môi trường sống Như vậy giải quyết theo hướng tiếp cận công nghệ học được các chuyên gia xem là một hướng tiếp cận triệt để nhất
Tư tưởng cơ bản của biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường bằng cách tiếp cận kinh tế học với mục đích dùng biện pháp kinh tế như một chế tài để ngăn chặn ô nhiễm môi trường và để khắc phục ô nhiễm môi trường thì một trong những biện pháp có thể được coi là khả thi nhất đó là phân loại, tái chế và tái sử dụng rác thải trở thành một nguồn đầu tư phát triển kinh tế [ 6]
3.5 Tiếp cận giáo dục học
Với cách nhìn nhận là chống ô nhiễm môi trường từ chủ thể gây ô nhiễm mà chủ thể ở dây chính là con người nên các nhà nghiên cứu đã đưa ra hướng tiếp cận giáo dục học nhằm giáo dục ý thức môi trường và nhận thức môi trường của con người ngay từ những ngày còn nhỏ để chúng có ý thức, nhận thức cũng như kiến thức
về môi trường trong các hoạt động sống sau này
3.6 Tiếp cận sinh thái học
Ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe cũng như môi trường sống vì vậy ngay từ những năm 1960 với những bước phát triển mạnh mẽ của sinh thái học, với những hiểu biết ngày càng sâu sắc về tính hoàn chỉnh của hệ sinh thái, con người ngày càng ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm môi trường với một quan điểm tiếp cận toàn bộ hệ sinh thái
Khái niệm sinh thái học xuất hiện từ năm 1866 do nhà sinh học Ernst Haeckelý
đề xướng trong tác phẩm “Sinh thái học tự nhiên-Natural Ecology” với ý nghĩa là
Trang 26một khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường xung quanh Tuy nhiên nó chỉ thu hút sự quan tâm khi mất cân bằng sinh thái trở nên một mối quan tâm nóng bỏng của nhân loại về môi trường và khi vấn đề môi trường được xem xét trên cơ sở tiếp cận sinh thái học
Dựa trên những nhận định khách quan về thực trạng tàn phá tài nguyên, dự báo
bi quan về nguy cơ suy thoái môi trường Bản tường trình thứ nhất của câu lạc bộ La
Mã - 1972 đã đưa ra một thông điệp gây chấn động: “Tăng trưởng bằng không”
Cũng trong năm đó Hội nghị môi trường con người được tổ chức tại Stockholm ( Thụy Điển) với sự tham gia của những người đứng đầu nhà nước, đã thể hiện thái
độ khách quan hơn trong việc xử lý mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường, đã được nhận định là rất nghiêm trọng
Bản tường trình thứ hai được công bố sau đó hai năm , vào năm 1974 với một
số khuyến nghị bớt bi quan hơn: Thay đổi kiểu tăng trưởng, từ kiểu tăng trưởng vô tổ chức, phi cấu trúc, thiên về số lượng, chuyển sang kiểu tăng trưởng trong mối liên hệ toàn cầu, gắn bó như một cơ thể sống
Hai mươi năm sau, 1992, Hội nghị thượng đỉnh thứ hai được tổ chức ở Rio De Janeiro, vừa để kiểm điểm việc thực hiện các nghị quyết Stockholm, vừa để đề ra các biện pháp tích cực hơn về bảo vệ môi trường Trong số các quyết định của hội nghị, những người đứng đầu các nhà nước đã thông qua hai công ước quan trọng: Công ước về khí hậu và công ước về đa dạng sinh học, đồng thời thông qua chương trình hành động cho thể kỷ XXI Nói chung thông qua hội nghị Ro - 1992 cho chúng ta thấy hướng tiếp cận chủ đạo là hướng tiếp cận sinh thái học trong đó các chuyên gia đặt con người trước sự bế tắc trong mối quan hệ giữa nhu cầu phát triển với bảo vệ môi trường: Phát triển là sự phá vỡ từng mảng sự toàn vẹn của hệ sinh thái; Biện
pháp cực đoan nhất để bảo vệ sinh thái là “Không phát triển nữa”, hoặc “Hạn chế tốc
độ tăng trưởng”, hoặc “Tăng trưởng b»ng không”
Tuy nhiên, Rio-1992 cũng mở ra một lối thoát quan trọng xét trên tiếp cận sinh học, đó là đưa ra hai bản công ước về đa dạng sinh học và về khí hậu Từ khi các công ước trên có hiệu lực, tháng 12 năm 1993 đến thành 7 năm 1996 đã có trên 120 nước phê chuẩn
Trang 273.7 Tiếp cận chính trị học
Không dừng trên cách tiếp cận xã hội học, hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng trở nên một phong trào mang tính xã hội chính trị rộng lớn, mang tính toàn cầu, vượt ra khỏi khuôn khổ của những biện pháp kỹ thuật, biện pháp sinh thái mà ngày càng trở thành một vấn đề xã hội bức xúc, trở nên một bộ phận hợp thành của những phong trào đấu tranh chính trị, thậm chí dẫn đến sự ra đời của những tổ chức chính trị như tổ chức Đảng Xanh Đức (1972) Đảng này trong nhiều năm đã trở thành đối thủ có sức nặng trong các cuộc tranh cử Nghị viện vì những tôn chỉ về bảo vệ môi trường sống
