Vì vậy, việc phát triển nhu cầu tin, tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của thư viện các trường đại học nước ta hiện nay.. Tổng q
Trang 1-
BÙI THỊ ÁNH TUYẾT
NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
TRẦ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2-
BÙI THỊ ÁNH TUYẾT
NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Quý
TRẦ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh
Trang 4của thư viện các trường đại học ở Hà Nội“ của tác giả là kết quả học tập và
nghiên cứu của tác giả trong khóa học 2012-2014, chuyên ngành khoa học Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả cam đoan đây là công trình của tác giả, được thực hiện nghiêm túc, hoàn toàn mới và không trùng lặp với các công trình nào đã công trình nào trước đó
Hà Nội, ngày 11/10/2014 Bùi Thị Ánh Tuyết
Trang 5của thư viện các trường đại học ở Hà Nội“ là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong khóa học 2012-2014, chuyên ngành khoa học Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã được PGS.TS Trần Thị Quý trực tiếp hướng dẫn Sự tận tình chỉ bảo, hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Quý cùng với sự định hướng chuyên môn, gợi mở hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trong ngành đã giúp tác giả có điều kiện hoàn thành luận văn Tác gia xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Quý và đội ngũ các nhà khoa học ngành Thông tin – Thư viện
Đồng thời tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các cô chú, anh chị cán bộ thông tin -thư viện công tác tại các cơ quan thông tin - thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả tiếp cận thực tế nghiên cứu của mình thông qua điều tra, thu thập tư liệu và trao đổi ý kiến để hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và thầy cô đồng nghiệp
đã hết lòng giúp đỡ, động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn Bên cạnh đó còn là những bạn sinh viên, những người dùng tin của các cơ quan thông tin - thư viên trường đại học ở Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11/10/2014 Bùi Thị Ánh Tuyết
Trang 61
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
3.1 Mục đích nghiên cứu 13
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Giả thuyết nghiên cứu 14
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5.1 Đối tượng nghiên cứu 14
5.2 Phạm vi nghiên cứu 15
6 Phương pháp nghiên cứu 15
6.1 Các phương pháp chung 15
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 15
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 17
7.1 Về mặt khoa học 17
7.2 Về mặt thực tiễn 17
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 18
9 Cấu trúc luận văn 18
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG
ĐÁP ỨNG CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI 19
1.1 Một số khái niệm cơ bản 19
1.1.1 Khái niệm người dùng tin 19
1.1.2 Khái niệm nhu cầu tin 20
1.1.3 Khái niệm mức độ đáp ứng nhu cầu tin 23
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin 24
1.2.1 Môi trường kinh tế - xã hội 24
1.2.2 Ngành nghề đào tạo 26
1.2.3 Độ tuổi 26
1.2.4 Giới tính 27
1.2.5 Tâm lý 27
Trang 72
1.2.6 Phương pháp giảng dạy 29
1.2.7 Vai trò của đoàn thanh niên và hội sinh viên 30
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tin 30
1.3.1 Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 30
1.3.2 Vốn tài liệu và sự hợp tác chia sẻ thông tin 31
1.3.3 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông 33
1.3.4 Đội ngũ chuyên gia thông tin 33
1.3.5 Áp dụng chuẩn nghiệp vụ thông tin - thư viện 35
1.3.6 Chính sách thông tin - thư viện 36
1.3.7 Kinh phí đầu tư 38
1.3.8 Năng lực thông tin của người dùng tin 39
1.4 Đặc điểm thư viện các trường đại học ở Hà Nội 40
1.4.1 Môi trường kinh tế - xã hội 40
1.4.2 Sơ lược sự ra đời và phát triển 42
1.4.3 Chức năng và nhiệm vụ 43
1.4.4 Cơ cấu tổ chức 45
1.4.5 Đặc điểm các nhóm người dùng tin 47
1.4.6 Đặc điểm nguồn lực thông tin 51
1.5 Vai trò của nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng
đáp ứng của các thư viện ở Hà Nội 52
1.5.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện 52
1.5.2 Đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường 54
1.6 Tiểu kết chương 1 55
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU TIN CỦA NGƯỜI DÙNG TIN
VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở HÀ NỘI 57
2.1 Nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội 57
2.1.1 Nhu cầu về nội dung tài liệu 57
2.1.2 Nhu cầu về loại hình tài liệu 60
2.1.3 Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu 65
2.1.4 Nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ thông tin 68
2.1.5 Tập quán sử dụng, khai thác thông tin 74
Trang 83
2.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện các
trường đại học ở Hà Nội 81
2.2.1 Chính sách của các thư viện 81
2.2.2 Vốn tài liệu và sự hợp tác chia sẻ thông tin của các thư viện 83
2.2.3 Đội ngũ chuyên gia thông tin 90
2.2.4 Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông 97
2.2.5 Áp dụng chuẩn nghiệp vụ thông tin - thư viện 102
2.2.6 Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 106
2.2.7 Kinh phí đầu tư 111
2.3 Đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội 114
2.3.1 Đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu tin 114
2.3.2 Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tin 117
2.4 Nhận xét về nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng của thư viện các trường đại học ở Hà Nội 121
2.4.1 Những ưu điểm 121
2.4.2 Những hạn chế 122
2.4.3 Nguyên nhân 123
2.5 Tiểu kết chương 2 125
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THỎA MÃN NHU CẦU TIN CHO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI 128
3.1 Nhóm giải pháp phát triển nguồn lực thông tin 128
3.1.1 Xây dựng chính sách bổ sung tài liệu 128
3.1.2 Liên kết, hợp tác giữa các thư viện đại học 129
3.1.3 Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin 132
3.2 Nhóm giải pháp về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 134
3.2.1 Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 134
3.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 138
3.2.3 Tăng cường marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 139
3.3 Giải pháp liên quan đến con người 143
3.3.1 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ 143
3.3.2 Chú trọng đào tạo người dùng tin 148
Trang 94
3.4 Nhóm giải pháp tăng cường kinh phí đầu tư, cơ sở vật chất,
ứng dụng công nghệ thông tin 151
3.4.1 Tăng cường kinh phí đầu tư 151
3.4.2 Hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị 153
3.4.3 Ứng dụng phần mềm mã nguồn mở 154
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC
Trang 105
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Từ viết tắt tiếng Việt
1 BVHTT&DL Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
2 CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
3 CSDL Cơ sở dữ liệu
4 ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
5 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
6 HVCH Học viên cao học
7 NCS Nghiên cứu sinh
9 TT-TV Thông tin - Thư viện
2 Từ viết tắt tiếng Anh
1 AACR Quy tắc biên mục Anh - Mỹ
Anglo-American Catologuing Rules
2 ISBD Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả thư mục
International Standrad Bibliographic Description
3 MARC Khổ mẫu biên mục đọc máy
Machine Readable Catloguing
4 OPAC Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến
Online public access catalog
Trang 116
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 Danh mục các bảng
Bảng 1: Nội dung tài liệu người dùng tin quan tâm 57
Bảng 2: Nhu cầu về loại hình tài liệu của người dùng tin 61
Bảng 3: Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu của người dùng tin 66
Bảng 4: Nhu cầu về sản phẩm thông tin - thư viện của người dùng tin 69
Bảng 5: Nhu cầu về dịch vụ thông tin - thư viện của người dùng tin 71
Bảng 6: Thời gian rỗi sử dụng các hoạt động của người dùng tin 75
Bảng 7: Thống kê tài liệu bổ sung của Trung tâm TTTV-ĐHQGHN 87
