1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

156 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu 36 Bảng 3.2 Nhận thức của sinh viên về các đặc điểm hoạt động học tập theo Bản

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2013

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

4

MỤC LỤC

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ…… ……… … 2

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

4 Mục đích nghiên cứu……… ……… ………… ….10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… ….10

6 Phương pháp nghiên cứu……… ……… ….11

7 Giả thuyết nghiên cứu 12

8 Giới hạn nghiên cứu 12

9 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1.Các quan điểm tiếp cận nghiên cứu vấn đề thích ứng trong tâm lý học 13

1.1.1 Quan điểm của các nhà Tâm lý học hành vi 13

1.1.2 Quan điểm của các nhà tâm lý học nhân văn 14

1.1.3 Quan điểm của các nhà Phân tâm học 15

1.1.4 Quan điểm phân tâm học mới 15

1.1.5 Quan điểm tâm lý học nhận thức 15

1.1.6 Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác- xít 16

1.1.7 Quan điểm về tiếp cận hệ thống về sự thích ứng của con người 18

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 20

1.2.1 Khái niệm thích ứng 20

1.2.2 Khái niệm về tín chỉ 25

1.2.3 Khái niệm sinh viên 26

1.2.4 Hoạt động học và đặc điểm hoạt động học của sinh viên 28

1.2.5 Thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 30

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Tổ chức nghiên cứu 33

2.1.1 Vài nét về trường ĐHKHXH&NV 33

2.1.2 Tổ chức nghiên cứu 34

2.1.3 Cách chọn mẫu nghiên cứu 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 36

Trang 4

5

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 36

2.2.3 Phương pháp quan sát 36

2.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 37

2.2.5 Phương pháp chuyên gia 38

2.3.6 Phương pháp thống kê toán học 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỰ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐHKHXH&NV 42

3.1.Thực trạng thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 42

3.1.1 Thích ứng ở mặt nhận thức với hoạt động học tập theo phương thức ĐTTC của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 42

3.1.2 Thích ứng ở mặt thái độ với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 52

3.1.3 Thích ứng ở mặt hành vi với đào tạo theo phương thức tín chỉ của sinh viên 64 3.1.4 Mức độ thích ứng với các hình thức học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 81

3.1.5 Tổng hợp mức độ thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 87

3.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 90

3.3.1.Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 90

3.3.2.Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108

Trang 6

2

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu 36 Bảng 3.2 Nhận thức của sinh viên về các đặc điểm hoạt động học tập theo

Bảng 3.3 Nhận thức của sinh viên về mục đích của hoạt động học tập theo

Bảng 3.4 Nhận thức của sinh viên về mức độ quan trọng của các hình thức

học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 49 Bảng 3.5 Mức độ hài lòng của sinh viên đối với các hoạt động đào tạo

trong khi tổ chức học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ 53 Bảng 3.6 Thái độ của sinh viên với hình thức học tập theo phương thức

Bảng 3.7 Hành vi lập kế hoạch học tập và thực hiện kế hoạch học tập của

sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ 64 Bảng 3.8 Tiêu chí khi lập kế hoạch học tập của sinh viên 65 Bảng 3.9 Mức độ cách thức khắc phục khó khăn khi đăng ký môn học theo

phương thức ĐTTC của sinh viên 68 Bảng 3.10 Mức độ hành vi tham gia đóng góp ý kiến trong các buổi học

hoặc thảo luận của sinh viên 74 Bảng 3.11 Mức độ tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập của sinh viên 75 Bảng 3.12 Hành vi giải quyết những vấn đề liên quan đến học tập của sinh

Bảng 3.13 Mức độ thành thạo về các hình thức học tập theo phương thức

đào tạo tín chỉ của sinh viên 78 Bảng 3.14 Tổng hợp mức độ thích ứng với các hình thức hoạt động học tập

theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 82 Bảng 3.15 Tổng hợp mức độ thích ứng với các hình thức hoạt động học tập

theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 82 Bảng 3.16 Tổng hợp mức độ thích ứng với các hình thức hoạt động học tập

theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên năm thứ ba 82 Bảng 3.17 Tổng hợp mức độ thích ứng với hoạt động học tập theo phương

Trang 7

3

Bảng 3.18 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng với

hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 90 Bảng 3.19 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng với hoạt

động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 96

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Mức độ đánh giá của sinh viên về vai trò của sự thích ứng với

Biểu đồ 3.2 Tổng hợp mức độ thích ứng về mặt nhận thức của sinh viên với

HĐHT theo phương thức ĐTTC 52 Biểu đồ 3.3 Thái độ của sinh viên đối với việc kiểm tra, đánh giá của Nhà

Biểu đồ 3.9 Mức độ thích ứng với HĐHT theo phương thức ĐTTC của sinh

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tiếp cận hệ thống sự thích ứng của con người với môi

trường nói chung của Tremblay 19

Sơ đồ 3.2 Mối tương quan giữa ba mặt của thích ứng với các hình thức học

tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 85

Sơ đồ 3.3 Mối tương quan giữa các hình thức học tập của sinh viên 86

Sơ đồ 3.4 Mối tương quan giữa ba mặt của thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 89

Trang 8

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ 21 là thế kỷ của tri thức, là thế kỷ đánh dấu sự phát triển như vũ bão

về khoa học, kỹ thuật, công nghệ vì thế đòi hỏi con người phải thay đổi tư duy, phương pháp hoạt động và biết vượt qua mọi khó khăn để thích ứng với thời đại Con người phải luôn chủ động, tích cực với hoàn cảnh sống, với hoạt động đa dạng

và các mối quan hệ đa dạng phức tạp của cuộc sống Trong quá trình này, con người luôn phải độc lập, nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo và quyết đoán để hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu cao của cuộc sống Những người không chủ động, sáng tạo, không thích ứng được với môi trường và hoạt động xung quanh mình sẽ khó đáp ứng nhu cầu xã hội và làm việc ít có hiệu quả cao

Chính sự phát triển mạnh mẽ của xã hội đã đòi hỏi xu thế tất yếu của giáo dục là sự đổi mới Đào tạo theo tín chỉ là một trong những bước đi quan trọng của quá trình đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006-2020 Đây chính là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu là nhân tố đột phá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhằm hướng tới một đội ngũ tri thức trẻ đáp ứng đầy đủ những yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Trường ĐHKHXH&NV là đơn vị đầu tiên trong ĐHQGHN và cũng là một trong những trường đại học đi đầu trong cả nước thực hiện sự chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ Nhà trường chính thức chuyển đổi sang phương thức đào tạo tín chỉ

từ năm 2007 và tính tới thời điểm hiện tại việc tổ chức đào tạo đã thực sự có những chuyển biến mạnh mẽ và căn bản đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ của phương thức đào tạo mới đề ra

Đào tạo tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải nâng cao tính tích cực, sáng tạo để nắm vững những phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo dưới sự tổ chức, định hướng của giảng viên Vì vậy, muốn có kết quả cao trong học tập và phát huy tiềm năng của bản thân thì yêu cầu tất yếu là sinh viên phải thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức mới này Tuy nhiên, sự tham gia vào học tập ở bậc đại học đối với sinh viên trường ĐHKHXH&NV đặc biệt với việc tiếp cận phương thức đào tạo hoàn toàn mới làm cho nhiều sinh viên không thể theo kịp với phương pháp giảng dạy mới, nhiều sinh viên không biết học bài thế nào, đăng ký môn học ra sao dẫn tới nhiều

Trang 9

5

sinh viên có kết quả học tập không tốt, nhiều sinh viên buộc phải thôi học hoặc bị xét học vụ Điều này đòi hỏi sinh viên phải thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh mới và phương pháp mới để nâng cao chất lượng học tập của bản thân mình

Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” nhằm làm rõ thực trạng thích ứng với hoạt

động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao sự thích ứng với hoạt động học tập cho sinh viên Việc nghiên cứu đề tài trên là một yêu cầu cấp bách và cần thiết, nó có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu sự “thích ứng” được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau

H.Spencer (1820-1903), nhà tâm lý học người Anh đã khởi xướng nghiên cứu vấn đề thích ứng trong tâm lý học Ông dựa vào quan điểm tiến hóa luận của Ch.Darwin và J.Lamack cho rằng: “Cuộc sống là sự thích nghi liên tục trong các mối quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài”1(tr.132) Việc xem xét vấn đề thích ứng phải dựa vào các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa con người và môi trường sống; đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là mối quan hệ giữa yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của con người, chọn lọc tự nhiên là qui luật cơ bản của thích ứng tâm lý; sự thích ứng tâm lý con người có nét chung với thích nghi sinh học

Năm 1925, Harvey Carr cho rằng học tập là một công cụ quan trọng được con

người sử dụng để thích nghi với môi trường Ông đã tập trung nghiên cứu hành vi

thích nghi Theo ông, hành vi thích nghi gồm 3 thành phần: 1/Một động lực dùng

như một kích thích cho hành vi (ví dụ: đói, khát); 2/Một khung cảnh môi trường hay hoàn cảnh mà sinh vật ở trong đó; 3/Một phản ứng thoả mãn động lực kia (ví dụ: ăn, uống)

1

Spencer H.(1988), The Principles of Psychology, New York

Trang 10

6

Một số tác giả như N.D Carsev, L.N.Khadecva, K.D.Pavlov (năm 1968) đã nêu ra các tiêu chuẩn sinh lý của sự thích ứng nghề nghiệp Họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường Những phản ứng sinh lý, những biến đổi của các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được tác giả quan tâm và đã chỉ ra những biến đổi cụ thể

Năm 1969, giáo sư E.A.Ermolaeva đã nghiên cứu “Đặc điểm thích ứng xã hội và nghề nghiệp ở sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm” Tác giả đã đưa ra khái niệm thích ứng là quá trình thích nghi của người lao động với những đặc điểm

và điều kiện lao động trong tập thể nhất định và đã đưa ra chỉ số cho sự thích ứng nghề nghiệp khách quan của sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm: chất lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, mức độ kỷ luật, địa vị xã hội; những chỉ số chủ quan: mức độ hài lòng về công việc, điều kiện trong công việc…Tác giả cũng đã chỉ ra thời điểm xuất hiện sự thích ứng đó là khi làm quen với điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định

Năm 1971, V.I.Alaudie và A.L.Meseracov, trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các sinh viên thuộc Khoa Tâm lý học - Đại học tổng hợp Maxcơva đã đi đến kết luận: Việc thích ứng của sinh viên đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm lịch sử xã hội Như vậy, thích ứng ở đây được hiểu là khả năng tự tổ chức học tập của người học

Năm 1972, D.A.Andreeva đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học, đặc biệt bà đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lý học hiện đại để nghiên cứu vấn đề thích ứng Theo bà, thích ứng là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện, hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những điều kiện mới một cách không gượng ép Từ đó tác giả đưa ra định nghĩa về thích ứng, theo bà thích ứng là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách, tức là con người vừa thích nghi với điều kiện mới, vừa phải chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phù hợp và đáp ứng những yêu cầu của điều kiện mới

Trang 11

7

Năm 1973, trong cuốn “Con người và xã hội”, Andreeva đã so sánh khái niệm “thích ứng” và “xã hội hóa” Thích ứng nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể với môi trường mới Còn “xã hội hóa”, về cơ bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân Cũng trên cơ sở so sánh khái niệm “thích ứng” và “xã hội hoá” О.I Dotova; I.K.Kriagieva đã chỉ rõ trong quá trình thích ứng, nhân cách trước hết là chủ thể của quá trình đó Quá trình thích ứng chỉ diễn ra khi con người bắt gặp hoàn cảnh mới Trong thực tế không nên tách rời hai quá trình xã hội hoá và quá trình thích ứng mà phải nhận thức đúng đắn sự đan xen hai quá trình này trong hoạt động của con người đối với môi trường xung quanh để phát triển nhân cách của mình Nhóm tác giả N.B.Basinanova, D.V.Kalinhitreva đưa ra một phát hiện thú vị

là, chỉ số trí tuệ càng cao thì sự thích ứng nghề nghiệp càng thuận lợi Nhưng chỉ số trí tuệ cao hơn hẳn chỉ số chung của nhóm thì nó sẽ cản trở sự thích ứng tâm lý – xã hội của cá nhân đó

Năm 1979, A.I.Serbacov và A.B.Mudric đã nghiên cứu “Sự thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo” và đã nêu lên quan niệm chung về sự thích ứng của người thầy giáo Những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hiệu quả của sự thích ứng đó

Năm 1980, trong tạp chí “Những vấn đề tâm lý học” số 4, A.A.Krintreva đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lý của sự thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường, ở các trường trung cấp, kỹ thuật chuyên nghiệp

và các trường phổ thông trung học Tác giả cho rằng: thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản xuất Krintreva cũng đưa ra một số chỉ

số đặc trưng của sự thích ứng nghề nghiệp là: Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực kỹ thuật; Sự phát triển tay nghề; Vị trí xã hội trong tập thể; Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể Năm 1986, A.V.Petrovxki và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề thích ứng học tập của sinh viên Ông cho rằng thích ứng học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: 1/Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/Thích nghi với các mối quan hệ mới Các nội dung này đã được chúng tôi sử dụng và cụ thể hoá trong nghiên cứu

Trang 12

8

Năm 1990, ở Mỹ, B.P Allen đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh viên thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường đại học Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của sinh viên là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Sử dụng quỹ thời gian cá nhân; 2/Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập; 3/kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực; 4/kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp Theo cách hiểu này, sự thích ứng (hay không thích ứng của sinh viên được giải thích chủ yếu do sinh viên có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của nhà trường đại học

Năm 1992, M.S.Tremblay đã xem xét thích ứng của con người bao gồm sự thích ứng bên trong và sự thích ứng bên ngoài Bản chất của thích ứng của con người là sự cân bằng giữa trạng thái dễ chịu bên trong và bên ngoài, trong mối quan

hệ giữa cá nhân và môi trường sống

Năm 1998, M.Daigneault đã khẳng định: Hành động của cá nhân nhằm giảm bớt những căng thẳng có xu hướng đe dọa sự cân bằng của họ, nếu những hành động của họ có hiệu quả cho phép họ thích ứng với hiện thực bên trong của họ và tạo ra sự hài hòa với chính bản thân mình được gọi là “thích ứng bên trong” Những hành động tạo nên sự hài hòa với người khác hoặc với môi trường được gọi là sự

kỹ năng và kỹ xảo học tập; thói quen và hành vi Các chỉ số biểu hiện sự thích ứng

Trang 13

9

học tập thể hiện ở sự say mê hứng thú học tập, kết quả học tập cao, tính kỷ luật trong học tập Từ đó, tác giả đã lựa chọn kỹ năng học tập cơ bản (nghe, ghi bài giảng) của học viên để tiến hành thực nghiệm tác động sư phạm [35]

Năm 1998, tác giả Lê Thị Hương, với luận văn Thạc sỹ “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường cao đẳng Sư phạm Thanh Hoá” Năm 2000, Phan Quốc Lâm với Luận án Tiến sỹ “Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh lớp I”

Năm 2004, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ đã tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất Đại học quốc gia Hà Nội với môi trường Đại học” do GS.Trần Thị Minh Đức là Chủ nhiệm đề tài

Năm 2006, Vũ Mộng Đóa với luận văn thạc sỹ “Sự thích ứng học tập của sinh viên công tác xã hội và phát triển cộng đồng Đại học Đà Lạt”

Năm 2009, Đỗ Thị Thanh Mai với Luận án tiến sỹ: “Mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học công nghiệp Hà Nội Tác giả nhận xét: Sinh viên hệ cao đẳng thích ứng không giống nhau với hoạt động thực hành môn học tại Trường Mức độ thích ứng với hoạt động thực hành môn học của sinh viên chịu nhiều yếu tố Các yếu tố khách quan như việc tổ chức đào tạo, phương pháp giảng dạy của giảng viên Các yếu tố chủ quan như chỉ số phát triển trí thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe, sự nỗ lực cá nhân [24]

Năm 2009, tác giả Đặng Thị Lan đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ “Mức

độ thích ứng với hoạt động một số môn học chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ -Đại học Quốc gia Hà Nội