Theo Homer – Dixon, sự cạnh tranh giành lợi thế và tài nguyên là nguyên nhân dẫn đến cạn kiệt môi trường, làm suy yếu năng lực quốc gia, dẫn đến những xung đột môi trường trên các mức độ khác nhau, không loại trừ cả những xung đột chính trị và xung đột vũ trang giữa các quốc gia Vượt khỏi khuôn khổ tiếp cận xã hội học, vấn đề môi trường đã chuyển sang các khía cạnh khác của xã hội học chính trị và chính trị học Như vậy môi trường đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự tham gia rộng lớn của các ngành khoa học xã hội để hình thành luận cứ cho việc hoạch định các thiết chế quản lý môi trường không chỉ trên tầm các chính sách và chiến lược phát triển công nghệ của các Công ty – công nghệ không hoặc ít chất thải, công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn, công nghệ thân thiện môi trường… mà là những chiến lược và chính sách có tầm xã hội và chính trị của các quốc gia và liên minh đa quốc gia [ 6]
3.8 Tiếp cận tư tưởng chiến lược phát triển bền vững
Từ khi con người nhận ra những mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển với nguy
cơ cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường, lúc này người ta thấy xuất hiện hai dòng tư tưởng phát triển
- Thứ nhất là trường phái bi quan với chủ trương ngăn chặn sự tàn phá môi trường theo tư tưởng môi trường cực đoan, chống lại mọi tư tưởng phát triển vì mục đích bảo vệ sự toàn vẹn của sinh thái Xuất hiện một khuynh hướng được gọi là:
“Hiệu ứng tù nhân sinh thái” Hiệu ứng này dẫn tới một hệ luận là “Khoanh tay ngắm
nhìn sự toàn vẹn của hệ sinh thái trong đói nghèo”
- Thứ hai, là trường phái lạc quan với chủ trương nhân loại phải phát triển do nhu cầu cuộc sống và phát triển của xã hội loài người, nhưng là một chiến lược phát
triển thân thiện môi trường, chiến lược ấy là: “Chiến lược phát triển bền vững”
Trang 28Tư tưởng phát triển bền vững được đưa ra lần đầu vào năm 1987 trong một báo cáo của bà Brundland tại hội nghị của Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (WCED) Năm 1990, hai tác giả Jacobs và Sadler đưa ra mô hình tương tác giữa ba
hệ thống: Kinh tế - Xã hội - Tự nhiên và chỉ ra nơi gặp nhau giữa các mục tiêu của ba
hệ thống này đó là những giải pháp đáp ứng cả ba lợi ích trên và họ gọi đó là giải pháp phát triển bền vững Tuy nhiên, tư tưởng phát triển bền vững chỉ trở nên sôi động từ sau Rio- 1992 với hàng lọat các văn kiện được ghi nhận thành những nghị quyết và trở thành chuẩn mực hành động vì một thế giới phát triển bền vững [6]
IV Phát triển bền vững
4.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Nhân loại đã trải qua quá trình tiến hoá và phát triển hàng triệu năm, từ xã hội nguyên thuỷ, xã hội nông nghiệp, xã hội công nghiệp và xã hội siêu công nghiệp ngày nay Qua các thời kỳ thăng trầm của lịch sử, các nền văn minh đã dâng hiến cho loài người khối lượng khổng lồ về của cải, vật chất và tri thức Song hành với thành tựu huy hoàng đó, con người không phải ngay lập tức đã nhận thức được những nguy cơ huỷ diệt tiềm ẩn trong quá trình phát triển Xung đột giữa con người với thế giới tự nhiên ngày càng gia tăng và trở nên gay gắt, thế giới đối mặt với với rác thải khắp nơi, nhiều sông, hồ và khu vực rộng lớn bị ô nhiễm nặng nề, rừng bị tàn phá, đầm lầy bị tháo khô, đời sống của con người bị đe doạ nghiêm trọng.Tình trạng gia tăng dân số quá nhanh, tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái và cạn kiệt, MT bị ô nhiễm, đất đai bị thoái hoá, nhiều giống loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhiều bệnh lạ phát sinh Xã hội loài người tiến sâu hơn vào những mâu thuẫn của sự phát triển (hình 5)
H×nh 5 M©u thuÉn trong ph¸t triÓn
Xãi mßn x· héi
Ph¸t triÓn
C«ng nghiÖp
S¶n xuÊt C«ng nghiÖp
¤ nhiÔm
C¹nh tranh giµnh giËt tµi nguyªn C¹n kiÖt
nguån tµi nguyªn