Bảng 8: Khả năng sử dụng ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ 94
Bảng 9: Khả năng sử dụng các phần mềm của cán bộ thư viện 95
Bảng 10: Tình hình áp dụng chuẩn nghiệp vụ tại một số trường đại học 103
Bảng 11: Nhận xét của người dùng tin về chất lượng các loại sản phẩm và dịch vụ của thư viện 108
Bảng 12: Tổng hợp kinh phí bổ sung từ năm 2003 đến tháng 6 năm 2013 112
Bảng 13: Thống kê kinh phí bổ sung tài liệu 113
Trang 127
2 Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1: Tỉ lệ người dùng tin tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội 47
Biểu đồ 2: Tỉ lệ độ tuổi các nhóm người dùng tin tại thư viện các trường đại học
ở Hà Nội 48
Biểu đồ 3: Tỉ lệ giới tính các nhóm người dùng tin tại thư viện các trường đại học
ở Hà Nội 49
Biểu đồ 4: Tỉ lệ trình độ học vấn các nhóm người dùng tin tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội 50
Biểu đồ 5: Thời gian mỗi ngày người dùng tin sử dụng để đọc tài liệu 76
Biểu đồ 6: Nguồn khai thác thông tin của người dùng tin là cán bộ/giảng viên 78
Biểu đồ 7: Nguồn khai thác thông tin của người dùng tin là người học 79
Biểu đồ 8: Nhận xét của người dùng tin về vốn tài liệu của thư viện 89
Biểu đồ 9: Độ tuổi của cán bộ tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội 91
Biểu đồ 10: Ngành tốt nghiệp của đội ngũ cán bộ 92
Biểu đồ 11: Bậc cao nhất được đào tạo của cán bộ thư viện 93
Biểu đồ 12: Nhận xét của người dùng tin về vốn tài liệu của thư viện 114
Biểu đồ 13: Mức độ cập nhật nội dung tài liệu của thư viện 115
Biểu đồ 14: Mức độ phù hợp nội dung tài liệu với nhu cầu tin 116
Biểu đồ 15: Nhu cầu muốn đào tạo của cán bộ 146
Biểu đồ 16: Nhu cầu học lớp tra tìm tài liệu của người dùng tin 149
Trang 138
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, giáo dục đại học gắn liền với với việc chuyển giao tri
thức và nghiên cứu khoa học Đầu ra của hệ thống này là đội ngũ trí thức - nguồn
nhân lực phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội quốc gia Hệ
thống giáo dục đại học Việt Nam đang vận hành trong sự phát triển của cách mạng
khoa học - công nghệ, với những bước nhảy vọt chưa từng có Thế giới chuyển
mình từ kỷ nguyên công nghệ sang kỷ nguyên thông tin và phát triển tri thức, đồng
thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống
vật chất và tinh thần của xã hội Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công
nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu
hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở
nên thực tiễn hơn và nhanh chóng hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ
bản của sự phát triển kinh tế - xã hội Và giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa
học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại
Việc xây dựng và phát triển một nền giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu người đọc,
hướng đến việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, gắn với nhu cầu thực tế xã hội
là định hướng mà ngành giáo dục đã và đang hướng đến Một trong những nhân tố
đặc biệt quan trọng quyết định chất lượng giáo dục đại học chính là thư viện đại
học Và cụ thể hơn là khả năng đáp ứng nhu cầu tin của các thư viện đại học
Viện trường Viện Đại học Illinois, Edmund Jamess đã viết: “Trong những cơ
sở phòng hay phòng ban của một trường đại học, không có cơ sở nào thiết yếu hơn
thư viện đại học Ngày nay không một công trình khoa học nào có giá trị đích thực
mà không có sự trợ giúp của thư viện, ngoại trừ những trường hợp phi thường của
những thiên tài thỉnh thoảng xẩy ra trong lịch sử nhân loại, đó là những trường hợp
ngoại lệ” Đầu tư cho thư viện là đầu tư cho giáo dục, là một đầu tư đặc biệt về kinh
tế mà hệ quả của sự đầu tư được đo lường bởi chất lượng giáo dục, có tác động lớn,
lâu dài đến sự phát trển của một đất nước
Trang 149
Hiện nay vấn đề đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối
cảnh trên tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng
giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống
giáo dục Nắm bắt xu hội nhập, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công
nghệ, giáo dục đại học Việt Nam cũng đang chuyển mình thực hiện đổi mới nhằm
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Chính phủ đã ban hành Nghị Quyết Số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và
toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 Bắt đầu từ năm học
2007-2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đưa ra lộ trình đào tạo học chế tín chỉ
trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Hay quy chế Đào tạo Đại học và Cao
đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ trên phạm vi toàn quốc được ban hành theo
Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Các văn bản tựu chung lại thực chất của đổi mới giáo dục là “lấy người học làm
trung tâm” Đó là đổi mới cách dạy và học theo hướng tạo cho sinh viên chủ động
hơn trong tiếp thu kiến thức, lấy tự học, tự nghiên cứu là hoạt động quan trọng trong
hoạt động học Phương pháp đào tạo theo tín chỉ trở thành nhiệm vụ trọng tâm của
các trường đại học ở Việt Nam hiện nay Để thực hiện tốt sự đổi mới này đòi hòi
phải có sự chuyển biến toàn diện về cách vận hành chương trình đào tạo, mô hình
quản lý đào tạo cũng như cơ sở vật chất, khả năng cung cấp nguồn học liệu, nhu cầu
tin đáp ứng người dùng tin tại các cơ sở đào tạo
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay, nhu cầu tin của người
dùng tin ngày càng phong phú và đa dạng hơn Nhu cầu này đòi hỏi phải được cung
cấp đầy đủ, chính xác, liên tục và kịp thời Vì vậy, việc phát triển nhu cầu tin, tăng
cường khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin trở thành một nhiệm vụ
trọng tâm của thư viện các trường đại học nước ta hiện nay Đặc biệt tại Hà Nội -
Thủ đô của đất nước, trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học và giáo dục, nơi tập
trung nhiều cơ quan của trung ương, các bộ ngành, các viện và trung tâm nghiên
cứu….và trường đại học lớn có uy tín và thương hiệu của đất nước Công tác phát
triển nhu cầu tin, đáp ứng nhu cầu tin tại thư viện các trường đại học ở Hà Nội trong
Trang 1510
nhiều năm qua đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin, góp phần
đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, với bối cảnh mới, xu thế mới,
thì công tác này cần được tăng cường và chú trọng hơn nữa
Nghiên cứu thực trạng nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin tại thư
viện các trường đại học ở Hà Nội để từ đó đánh giá và đưa ra những giải pháp góp
phần tăng cường nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu cầu tin, nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo đại học có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Vì vậy, tác giả lựa
chọn đề tài “Nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng của thư viện
các trường đại học ở Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nhu cầu tin đã có nhiều công trình khoa học cũng như các bài
báo, luận văn của các tác giả ở các cơ quan thông tin - thư viện từ trung ương tới địa
phương, các cơ sở đào tạo ngành thông tin - thư viện…Các công trình nghiên cứu ở
nhiều mức độ, khía cạnh và phương pháp khác nhau nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ bạn đọc, thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của người dùng, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo
* Luận văn
Đã có một số công trình nghiên cứu của các học viên tại các cơ sở đào tạo
sau đại học Có thể kể đến một số công trình như “Nghiên cứu nhu cầu tin và đảm
thông tin tại Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong
giai đoạn đổi mới” (2007) của tác giả Đào Thị Thanh Xuân; “Nghiên cứu nhu cầu
tin của người dùng tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội” (2007) của tác giả
Phạm Thanh Huyền; “Nghiên cứu nhu cầu tin tại Trung tâm Thông tin thư viện Học
Viện Hành chính” (2011) của tác giả Vũ Thanh Thủy; “Nghiên cứu nhu cầu tin và
mức độ đáp ứng tại Trung tâm TT TL trường Đại học Hàng Hải” (2011) của tác giả