Có thể nói rằng hiện nay cũng đã có nhiều đề tài quan tâm nghiên cứu vấn đề thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên, tuy nhiên các công trình nghiên cứu

về sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ và đặc biệt

là nghiên cứu tại Trường ĐHKHXH&NV vẫn còn mới mẻ Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này từ phương diện tâm lý học vẫn thực sự cần thiết về cả mặt lý thuyết lẫn thực tiễn

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập theo phương

Trang 14

sự thích ứng với hoạt động học tập cho sinh viên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu lý luận:

- Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Đưa ra một số khái niệm công cụ của đề tài như khái niệm thích ứng, tín chỉ, sinh viên, thích ứng học tập với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ

5.2 Nghiên cứu thực tiễn:

+ Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trên các phương diện về nhận thức, thái độ và hành vi

+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng (chủ quan và khách quan) đến thực trạng thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 15

11

+ Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị giúp cho quá trình thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên được tốt hơn

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Đọc, phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó xác định nội dung của các khái niệm cơ bản, xây dựng cơ sở lý

luận của đề tài nghiên cứu

- Phương pháp quan sát:

Dự giờ tại một số lớp được nghiên cứu để quan sát việc học tập của sinh viên

ở trên lớp và phương pháp giảng dạy của giáo viên

Quan sát một số hoạt động học tập ngoài giờ của sinh viên (tại thư viện khoa, thư viện trường), các cuộc thảo luận nhóm

Quan sát việc sinh viên gặp gỡ trao đổi với giảng viên trong giờ nghỉ giải lao về những vấn đề có liên quan đến môn học, bài học hay việc học tập nói chung

-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Để điều tra chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng để sinh viên lựa chọn các ý kiến phù hợp với mình, câu hỏi mở để thu thập những đánh giá, góp ý và đề xuất của sinh viên Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng câu hỏi kết hợp (đóng và mở) để thu thập những thông tin phong phú thêm nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu Chúng tôi

mô tả cụ thể trong chương 2

-Phương pháp chuyên gia:

Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia đã và đang nghiên cứu về vấn đề liên quan đến sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên Ngoài ra còn tham khảo ý kiến của những cán bộ làm quản lý về đào tạo đối với sinh viên, những người có kinh nghiệm giảng dạy sinh viên

-Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn 20 bạn sinh viên ; 06 cố vấn học tập và trợ lý đào tạo; 03 giảng viên và 03 cán bộ phòng Đào tạo nhằm thu thập những thông tin bổ sung cho kết quả thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

-Phương pháp thống kê toán học:

Trang 16

12

Phương pháp này được sử dụng để xử lý, phân tích, đánh giá các kết quả thu thập được bằng các phương pháp nêu trên Chúng tôi sử dụng chương trình SPSS 15.0 để xử lí kết quả thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Cụ thể là:

- Tính tần suất, phần trăm kết quả thu được

- Sử dụng một số các đại lượng thống kê: Giá trị trung bình, Độ lệch chuẩn

và Hệ số tương quan Pearson (r) (nhằm chỉ rõ mức độ có liên hệ hay không liên hệ của 2 hay nhóm đại lượng nào đó theo kiểu tuyến tính)

7 Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên Trường ĐHKHXH&NV phần lớn đã có sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ, tuy nhiên chỉ có một bộ phận sinh viên có mức độ thích ứng từ khá trở lên

Nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm nguyên nhân chủ quan và khách quan trong đó nguyên nhân xuất phát chủ quan chủ yếu là do sinh viên chưa tự giác và chủ động trong học tập và thiếu kỹ năng học tập hiệu quả và nguyên nhân khách quan là do quy trình đăng ký môn học và phương pháp giảng dạy cho sinh viên chưa phù hợp

8 Giới hạn đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thích ứng với hoạt động học tập với phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường ĐHKHXH&NV trên cơ sở tự đánh giá một cách khách quan từ phía bản thân sinh viên về sự tích cực, chủ động

về nhận thức, thái độ và hành vi với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ Đề tài chưa tập trung nghiên cứu các cấu trúc tâm lý mới nhằm tạo ra sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ

9 Cấu trúc của luận văn

Đề tài gồm Mở đầu; Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài; Chương 2: Tổ chức

và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu; Kết luận; Kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục

Trang 17

13

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các quan điểm tiếp cận nghiên cứu vấn đề thích ứng trong tâm lý học

1.1.1 Quan điểm của các nhà Tâm lý học hành vi

Jame Watson (1817-1958) - người sáng lập ra tâm lý học hành vi - tuyên bố rằng: khoa học tâm lý không thể lý giải được đời sống tâm hồn, nếu như không từ

bỏ khái niệm mô tả các dòng ý thức Tâm lý học dứt khoát phải lấy hành vi, tức là cái mà ta có thể quan sát, đo đạc được, dự đoán được làm đối tượng nghiên cứu Theo quan điểm của những người theo dòng phái này, về nguyên tắc, các quy luật

và cơ chế thích ứng ở người giống động vật, chỉ khác là môi trường sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ và các quy tắc xã hội Sự thích ứng của con người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không có sự khác biệt về chất so với động vật Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hoá các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể Sự thích ứng của con người chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lượng Thừa kế quan điểm của các nhà tâm lý học động vật, J Watson cho rằng để tồn tại, cá nhân có một hệ thống hành vi, ứng xử có được do học tập Trong đó từng hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và động lực là sự thích ứng

Đó là quá trình cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống Sự kém thích ứng là không học được hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi trường

Edward Chance Tolman, Clark Hull…khắc phục những mặt hạn chế của Watson bằng cách đưa thêm vào những khái niệm: hành vi tạo tác (operant), hành vi học tập xã hội (social), hay hành vi học tập theo quan sát (observation)…Nói cách khác, họ đưa các yếu tố xã hội vào để giải thích sự thích ứng tâm lý ở người

Lý thuyết hành vi hiện đại còn được phát triển theo hướng Tâm lý học nhận

thức (cognitive behaviorison) Đại diện tiêu biểu cho hướng này là Walter Mischel,

ông chú trọng đến vai trò nhận thức của con người trong quá trình thích ứng, đặc biệt là các kỹ xảo tinh thần bên cạnh các kỹ xảo hành vi Cùng với việc nhấn mạnh vai trò của yếu tố bên trong, ông đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể thích ứng

Đó không phải là quá trình thụ động như phái hành vi cổ điển quan niệm, mà có sự

Trang 18

1.1.2 Quan điểm của các nhà tâm lý học nhân văn

Các nhà tâm lý học nhân văn quan niệm: con người có nhu cầu hướng thiện,

có lòng vị tha, sẵn sàng giúp đỡ người khác Đó là động lực qui định hành vi và mục tiêu thích ứng của nhân cách Họ quan niệm thích ứng là hoạt động tích cực của chủ thể ứng xử với bản thân và môi trường xung quanh

A.Maslow (1908-1970) coi thích ứng là sự thể hiện được những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định Sự không thích ứng chính là sự không được tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách Tiền đề để tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách, được sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu bẩm sinh nhưng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp được thoả mãn2 Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng (của phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa hành vi), nhưng Maslow có quan niệm khác về yếu tố quy định sự thích ứng Theo ông, nhu cầu “tự thể hiện” mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng của con người Còn C.Rogers (1902-1987) coi “tự thể hiện” là phạm trù cơ bản đối với thích ứng của nhân cách, con người luôn thể hiện mình Nghĩa là, con người thích ứng được trong đời sống và tự ý thức, tự đánh giá là những phẩm chất điều khiển, điều chỉnh hành

vi, làm cho cá nhân thích ứng với cuộc sống

Tâm lý học nhân văn đã coi trọng tính tích cực, trọn vẹn và phẩm chất tự đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân – xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý nói chung và

2

A.Maslow (1963), Motivation and adjustment, USA

Trang 19

15

thích ứng với hoạt động học tập nói riêng Đó là tư tưởng tiến bộ của trường phái này