Trang 29Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện gần đây, đến năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển- WCED- của Liên hợp quốc, khái niệm PTBV mới được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và được định
nghĩa như sau: "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của
hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
Hay nói cách khác: Đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường
ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [11,12,1]
4.2 Những nguyên tắc chính trong PTBV của Việt Nam
Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, chương trình Liên Hợp Quốc đã
đề ra 9 nguyên tắc:
1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người
3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
5 Tôn trọng khả năng chịu đựng của Trái đất
6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
7 Để cho các cộng đồng tự quản môi trường của mình
8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ
9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Định hướng PTBV của Việt nam đến năm 2020 ( Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) đã đề ra 8 nguyên tắc chính sau:
Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng
đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tình thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển
Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới
bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm và năng lượng cho phát triển bền vững Kết hợp hài hoà với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi"
Trang 30Thứ ba, bảo vệ và cải thiện môi trường phải được coi là một yếu tố không thể
tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động ngăn chặn, phòng ngừa những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn"
Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu
của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường, xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên
Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác
Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của các cấp chính quyền, của các bộ,
ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài
Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế Phát triển các quan hệ đa phương và song phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực, tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
những tác động xấu về môi trường do quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường với bảo
đảm quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội [11,12,18]
Trang 314.3 Nội dung phát triển bền vững
Nội dung cơ bản của PTBV có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định
về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường
- Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hoà giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá-xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc
sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch và năng lượng sạch
- Bền vững về xã hội đó là xây dựng một xã hội mà trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế, bình đẳng giới, giải quyết công ăn việc làm, khai thác tiềm năng tri thức bản địa và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội
- Bền vững về tài nguyên môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được sử dụng trong khả năng chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khoẻ, môi trường sống, lao động và học tập của con người ) không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người được sống trong môi trường sạch sẽ Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự PTBV của xã hội, nếu thiếu một trong
những điều kiện đó thì sự phát triển đứng trước nguy cơ mất bền vững ( Hình 6) [12,18]
V Tổng quan về công nghệ
5.1 Khái niệm về công nghệ
Có rất nhiều định nghĩa về công nghệ:
Định nghĩa 1: "Công nghệ là dạng kiến thức
có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản
phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới" - F.R.Root
năm nào?