Ngô Văn Anh; “Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Quân đội”
(2012) của tác giả Linh Thị Thắm; “Nhu cầu tin và mức độ đáp ứng thông tin tại
trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật và du lịch Nha Trang” (2011) của tác giả Bùi
Thị Thanh Diệu; “Nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng tại thư viện trường
Trang 1611
đại học Phương Đông” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Chi; “Nhu cầu tin của người
dùng tin tại thư viện trường Cao đẳng kỹ thuật Cao Thắng” (2013) của tác giả Trần
Thị Tuệ…
Các công trình kể trên đã nghiên cứu thực trạng nhu cầu tin ở từng đơn vị cụ
thể Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra nhưng giải pháp có tính thuyết
phục nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu tin ở từng đơn vị
Hoặc như luận văn “Nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ quản lý tại Bộ Nội và
các cơ quan trực thuộc Bộ” (2011) của tác giả Nguyễn Bích Hạnh là công trình
nghiên cứu nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý tại Bộ Nội Vụ và
các cơ quan trực thuộc Bộ Là công trình nghiên cứu tổng hợp nhiều cơ quan,
hướng tới một nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý, công trình đã chỉ ra được
thực trạng nhu cầu tin, mức độ đáp ứng nhu cầu tin và đưa ra các giải pháp thỏa
mãn và phát triển nhu cầu tin của cán bộ quản lý có tính thuyết phục cao
Các công trình nghiên cứu ở từng đơn vị cụ thể, hay một nhóm các cơ quan
trực thuộc Bộ là cơ sở cho tác giả hình dung, so sánh về các khía cạnh cần nghiên
cứu trong luận văn
* Bài báo, bài trích tạp chí
Liên quan hoạt động của thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập, đã
có nhiều bài báo Cụ thể như: “Thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập”
của TS Lê Văn Viết và ThS Võ Thu Hương đăng trong tạp chí Thư viện Việt Nam
số 2, năm 2007 Bài báo đề cập tới vai trò của thư viện đại học, qua đó nhìn nhận
về thực tiễn thư viện đại học Việt Nam hiện nay, nêu ra những thách thức, và đưa ra
những giải pháp cho thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay
Hay “Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào
tạo theo tín chỉ” của ThS Nguyễn Văn Hành đăng trong tạp chí Thông tin và Tư
liệu, số 1 năm 2008 Bài báo đã nêu lên vai trò quan trọng của việc phát triển học
liệu trong thời kỳ đổi mới giáo dục đại học như hiện nay Cùng với đó là đưa ra các
giải pháp thiết thực nhằm phát triển nguồn học liệu đại học theo tín chỉ
Trang 1712
Có thể thấy, những bài viết nêu trên đã đưa ra những nhận định riêng của các
tác giả về hoạt động của thư viện đại học trong xu thế hội nhập hiện nay Vai trò của
thư viện đại học được khẳng định hơn nữa Các bài báo cũng chỉ ra nhiệm vụ tăng
cường phát triển nguồn học liệu đáp ứng xu thế, đáp ứng nhu cầu người dùng tin là
nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn hiện nay góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo
nói chung và chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam nói riêng
Bài “Nắm vững nhu cầu thông tin để phục vụ tốt cho công tác đào tạo và
nghiên cứu khoa học trong các trường đại học” của tác giả Trần Trọng Bảy được
tăng tài trên website: http://gralib.hcmuns.edu.vn/images/PDF/12-2000-4.pdf đã
đưa ra những cách thức để phân nhóm người dùng tin, nghiên cứu nhu cầu thông
tin, là tư liệu cho tác giả nghiên cứu trong đề tài của mình
Bài “Phát triển nhu cầu tin trong các thư viện công cộng” của PGS.TS Trần
Thị Minh Nguyệt đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 2 đã đưa ra một cách
nhìn tổng quan về hoạt động của hệ thống thư viện công cộng, cho thấy thực trạng
nhu cầu tin của người dùng tin theo các nhóm đối tượng, lý giải nguyên nhân của
thực trạng và đưa ra những giải pháp kiến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện, nâng cao
chất lượng hoạt động của các thư viện theo hướng phù hợp với nhu cầu, tâm lý, tập
quán và sử dụng thông tin của người dùng tin Bài báo đã đề cập vấn đề nhu cầu tin
ở một hệ thống thư viện khác, nhưng là cơ sở quan trọng cho tác giả hình dung, so
sánh giữa hệ thống thư viện công cộng và thư viện đại học ở Hà Nội về thực trạng
nhu cầu tin, mức độ đáp ứng nhu cầu tin của các đơn vị, đó là cơ sở quan trọng để
tác giả hoàn thiện luận văn của mình hơn
* Kỷ yếu Hội nghị, hội thảo
Đã có nhiều đơn vị trong nước đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, trao đổi về các
khía cạnh khác nhau của giáo dục đại học, của hoạt động thông tin - thư viện trong
trường đại học Có thể kể đến một số bài báo đăng trong một số kỷ yếu, hội thảo như:
“Liên thông chia sẻ nguồn lực thông tin - yếu tố quan trọng để các trung tâm thông
tin - thư viện đại học Việt Nam phát triển bền vững”, của tác giả Trần Thị Quý, , Kỷ
Trang 1813
yếu hội thảo kỷ niệm 10 năm thành lập trung tâm thông tin thư viện Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội; “Chất lượng đào tạo theo tín chỉ - thời cơ và thách thức đối với các
trung tâm thông tin - thư viện đại học” của tác giả Trần Thị Thanh Vân đăng trong kỷ
yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 33 năm đào tạo của ngành và 10 năm trở thành đơn vị
độc lập của trường đại học khoa học xã hội và nhân văn…
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu có liên quan khác về vấn đề
đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, vai trò của giáo dục nói chung, giáo dục đại
học nói riêng và những nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và hệ thống thư viện các
trường đại học Đây cũng thực sự là những tư liệu quý để tác giả nghiên cứu và triển
khai công trình của mình
Tóm lại, phần lớn các đề tài, bài báo khoa học cũng như các bài viết đăng
trong kỷ yếu hội thảo được tác giả thu thập và liệt kê ở trên cho thấy: Việc nghiên
cứu nhu cầu tin của người dùng tin, khả năng đáp ứng nhu cầu tin hầu hết dừng lại ở
việc đi sâu vào một cơ quan, đơn vị cụ thể Có thể là một thư viện đại học, thư viện
của viện hoặc là hệ thống thư viện công cộng Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề
cập tới đối tượng đang xem xét là thư viện các trường đại học ở Hà Nội Vì vậy đề
tài “Nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng của thư viện các trường
đại học ở Hà Nội” mà tác giả lựa chọn làm đề tài Luận văn của mình là hoàn toàn
mới, không trùng lặp với các công trình nào đã công bố trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, đánh giá nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng nhu
cầu tin của thư viện các trường đại học ở Hà Nội để từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm thỏa mãn hơn nữa nhu cầu tin của thư viện các trường đại học ở Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về nhu cầu tin của người dùng tin
- Nghiên cứu đặc điểm, vai trò của thư viện các trường đại học đối với sự
nghiệp đổi mới giáo dục đại học ở Hà Nội
Trang 1914
- Tìm hiểu thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện các trường
đại học ở Hà Nội
- Nghiên cứu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin và khả năng
đáp ứng của thư viện
- Đánh giá về khả năng đáp ứng nhu cầu tin của thư viện các trường đại học
ở Hà Nội
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của người
dùng tin
4 Giả thuyết nghiên cứu
Các Trung tâm Thông tin - Thư viện các trường đại học đang ngày càng vắng
bóng sinh viên, cán bộ đến sử dụng thông tin/tư liệu để nghiên cứu khoa học và giảng
dạy Câu hỏi đặt ra là phải chăng công tác phục vụ người dùng tin chưa tốt, nhu cầu
tin của họ chưa được đáp ứng, chưa được thỏa mãn và họ phải tìm tới địa điểm mới,
phương thức khai thác mới tốt hơn? Như vậy, đa phần các cơ quan thông tin - thư
viện các trường đại học tại Hà Nội chưa đáp ứng đủ nhu cầu tin của người dùng tin
Nguyên nhân từ đâu? Có thể từ công tác tổ chức, quản lý và phát triển nguồn lực
thông tin hay vì chưa đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các
trường đại học ở Hà Nội Nếu muốn vậy cần phải có công trình nghiên cứu đánh giá
thực trạng, khắc phục hạn chế thì có thể khẳng định: thư viện các trường đại học ở Hà