1.1.3 Quan điểm của các nhà Phân tâm học

+ Quan điểm phân tâm học cổ điển S.Freud

S.Freud (1856 -1939) xuất phát từ cách tiếp cận sinh học đối với tâm lý, theo

đó, nhân cách là một cấu trúc tổng thể trọn vẹn với 3 thành tố “cái nó” (Id), “cái tôi” (ego), và cái “siêu tôi” (superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống của con người Để tồn tại, con người phải đạt được sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối lập “cái nó” và cái “siêu tôi” – đó chính là sự thích ứng Sự thích ứng là sự thoả mãn hợp lý trong những điều kiện xã hội nhất định Sự phát triển “cái tôi” nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống

cá thể Lý thuyết phân tâm cổ điển của S.Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện được bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con người

1.1.4 Quan điểm phân tâm học mới

Các nhà tâm lý học như : C Jung, E Fromm và E Erikson không hoàn toàn chấp nhận tư tưởng của S.Freud Theo họ, “cái tôi” có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân, là chủ thể của hành vi chứ không chỉ là phương thức thoả mãn

“cái nó” Họ quan niệm bản năng chỉ là một trong những yếu tố quy định sự thích ứng, thậm chí cho rằng xã hội là nội dung của sự thích ứng tâm lý cá nhân E.Erkson còn nhấn mạnh “sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các mối quan hệ xã hội của các cá nhân với những người xung quanh”3

Như vậy, mặc dù chưa giải thích được bản chất của sự thích ứng của con người, phân tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần được chú ý về mặt lý luận

và thực tiễn của vấn đề Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này

1.1.5 Quan điểm tâm lý học nhận thức

Theo J.Piaget (1896-1980) có hai loại hoạt động gắn liền với nhau: hoạt động tâm lý và hoạt động sinh học Trong đó, hoạt động tâm lý có nguồn gốc sinh học

Cá thể chỉ tồn tại và phát triển trong mối tương tác giữa cơ thể và môi trường từ đó

3

E.Erikson (1967), Childhood and society, New York

Trang 20

1.1.6 Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác- xít

Ra đời từ những năm 20 của thế kỷ XX, trường phái tâm lý học Mác -xít lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở thế giới quan

và phương pháp luận Tâm lý học Mác- xít đã phê phán những sai lầm của các nhà tâm lý học thuộc các trường phái khác Trường phái tâm lý học Mác-xít gắn liền với những nhà tâm lý học như: L.X Vưgotxki (1896-1934), A.N.Leonchiev (1903-1979), X.L.Rubinstein (1889-1960), A.R.Luria (1902-1997), P.Ia.Galperin (1902-1988)…

L.X Vưgotxki khẳng định: “Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới” (12, tr.130) Phương thức thích ứng chủ đạo ở người là thích ứng theo nguyên tắc dấu hiệu và nguyên tắc này không có ở loài vật Quá trình tín hiệu hóa phản ánh mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp lại các kích thích của môi trường, còn quá trính dấu hiệu hóa cho phép con người có khả năng tạo ra một loại cân bằng với môi trường để biến đổi môi trường và biến đổi hành vi của chính mình bằng hành động tích cực của chủ thể Hành vi đó chính là hoạt động thực tiễn của con người Bằng việc phát hiện ra cơ chế hình thành và điều khiển hành vi ở cá nhân, ông đã

Trang 21

“những năng lực và chức năng hình thành ở con người trong quá trình ấy là các cấu tạo tâm lý mới Đối với những cấu tạo này, các cơ chế và quá trình bẩm sinh, di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (tiền đề) giúp cho các cấu tạo tâm lý mới

có thể xuất hiện” [14; 96] Ông thừa nhận: “sự phát triển của con người cũng mang tính chất môi trường (tức là phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài), nhưng khác với tiến hoá động vật, sự phát triển của con người không phải là quá trình thích nghi hiểu theo nghĩa của từ này” [14; 99] Như vậy, bản chất và nội dung của sự thích ứng của người và sự thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất A.N.Leonchiev cũng vạch ra sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành hành vi động vật và người Chính điều đó đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu hiện tượng này về phương diện

lý luận lẫn thực tiễn

Quá trình thích ứng tâm lý của con người gắn liền với quá trình hình thành nhân cách Sự hình thành nhân cách chính là quá trình hình thành hai mặt chủ thể của thích ứng tâm lý Nhờ nhân cách, sự thích ứng tâm lý trở thành một quá trình tích cực Trong đó, con người không chỉ đáp ứng tác động của môi trường mà còn cải tiến nó một cách tích cực Tuy nhiên, sự thích ứng không đồng nhất với sự hình thành nhân cách Đó là quá trình tương tác biện chứng giữa nhân cách và môi trường xã hội mà cả hai phía đều có sự thay đổi để trở nên phù hợp với nhau, đặc biệt là phía nhân cách Vì vậy, sự hình thành nhân cách và mức độ của nó không tất yếu quyết định mức độ thích ứng của cá nhân Nhưng sẽ không có sự thích ứng nếu không có sự hình thành nhân cách ở trình độ nhất định Vì vậy, có những người có nhân cách cao nhưng không thích ứng được trong những điều kiện môi trường xã

Trang 22

D.A.Andreeva phân biệt rõ các khái niệm thích ứng và thích nghi sinh học

Bà nhấn mạnh hai khái niệm này gần nghĩa nhưng cần chú ý phân biệt chúng Nếu đem khái niệm thích ứng với ý nghĩa thích nghi sinh học vào giải thích các hiện tượng xã hội thì dĩ nhiên sẽ sai lầm vì thích nghi sinh học chỉ sự đồng hoá của cơ thể đối với những tác động từ bên ngoài và là sự xây dựng lại trạng thái của cơ thể

do những tác động đó để tồn tại trong điều kiện môi trường thay đổi, còn thích ứng tâm lý ở người có ý nghĩa khác biệt về chất Cần hiểu “thích ứng” là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện sống mới, là sự thâm nhập của nó vào điều kiện

đó một cách không gượng ép Bà đã chỉ rõ: “Sự thích ứng của con người phải làm sao góp phần cho con người thoát khỏi sự phụ thuộc có tính chất nô lệ, trực tiếp vào trạng thái cơ thể mình và khỏi vòng tù hãm trực tiếp của cơ thể” [21; tr.147] D.A.Andreeva cho rằng “có thể xem thích ứng là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách”[21; tr.147] Như vậy ta thấy, bà đã phân biệt rõ thích ứng tâm lý người với thích nghi sinh học, đưa khái niệm thích ứng thoát khỏi lập trường thích nghi sinh học, xem xét nó dưới góc độ hoạt động và đặt nó hoàn toàn vào địa hạt của tâm lý học người

Tóm lại, bằng cách tiếp cận khoa học về vấn đề thích ứng, các nhà tâm lý học Mác-xít đã chỉ ra được bản chất hoạt động, nội dung xã hội - lịch sử, tính tích cực

và các chỉ số của hiện tượng thích ứng ở con người Theo nghĩa đó, lý luận tâm lý học Mác-xít về bản chất hoạt động của sự thích ứng tâm lý là cơ sở lý luận và phương pháp luận cơ bản của chúng tôi khi tiếp cận, nghiên cứu vấn đề thích ứng học tập của sinh viên

1.1.7 Quan điểm về tiếp cận hệ thống về sự thích ứng của con người

Tiếp cận hệ thống là hướng tiếp cận giúp chúng ta gắn kết những tiêu chí có thể dùng để giải thích sự thích ứng và không thích ứng của con người Quan điểm

hệ thống nhấn mạnh về những tương tác giữa các yếu tố cấu thành hơn là tập trung

Trang 23

19

vào mỗi yếu tố riêng biệt Dưới đây là sơ đồ tiếp cận hệ thống sự thích ứng của con người với môi trường nói chung của Tremblay [dẫn theo 10, tr.16]

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tiếp cận hệ thống sự thích ứng của con người với môi

trường nói chung của Tremblay

+Những yếu tố gắn với cá nhân:

Di truyền học: Chúng ta xem xét yếu tố di truyền trên quan điểm: Di truyền học không giải thích hết được ứng xử của cá nhân nhưng nó có thể giải thích được các loại khí chất bẩm sinh của con người Do đó, sự thích ứng dễ dàng hay khó khăn của một người với mối trường có liên hệ với yếu tố di truyền, kiểu khí chất bẩm sinh của người đó

Sự phát triển của cá nhân: Theo Tremblay, sự phát triển của một cá nhân là tập hợp những quyết định được đưa ra bởi một người Các quyết định hạnh phúc

Những yếu tố cấu thành gắn với môi trường

Sự phát triển

của cá nhân

Sự tự do của cá nhân

Những điều kiện xã hội

Những điều kiện

xã hội vĩ mô

Trang 24

20

hay bất hạnh được nhóm lại và hướng một người về sự thích ứng hay không thích ứng

Sự tự do cá nhân: Theo Tremblay, sự tự do – đó là làm chủ một số những ứng

xử của mình, bất chấp những quyết định luận và những nguồn lực bẩm sinh, di truyền, bất chấp những yếu tố gây ra cản trở và những bó buộc của môi trường Tự

do được giả thiết là một khả năng lựa chọn, nó được thực hiện trong một bối cảnh thực tế của hành động, của quyết định Phần tự do của một cá nhân trong một hoàn cảnh cụ thể phản ánh những khả năng của hành động một giới hạn thực tiễn và một giới hạn lý tưởng, tuyệt đối

+Các yếu tố cấu thành gắn với môi trường

Các điều kiện tự nhiên: Là môi trường mà trong đó cá nhân phát triển Đó là thế giới của những quy luật tự nhiên của sinh học, hoá học và những tiến bộ công nghệ riêng của loài người Những khác biệt không chỉ giữa các vùng trên thế giới

mà còn ở từng vùng trong mỗi quốc gia và mỗi cá nhân cần phải thích ứng với những khác biệt đó Những tiến bộ kỹ thuật, sự phát triển vật chất (đô thị hoá, máy tính, tệ nạn xã hội, ) là những vấn đề đặt ra đòi hỏi phải có sự thích ứng

Các điều kiện xã hội vĩ mô: Là những hình thức mà xã hội sử dụng để đảm bảo trật tự, ổn định, sự gắn bó của xã hội Mục đích tự nó mang lại tính tích cực, nhưng các phương tiện của nó tự biến đổi thành những tiêu chuẩn của sự không thích ứng (hay kém thích ứng) Những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu, những giá trị thống trị, phong tục, những luật thành văn hay không tất cả tạo ra những khó khăn trong sự thích ứng của con người

Các điều kiện xã hội vi mô: Là những quan hệ giữa các cá nhân trong một nhóm nhỏ như gia đình, trường học, những người bạn, những nhóm giải trí, thể thao, Đó là các yếu tố xoay quanh trực tiếp một cá nhân, tuỳ vào những nhóm khác nhau mà cá nhân ở trong đó Mỗi nhóm này có cấu trúc đặc trưng của nó, những luật, những thói quen, những quy tắc điều kiện để “hoà nhập” đối với các thành viên Do số lượng lớn những vai trò mà các nhóm yêu cầu thành viên phải thực hiện nên sự thích ứng cũng là vấn đề lớn đặt ra cho mỗi cá nhân

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm thích ứng

Trang 25

21

Thuật ngữ “thích ứng” hay thích nghi có nguồn gốc từ tiếng Latinh là

“Adaptacia”, gốc tiếng Anh là “Adaptation” Khi dịch sang tiếng Việt, thì có thể dịch là “thích nghi”, có người dịch là “thích ứng” Đồng thời, cho đến nay nội hàm của khái niệm “thích ứng” vẫn chưa được thống nhất Trong mỗi nghiên cứu của các tác giả khác nhau thì đưa ra khái niệm thích ứng dưới góc độ khác nhau

Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) của nhà xuất bản Khoa học Xã hội viết: “thích nghi là có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường mới, thích nghi với các nếp sinh hoạt mới”, còn “thích ứng là những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới, lối làm việc thích ứng với tình hình mới (như thích nghi)” [30]

Trong “Đại từ điển Tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên) thì khái niệm

“thích nghi là quen dần, phù hợp với điều kiện mới nhờ sự biến đổi, điều chỉnh nhất định”, “còn thích ứng là phù hợp với điều kiện mới nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định” [40]

Trong “Từ điển tâm lý” của Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, đã phân biệt thích ứng và thích nghi như sau: “Mọi sinh vật sống được trong một môi trường có nhiều biến động, bằng cách thay đổi phản ứng của bản thân, hoặc tìm cách thay đổi môi trường, bước đầu là điều chỉnh những phản ứng sinh lý như thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm…sau đó là thay đổi cách ứng xử, đây là thích nghi tâm lý” [38]

Trong “Từ điển Tâm lý học” của Viện Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên,

“thích nghi xã hội” là: 1) quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với những điều kiện của môi trường xã hội mới; 2)kết quả của quá trình trên [6]

Trong “Sổ tay chẩn đoán tâm lý”, tác giả Trần Thị Cẩm đã đồng nhất khái niệm thích nghi với thích ứng, phân biệt rõ thích nghi với thích nghi xã hội Thích nghi là sự thích ứng về cấu tạo chức năng của cơ thể đối với điều kiện môi trường Thích nghi xã hội có hai nghĩa: một là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân đối với những điều kiện của môi trường xã hội mới; hai là kết quả của quá trình trên [4] Theo PGS.TS Trần Thị Minh Đức, “Thích ứng là một quá trình hoà nhập tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý” [10]

Trang 26

22

Hoà nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn cảnh trong sự hài hoà nhất định Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù hợp với bản thân

Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng

Sự trưởng thành về mặt tâm lý xã hội: là sự thoải mái bên trong của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hoà và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội

Từ việc xem xét các quan niệm trên, chúng tôi thấy rằng: thích nghi và thích ứng là những khái niệm chưa hoàn toàn thống nhất với nhau

“Thích nghi” là một trong những phạm trù cơ bản của sinh vật học do S uyn4 đưa ra dùng để chỉ các quá trình biến đổi về cấu trúc và chức năng của cơ thể sinh vật để duy trì sự cân bằng của quan hệ cơ thể - môi trường trong điều kiện môi trường thay đổi Sự thích nghi theo nghĩa này được diễn ra theo cơ chế di truyền, biến dị và chọn lọc tự nhiên Quan điểm này là điểm xuất phát của các nhà tâm lý học tư sản nhấn mạnh mặt thích nghi của cơ thể với môi trường Trong khi đó các nhà tâm lý học nhân văn đã đề cao thích ứng ở người như một phẩm chất nhân cách:

cũ phù hợp với những yêu cầu, điều kiện hoạt động và quan hệ xã hội mới Thích

4

Charles Darwin (1859), Nguồn gốc của muôn loài, Nxb văn hóa thông tin

Trang 27

Thông qua việc phân tích trên, chúng tôi đã đưa ra khái niệm thích ứng như

sau: thích ứng (thích ứng tâm lý) là một quá trình con người luôn tích cực, chủ động

lĩnh hội các điều kiện, các yêu cầu, phương thức mới của hoạt động nhằm đạt được mục đích của hoạt động đã đề ra Thông qua đó, chủ thể thu nhận được những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo mới để đạt hiệu quả cao trong hoạt động và hoàn thiện về mặt nhân cách, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội

Thích ứng tâm lý thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

- Thích ứng là một cấu trúc có quan hệ biện chứng gồm 2 thành tố cơ bản: 1/hình thành được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới, như là phương tiện của sự thích ứng; 2/hình thành những cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi, ứng xử thích ứng Nhờ nó con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh các hành vi, ứng

xử đã lĩnh hội đáp ứng, thậm chí tác động cải biến chính môi trường sống Hai yếu

tố này gắn bó chặt chẽ để tạo nên sự thích ứng của con người, nhờ chúng mà con người điều chỉnh được hệ thống hành vi hiện có hoặc hình thành được những hệ thống hành vi mới phù hợp

- Thích ứng tâm lý của con người hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp, dưới sự tác động của các yếu tố bên trong: trình độ phát triển, lịch sử cá thể, vốn kinh nghiệm, nhu cầu, động cơ và những yếu tố bên ngoài: loại hoạt động và giao tiếp, những điều kiện sống mà cá nhân tham gia

- Thích ứng tâm lý là quá trình con người tạo nên những biến đổi trong đời sống tâm lý của mình trước những điều kiện mới Nó tạo ra sự biến đổi về chất, phù hợp với sự phát triển của quy luật khách quan, thông qua việc con người tiếp nhận những giá trị xã hội, hòa nhập một cách tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo vào xã hội; có khả năng đáp ứng nhanh chóng những yêu cầu của hoạt động xã hội

Trang 28

24

- Thích ứng tâm lý là kết quả của quá trình con người tích cực, chủ động, sáng tạo để hình thành những phương thức hoạt động đáp ứng yêu cầu mới của môi trường sống Để hình thành, hoàn thiện và phát triển, con người phải thích ứng nhanh chóng với những đòi hỏi của xã hội, tham gia vào các hoạt động và các quan

hệ xã hội một cách tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo nhằm lĩnh hội nền văn hóa

xã hội, điều chỉnh hành vi cũ, hình thành hành vi mới

- Thích ứng tâm lý có vai trò rất to lớn đối với con người Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự cân bằng của con người với môi trường xã hội, cho sự thành công trong điều kiện sống và hoạt động mới Mặt khác, những ứng xử thích hợp là

cơ sở và biểu hiện của những phẩm chất nhân cách mới Để thích ứng, cá nhân phải hình thành được những cấu tạo tâm lý mới Vì vậy, thích ứng như là điều kiện của

sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đảm bảo cho nhân cách đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống và hoạt động thay đổi Việc cá nhân không thích ứng với những đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới sẽ làm cho anh ta hoạt động kém hiệu quả, không phát triển tâm lý và không hoà nhập được cuộc sống xã hội Thích ứng là điều kiện của việc tiếp thu hoạt động mới, phát triển tâm lý cá nhân trong điều kiện cuộc sống thay đổi

Thích ứng có ba hình thức, thể hiện ở ba cấp độ sau:

- Thích ứng sinh lý là hình thức thích ứng đầu tiên, xuất hiện ở động vật có hệ thần kinh Thích ứng sinh lý có đặc trưng là cơ thể có khả năng phản ứng tự động trước những tác động trực tiếp của môi trường bên ngoài Cơ chế của thích ứng sinh

lý là những phản xạ không điều kiện Sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường là quan hệ trực tiếp

- Thích ứng tâm lý là hình thức thích ứng cao hơn thích ứng sinh lý Đặc trưng của hình thức này là cơ thể có khả năng đáp ứng lại những kích thích có tính chất tín hiệu từ môi trường Cơ chế của thích ứng ứng tâm lý là phản xạ có điều kiện Hệ thần kinh với chức năng và cơ chế hoạt động của nó đã giúp cơ thể định hướng, điều chỉnh hoạt động đối với những biến đổi của môi trường Các quá trình thích ứng của cơ thể được thực hiện qua hoạt động của hệ thần kinh, đặc biệt là não bộ Nhờ có thích ứng tâm lý, cơ thể có thể tồn tại và phát triển tốt hơn trước môi trường đầy biến động

Trang 29

25

- Thích ứng tâm lý xã hội là hình thức thích ứng cao nhất chỉ có ở người Đặc trưng của hình thức thích ứng này là con người sống trong môi trường xã hội, tiếp nhận các giá trị xã hội, hòa nhập vào xã hội, có khả năng đáp ứng những yêu cầu của xã hội Đòi hỏi cá nhân phải hoạt động tích cực, chủ động để hình thành những ứng xử mới, điều chỉnh hành vi cũ phù hợp với các yêu cầu, điều kiện của hoạt động và quan hệ xã hội mới

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “thích ứng” được hiểu theo nghĩa thích ứng tâm lý – xã hội mang đặc trưng người

1.2.2 Khái niệm về tín chỉ

Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về tín chỉ, ở đây xin nêu cách hiểu được đề cập trong “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành năm 2007 (thường gọi là Quy chế 43)5: Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30 – 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân [3]

Theo quy chế 3079, ban hành tháng 10 năm 2010 của ĐHQGHN về quy chế đào tạo tín chỉ 6, khái niệm tín chỉ được hiểu là: Tín chỉ là đại lượng xác định khối lượng kiến thức, kỹ năng mà sinh viên tích lũy được từ môn học trong 15 giờ tín chỉ thông qua các hình thức: a) Lên lớp: sinh viên học tập trên lớp thông qua bài giảng, hướng dẫn trực tiếp của giảng viên tại lớp học hoặc qua các lớp học video trực tuyến; b) Thực hành: sinh viên học tập thông qua thực hành, thực tập, làm thí nghiệm, làm bài tập, thảo luận, đọc và nghiên cứu tài liệu dưới sự trợ giúp trực tiếp của giảng viên; c) Tự học bắt buộc: sinh viên tự học tập và nghiên cứu tài liệu theo hình thức

cá nhân hoặc tổ/nhóm ở nhà, ở thư viện, trong phòng thí nghiệm, … theo kế hoạch, nhiệm vụ và nội dung do giảng viên giao, được kiểm tra để đánh giá điểm môn học

5Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BCD&ĐT ngày 15/8/2007: Quy chế đào tạo đại học và cao

đẳng hệ chính quy theo thệ thống tín chỉ, Hà Nội

6Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quy chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành ngày 26/10/2010),

Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội

Trang 30

26

Giờ tín chỉ là đại lượng đo thời lượng học tập của sinh viên, được phân thành ba loại theo các hình thức dạy - học và được xác định như sau:

a) Một giờ tín chỉ lên lớp bằng 01 tiết lên lớp và 02 tiết tự học;

b) Một giờ tín chỉ thực hành bằng 02 tiết thực hành và 01 tiết tự học;

c) Một giờ tín chỉ tự học bắt buộc bằng 03 tiết tự học bắt buộc nhưng được kiểm tra, đánh giá [7]

1.2.3 Khái niệm sinh viên

1.2.3.1 Định nghĩa về sinh viên

Sinh viên, tiếng Anh là Students, theo nguồn gốc tiếng Latin nghĩa là “người

làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu khai thác tri thức”

Theo “Từ điển Tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên), sinh viên được hiểu là

“Người học ở bậc đại học”[29]

Còn theo tác giả Vũ Thị Nho7 thì sinh viên là lứa tuổi từ sau tuổi Phổ thông trung học đến khoảng 24-25 tuổi Đây là lớp người đang theo học ở các trường Đại học, cao đẳng, là tầng lớp tri thức của xã hội Sinh viên là tầng lớp quan trọng trong mỗi chính thể, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn lực lao động xã hội có trình độ cao của đất nước

Hoạt động chủ đạo của tuổi sinh viên là hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và các hoạt động nghề nghiệp

1.2.3.2 Một số đặc điểm cơ bản của sinh viên

- Về thể chất: Đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên Các tố chất về thể lực: sức mạnh, sức bền, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng các hoóc môn nam và nữ

- Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ: Sinh viên là giai đoạn hoàn thiện về sự phát triển thể chất và sinh lý Hoạt động của hệ thần kinh ở vào thời kỳ sung mãn nhất giúp sinh viên có thể tiến hành hoạt động học tập, lĩnh hội tri thức của mình ở mức độ chuyên sâu Bản chất của hoạt động nhận thức của lứa tuổi này ở các trường Đại học, Cao đẳng là đi sâu tìm hiểu những lĩnh vực, chuyên ngành khoa học cụ thể

7

Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Trang 31

27

nhằm trở thành những chuyên gia trong những lĩnh vực đó Hoạt động này phải kế thừa những thành tựu đã có, đồng thời tiếp nhận và phát huy những thành tựu tri thức khoa học đương đại cũng như góp phần sáng tạo ra các tri thức mới Vì vậy, hoạt động nhận thức của sinh viên thường đòi hỏi sự căng thẳng, mệt mỏi về trí tuệ

và phối hợp nhiều thao tác tư duy như so sánh, phân tích, khái quát hoá, trừu tượng hoá

- Sự phát triển về tự ý thức: Tự ý thức là một đặc điểm tâm lý quan trọng của con người, bắt đầu manh nha hình thành từ tuổi ấu thơ Đặc điểm này giúp cá nhân

tự nhận thức, đánh giá mình trong các mối quan hệ với người khác, từ đó tự điều chỉnh mình để thích nghi với xã hội và phù hợp với những định hướng giá trị của chính mình Đối với sinh viên, tự ý thức là một nét phẩm chất không thể thiếu Sự phát triển cao của đặc điểm tâm lý này giúp cho sinh viên có thể đánh giá động cơ, kết quả hành động, cũng như đánh giá tư tưởng, tình cảm, phong cách đạo đức và hứng thú của chính mình, từ đó hiểu biết và có thái độ đúng đắn với chính mình và với xã hội Tự ý thức giúp sinh viên đánh giá toàn diện và hoàn thiện nhân cách của mình cũng như tạo nên những nét độc đáo riêng của cá nhân để tự khẳng định mình trong xã hội

- Đời sống xúc cảm, tình cảm: Thời kỳ sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ và tình cảm đạo đức Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong quá trình học tập và đời sống của họ Tình cảm trí tuệ biểu hiện rõ thái độ tích cực đối với việc chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; ở việc tự khám phá, lựa chọn, vận dụng sáng tạo các phương pháp và phương tiện học tập phù hợp với điều kiện môi trường và hình thức tổ chức dạy học…nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập Đồng thời, tình cảm trí tuệ của sinh viên còn thể hiện ở việc họ tích cực học tập để trở thành chuyên gia của lĩnh vực chuyên ngành, vừa học tập chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của chuyên ngành khoa học khác đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp trong tương lai, của xã hội và cuộc sống bản thân Tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ của sinh viên có chiều sâu rõ rệt, biểu hiện ở chỗ: Sinh viên có thể lý giải, phân tích một cách có cơ sở những gì mà

họ yêu thích, họ có cách cảm, cách nghĩ riêng, có phong cách riêng

Trang 32

28

- Sự phát triển về động cơ học tập: Một trong các hoạt động chủ đạo của sinh viên là học tập Vì vậy động cơ học tập là một nét tâm lý quan trọng của sinh viên

Nó mang những nét đặc trưng khác với các lứa tuổi khác Đối với sinh viên, động

cơ học tập bị chi phối bởi nhiều yếu tố cá nhân như nhu cầu, tình cảm, định hướng giá trị, thế giới quan, niềm tin Ngoài ra, nó còn thể hiện rõ tính hệ thống Hoạt động học tập của sinh viên không chỉ do một động cơ thúc đẩy mà thường là rất nhiều động cơ được sắp xếp theo hệ thống Ví dụ: các sinh viên thường tham gia học tập vì động cơ nghề nghiệp, động cơ kinh tế, động cơ chiếm lĩnh tri thức, động

cơ thể hiện mình, nhưng các động cơ này ở mỗi sinh viên khác nhau thì được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên khác nhau Chẳng hạn, có sinh viên thì đặt động cơ chiếm lĩnh tri thức lên hàng đầu, có sinh viên thì coi trọng động cơ thể hiện mình hơn cả

1.2.4 Hoạt động học và đặc điểm hoạt động học của sinh viên

1.2.4.1 Hoạt động học

Hoạt động của con người rất đa dạng và phong phú Trong đó có thể nói rằng hoạt động học là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người Đây là quá trình nhận thức độc đáo của người học, giúp họ phát triển nhân cách toàn diện để thích ứng nhanh chóng với sự phát triển phức tạp của cuộc sống Hoạt động học có các đặc điểm cơ bản sau đây:

- Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của thầy [25]

- Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri thức đó, trong đó người học là chủ thể, khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh

- Hoạt động học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ năng, thái độ mới

1.2.4.2 Đặc điểm về hoạt động học của sinh viên

- Đặc điểm hoạt động học của sinh viên

+ Sinh viên học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách của người chuyên gia tương lai Hoạt động học tập của họ vừa gắn liền với hoạt động

Trang 33

+ Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao Điều rất quan trọng là sinh viên phải tìm ra phương pháp học tập mới ở bậc Đại học Phương pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành khoa học mà họ theo đuổi

- Cấu trúc hoạt động học của sinh viên bao gồm ba thành tố cơ bản: động cơ học, nhiệm vụ học và các hành động học:

+ Động cơ học của sinh viên: là nhu cầu học được sinh viên nhận thức và trở thành động lực thôi thúc học tiến hành hoạt động học Động cơ học của họ được hình thành trong suốt quá trình học qua việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

và lĩnh hội các phương pháp học ở đại học Hoạt động học bị chi phối bởi rất nhiều động cơ và các nhóm động cơ đó đều thúc đẩy sinh viên nhưng không phải đồng đều mà tạo nên tình trạng thứ bậc các động cơ ưu thế Thứ bậc này không ổn định

mà được biến đổi trong quá trình học tập của họ ở đại học

+ Nhiệm vụ học của sinh viên: là hình thức cụ thể hóa mục đích học thành những công việc học tập cụ thể mà sinh viên phải thực hiện để có sản phẩm nhất định Việc thực hiện các nhiệm vụ học giúp sinh viên chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng

và kỹ xảo tương ứng, tạo ra năng lực mới để hình thành nhân cách theo mục tiêu đào tạo

+ Các hành động học của sinh viên: Để thực hiện nhiệm vụ học, sinh viên phải tiến hành các hoạt động học cơ bản: phân phối và sắp xếp thời gian học tập, chuẩn bị nghe giảng bài, nghe và ghi bài giảng, chuẩn bị và tiến hành xêmina, ôn tập…Các hành động này được hình thành trong chính quá trình học tập, khi đã hình thành nó lại trở thành công cụ, phương tiện học tập giúp sinh viên nhanh chóng thích ứng với hoạt động học, góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên ở đại học

Trang 34

Theo tác giả Nguyễn Minh Đức cho rằng: sự thích ứng với hoạt động học tập

là quá trình biến đổi trong đời sống tâm lý và hệ thống hành vi của người học, là quá trình người học lĩnh hội phương thức hoạt động, ứng xử phù hợp đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động học tập, hình thành được cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chỉnh thể của hành vi và hoạt động, đảm bảo cho học sinh tham gia hoạt động này có kết quả [10]

Theo Hoàng Trần Doãn thì thích ứng học tập là một quá trình thích nghi đặc biệt của cá nhân đối với điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào điều kiện mới một cách thuần thục và chính trong quá trình đó, con người không thụ động mà được bộc lộ trong quá trình hoạt động có đối tượng như một chủ thể động [8]

Như vậy, các tác giả trên đã nhấn mạnh vào tính tích cực và chủ động của người học Đây cũng là yêu cầu hết sức quan trọng trong việc đổi mới phương pháp học tập hiện nay

Theo chúng tôi, thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên theo phương

thức đào tạo tín chỉ là một quá trình người sinh viên tích cực, chủ động, hoà nhập vào các điều kiện học tập, nội dung và phương pháp học tập mới, những yêu cầu, đòi hỏi mới của học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ để từ đó người học có những hành vi ứng xử phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi đó Thông qua quá trình

đó sinh viên thu nhận những tri thức mới, rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo mới để đạt hiệu quả cao trong học tập theo phương thức tín chỉ

Trang 35

+ Nhận thức về vai trò của sự thích ứng đối với hoạt động học tập theo phương thức ĐTTC

+ Nhận thức về các đặc điểm, mục đích của việc tổ chức hoạt động học tập theo phương thức ĐTTC

+ Nhận thức về mức độ quan trọng của các hình thức học tập theo phương thức ĐTTC (tự học, học tập trên lớp, làm việc theo nhóm, thảo luận)

- Thích ứng về mặt thái độ: Dù trong bất kỳ hoạt động nào, bản thân những người tham gia đều bày tỏ thái độ của mình và điều này cũng thể hiện rõ nét trong quá trình học tập của sinh viên Những sinh viên làm chủ được cảm xúc biểu hiện ở chỗ biết tạo ra sự hài lòng, thoải mái và sự hứng thú, biết đưa ra những đánh giá và nhận định phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn và biết điều khiển, điều chỉnh diễn biến tâm lý của mình thì thường thích ứng rất tốt với hoạt động học tập, đồng thời luôn chủ động lựa chọn được phương pháp học tập phù hợp với mục đích, nội dung, yêu cầu của hoạt động học tập nhằm đạt được kết quả tốt Ngược lại, những sinh viên có biểu hiện thiếu kiềm chế cảm xúc, tình cảm, không hài lòng, mệt mỏi, căng thẳng, hay lo lắng, thiếu tự tin, thậm chí thờ ơ với hoạt động học tập thì họ thường thích ứng rất kém với hoạt động học tập Thích ứng ở mặt thái độ bao gồm:

+ Thái độ với những quy định trong quy chế và thông tin về ĐTTC

+ Thái độ với những quy định về thời gian học, thời gian thi

+ Thái độ với việc kiểm tra - đánh giá của trường

+ Thái độ về những quy định về việc đăng ký môn học

Trang 36

32

+ Thái độ về nội dung đào tạo và cung cấp đề cương môn học

+ Thái độ về phương pháp giảng dạy của giảng viên

+Hành vi lập kế hoạch học tập và việc thực hiện kế hoạch này

+Mức độ tích cực trong việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp và tham gia ý kiến xây dựng bài trong các buổi học và thảo luận

+Mức độ giải quyết các khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình học +Mức độ tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập

+Mức độ giải quyết những khó khăn của sinh viên trong quá trình đăng ký môn học

+Mức độ thành thạo với các hình thức học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ (tự học, học tập trên lớp, làm việc theo nhóm, thảo luận)

+Những kiến nghị của sinh viên nhằm nâng cao sự thích ứng với HĐHT theo phương thức đào tạo tín chỉ

Tóm lại, sự thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên được biểu hiện qua ba mặt trên Ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, là một chỉnh thể thống nhất tạo nên đời sống tâm lý của con người Thực tiễn cho thấy rằng nếu nhận thức đúng dẫn đến thái độ đúng, thì hành vi thể hiện trong quá trình học tập đúng Ngược lại, nếu nhận thức và thái độ chưa đúng thì hành vi cũng chưa đúng hoặc chưa chính xác Do đó, muốn tăng khả năng thích ứng với hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên thì cần phải chú ý quan tâm đến cả ba mặt trên

Trang 37

33

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổ chức nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về trường ĐHKHXH&NV

Tháng 9/1995, trên nền tảng các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường ĐHKHXH&NV chính thức được thành lập và trở thành một thành viên của ĐHQGHN theo Nghị định số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ Đây là sự thay đổi có ý nghĩa bước ngoặt, là bước phát triển cao hơn của nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước Sứ mệnh của nhà truờng

đã được xác định: “Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có sứ mệnh đi

đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

về khoa học xã hội và nhân văn phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”

Trên cơ sở các khoa Văn học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Triết học, nhà trường tiếp tục thành lập một số khoa và bộ môn trực thuộc để đáp ứng nhu cầu phát triển của khoa học và xã hội: Khoa Báo chí và truyền thông, Khoa Đông phương học, Khoa Quốc tế học, Khoa Du lịch học, Khoa Tâm lý học, Khoa Xã hội học, Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Khoa Thông tin- Thư viện, Khoa khoa học Quản lý, Khoa học chính trị, Khoa Xã hội học, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt và Bộ môn Nhân học

Thành tích về đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường được thể hiện thông qua các danh hiệu: Huân chương Lao động hạng Nhất năm (1981), Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới (2005), Huân chương Hồ Chí Minh (2010); 10 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 16 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ;

25 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và 56 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Tiếp nối truyền thống và thành tích đáng tự hào đó, Trường ĐHKXH&NV đang xây dựng trường thành một đại học đứng đầu đất nước về khoa học xã hội và nhân văn, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước; Tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hoá các chương

Trang 38

34

trình đào tạo, đẩy mạnh các hoạt động học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấp cao ở khu vực và trên thế giới

* Vài nét đánh giá về đào tạo theo tín chỉ tại Trường ĐHKHXH&NV

Tháng 02/2006, Đảng ủy Nhà trường đã ra nghị quyết thông qua “Lộ trình đào tạo tín chỉ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đến nay việc thực hiện chuyển đổi để thể hiện được sự đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đào tạo tại Trường Nhà trường đã trải qua 04 năm giai đoạn lần thứ nhất của quá trình chuyển đổi từ 2006 đến 2010 và giai đoạn 2011-2015 sẽ là giai đoạn thứ hai Đây là giai đoạn chuyển đổi theo chiều sâu Nhìn chặng đường đã qua về đào tạo tín chỉ của Trường, có thể khái quát những kết quả chủ yếu như sau:

-Đã nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên về yêu cầu và nhiệm vụ của đào tạo tín chỉ

-Thực hiện thành công kế hoạch chuyển đổi đào tạo tín chỉ giai đoạn

2006-2010 và đang triển khai giai đoạn 2011-2015

- Tạo bước chuyển biến căn bản trong xây dựng chương trình đào tạo, đề cương môn học, tài liệu hướng dẫn học tập môn học, biên soạn giáo trình và kiểm tra –đánh giá

-Đảm bảo được các điều kiện nâng cao khả năng thích ứng với đào tạo tín chỉ

và chất lượng học tập sinh viên

-Chất lượng giảng dạy và học tập không ngừng nâng cao

-Công tác sinh viên bước đầu bắt kịp với tiến trình chuyển đổi đào tạo, thực hiện tốt chính sách xã hội

Với quyết tâm của Nhà trường cùng với sự ủng hộ và đầu tư mạnh mẽ của ĐHQGHN và nỗ lực của toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên, Trường ĐHKHXH&NV đang xây dựng trường thành một đại học đứng đầu đất nước về khoa học xã hội và nhân văn, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

2.1.2 Tổ chức nghiên cứu

2.1.2.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 4/2011- 4/2013

- Tháng 4/2011: hoàn thành đề cương nghiên cứu

Trang 39

35

- Tháng 4/2011- 4/2012: hoàn thành phần lý luận và nội dung của đề tài

- Tháng 4/2012: tiến hành nghiên cứu thực tiễn

- Tháng 4/2012: hoàn thành phần kết quả nghiên cứu

- Tháng 4/2013: hoàn thành đề tài nghiên cứu

2.1.2.2 Giai đoạn nghiên cứu lý luận

- Xây dựng hệ thống khái niệm làm công cụ nghiên cứu, cụ thể hoá dưới các chỉ báo để có thể đo được trong thực tiễn, sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết làm cơ sở lý luận của việc nghiên cứu

2.1.2.3 Giai đoạn khảo sát thực trạng

a/Giai đoạn khảo sát thăm dò

- Mục đích khảo sát thăm dò:

+ Hoàn thiện nội dung, hình thức của các bảng hỏi

+ Xác định những phương pháp bổ trợ phục vụ cho mục đích nghiên cứu + Hình thành các phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu

- Quy trình thăm dò:

+ Sử dụng phương pháp quan sát, lấy những thông tin để xây dựng bảng hỏi + Sử dụng phương pháp phỏng vấn để làm rõ hơn những thông tin thu được

từ các phương pháp khác

+ Lập phiếu điều tra mẫu (30- 50 phiếu)

b/Giai đoạn khảo sát thực trạng:

- Chọn mẫu nghiên cứu

- Phân tích mẫu nghiên cứu

c/Tiến hành khảo sát:

- Thời gian khảo sát thăm dò: tháng 4- 5/2012

- Thời gian khảo sát thực trạng: 4-5/2012

2.1.3 Cách chọn mẫu nghiên cứu

Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên 300 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ ba của 06 ngành trong trường Kết quả cụ thể như sau:

Trang 40

Nhà riêng với gia đình 18 6.0% KTX và làng sinh viên 92 30.7%

Ở nhà người thân 13 4.3%

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Tìm đọc, phân tích và khái quát các công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Chúng tôi xây dựng 20 câu hỏi cho đối tượng là sinh viên, trong đó có các câu hỏi đóng (đưa ra các phương án trả lời sẵn để người được hỏi lựa chọn), câu hỏi

mở (để cho người được hỏi tự đưa ra quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu) và câu hỏi kết hợp (bao gồm các phương án lựa chọn sẵn và các phương án do người được hỏi đưa ra) nhằm thu thập thêm thông tin

2.2.3 Phương pháp quan sát

Ngày đăng: 09/12/2020, 19:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w