Định nghĩa 2: Theo tác giả R.Jones (1970) thì
"Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực chuyển hóa thành hàng hóa"
H×nh 6 Néi dung ph¸t triÓn bÒn v÷ng (IIED, 1995)
HÖ kinh tÕ
HÖ
tù nhiªn
HÖ x· héi
PTBV
Trang 32Định nghĩa 3: "Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và
các kỹ thuật chế biến để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh".- J Baranson (1976)
Định nghĩa 4: "Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng
cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới" ( J R Dunning, 1982)
Định nghĩa 5: Theo E M Graham (1988) thì "Công nghệ là kiến thức không
sờ mó được và không phân chia được và có lợi về kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ"
Định nghĩa 6: "Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách
sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp" - (P Strunk,1986)
Sáu định nghĩa trên cho thấy, công nghệ là "kiến thức", tuy nhiên chúng được
thể hiện dưới dạng khác nhau:
Định nghĩa 7: Theo tổ chức PRODEC (1982) "Công nghệ là một lọai kỹ năng,
kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến
và dịch vụ"
Định nghĩa 8: Ngân hàng thế giới (1985) định nghĩa: "Công nghệ là phương
pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm gồm 3 yếu tố:
- Thông tin về phương pháp
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa
- Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao"
Định nghĩa 9: "Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được
mua bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong những dạng sau:
Trang 33- Tư liệu sản xuất (TLSX) và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tư;
- Nhân lực thường có trình độ,và có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng
sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin;
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần hoạt động độc quyền"
Định nghĩa 10: Tác giả Sharif (1986) cho rằng, "Công nghệ bao gồm khả năng
sáng tạo, đổi mới và lựa chọn những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa Công nghệ là một tập hợp gồm phần cứng và phần mềm bao gồ 4 dạng cơ bản:
- Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiể bị máy móc )
- Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm)
- Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp, tài liệu )
- Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp )
Bốn định nghĩa này có nội dung rộng hơn, ngoài phần kiến thức (phần mềm) được thể hiện qua dạng con người, thông tin còn nêu ra cả phần cứng như: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thể (thiết bị, máy móc)
"Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi
là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ" (Trần Ngọc Ca, 1987)
Theo luật khoa học và công nghệ (2000), thì công nghệ được hiểu một cách
khái quát là "tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương
tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm"
5.2 Khái niệm về công nghệ môi trường
"Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên
lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật thực hỉện nguyên lý và quy trình đó"
Trang 34Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người tác động vào tài nguyên, biến chúng thành các sản phẩm cần thiết sử dụng trong hoạt động sống Việc này không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc hại vào môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm Ở các nước phát triển, vốn đầu tư cho công nghệ xử lý chất thải chiếm từ