Nội có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu tin của người dùng tin, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục đại học ở Việt Nam nói chung, và ở Hà Nội nói riêng
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Nhu cầu tin
- Đặc điểm nhu cầu tin
- Quy mô nhu cầu tin
Trang 2015
- Cấu trúc nhu cầu tin
- Xu thế nhu cầu tin
- Các điều kiện đảm bảo để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin hiệu quả
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu đại diện 32 cơ quan thông
tin - thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội trong thời gian hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành Luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp:
6.1 Các phương pháp chung:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về hoạt động giáo dục đại học, hoạt động thông tin - thư viện trong
trường đại học
6.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
+ Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu;
+ Phương pháp nghiên cứu chọn mẫu đại diện
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: phát phiếu điều tra đối với 02 đối
tượng: cán bộ thư viện, cán bộ lãnh đạo và quản lý thư viện và người dùng tin;
Tác giả tiến hành phát phiếu điều tra tại 32 trung tâm thông tin - thư viện
trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Căn cứ quá trình khảo sát theo nhóm đối tượng, tác giả thống kê lại kết quả
khảo sát như sau:
- Tổng số phiếu phát ra: 300 phiếu
- Tổng số phiếu thu về: 279 phiếu (đạt tỉ lệ 93%) với 100 phiếu do cán bộ thư
viện trả lời và 179 phiếu do người dùng tin trả lời
Trang 2116
Danh mục các trường lấy phiếu khảo sát:
1 Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN
1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
1 Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN
1 Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
1 Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN
1 Khoa Luật, ĐHQGHN
1 Khoa Y - Dược, ĐHQGHN
1 Khoa Quốc tế, ĐHQGHN
2 Học viện An ninh nhân dân
3 Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
4 Học viện Báo chí và Tuyên truyền
5 Học viện Cảnh sát nhân dân
6 Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
7 Học viện Ngân hàng
8 Học viện Ngoại giao
9 Học viện Tài chính
10 Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam
11 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
12 Trường Đại học Công đoàn
13 Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
14 Trường Đại học Điện lực
15 Trường Đại học Giao thông Vận tải
16 Trường Đại học Hà Nội
17 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
18 Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
19 Trường Đại học Lao động - Xã hội
20 Trường Đại học Luật Hà Nội
21 Trường Đại học Mỏ Địa chất
Trang 2217
22 Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp
23 Trường Đại học Ngoại thương
24 Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
25 Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
26 Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh
27 Trường Đại học Thuỷ lợi
28 Trường Đại học Thương mại
29 Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
30 Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
31 Trường Đại học Y Hà Nội
32 Trường Đại học Thăng Long
Tác giả chọn mẫu khảo sát 32 trường dựa trên cơ sở lấy mẫu đại diện các
trường thuộc các lĩnh vực khác nhau như khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự
nhiên, khoa học ứng dụng… Đó là các trường đại học lớn, đảm bảo đa ngành, đa
lĩnh vực, có số lượng người dùng tin đông, hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, các trung tâm
thông tin - thư viện ngày càng được chú trọng và phát triển
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
7.1 Về mặt khoa học
Góp phần hoàn thiện lý luận về nhu cầu tin, người dùng tin Nghiên cứu các
khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin
7.2 Về mặt thực tiễn:
+ Giúp các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo trực tiếp các trường
đại học, cơ quan thông tin - thư viện đại học nhìn nhận lại mức độ đáp ứng nhu cầu
tin của thư viện mình để xây dựng chiến lược phát triển của thư viện và nhà trường,
tăng cường hơn nữa khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin
+ Nghiên cứu thực trạng đáp ứng nhu cầu tin, từ đó đưa ra các giải pháp thỏa
mãn nhu cầu tin sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong trường đại học,
phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục toàn cầu hiện nay
Trang 2318
+ Kết quả nghiên cứu là tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho các cơ sở đào tạo
ngành thông tin - thư viện, quản lý giáo dục và đào tạo để tham khảo và giảng dạy
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Dự kiến công trình nghiên cứu của tác giả sẽ là luận văn khoảng từ 100 đến
130 trang khổ giấy A4 với nội dung gồm 03 chương Sau nghiên cứu, tác giả sẽ
tổng hợp thêm các tư liệu để đăng 01 bài báo khoa học về nội dung này trên tạp chí
chuyên ngành
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về nhu cầu tin và khả năng đáp ứng của thư viện
các trường đại học ở Hà Nội
Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng
của thư viện các trường đại học ở Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin tại thư
viện các trường đại học ở Hà Nội
Trang 2419
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHU CẦU TIN VÀ KHẢ NĂNG
ĐÁP ỨNG CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm người dùng tin
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng
phục vụ của công tác thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là khách hàng của các
dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới
Người dùng tin là những người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của
mình Họ trước hết phải là người có nhu cầu tin, là chủ thể của nhu cầu tin Đó là
những con người cụ thể trong xã hội, bị chi phối bởi các mối quan hệ xã hội phức
tạp Nhu cầu tin thể hiện những mối quan hệ của con người và nằm trong nhu cầu
của con người
Người dùng tin cũng là người tiếp nhận và sử dụng thông tin Khi sử dụng
những sản phẩm và dịch vụ thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình, những chủ thể
trong xã hội đương nhiên trở thành người dùng tin
Người dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin Tương
tác hai chiều với các cơ quan thông tin - thư viện Vai trò đó được thể hiện:
Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị
thông tin
Người dùng tin tham gia và liên quan vào hết các giai đoạn của dây truyền
thông tin - tư liệu
Người dùng tin tham gia sản sinh ra thông tin mới
Mỗi người trong xã hội chỉ có thể trở thành người dùng tin của cơ quan
thông tin - thư viện khi họ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin để thỏa mãn
nhu cầu của mình
Trang 2520
1.1.2 Khái niệm nhu cầu tin
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý nằm trong cấu trúc tâm lý chung của con
người Các nhà tâm lý học Mác xít cho rằng nhu cầu là đòi hỏi khách quan của con
người với một đối tượng nhất định, trong những điều kiện nhất định, đảm bảo duy
trì cho sự sống và sự phát triển của con người
Nhu cầu của con người nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh
bên ngoài, trong đó quan trọng nhất là tác động của sản xuất vật chất Nhu cầu là sự
đòi hỏi tất yếu mà con người thất cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Tâm lý
học Mác xít phân chia nhu cầu thành 2 loại cơ bản:
+ Nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại của cơ thể như nhu cầu ăn, ở,
mặc…
+ Nhu cầu tinh thần bao gồm: nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu
lao động, nhu cầu giao lưu và nhu cầu hoạt động xã hội…
Nhu cầu tin là một dạng của nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con
người Đó là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng
xã hội) đối với sự tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của
con người
Nhu cầu tin phản ánh sự cần thiết thông tin của một cá nhân/ tập thể trong