10 - 40% tổng vốn đầu tư sản xuất Việc đầu tư các công nghệ này tuy cao nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần phục hồi môi trường bị ô nhiễm [2,3,16]
5.3 Các thế hệ công nghệ
5.3.1 Công nghệ truyền thống Bản chất của công nghệ truyền thống là vận hành
theo tuyến, các ngyên liệu và năng lượng qua chế tác đã chuyển hóa thành sản phẩm hàng hóa, một phần trở thành chất thải Các sản phẩm hàng hóa được con người sử dụng cuối cùng cũng trở thành rác thải Cả hai loại chất thải này không có cơ hội tái chế, tái sử dụng, cuối cùng bị thải bỏ trực tiếp vào môi trường tự nhiên Những yếu tố này dấn tới những bức xúc về chất thải công nghiệp, tác động đến môi trường và kéo theo sự xuống cấp chất lượng môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người điều đó hướng các nhà nghiên cứu khoa học tới các công nghệ tiên tiến hơn
5.3.3 Sản xuất sạch hơn
"Sản xuất sạch hơn là cải tiến liên tục quá trình sản xuất công nghiệp, sản
phẩm và dịch vụ để giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên, để phòng ngừa nguồn ô nhiễm không khí, nước và đất, và giám sát phát sinh chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường" C¸c kü thuËt SXSH ®-îc chia thµnh 3 nhãm chÝnh: ng¨n ngõa t¹i nguån, tuÇn hoµn vµ t¹o ra s¶n phÈm phô h÷u Ých vµ c¶i tiÕn s¶n phÈm (h×nh 7)
Trang 35Hình 7 Nội dung của SXSH
Mục tiờu của UNEP là đưa tiếp cận SXSH vào hoạt động hàng ngày ở tất cả cỏc loại doanh nghiệp khỏc, đỏp ứng yờu cầu về "bảo tồn tài nguyờn và giảm thiểu chất thải" [14]
5.3.4 Cụng nghệ thõn thiện mụi trường được hiểu đơn giản là cụng nghệ
khụng gõy ụ nhiễm mụi trường, khụng ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; giảm thiểu đến mức thấp nhất phỏt sinh chất thải; bảo tồn tài nguyờn thiờn nhiờn bằng cỏc giải phỏp tối ưu húa cỏc dũng vật chất và năng lượng trong quỏ trỡnh sản xuất cụng
nghiệp
5.3.5 Cụng nghệ sinh thỏi thường được diễn ra trong cỏc mụ hỡnh sinh thỏi với
chu trỡnh sản xuất cú tớnh hệ thống (khộp kớn) Cỏc cơ sở sản xuất trở thành những sinh thỏi cụng nghiệp, cú mối quan hệ cộng sinh với nhau dựa trờn nguyờn tắc trao đổi chất, chu trỡnh sản xuất khộp kớn đảm bảo tuần hoàn năng lượng và vật chất ở mức tối đa
5.4 Tỏc động của cụng nghệ đối với mụi trường
Sản xuất cụng nghiệp đó và đang chiếm vị thế quan trọng trong xó hội, là động lực thỳc đẩy nhanh tiến trỡnh CNH và HĐH ở nhiều quốc gia, trong đú cú Việt Nam đang trờn đường hội nhập, với ước tớnh đến cuối năm 2007 cả nước cú 154khu cụng nghiệp đó được Chớnh Phủ phờ duyệt và 2 khu cụng nghệ cao được phõn bổ trờn 27 trong số 63 tỉnh thành phố trực thuộc
Đặc điểm chung của cụng nghiệp Việt Nam là cú quy mụ vừa và nhỏ, rất phõn tỏn, cụng nghệ sản xuất lạc hậu, gõy ụ nhiễm mụi trường nước, khụng khớ và chất thải rắn đối với khu vực xung quanh Khoảng 90% cơ sở sản xuất cũ khụng cú thiết bị xử
lý nước thải mà thải thẳng vào nguồn nước mặt, vào sụng suối
Cỏc vấn đề MT liờn quan đến hoạt động và phỏt triển cụng nghiệp được minh
Liên tục
phòng ngừa
Tổng hợp (Không khí, đất, n-ớc)
Trang 36hoạ ở hỡnh 8
Hỡnh 8 Mối tương quan giữa phỏt triển KCN và cỏc vấn đề mụi trường
Cỏc khu cụng nghiệp và khu đụ thị được hỡnh thành nhanh chúng làm cho nguồn rỏc thải cụng nghiệp cũng như rỏc thải sinh hoạt đưa vào MT ngày càng nhiều, gõy ụ nhiễm khụng khớ,đất, nước Hầu hết cỏc khu cụng nghiệp chưa cú hệ thống xử
lý MT tập trung hoặc cú nhưng khụng đạt tiờu chuẩn kỹ thuật; việc cỏc doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất xả nước thải trực tiếp ra sụng, biển là khỏ phổ biến Theo số liệu của
Bộ TN&MT, cú 70% khu cụng nghiệp khụng cú hệ thống xử lý nước thải; 90% cỏc
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ khụng xử lý nước thải Năm 2003, Bộ TN&MT đó thống kờ và trỡnh Thủ tướng Chớnh phủ phờ duyệt Quyết định 64/2003 về danh mục hơn 4.000 cơ sở gõy ụ nhiễm MT nghiờm trọng cần được tiến hành xử lý triệt để trong giai đoạn từ nay đến 2012, nhưng đến nay vẫn cũn nhiều vấn đề bức xỳc, chưa
cú giải phỏp thỏo gỡ [3,12]
Cựng với sự gia tăng năng lực sản xuất và đa dạng húa cỏc sản phẩm, cỏc khu cụng nghiệp ngày càng làm cho mụi trường ụ nhiễm nặng nề, mà đõy là vấn đề thường bị bỏ qua Thực tế cho thấy, rất ớt khu cụng nghiệp cú nhà mỏy xử lý nước thải tập trung, hầu hết cỏc khu cụng nghiệp đều chưa cú hệ thống lưu trữ và xử lý chất thải rắn an toàn về mặt mụi trường, đặc biệt là chất thải nguy hại, trong khi đú chưa thống kờ, đo dược khối lượng chất thải nguy hại, kim loại nặng (chỡ, thủy ngõn, crụm ) trong cỏc doanh nghiệp sản xuất ắc quy, cơ khớ, điện tử Hiện nay phần lớn cỏc đơn vị đầu tư kinh doanh cỏc khu cụng nghiệp thường khụng đủ vốn đầu tư cho
Hoạt động của các KCN
Khí thải và ô nhiễm không khí Cạn kiệt các
nguồn tài nguyên
Sự suy giảm đa dạng sinh học Huỷ hoại môi tr-ờng sống
Các sự cố môi tr-ờng KCN
Chất thải rắn, chất thải độc hại
và ô nhiễn đất
Ô nhiễm do tiếng ồn
N-ớc thải và ô nhiễm các nguồn n-ớc
Phân bố lại địa bàn dân c- và các vấn đề môi tr-ờng liên quan
Trang 37cơ sở hạ tầng, đầu tư cho mua công nghệ xử lý chất thải, có đầu tư thì cũng rất ít hoặc sử dụng công nghệ lạc hậu vì thế ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp là diều khó tránh khỏi Và một điểm nổi bật hiện nay trong việc thực thi về luật bảo vệ môi trường đó là sự chồng chéo về chức năng thẩm quyền giữa các cơ quan, ban ngành Đặc biệt là giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ, các ngành khác
Sự chồng chéo này thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực thanh tra và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, dẫn đến phức tạp trong việc ban hành, quản lý, nhất là thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường khu công nghiệp nói riêng [7]
VI Tổng quan về xung đột môi trường
6.1 Khái niệm về xung đột môi trường
Xung đột môi trường được hiểu và định nghĩa khác nhau trên thế giới Bản thân riêng từ "xung đột" (conflict) bao hàm nhiều nghĩa, nhiều cấp độ liên quan đến
sự bất đồng nghiêm trọng, sự đối lập về quyền lợi hoặc mối quan tâm Theo từ điển tiếng Anh, conflict là trạng thái đối lập hoặc thù địch, sự đấu tranh, cũng có nghĩa sự mâu thuẫn, sự bất hòa nghiêm trọng (serious disagreement), sự khác biệt (difference), bất đồng, không tương hợp (controversy), va chạm (Sara,1994) Như vậy khái niệm xung đột ở đây phải được hiểu khá rộng, chứ không chỉ thu hẹp ở nghĩa xung đột là
có đấu tranh, dùng vũ lực, có vũ trang
Viện công nghệ Châu Á (Suselo, 1993) đã đưa ra một số định nghĩa:
- XĐMT là xung đột quyền lợi cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị: là mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai: giữa bảo tồn và phát triển Kết quả của XĐMT có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quá trình quản lý xung đột
- XĐMT là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một nhóm người mà gây bất lợi cho nhóm người khác
* XĐMT là kết quả cả việc khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên.[ 6 ]