quá trình thực hiện một hoạt động nào đó
Nhu cầu tin thay đổi tùy theo công việc và nhiệm vụ mà người dùng tin phải
thực hiện
“Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít, có thể coi nhu cầu tin là đòi hỏi
khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội), đối với việc tiếp nhận và sử
dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người”
Nhu cầu tin chỉ có thể hiện hữu khi đòi hỏi về thông tin của con người trở
nên cấp thiết
Trang 2621
“Nhu cầu tin nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau
của con người Thông tin về đối tượng hoạt động, về môi trường và phương tiện
hoạt động là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của con người Bất kỳ
hoạt động nào muốn đạt kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đầy đủ Hoạt
động càng phức tạp nhu cầu được cung cấp thông tin càng cao” [11, tr 34]
Ví dụ, trong lĩnh vực khoa học, nhu cầu tin tăng lên ở ba giai đoạn là chọn xu
hướng nghiên cứu và phát triển đề tài, lập kế hoạch và thực hiện đề tài Để chọn
phướng hướng, người dùng tin cần thông tin tổng quát, đầy đủ về các phương pháp
giải quyết vấn đề hiện tại mà đề tài đưa ra, các nhược điểm, ưu điểm của chúng về
bản chất Khi lập kế hoạch thực hiện đề tài đã chọn, người dùng tin cần những số
liệu chi tiết hơn về các nguồn lực và cách phân bố chúng Ở giai đoạn thực hiện,
người dùng tin lại càng cần thông tin chi tiết liên quan đến đối tượng đang nghiên
cứu Nhu cầu được cung cấp thông tin ngày càng cao khi thực hiện các bước phát
triển của kế hoạch
Với mỗi cá nhân, càng tham gia nhiều loại hoạt động khác nhau, nhu cầu tin
càng cao và đa dạng hơn Ở cấp độ xã hội, các lĩnh vực hoạt động xã hội càng đa
dạng, phức tạp, nhu cầu tin càng lớn, đòi hỏi được đáp ứng ở mức độ cao hơn Đồng
thời, nhu cầu tin phát triển cao lại tác động trở lại tới sự phát triển các hoạt động
sống của con người, góp phần phát triển xã hội
Mỗi người người dùng tin lại có những mức độ nhận thức về nhu cầu tin khác
nhau Có thể do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên người dùng tin cần có sự
giúp đỡ của người khác để diễn đạt được nhu cầu tin của mình Có thể người dùng tin
ở mức độ có những khái niệm nhất định về vấn đề, đối tượng mà họ quan tâm và có
thể diễn đạt được nhu cầu tin sau khi đã tham khảo ý kiến chuyên gia Và mức độ cao
hơn, người dùng tin có thể trình bày nhu cầu tin của mình một cách độc lập
Trên thực tế, dù ở mức độ nào, đa phần người dùng tin đều cần sự hỗ trợ của
cơ quan thông tin trong việc xác định nhu cầu tin của mình, để có sự phản hồi, đáp
ứng nhu cầu tin một cách hiệu quả nhất
Trang 2722
Nhu cầu tin của người dùng tin hình thành và phát triển dưới sự tác động của
hai nhân tố khách quan và chủ quan:
- Nhân tố khách quan: xu thế phát triển của thế giới trong từng điều kiện lịch
sử; Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong các giai đoạn lịch
sử cụ thể; Trình độ phát triển kinh tế; Sự phát triển khoa học và công nghệ; Môi
trường sinh thái; Sự phát triển văn hóa và giáo dục ở mỗi quốc gia, với mỗi điều
kiện lịch sử khác nhau là các nhân tố tác động tới nhu cầu tin của người dùng tin
- Nhân tố chủ quan: Nghề nghiệp; Trình độ hiểu biết; Trình độ văn hóa; Tâm
lý cá nhân; Môi trường sống gia đình; Truyền thống dòng tộc và cả các điều kiện
vật chất của cá nhân người dùng tin…
Như vậy, có thể thấy: Nhu cầu tin của người dùng tin là dạng nhu cầu tinh
thần đặc biệt, mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con
người, chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố khách quan và chủ
quan, là cơ sở, mục tiêu và động lực phát triển của con người xã hội nói chung, đặc
biệt là hoạt động thông tin Nhu cầu tin chính là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ
của hoạt động thông tin, là nguồn gốc tạo ra hoạt động thông tin
Nhu cầu tin với tư cách là một loại nhu cầu tinh thần của con người, vừa có
những đặc điểm của nhu cầu nói chung và vừa có những nét riêng biệt Theo tác giả
Trần Thị Minh Nguyệt, nhu cầu tin có những đặc điểm sau:
(1) Tính xã hội của nhu cầu tin: “Nhu cầu tin là một dạng nhu cầu tinh thần
của con người, nên chịu sự chi phối trực tiếp của các yếu tố văn hóa, gắn bó mật
thiết với các điều kiện văn hóa xã hội Đời sống văn hóa quy định mức độ phong
phú của hệ thống nhu cầu tinh thần của con người Nội dung nhu cầu tin do trình độ
văn hóa chung quyết định.” [11, tr.35]
Trình độ sản xuất vật chất, đời sống kinh tế xã hội là các điều kiện kinh tế
chi phối phương thức thỏa mãn nhu cầu tin, qua đó ảnh hưởng tới sự phát triển nội
dung nhu cầu tin Bởi lẽ xét tới cùng, thì sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự
phát triển của xã hội, trong đó có đời sống tinh thần Và nhu cầu tin là một dạng của
đời sống tinh thần đó
Trang 2823
Các quan hệ xã hội cũng thường xuyên tác động tới đời sống tinh thần mỗi
người dùng tin Đặc biệt lá các quan hệ chính trị, xã hội ảnh hưởng lớn tới xu hướng
hình thành và phát triển nhu cầu tin
(2) Tính bền vững của nhu cầu tin: “Nhu cầu tin khi được hình thành sẽ tồn
tại trong những điều kiện nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định Nó
phụ thuộc vào các điều kiện bên trong và các yếu tố bên ngoài tác động Nhu cầu tin
tồn tại và phát triển theo chu kỳ nhất định, nhưng độ dài của chu kỳ nhu cầu tin có
thể thay đổi phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài, đặc biệt là khả năng đáp ứng
nhu cầu của môi trường bên ngoài Nếu được thỏa mãn tối đa, chu kỳ của nhu cầu
tin sẽ ngày càng được rút ngắn Và ngược lại, nếu không được thỏa mãn một cách
đầy đủ, chu kỳ của nhu cầu tin sẽ kéo dài hơn” [11, tr.35]
(3) Tính cơ động của nhu cầu tin: “Nếu nhu cầu tin được thỏa mãn đầy đủ,
nhu cầu sẽ phát triển sâu rộng hơn về nội dung và đòi hỏi phương thức thỏa mãn
cao hơn Nếu không được thỏa mãn thường xuyên trong thời gian dài và liên tục thì
cường độ nhu cầu tin sẽ giảm dần , thoái hóa dần và có thể bị tiêu diệt
Nhu cầu tin có vai trò quan trọng, là nguồn gốc của hoạt động thông tin - thư
viện Nhu cầu tin là mục đích để tồn tại và phát triển của bất cứ cơ quan thông tin -
thư viện nào Vì vậy, nắm bắt nhu cầu tin là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo
triển khai hoạt động thông tin - thư viện phát triển và hiệu quả.” [11, tr.35]
1.1.3 Khái niệm mức độ đáp ứng nhu cầu tin
Nhu cầu tin là một đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận
và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người Thì mức độ đáp
ứng nhu cầu tin là khả năng cung cấp thông tin, đáp ứng nhu cầu tin của cơ quan
thông tin đối với người dùng tin Đó là việc các cơ quan thông tin làm thỏa mãn nhu
cầu tin của người dùng tin đến đâu, và người dùng tin hài lòng như thế nào với việc
được cung cấp thông tin cho yêu cầu tin của mình
Mỗi cơ quan thông tin - thư viện có khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho
người dùng tin khác nhau Nó phụ thuộc vào tổ chức hoạt động của từng cơ quan
Trang 2924
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội như hiện nay, nhu cầu tin của người
dùng tin ngày càng đa dạng và phong phú, các cơ quan thông tin - thư viện đang
cố gắng và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động của mình nhằm nâng cao chất lượng phục
vụ, đáp ứng nhu cầu tin Tuy nhiên, nhìn chung khả năng đáp ứng nhu cầu tin của
các cơ quan còn hạn chế so với nhu cầu tin ngày càng tăng lên của người dùng Vì
vậy, việc đẩy mạnh tổ chức hoạt động thư viện, nghiên cứu khả năng đáp ứng,
phát triển nhu cầu tin của người dùng là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan
thông tin - thư viện hiện nay
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin
Người dùng tin là một thực thể xã hội, bị chi phối bởi các điều kiện xã hội
nhất định Nhu cầu tin của họ vì vậy sẽ có những điểm khác biệt và luôn biến động
Nhu cầu tin của người dùng tin sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan và
khách quan trong quá trình hình thành và phát triển Các yếu tố đó là môi trường
kinh tế xã hội; Ngành nghề đào tạo; Độ tuổi; Giới tính; Tâm lý; Phương pháp giảng
dạy của Thầy; Vai trò của Đoàn thanh niên - Hội sinh viên Cụ thể:
1.2.1 Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội là yếu tố có tác động lớn tới đời sống vật chất, tinh
thần của con người Nhu cầu tin là một dạng của đời sống tinh thần, và các điều kiện
về đời sống kinh tế, xã hội chính là các điều kiện kinh tế chi phối phương thức thỏa
mãn nhu cầu tin, qua đó ảnh hưởng tới sự phát triển nhu cầu tin của người dùng tin
Xét cho cùng, sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội
Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng lớn tới điều kiện sống của con người Điều
kiện kinh tế không phải là yếu tố quyết định trong việc hình thành và phát triển tâm
lý, nhưng là yếu tố để lại dấu ấn nhất định Những vùng quốc gia, lãnh thổ khác
nhau có những điều kiện cư trú, sinh hoạt khác nhau, và để tồn tại cùng thực tiễn,
con người luôn tìm hiểu tự nhiên, thích nghi cũng tự nhiên Từ đó hình thành lên
những đặc điểm văn hóa, lối sống, xu hướng hoạt động khác nhau, với những nhu
cầu khác nhau Ví dụ, để tồn tại trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, con người cần
Trang 3025
nhu cầu thông tin về quy luật vận động phát triển của hiện tượng tự nhiên đó, để tìm
các thích nghi và ứng phó với những biến động xảy ra Nhu cầu tự bảo vệ để phát
triển đó của con người sẽ chi phối lên các nhu cầu khác Hay, khi con người có một
điều kiện nhất định về cuộc sống vật chất, con người sẽ hình thành những nhu cầu
khác về tinh thần nhằm thỏa mãn và đáp ứng tốt hơn cuộc sống hiện tại…
Nhu cầu tin nằm trong hệ thống nhu cầu chung rất đa dạng và phong phú của
mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, do đó nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của
các điều kiện môi trường xã hội
Đời sống văn hóa tinh thần phong phú là điều kiện quan trọng hàng đầu cho
nhu cầu tin phát triển Nền văn hóa càng đa dạng, phát triến sẽ sản sinh ra thông tin
đa dạng, những thông tin đó sẽ được lưu giữ và lưu truyền bằng những phương tiện,
hình thức khác nhau để có thể bảo quản và lưu truyền cho các thế hệ sau Nhu cầu
tin được thỏa mãn sẽ ngày càng bền vững và sâu sắc hơn
Tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp
tới nhu cầu tin của người dùng tin Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai
đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người
trong giai đoạn đó Trình độ sản xuất càng cao đòi hỏi phải có nhiều thông tin và
kiến thức hơn, đồng thời cũng sản sinh ra các phương tiện truyền tin hiện đại hơn
Ngày nay, với các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tài liệu điện tử ngày càng
phổ biến, thay thế các dạng tài liệu truyền thống như giấy, hay sự phát triển của
Internet ngày càng phổ biến cùng với đời sống vật chất phát triển, đã ảnh hưởng
lớn tới đời sống văn hóa, tinh thần của con người trong xã hội, trong đó có nhu cầu
tin, nhu cầu tin thần đặc biệt của con người
Các quan hệ xã hội cũng thường xuyên tác động tới đời sống tinh thần mỗi
người dùng tin Đặc biệt là các quan hệ chính trị, xã hội ảnh hưởng lớn tới xu hướng
hình thành và phát triển nhu cầu tin Nếu các quan hệ xã hội lành mạnh, hài hòa và
chế độ dân chủ góp phần làm cho con người tự do hơn, đời sống tinh thần phong phú
hơn, vì vậy mà nhu cầu tin của con người càng được kích thích và phát triển hơn
Trang 3126
1.2.2 Ngành nghề đào tạo
Ngành nghề đào tạo là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người
dùng tin Đặc thù của các trường đại học tại Hà Nội đó là đào tạo đa ngành, đa nghề
Theo xu hướng hiện nay, các trường đại học đều hướng tới đa dạng hóa ngành nghề
đào tạo Do vậy nhu cầu tin của trường đại học là rất đa dạng và phong phú
Có thể kể đến các ngành nghề đào tạo trong các trường đại học như: khoa
học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên (cơ bản), khoa học kỹ thuật và công
nghệ, giáo dục, luật, kinh tế và thương mại Các ngành nghề đào tạo này ảnh hưởng
trực tiếp đế đặc thù nhu cầu về tài liệu của người dùng tin Thư viện các trường đại
học dựa trên các ngành nghề đạo tạo để bổ sung các nguồn học liệu phù hợp
Xác định đúng đối tượng, ngành nghề để phục vụ nhu cầu tin là một trong
những yêu cầu quang trong đối với các thư viện đại học Đối với các trường đào tạo
đa ngành, việc cân bằng phục vụ các ngành nghề khác nhau là một bài toán khó
Thực tế không thể đáp ứng tốt tất cả các ngành đào tạo Do vậy cần phải nghiên
cứu, lựa chọn và ưu tiên một số ngành nghề trọng điểm, một số ngành nghề có nhu
cầu tin cao để đáp ứng Bên cạnh đó cũng phải đáp ứng tối thiểu các ngành nghề
khác để tạo ra sự cân bằng về đào tạo trong một trường đại học
1.2.3 Độ tuổi
Mỗi giai đoạn lứa tuổi trong cuộc đời con người có những đặc điểm tâm lý
riêng do hoạt động chủ đạo chi phối Các đặc điểm tâm lý lứa tuổi có ảnh hưởng
khá rõ rệt tới nội dung và phương thức thỏa mãn nhu cầu đọc và nhu cầu tin
Tâm lý học phân chia cuộc đời con người thành bốn giai đoạn lứa tuổi tương
ứng với những hoạt động chủ đạo có tính chất khác nhau: giai đoạn trước tuổi học;
giai đoạn học tập; giai đoạn tham gia lao động sản xuất; giai đoạn nghỉ lao động
Nội dung nhu cầu tin bị chi phối bởi các hoạt động chủ đạo của từng giai
đoạn lứa tuổi Ví dụ trẻ em thích đọc sách thiếu nhi; thanh niên thích đọc tiểu thuyết
tình cảm; trung niên có xu hướng ưu tiên các thông tin gắn với lĩnh vực hoạt động
nghề nghiệp; người già thích đọc sách y học và bảo vệ sức khỏe…
Trang 3227
Những đối tượng người dùng tin trong độ tuổi tham gia lao động sản xuất
nhìn chung đã có nhân cách định hình, họ tham gia lao động để nuôi sống mình và
người thân Vì vậy, trong giải quyết công việc và trong sinh hoạt dùng lí trí là chủ
yếu, nhu cầu tin nảy sinh cũng rõ ràng và cụ thể Những đối tượng người dùng tin là
trẻ em, là đối tượng nhân cách đang hình thành và phát triển, tư duy cụ thể hình
tượng chiếm ưu thế trong quá trình nhận thức Trong hoạt động sinh hoạt, ứng xử
còn nặng về cảm tính Vì vậy, nhu cầu tin cũng đơn giản và ít chuyên sâu
Phương thức thỏa mãn nhu cầu tin cũng bị chi phối bởi các đặc điểm tâm lý
lứa tuổi Ví dụ thanh niên thích tìm kiếm thông tin qua các phương tiện hiện đại,
mới mẻ; người già thích sử dụng các phương tiện truyền thống, quen thuộc…
1.2.4 Giới tính
Do đặc điểm sinh lý khác nhau, các giới khác nhau có những đặc điểm tâm
lý khác nhau Vì vậy cũng ảnh hưởng tới nhu cầu tin của người dùng tin
Nam giới thường có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, tự tin, độc lập, chủ
động, thích tìm tòi cái mới, giải quyết vấn đề theo tư duy logic…Vì vậy, thường có
nhu cầu tin cao trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, và thường tiếp cận nhanh với
các phương tiện tìm tin và các dịch vụ thông tin hiện đại, chất lượng cao Nữ giới
thì thường có tính cách dịu dàng, mềm mại, tế nhị, và thiên về tính cảm trong xử lý
công việc và đời sống Vì vậy, họ có nhu cầu văn hóa nghệ thuật chiếm ưu thế
Phương tiện tìm tin truyền thống thường thu hút sự quan tâm của họ hơn là các
phương tiện hiện đại
1.2.5 Tâm lý
Tâm lý cá nhân là một yếu tố có ảnh hưởng lớn tới nhu cầu tin của người
dùng tin “Trong xã hội hiện đại có nhiều biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã
hội, văn hóa như hiện nay, khi mà các đặc điểm nhân cách như sự tích cực hoạt
động, khả năng độc lập trong tư duy, hay những phẩm chất ý chí trở thành chìa khóa
thành công của mỗi người, thì những đặc điểm tâm lý cá nhân có ý nghĩa hết sức
Trang 3328
quan trọng.” [21, tr.25] Chính những đặc điểm cá nhân mang tính bẩm sinh của mỗi
người góp phần xác định việc hình thành xu hướng phát triển nhân cách, hình thành
phong cách hoạt động và giao tiếp của cá nhân, đảm bảo cho sự tối ưu của quá trình
xã hội hóa ở mỗi người
Đặc điểm tâm lý cá nhân là quy luật tâm lý cơ bản để phân biệt người này
với người kia về mặt tâm lý, trong đó có bốn yếu tố tâm lý quan trọng cần chú ý là:
xu hướng, tính khí, tính cách và năng lực
Xu hướng là đặc điểm tâm lý cá nhân biểu hiện thành mục đích, mục tiêu
sống của con người, hướng con người dồn cả tâm huyết cuộc đời để đạt được
nó Xu hướng của con người là hướng hoạt động, ý định vươn tới trong thời hạn lâu
dài để hình thành mục đích, mục tiêu, thái độ, cách sống trong xã hội, trong cộng
đồng Xu hướng của con người thể hiện qua nhu cầu, hứng thú, niềm tin, lý tưởng,
thế giới quan của họ, biểu hiện trong quá trình sống
Tính khí là biểu hiện của cấu trúc thần kinh, bộ não của con người; mang
tính di truyền, thuộc yếu tố sinh lý của con người, biểu hiện sự bẩm sinh của hệ thần
kinh vàđặc điểm khác trong cơ thể con người và có tác động to lớn đến hành vi
sống Tính khí là thuộc tính tâm lý phức tạp của cá nhân biểu hiện cường độ, tiến
độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện phần nhiều qua các sắc thái của cử
chỉ, cách nói năng của cá nhân
Tính cách là những thuộc tính tâm lý phức tạp của cá nhân bao gồm một hệ
thống thái độ của cá nhân, thể hiện qua cử chỉ, cách ăn nói, phản ứng Tính cách
mang tính ổn định, bền vững và là sự thống nhất của những nét độc đáo, riêng biệt,
điển hình của mỗi cá nhân
Năng lực là sự kết hợp giữa các tư chất tự nhiên vốn có của con người với
các hoạt động tích cực của mỗi cá nhân thông qua môi trường, hoàn cảnh nhất định
Xu hướng, tính khí, tính cách và năng lực là bốn yếu tố cơ bản của tâm lý cá
nhân
Trang 3429
Nhu cầu là một bộ phận cấu thành xu hướng - một thuộc tính quan trọng của
nhân cách con người Trong mỗi người luôn tồn tại một hệ thống các nhu cầu có
quan hệ tương hỗ với nhau, định hướng cho hệ thống hoạt động của họ trong những
thời điểm nhất định, đồng thời lại bị chi phối bởi chính những thuộc tính tâm lý
khác của họ Nhu cầu tin, nảy sinh trong quá trình hoạt động của con người, cũng
nằm trong hệ thống nhu cầu đó và chịu sự ảnh hưởng của tâm lý mỗi người
Những đặc điểm tâm lý cá nhân giúp hình thành lên nhân các con người Và
nhân cách càng hoàn thiện, phát triển, con người càng có khả năng tham gia nhiều
loại hoạt động khác nhau, nhu cầu tin càng cao và phong phú hơn
Những đặc điểm tâm lý riêng của mỗi người sẽ tạo nên phong cách hành vi
đặc trưng trong quá trình tìm kiếm, truy cập thông tin, tạo nên tập quán sử dụng
thông tin riêng biệt của mỗi người hay từng nhóm người dùng tin khác nhau
1.2.6 Phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nhu cầu
tin của người dùng tin Vai trò và sự chủ động của giảng viên và sinh viên tham gia
vào hoạt động giảng dạy và học tập quyết định đến nhu cầu tin tại các trường đại
học Hiện nay đang tồn tại hai phương pháp giảng dạy trong các trường đại học đó
là: phương pháp giảng dạy truyền thống - thụ động và phương pháp giảng dạy tích
cực - chủ động
Phương pháp giảng dạy thụ động: lấy giáo viên làm trung tâm với hoạt động
chính là thầy giảng và trò chép Đây là phương pháp đã được sử dụng khá phổ biến
trong các trường đại học ở Việt Nam Sinh viên dựa hoàn toàn vào bài giảng của
giảng viên, học theo tài liệu giảng viên cung cấp vả trả bài theo giáo trình, bài giảng
của thầy Với cách dạy này, học sinh không được khuyến khích tìm hiểu, khám phá
kiến thức thông qua những tài liệu đọc thêm, thay vào đó chỉ chú tâm học tốt và học
thuộc những gì có trong bài giảng của thầy để thi hết môn Với cách dạy này, sinh
viên không cần đến thư viện cũng có thể hoàn thành môn học Như vậy nhu cầu tin
là rất ít
Trang 3530
Phương pháp giảng dạy chủ động: lấy người học làm trung tâm với hoạt
động chính là tự học, tự nghiên cứu và phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh
viên Giảng viên chỉ là người khơi gợi, khơi khơi khám phá tri thức, sinh viên là
người phải tự tìm hiểu, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giảng viên Giảng viên
đưa ra các chủ đề, sinh viên phải tự tìm tài liệu, tự nghiên cứu vấn đề, làm bài tập cá
nhân hoặc nhóm, trình bài kết quả nghiên cứu, viết bài luận Với phương pháp
giảng dạy và học tập này, sinh viên nhất thiết phải cần đến thư viện, cần đến những
nguồn thông tin đã được thẩm định bởi thư viện Nhu cầu tin đối với phương pháp
giảng dạy này là rất lớn
1.2.7 Vai trò của đoàn thanh niên và hội sinh viên
Đoàn thanh niên và hội sinh viên là hai tổ chức không thể thiếu của sinh viên
các trường đại học Các tổ chức này thường tổ chức các khóa học, các cuộc thi liên
quan đến kỹ năng mềm, tin học văn phòng, tuyên truyền giới thiệu sách, đổi mới
phương pháp học tập, các câu lạc bộ chuyên ngành, câu lạc bộ ngoại ngữ
Các hoạt động này lôi cuốn và thu hút sinh viên tham gia Thông qua đó phát
sinh nhu cầu tin từ các hoạt động của đoàn, hội Chính từ các hoạt động chung của
đoàn hội, sinh viên ý thức được tầm quan trọng của nguồn học liệu, tầm quan trọng
của kiến thức chuyên môn, sự hiểu biết cặn kẽ về một vấn đề Điều này đã cởi trói
có lối suy nghĩ, cách học vẹt của sinh viên, hướng họ tới sự đam mê, khám phá và
tìm kiếm tri thức mới Đây chính là cơ sở để thúc đẩy nhu cầu tin trong sinh viên
Các tổ chức đoàn, hội trong nhà trường thường kết hợp với thư viện để triển
khai các hoạt động chung liên quan đến chuyên môn, học tập của sinh viên Đây
chính là cơ hội tốt để thư viện kết hợp với tổ chức đại diện chính thức cho sinh viên
để nghiên cứu nhu cầu tin và đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu này
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tin
1.3.1 Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Trong hoạt động thông tin - thư viện, sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện đóng một vai trò quan trọng, đó chính là công cụ, phương tiện và là cầu nối
Trang 3631
giữa người dùng tin với nguồn lực thông tin, giúp họ truy cập, khai thác các nguồn
tin một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
còn giúp việc trao đổi và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin Vì
vậy, chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện được coi là thước
đo hiệu quả hoạt động thông tin, là yếu tố quan trọng để các thư viện hoàn thành tốt
các chức năng và nhiệm vụ của mình trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay
Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là yếu tố tác động quan trọng
ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Để thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin cho người dùng tin, cơ quan
thông tin - thư viện phải quản lý tốt nguồn tin của mình Vì vậy, sản phẩm và dịch
vụ thông tin còn giúp các cơ quan thông tin - thư viện quản lý, kiểm soát tốt và cung
cấp chúng một cách hiệu quả tới người dùng tin
Bên cạnh đó, sản phẩm và dịch vụ thông tin giữ vai trò nâng cao năng lực
khai thác thông tin và thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin;
Nếu chất lượng sản phẩm và dịch vụ cao thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin
cho người dùng tin của các cơ quan càng đạt hiệu quả Điều đó chứng tỏ sự tổ chức
và quản lý tốt hoạt động của cơ quan Nếu chất lượng sản phẩm và dịch vụ còn hạn
chế, sẽ tác động trực tiếp tới nhu cầu người dùng, là sự chưa thỏa mãn, chưa hài
lòng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tin của mình
Vì vậy, chất lượng sản phẩm và dịch vụ là yếu tố tác động trực tiếp, ảnh
hướng tới khả năng đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin tại các cơ quan thông
tin - thư viện nói chung, và các cơ quan thông tin - thư viện đại học nói riêng
1.3.2 Vốn tài liệu và sự hợp tác chia sẻ thông tin
Vốn tài liệu/nguồn tin có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thông tin đầy
đủ, kịp thời cho người dùng tin Ngày nay, nhu cầu tin của người dùng tin ngày
càng phong phú và đa dạng Việc đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin chịu sự
tác động lớn bởi vốn tài liệu/nguồn tin tại các thư viện Để thư viện các trường đại
học thật sự là nơi đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục, đòi hỏi phải tăng cường
Trang 3732
vốn tài liệu, đảm bảo về nội dung, bao gồm đầy đủ về sách giáo khoa, giáo trình
sách tham khảo chuyên ngành phù hợp với ngành nghề đào tạo của nhà trường Bên
cạnh đó các nguồn thông tin được bổ sung từ các bài báo cáo khoa học, các báo cáo
ngoại khóa theo chuyên đề vốn tài liệu phải đa dạng về thể loại: ngoài các loại tài
liệu sách, báo, tạp chí truyền thống, cần thu thập đầy đủ các sản phẩm thông tin ở
bất kỳ nơi nào và dưới bất cứ dạng nào, và cả về số lượng và chất lượng
Trong thời kỳ đổi mới giáo dục đại học hiện nay, việc chuyển đổi phương
thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ đòi hỏi những thách thức đặt ra đối với các cơ
quan thông tin - thư viện Bởi lẽ, khi thực hiện phương thức đào tạo theo học chế tín
chỉ, để đạt yêu cầu mỗi môn học, sinh viên cần tham khảo lượng tài liệu khá lớn
Với rất nhiều chuyên ngành đào tạo trong một trường, mỗi chuyên ngành lại triển
khai nhiều môn học khác nhau, số lượng tài liệu tối thiểu cần đảm bảo phục vụ học
tập sẽ rất lớn, khó có thể tập trung trong một thư viện, do điều kiện kinh phí có hạn
mà thông tin khoa học đang trong quá trình gia tăng mạnh mẽ Trong khi đó, có rất
nhiều môn học sẽ được giảng dạy trong nhiều trường đại học khác nhau và trong
những thời điểm khác nhau Vì vậy, việc chia sẻ nguồn lực thông tin là hết sức cần
thiết Điều đó giúp các cơ quan thông tin - thư viện tiết kiệm được kinh phí chung,
đồng thời sử dụng tối đa các nguồn lực thông tin của các trường đại học
Đặc biệt việc chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ sở đào tạo có liên quan
ngoài nước sẽ tạo cơ hội giao lưu và cập nhật kiến thức mới cho giảng viên và sinh
viên nhanh nhất
Quá trình chia sẻ nguồn lực thông tin sẽ đạt hiệu quả cao khi nguồn lực
thông tin của các trung tâm thông tin đã được điện tử hoá, được quản lý và khai thác
bằng những phần mềm thích hợp và đạt chất lượng cao
Hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các thư viện trường đại học sẽ là sự phát
triển tất yếu hiện nay Lợi ích của việc hợp tác và chia sẻ là hết sức lớn và cần thiết,
tạo ra sự gắn kết và hợp tác giữa các đơn vị để cùng phát triển Nguồn lực thông tin
của các đơn vị ngày càng được tăng cường và ngày càng đáp ứng được nhu cầu
đang ngày càng gia tăng của người dùng tin
Trang 3833
1.3.3 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển với tốc độ nhanh chóng và thâm
nhập vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người Tại mọi nơi, đã diễn ra
những thay đổi đột biến, mang tính chất như cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện
Trong khu vực các cơ quan thông tin - thư viện, và cụ thể hơn, trong quá trình tổ
chức và thực hiện các sản phẩm dịch vụ, điều đó được thể hiện hết sức rõ ràng
Công nghệ thông tin và truyền thông tác động tới tổng thể tổ chức và hoạt động của
một thư viện cụ thể
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị đã khẳng định: Công
nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng
một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế văn
hóa của thế giới hiện đại
Đối với ngành thông tin - thư viện, công nghệ thông tin và truyền thông
không phải chỉ là ứng dụng quan trọng cho ngành mà hiện nay công nghệ thông tin
và truyền thông chính là nghiệp vụ của thư viện hiện đại Việc quản lý thông tin
được xem như là thành quả của công nghệ thông tin
Ứng dụng công nghệ thông tin là một biện pháp hết sức cơ bản nhằm thực
hiện mục tiêu hiện đại hóa thư viện Nó là cơ sở cho các nhà quản lý xây dựng các
quy hoạch, kế hoạch, đề xuất các giải pháp, biện pháp có hiệu quả nhằm sự nghiệp
thư viện của đơn vị nhanh chóng hiện đại hóa đáp ứng các yêu cầu phát triển của
đất nước trong thời kỳ đổi mới giáo dục
1.3.4 Đội ngũ chuyên gia thông tin
Trong tất cả các yếu tố góp phần làm tăng chất lượng, hiệu quả của hoạt
động quản lý và khai thác thông tin thư viện, yếu tố con người là quan trọng nhất và
mang tính quyết định Cán bộ thư viện là cầu nối giữa nguồn tài nguyên thông tin
và người dùng tin
Trang 3934
Để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng, đặc biệt với yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay, đội ngũ chuyên gia thông tin, cán bộ
thư viện góp phần quyết định Họ phải là người chủ động giới thiệu, cung cấp
nguồn thông tin phong phú, đa dạng Đồng thời, phải tạo môi trường thân thiện,
thông thoáng, chuyên nghiệp không chỉ bằng khả năng chuyên môn, nghiệp vụ giỏi
mà còn bằng khả năng giao tiếp tốt
Đội ngũ chuyên gia thông tin, cán bộ thư viện ngày nay không thể chỉ là
những người “thủ kho giữ tài liệu” mà còn phải là nhà định hướng thông tin; năng
động, có trình độ ngoại ngữ, tin học để chỉ ra những tài liệu độc giả cần một cách
nhanh nhất, chính xác nhất Bên cạnh đó, họ phải luôn có ý thức trách nhiệm động
viên, nuôi dưỡng thói quen và sự hứng thú đọc sách, tìm kiếm nguồn tin cho người
dùng tin Điều đó sẽ nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng, thỏa mãn nhu cầu tin
và kích thích nhu cầu tin của người dùng phát triển Đó là nhiệm vụ hàng đầu mà
các cơ quan thông tin - thư viện hướng tới Bởi lẽ, nó là thước đo hiệu quả hoạt
động của mỗi cơ quan
Ngày nay, đội ngũ chuyên gia thông tin, cán bộ thư viện còn biết cách cộng
tác và tranh thủ sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo trong nhà trường và đội ngũ giảng
viên là điều cơ bản nhất cho sự thành công của các hoạt động thư viện Cán bộ thư
viện phải tìm những cơ hội để có quan hệ mật thiết hơn với các giảng viên nhằm
cung cấp thông tin, hỗ trợ họ trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và chính giảng
viên lại là người cung cấp những thông tin có giá trị để phát triển bộ sưu tập và các
dịch vụ của thư viện Với sự cung cấp và phản hồi thông tin, nhu cầu tin như vậy,
việc thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu tin sẽ càng được chính xác và hiệu quả hơn
Có thể thấy, để nâng cao chất lượng phục vụ người đọc, vai trò của đội ngũ
chuyên gia thông tin, cán bộ thư viện là không thể phủ nhận Cùng với sự xuất hiện
của một số loại hình thư viện mới như viện điện tử, thư viện ảo song vai trò của
người cán bộ thư viện không mất đi mà trở nên quan trong hơn bao giờ hết, đòi hỏi
người cán bộ thư viện luôn được nâng cao trình độ thì mới có khả năng đáp ứng
được yêu cầu phong phú và đa dạng của người dùng tin
Trang 4035
1.3.5 Áp dụng chuẩn nghiệp vụ thông tin - thƣ viện
Áp dụng chuẩn nghiệp vụ thông tin - thư viện là yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin Một mặt nó tác động
tới cán bộ thư viện làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ Mặt khác, tác động trực
tiếp tới người dùng tin khi sử dụng các công cụ tra cứu để tìm kiếm, khai thác
thông tin
Chuẩn nghiệp vụ, hiểu một cách khái quát, là những tiêu chuẩn được nghiên
cứu, lựa chọn và sử dụng cho cán bộ xử lý dựa vào đó mà đối chiếu, so sánh để thực
hiện các công đoạn của nghiệp vụ thư viện nhằm thu được những sản phẩm đáp ứng
tốt nhất nhu cầu của người sử dụng Trong xử lý tài liệu, các chuẩn nghiệp vụ được
tính đến bao gồm: các quy tắc biên mục, các bảng phân loại, các thesaurus, từ điển
từ khóa, bảng đề mục chủ đề Nhờ việc xử lý tài liệu, các cơ quan thông tin - thư
viện có thể tạo ra công cụ tra cứu, biên soạn ấn phẩm thông tin, tạo ra điểm truy cập
giúp cho việc tra tìm và khai thác thông tin, tài liệu được dễ dàng
Đối với cán bộ thư viện, trong công tác chuyên môn nghiệp vụ, nếu được
thống nhất trong việc áp dụng chuẩn nghiệp vụ sẽ tạo sự thuận lợi cho cán bộ trong
quá trình xử lý nghiệp vụ
Bên cạnh đó, dựa trên việc chuẩn hoá nghiệp vụ, các thư viện sẽ thực hiện tốt
việc dùng chung tài liệu qua mạng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, sử dụng các
công nghệ tiên tiến trong các hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng
dịch vụ, tiếp cận với thư viện các nước trong khu vực và thế giới Nguồn lực thông
tin tại các thư viện ngày càng được tăng cường Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ
là yêu cầu, đòi hỏi bức thiết cho hoạt động thông tin - thư
Đối với người dùng tin, chuẩn nghiệp vụ sẽ giúp họ khai thác, tìm kiếm
nguồn tin một cách dễ dàng và thuận tiện
Ví dụ như: khi thư viện áp dụng quy tắc biên mục AACR2 Đây là quy tắc
đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các
dịch vụ thư mục và tiết kiệm được giá thành AACR2 cung cấp một mẫu mô tả