Theo các nhà xã hội học môi trường thì XĐMT là xung đột (mâu thuẫn) về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác, sử dụng và hưởng thụ nguồn tài nguyên môi trường Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác trong việc khai thác, sự đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên -
Trang 38môi trường (E Wertheim, 1999; Vũ Cao Đàm, 2000) Qua những phân tích trên có
thể định nghĩa: XĐMT là quá trình hình thành và phát triển những mâu thuẫn giữa
các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng các tài nguyên và môi trường
6.2 Các dạng xung đột môi trường
- Theo cách hiểu của xã hội học, XĐMT là một dạng xung đột xã hội, xuất hiện như một tất yếu khách quan, và được hiểu theo một cách rất rộng, không bị hạn chế chỉ trong những khuôn khổ rất cao và thậm chí rất căng thẳng như các loại hình xung đột mà chúng ta vốn quen biết, như xung đột chính trị hoặc xung đột quân sự, mặc dù xung đột môi trường hoàn toàn có thể dẫn đến những xung đột ấy
- XĐMT là xung đột chức năng môi trường Xung đột môi trường xuất hiện khi các chức năng của môi trường lấn át lẫn nhau, xét trong quan hệ với con người, môi trường có ba chức năng: (1) Chức năng không gian sinh sống cho con người; (2) Chức năng cung cấp tài nguyên cho con người; (3) Chức năng chứa đựng rác thải của con người Khi một chức năng bị chiếm dụng quá mức, nó sé lấn át chức năng khác, dẫn đế xung đột chức năng của môi trường
- XĐMT có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau:
+ Sự khác nhau trong quan niệm về bảo vệ môi trường
+ Sự bất đồng nhận thức trong cách ứng xử với môi trường
+ Dị biệt văn hóa trong cách ứng xử với môi trường
+ Bất bình đẳng trong sử dụng tài nguyên và sự hưởng thụ các lợi thế môi trường
Nhìn chung, bất bình đẳng môi trường xuất hiện giữa các nhóm xã hội, khi một nhóm này được hưởng những lợi thế về tài nguyên và môi trường hơn các nhóm khác Tuy nhiên, bất bình đẳng môi trường có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau:
+ Nguyên nhân hoàn toàn khách quan do các yếu tố địa lý mang lại
+ Sự vô thức của một cá nhân hoặc một nhóm xã hội, gây hại môi trường cho các nhóm xã hội khác
+ Sử dụng sai những phương tiện kỹ thuật và công nghệ do thiếu hiểu biết trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 39+ Có thể do những hành vi cố ý chiếm dụng lợi thế vè tài nguyên môi trường, dẫn đến sự xâm hại lợi ích môi trường của cộng đồng.[6 ]
Căn cứ nguyên nhân xung đột, những nghiên cứu xã hội học môi trường cho thấy
có thể tồn tại các dạng xung đột sau:
+ Xung đột nhận thức Đây là dạng xung đột đơn giản nhất, có căn nguyên từ sự hiểu biết khác biệt nhau trong hành động của các nhóm dẫn đến phá hoại môi trường
+ Xung đột mục tiêu Mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn đến xung đột
+ Xung đột lợi ích Xung đột lợi ích khi các nhóm tranh giành lợi thế sử dụng tài nguyên: xí nghiệp công nghiệp xả chất thải vào ruộng người dân, xâm phạm lợi ích của nông dân, phá hoại môi trường
+ Xung đột quyền lực: Nhóm có quyền lực mạnh hơn, lấn át nhóm khác, chiếm dụng lợi thế của nhóm khác, dẫn đến ô nhiễm môi trường [6]
6.3 Nguyên nhân gây xung đột môi trường
6.3.1 Thiếu thông tin hoặc bỏ qua thông tin Nguyên nhân XĐMT có thể là do sự khai
thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên môi trường và chúc năng môi trường do tài nguyên môi trường đang ngày càng cạn kiệt Nguyên nhân chính gây tranh chấp môi trường là sự cạnh tranh nguồn tài nguyên, sự khác nhau về giá trị nhân văn liên quan đến giá trị tương đối của tài nguyên, và kiến thức không đầy đủ về chi phí, lợi ích và nguy cơ trong các hoạt động
Ví dụ về vệc xây dựng bãi rác Kiêu Kỵ - Gia Lâm đã gặp phải phản ứng nghiêm trọng của người dân địa phương Khi tìm hiểu nguyên nhân các nhà quản lý mới được biết rằng những người dân ở đây hoàn toàn không được biết thông tin nào về dự án này được tiến hành ngay trên mảnh đất quê hương của họ
6.3.2 Thiếu sự tham gia đống góp của các bên liên quan Bảo vệ môi trường là trách
nhiệm của toàn xã hội loài người XĐMT cũng chính là xung đột lợi ích giữa các nhóm
xã hội Thiếu sự tham gia của tất cả các bên liên quan có thể dẫn đến mất cân bằng về lợi ích của các nhóm xã hội Thông thường một nhóm xã hội chí đại diện lợi ích cơ bản của nhóm đó và có những hệ thống giá trị nhất định Những trường hợp XĐMT như trường hợp xây dựng bãi thải Kiêu Kỵ, bãi chôn lấp Nam Sơn - Sóc Sơn cũng là do thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương Chính sự tham gia của người dân sẽ đảm bảo được
sự cân bằng lợi ích giữa các nhóm xã hội, góp phần đáng kể vào thành công của dự án, giảm thiểu XĐMT
Trang 406.3.3 Ý thức của con người trong việc sử dụng tài nguyên môi trường
Những vấn đề về môi trường mới vẫn tiếp tục xuất hiện, đó là kết quả của việc con người đang sử dụng một cách bất hợp lý những tiềm năng do môi trường đem lại
Sự nóng lên của trái đất là một ví dụ điển hình, đó là hậu quả của sự tăng lên nhanh chóng lượng khí cacbon diôxit trong bầu khí quyển của trái đất, tầng ôzôn bị phá hủy, thiên tai ngày càng nặng nề
6.3.4 Cơ chế chính sách yếu kém Đây là nguyên nhân làm gia tăng các XĐMT trong đó
quyền sở hữu/sử dụng các tài sản môi trường không được xác định rõ là nguyên nhân quan trọng Sự phát triển của Khoa học và Công nghệ cũng như sự gia tăng dân số thế giới đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan hiếm của tài nguyên Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt với những tài nguyên mà ở đó quyền sở hữu/sử dụng không được xác định rõ, tài nguyên sẽ có xu thế trở thành những
"tài sản công cộng" (tức là những loại tài sản không loại trừ bất kỳ ai trong quá trình khai thác và sử dụng) Hơn nữa quyền sở hữu/sử dụng không được xác định rõ sẽ không khuyến khích được người dân tự nguyện đầu tư vào bảo vệ và phát triển tài nguyên mà còn thúc đẩy họ đến sử dụng nó một cách quá mức không tính đến lợi ích lâu dài, lợi ích của cộng đồng và lợi ích của các thế hệ mai sau
6.3.5 Hệ thống giá trị khác nhau
Trong việc khai thác cùng một nguồn tài nguyên môi trường thì các hệ thống giá trị khác nhau đối với các nhóm xã hội khác nhau cũng dễ dàng dẫn đến xung đột môi trường Như trên cùng một nguồn tài nguyên đất ngập nước, hệ thống giá trị đối với các ngư dân, nông dân, trồng rau màu là khác nhau Nếu các ngư dân khai thác quá mức sẽ
dẫn đến ảnh hưởng tới nguồn lợi của nhóm nông dân trồng hoa màu
Hệ thống giá trị khác nhau có thể dẫn tới sự khác nhau về lợi ích cũng như mục tiêu trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên giữa các nhóm trong xã hội Cùng một dòng sông đối với các cộng đông dân cư địa phương thì đó là nguốn cung cấp thủy sản, nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu, nhưng đối với một nhóm người khác thì đó là nơi phát triển thủy điện hoặc là nơi chưa đựng rác thải
Hệ thống giá trị khác nhau còn có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong phân bố nguồn lợi giữa các nhóm trong xã hội và giữa các thế hệ Việc xây dựng các nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Mêkông của Lào đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến người