Những thành công và hạn chế của các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên Kênh VTV5 Tây Nam Bộ .... Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có nhi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******************
LÊ VĂN ĐÔNG
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER
TRÊN SÓNG VTV5 TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********************
LÊ VĂN ĐÔNG
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER
TRÊN SÓNG VTV5 TÂY NAM BỘ
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 8320101.01 (UD)
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN BẢO KHÁNH
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Bảo Khánh
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Lê Văn Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ quý báu đó
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trần Bảo Khánh, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như định hướng
về phương pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo, các chức năng của Ban Truyền hình Tiếng dân tộc, Đài Truyền hình Việt Nam
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình, người thân và bạn bè
về sự động viên giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Tôi rất mong nhận được sự góp ý, xây dựng của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để luận văn này thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị
Hà Nội - 2020
Tác giả
Lê Văn Đông
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 13
1.1 Truyền hình và những đặc trưng của truyền hình 13
1.2 Văn hóa và vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 17
1.3 Văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer và công chúng truyền hình Khmer 20
1.3.1 Văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer 20
1.3.2 Công chúng truyền hình Khmer 25
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bảo thiểu số và của đồng bào Khmer 28
1.4.1 Một số quan điểm chung 28
1.4.2 Hành động của đài Truyền hình Việt Nam để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào Khmer 29
1.5 Một số tiêu chí về chương trình góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào Khmer 31
Tiểu kết chương 1 33
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER
TRÊN SÓNG VTV5 TÂY NAM BỘ 34
2.1 Vài nét về VTV5 và VTV5 Tây Nam bộ 34
2.1.1 Kênh truyền hình VTV5 34
2.1.2 VTV5 Tây Nam bộ 36
2.2 Quá trình phát triển chương trình tiếng Khmer trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt Nam 36
2.3 Nội dung các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ 38
2.3.1 Khung chương trình 38
2.3.2 Chủ đề chương trình 43
2.4 Hình thức các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên Kênh VTV5 Tây Nam Bộ 55
2.4.1 Thể loại 55
2.4.2 Phong cách 56
2.4.3 Ngôn ngữ 57
2.5 Những thành công và hạn chế của các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên Kênh VTV5 Tây Nam Bộ 58
2.5.1 Thành công 58
2.5.2 Hạn chế 59
2.6 Nguyên nhân của thành công và hạn chế 64
2.6.1 Nguyên nhân của thành công: 64
2.6.2 Nguyên nhân của hạn chế: 66
Tiểu kết chương 2 70
CHƯƠNG 3 KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER TRÊN SÓNG VTV5 TÂY NAM BỘ 72
Trang 73.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam bộ 72
3.1.1 Những vấn đề chung 72
3.1.2 Vấn đề của báo chí 74
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình văn hóa, văn nghệ trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ 75
3.2.1 Giải pháp về nội dung và cách thể hiện 75
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng con người 77
3.2.3 Giải pháp về công nghệ 78
3.2.4 Nhóm giải pháp về tài chính 80
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tiết mục múa dân gian trong chương trình ca nhạc tổng hợp 41
Hình 2.2 Phóng viên VTV5 Tây Nam Bộ đang đi tìm hiểu các tiết mục văn nghệ đặc trưng của đồng bào Khmer 42
Hình 2.3 Vỏ bản tin thời sự trên kênh VTV5 Nam Bộ 44
Hình 2.4 Chương trình Ca nhạc thiếu nhi trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ 60
Hình 2.5 Chương trình Ca nhạc tổng hợp trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ 61
Hình 2.6 Ghi hình trường trình Bản sắc phum sóc tại cở sở 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Khmer ở nước ta hiện có khoảng 1,3 triệu người sinh sống ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Từ ngày 01/01/2016, kênh truyền hình quốc gia VTV5 Tây Nam Bộ được thành lập nhằm phát sóng các chương trình truyền hình chuyên biệt cho công chúng là đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ
Với yếu tố về bản ngữ, chương trình truyền hình tiếng Khmer chính là điểm nhấn trong kế hoạch tuyên truyền trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và nhanh chóng trở thành kênh truyền thông đồng hành, gần gũi, thân thiện với bà con người Khmer trong vùng Tây Nam Bộ Các chương trình truyền hình tiếng Khmer đã có những đóng góp quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao dân trí cho đồng bào, ổn định trật tự an toàn xã hội và góp phần bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Hiên nay, chương trình văn hóa văn nghệ chiếm tỷ lệ gần 30% trong tổng thời lượng phát sóng trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ Tỷ lệ này chứng tỏ, lĩnh vực văn hóa, văn nghệ là những chương trình truyền hình luôn hấp dẫn đối với khán giả là người dân tộc Khmer, thậm chí còn có thể khẳng định văn hóa, văn nghệ là những chương trình truyền hình đặc biệt yêu thích của họ
Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa của đồng bào Khmer, đưa các giá trị văn hóa này đến với công chúng cũng là cách làm mạnh thêm lực lượng tuyên truyền, góp phần hữu hiệu trong việc nâng cao đời sống tinh thần cho bà con theo đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Là kênh truyền hình quốc gia, VTV5 Tây Nam bộ nói có vai trò quan trọng trong việc quảng bá và bảo tồn giá trị văn hóa của đồng bào Khmer, góp phần quan trọng trong việc đưa văn hóa nghệ thuật Khmer đến gần hơn và thường xuyên hơn với công chúng
Trang 10Thời gian gần đây, các chương trình truyền hình nước ngoài, cụ thể là các kênh truyền hình của Campuchia hiện đã xuất hiện ở nhiều phum sóc vùng sâu, vùng có đông bà con Khmer ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Những chương trình này được truyền qua chảo thu vệ tinh lắp đặt không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhưng đang dần dần trở thành xu hướng của nhiều gia đình bà con Khmer, bởi vì phần lớn thời lượng của các kênh truyền hình này dành cho các chương trình giải trí, trong đó có mảng văn hóa văn nghệ
Xét về góc độ chuyên môn, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, thì hơn 20 năm qua, trước đây là kênh VTV Cần Thơ 2 và nay là VTV5 Tây Nam Bộ đã giữ vị trí và vai trò chủ lực về sản xuất các chương trình văn hóa văn nghệ Khmer trên truyền hình Từ năm 1980 đến nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã tổ chức thu hình hàng ngàn chương trình ca múa nhạc của các Đoàn Nghệ thuật Khmer chuyên nghiệp và các Đoàn Nghệ thuật quần chúng trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Những chương trình văn hóa, văn nghệ này không chỉ được phát sóng trên các kênh sóng của Đài Truyền hình Việt Nam mà còn được chia sẻ cho các đài truyền hình địa phương, qua
đó, chương trình văn hóa văn nghệ trên truyền hình đã đáp ứng hiệu quả nhu cầu thưởng thức nghệ thuật truyền thống của bà con Khmer ở các khu vực Tây Nam Bộ Từ thực tế đó, có thể khẳng định rằng, văn hóa văn nghệ, các chương trình nghệ thuật luôn có vị trí quan trọng trong văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ
Hiện nay, nhu cầu xem chương trình giải trí của đồng bào Khmer trên truyền hình là rất lớn, nhưng việc sản xuất chương trình cũng còn hạn chế cả
về số lượng và thể loại Ngoài ra, những năm gần đây, việc sản xuất chương trình giải trí nói chung, chương trình văn hóa văn nghệ Khmer nói riêng cũng đối mặt với nhiều thách thức Trên thực tế, sức hấp dẫn của các chương trình này ít nhiều cũng đang bị ảnh hưởng bởi sự chi phối của đời sống kinh tế - xã hội, mặt khác bị ảnh hưởng bởi sự lấn át của các loại hình truyền thông giải trí
Trang 11hiện đại khác Từ thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer đang trở nên cần thiết và VTV5 Tây Nam
Bộ, với vai trò của mình phải tăng cường việc phủ sóng, mở rộng thời lượng, tạo sự phong phú về mảng văn hóa văn nghệ thì các giá trị văn hóa Khmer mới được gìn giữ và phổ biến vào đời sống của bà con Khmer ở khu vực đồng bằng song Cửu Long
Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ làm luận văn thạc sỹ báo chí
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng, nguyên tắc
hoạt động và hiệu quả của báo chí, ví dụ như “Cơ sở lý luận báo chí truyền
thông” (của các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang,
đã tái bản nhiều lần), “Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội” (2008),
“Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa xã hội” (2005), “Tác động của những phương tiện truyền thông mới đối với đời sống văn hóa của cư dân đô thị ở Việt Nam” (2006), bộ sách 9 tập “Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do khoa Báo chí và Truyền thông (ĐH KHXH và NV) xuất bản, …
Cùng với các công trình nghiên cứu đã xuất bản, còn có những đề tài nghiên cứu về vai trò của báo chí; chức năng khai sáng của báo chí; việc tổ chức sản xuất tác phẩm báo chí cho đồng bào dân tộc thiểu số được bảo vệ thành công trước các hội đồng khoa học như:
Năm 2007, tác giả Trần Bảo Khánh đã bảo vệ thành công Luận án tiến
sỹ với đề tài “Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện
nay” Tuy nhiên trong luận án này tác giả chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ và
khá chung về công chúng truyền hình khu vực miền núi phía Bắc Một số khóa luận, luận văn của một số sinh viên khoa Báo chí, Trường Đại học
KHXH&NV Hà Nội như: “ Các ấn phẩm báo chí của TTXVN phục vụ đồng
Trang 12bào dân tộc thiểu số và miền núi thời kỳ đổi mới” của Trương Văn Quân;
“Vấn đề chỉ dẫn - tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Hồng Vân; “Thông tin kinh tế - xã hội trên báo trực tuyến các tỉnh miền núi phía bắc” của tác giả Hoàng Chung
Thảo; “ Công tác đào tạo nghiệp vụ báo hình trong xu thế xã hội hóa sản
xuất chương trình truyền hình” -Lê Thu Hà; “ Sử dụng thông tin đồ họa trong các chương trình truyền hình hiện nay” - Ngô Thị Yến; “ Báo chí với việc tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên” - Trần Thanh Huyền ;
“Báo chí địa phương với vấn đề hội nhập kinh tế thế giới” - Bạch Thị Thanh;
“Báo chí với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở”-
Trần Thị Thu Thuỷ; “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay:
Vấn đề và thảo luận” - Bùi Thị Thu Thủy; “Vai trò của báo chí ngành giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới” - Nguyễn Xuân Đức…
Công tác nghiên cứu về truyền hình tiếng dân tộc nói chung và truyền hình tiếng Khmer nói riêng, thời gian qua đã thu hút sự quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu ở các vùng, miền trong cả nước Các bài viết, công trình nghiên cứu của giới học giả Việt Nam đã đưa đến nguồn tư liệu phong phú, ở nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến đồng bào Khmer Nam Bộ như: Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam, vai trò của báo chí trong hỗ trợ đồng bào Khmer thoát nghèo bền vững, cách lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc Khmer trên truyền hình, đổi mới tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cho đồng bào dân tộc thiểu số trên kênh VTV5 - Đài Truyền hình Việt Nam, hiệu quả chương trình truyền hình tiếng Khmer, đặc điểm công chúng của kênh VTV5 hay vai trò của báo chí trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống khu vực Tây Nam Bộ v.v…có thể kể đến một số công trình sau:
Năm 2001, Nguyễn Xuân An Việt có luận văn thạc sỹ với đề tài nghiên
cứu: “Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam”
Trang 13Luận văn đã khảo sát chương trình về dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam trong 3 năm 1999 - 2001 Ở công trình này, tác giả đã đưa ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng chương trình nhằm tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các biện pháp nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số Nhưng luận văn vẫn chưa chỉ ra được đặc thù công chúng của từng vùng, miền có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đặc biệt như đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ, từ đó, có những giải pháp làm tăng hiệu quả tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả Cao Thanh Hà có đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ truyền thông
đại chúng: “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Khmer của các
Đài phát thanh - truyền hình tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (2009)
Tác giả đã khảo sát thực trạng chất lượng chương trình tiếng Khmer của các Đài phát thanh truyền hình tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đưa ra giải pháp cho các chương trình truyền hình tiếng Khmer Tuy nhiên, tác giả chưa đưa
ra sự nhìn nhận vai trò của các chương trình văn hóa văn nghệ có vai trò như thế nào trong các chương trình tiếng Khmer, đặc biệt, đề tài chỉ nghiên cứu các chương trình truyền hình tiếng Khmer của đài tỉnh nên chưa có sự nhìn nhận bao quát vấn đề
Năm 2015, tác giả Nguyễn Xuân Bằng có đề tài nghiên cứu: “Hiệu quả
chương trình truyền hình tiếng Khmer của Đài phát thanh - truyền hình An Giang và Trà Vinh hiện nay” Luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu những vấn
đề cơ bản của thông tin phục vụ đồng bào dân tộc Khmer Trên cơ sở đó có cái nhìn tổng quát về hiệu quả chương trình truyền hình tiếng Khmer của Đài phát thanh - truyền hình An Giang và Trà Vinh hiện nay; làm rõ những hiệu quả và nhược điểm; đề xuất những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả của
Trang 14công tác thông tin phục vụ đồng bào Khmer, nơi còn nhiều khó khăn, nơi mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đầu tư lớn để đồng bào ngày càng
có cuộc sống tốt đẹp hơn Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu ở các chương trình truyền hình tiếng Khmer của Đài phát thanh - truyền hình An Giang, Trà Vinh, chưa đề cập đến mảng chương trình truyền hình tiếng Khmer của kênh VTV5 Tây Nam Bộ
Năm 2015, Nguyễn Anh Tùng thực hiện đề tài “Truyền hình các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long với việc tuyên truyền chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer hiện nay” Đề tài nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng truyền hình các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực hiện việc tuyên truyền chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer hiện nay Đặc biệt, đề tài còn nghiên cứu sự tiếp nhận thông tin của đồng bào Khmer như thế nào Trong đó, đề tài đưa ra những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền hình thực hiện tuyên truyền chính sách dân tộc cho đồng bào Khmer Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Tùng chưa đề cập đến vai trò của các chương trình truyền hình góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị về văn hóa của với đồng bào Khmer Khu vực Tây Nam Bộ
Năm 2015, tác giả Lê Thị Hồng Thu thực hiện luận văn với đề tài
nghiên cứu: “Đổi mới tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cho đồng
bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Nam Bộ” Trong công trình này, tác giả đã
nghiên cứu và đề xuất giải pháp đổi mới về nội dung và phương thức thức sản xuất các chương trình truyền hình trên kênh VTV5 cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu chưa đề cập tới việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer Khu vực Tây Nam Bộ Như vậy, đề tài của luận văn không trùng lặp với các công trình
có cùng hướng nghiên cứu trước đó
Về bản sắc văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
Trang 15Các tác giả đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú về dân tộc Khmer ở Nam Bộ
và các giá trị văn hóa đặc sắc của họ Đây là những tư liệu quý giá góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian và lễ nghi quý báu của đồng bào Khmer
Trong cuốn “Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam” tác giả Vũ Quốc
Khánh khẳng định dân tộc Khmer là một dân tộc có mặt sớm ở vùng đất Nam
Bộ Song song với việc ghi dấu ấn cho việc định cư của mình, người dân Khmer cũng kế thừa nền văn hóa Ăngco, nền văn minh lúa nước cộng với tập tục sinh hoạt của những nhóm lưu dân người Kinh, người Hoa, người Chăm tạo nên một bản sắc, một nền văn hóa riêng của mình Nền văn hóa đó có giá trị tiêu biểu, không lẫn lộn, pha tạp, nhưng vẫn đảm bảo yếu tố hài hòa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nền văn hóa đó cần được gìn giữ và phát huy nhằm chống sự “xâm thực” của các nền văn hóa khác, bảo toàn nguyên vẹn yếu tố gốc, có như vậy mới thấy được sự phong phú đa dạng trong nền văn hóa Việt Nam
Năm 2004, Tác giả Nguyễn Văn Hòa cho xuất bản cuốn “100 làn điệu
dân ca Khmer” Trong tác phẩm này tác giả khẳng định dân ca Khmer Nam
Bộ có vị trí rất xứng đáng trong việc đóng góp về mặt nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, làm giàu thêm vốn âm nhạc truyền thống của khu vực từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung
Trong cuốn “Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ” tác
giả Sơn Phước Hoan đã giới thiệu đến công chúng nền văn hóa giàu bản sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ, được lưu giữ qua nhiều thế hệ Trong nền văn hóa ấy, lễ hội nổi lên như một điểm nhấn Tại lễ hội của bà con Khmer Nam
Bộ, người ta cảm nhận được rất nhiều khía cạnh khác nhau, và trên hết đó là
sự cuốn hút khó cưỡng Theo phong tục, tập quán của người Khmer, trong năm họ có hơn 30 lễ hội lớn nhỏ như: Lễ hội Sen Dolta, Lễ hội Ooc om boc,
Lễ hội Lôi Protip, Lễ Kathima và Tết Chool Chhnăm Thmây,… Không chỉ
Trang 16giới thiệu đặc sắc của các lễ hội, tác giả còn đưa ra các sáng kiến về việc bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Khmer Nam bộ trong tình hình
hiện nay
Cuốn sách “Phong tục, nghi lễ và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam Bộ”
của tác giả Sang Sết do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc ấn hành năm 2012 là một tác phẩm nghiên cứu có hệ thống, góp phần vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy vốn văn hoá - văn nghệ dân gian và lễ nghi quý báu của đồng bào Khmer Sách giới thiệu các phong tục, lễ nghi về thờ cúng, những cuộc lễ bắt nguồn từ Phật giáo, lễ Tết truyền thống, nghi lễ theo vòng đời người và những nghi lễ trong đời sống hằng ngày của đồng bào Khmer Nam Bộ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng truyền hình VTV5 Tây Nam Bộ, luận văn đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất và hiệu quả của các chương trình truyền hình về đề tài bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ Từ đó đưa ra các khuyến nghị để giảm thiểu những thiếu sót trong quá trình sản xuất, đồng thời phát huy được ưu thế của truyền hình trong bảo tồn và phổ biến các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Trên cơ sở đó hướng tới việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam bộ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, tác giả luận văn xác định thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Cơ sở lý luận: làm rõ các khái niệm cơ bản về văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer; ưu thế của truyền hình trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ
Trang 17Phân tích, đánh giá các tác phẩm truyền hình đã phát trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ dành cho đồng bào Khmer trong năm 2018, tìm ra nguyên nhân của những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót còn mắc phải trong quá trình thực hiện các chương trình nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer
Đề xuất một số phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình dành cho đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền của của đồng bào Khmer Nam Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các chương trình truyền hình của VTV5 Tây Nam Bộ tham gia vào bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Tây Nam bộ
Nghiên cứu hoạt động của những phóng viên, biên tập viên, quay phim,
kỹ thuật tham gia sản xuất các tác phẩm truyền hình về đề tài bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ
Nghiên cứu những giải pháp để nâng cao chất lượng các chương trình VTV5 Tây Nam Bộ dành cho đồng bào Khmer
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát các chương trình của VTV5 Tây Nam Bộ dành cho đồng bào Khmer ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2018 VTV5 Tây Nam Bộ được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2016 Hai năm đầu là khoảng thời gian VTV5 Tây Nam Bộ vừa phát sóng phục vụ công chúng vừa hoàn thiện khung chương trình và quy trình sản xuất, sang năm thứ
3 là khoảng thời gian đi vào hoạt động ổn định Đây là giai đoạn cần có sự
Trang 18tổng kết để đánh giá những thành công và hạn chế để có sự điều chỉnh cho những năm tiếp theo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số; những đường lối, chủ trương về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng của Đảng và Nhà nước Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực báo chí, văn hóa và quản lý nhà nước về báo chí, quản lý văn hóa, bảo tồn văn hóa Mặt khác còn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý luận báo chí Đề tài còn dựa vào lý thuyết đặc điểm của văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
để nghiên cứu, đánh giá
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này nhằm khái quát, hệ
thống hóa, bổ sung mặt lý thuyết về các chương trình truyền hình Đây chính
là những lý thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực tế và đưa ra các giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các tài liệu, văn kiện, nghị quyết, pháp luật có liên quan của Đảng và Nhà nước, các giáo trình, sách, các bài nghiên cứu trên các tạp chí nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói chung và văn hoá truyền thống của đồng bào Khmer nói riêng
Phương pháp thống kê: Phương pháp này nhằm xác định tần xuất xuất
hiện, mức độ phát triển của các chương trình về việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của đồng bào Khmer đã phát sóng trên kênh VTV5 Tây Nam Bộ
Trang 19Phương pháp phân tích thông điệp truyền thông: Phương pháp này
được sử dụng nhằm phân tích các chương trình truyền hình trên VTV5 về văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer nhằm chỉ ra những thành công, hạn chế của các tác phẩm truyền hình khi sản xuất và phát sóng
Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp này tiến hành phỏng vấn các
chuyên gia, các nhà quản lý để thu thập ý kiến đánh giá về vấn đề nghiên cứu, đồng thời ghi nhận những kiến nghị để bổ sung vào phần đề xuất giải pháp của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.2 Về thực tiễn
Làm phong phú thêm những công trình nghiên cứu về giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc và nhất là việc phát huy vai trò của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng trong công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer nói riêng và đồng bào các dân tộc nói chung Từ việc nâng cao ý thức công dân, cộng đồng các dân tộc trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, tạo dựng thói quen, nếp sống coi trọng bản sắc văn hóa dân tộc mình, tạo môi trường thuận lợi trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, từ đó tạo ra phong trào toàn dân bảo
vệ phát triển những giá trị văn hóa phong phú và đặc sắc của dân tộc
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi các phần chính sau:
Chương 1: Lý luận chung về vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng truyền hình
Chương 2: Thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ
Chương 3: Khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ
Trang 21CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA ĐỒNG BÀO
KHMER TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
1.1 Truyền hình và những đặc trưng của truyền hình
Truyền hình
Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” do Nhà xuất bản Lao động ấn
hành năm 2012, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động”
Trong công trình nghiên cứu về “Vấn đề công chúng truyền thông chuyên biệt” tác giả Vũ Ngọc Thu cho rằng: “Truyền hình là một loại hình
phương tiện thông tin đại chúng sử dụng các phương tiện thiết bị khoa học để chuyển tải hình ảnh, âm thanh từ trung tâm phát sóng đến các điểm thu sóng”
Chương trình truyền hình
Khi nghiên cứu về báo chí, truyền hình, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về chương trình truyền hình Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người
ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát theo định kỳ
Một quan niệm khác về chương trình truyền hình được tác giả Dương
Xuân Sơn đề cập đến trong cuốn Giáo trình báo chí truyền hình đó là: Chương
trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu,
Trang 22hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả Các tác phẩm tin, bài được phát trong các chương trình truyền hình có sự lựa chọn, sắp xếp bố trí hợp lý để giúp khán giả tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống, có chiều sâu
Trong cuốn Sản xuất các chương trình truyền hình, tác giả Trần Bảo
Khánh (2002) viết: Chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng truyền hình
Luật Báo chí (2016) ghi rõ: Chương trình phát thanh, chương trình truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong một thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc Với cách tiếp cận này, ta có thể hiểu chương trình truyền hình là một sản phẩm nghe - nhìn hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức Nó là kết quả của một quá trình sáng tạo, là tập hợp của nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay nhiều tác phẩm khác nhau và tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau
Theo một cách hiểu khác rộng hơn, chương trình truyền hình là cách sắp xếp các nội dung thông tin, tuyên truyền một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định Chương trình thường được cấu tạo dấu hiệu nhận biết nhằm phân biệt giữa chương trình này với chương trình khác như lời chào, nhạc hiệu… Nội dung thông tin trong một chương trình có thể bám xuyên suốt quanh một chủ đề chính, hoặc có điểm tương đồng trong các lần phát sóng khác nhau nhằm phục vụ công chúng khán giả Thời lượng chương trình tùy thuộc vào nội dung thông tin và được lựa chọn, sắp xếp một cách hợp lý để giúp khán giả tiếp cận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và
có chiều sâu Như vậy, chương trình truyền hình chính là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích, ý tưởng sáng tạo của ê-kíp sản xuất Chất lượng của chương trình truyền hình được đánh giá bằng sự quan
Trang 23tâm của khán giả đối với chương trình đó và mức độ đạt được mục đích của nhà sản xuất
Truyền hình là loại hình báo chí mà tin tức, hình ảnh được phát qua sóng truyền hình bằng âm thanh và hình ảnh động Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp Bên cạnh đó truyền hình cũng sử dụng các loại hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ,
Ra đời từ đầu thế kỷ XX và suốt từ đó cho tới thập niên 50, truyền hình cũng chỉ được xem như là phương tiện giải trí Trải qua quá trình phát triển không ngừng, dần dần, truyền hình đã có đầy đủ chức năng của báo chí, trở thành một loại hình báo chí riêng biệt Và cũng như phát thanh, với truyền hình, tính phổ cập đại chúng cao vì không đòi hỏi công chúng phải biết chữ như báo in
Ưu thế chính của truyền hình chính là truyền tải cả âm thanh và hình ảnh cùng một lúc Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp Ngoài ra, truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh, như ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ in… Bằng kỹ thuật dựng hình, người ta còn có thể dừng các hình ảnh động trong một khuôn hình đặc biệt cần thiết để biến thành một ảnh tĩnh nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ một đặc điểm, ý nghĩa cụ thể
Âm thanh trong truyền hình bao gồm: lời nói của con người, âm nhạc
và tiếng động Nếu coi hình ảnh và âm thanh là hai yếu tố cấu thành ngôn ngữ truyền hình, thì yếu tố hình ảnh luôn chiếm phần chủ đạo, có tính chất quyết định đối với truyền hình HÌnh ảnh động tạo nên đặc thù của truyền hình, tạo nên sức hút đặc biệt và chuyên chở phần thông tin chủ yếu của các chương trình truyền hình Tuy nhiên, tiếng nói, bộ phận chính của âm thanh cũng có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải nội dung thông tin Bởi lẽ, ý nghĩa xác định của thông điệp được thể hiện bằng lời nói Mặt khác, những tư tưởng thể hiện qua ngôn từ bao giờ cũng đầy đủ hơn các biểu đạt khác về cả chiều
Trang 24rộng và bề sâu của chúng, nhất là trong trường hợp những tư tưởng đó có mối quan hệ phức tạp
Sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải thông tin vô cùng phong phú Hầu hết các sự kiện, hiện tượng nào trong xã hội đều có thể biểu đạt, phản ánh trên truyền hình Đặc điểm này tạo cho truyền hình một khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội
Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực ở trạng thái sống Nói cách khác, truyền hình hấp dẫn công chúng ở chỗ, nó cho người ta thấy cuộc sống hiện thực ở những chi tiết, những trạng thái của bản thân cuộc sống đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta Ngày nay, khi chất lượng kỹ thuật hình ảnh ngày càng hoàn thiện, truyền hình ngày càng hấp dẫn công chúng hơn Vì thế, truyền hình trở thành kẻ cạnh tranh đầy uy lực với các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng khác như sách, báo, phát thanh…
Sức mạnh của truyền hình ngày càng tăng do phạm vi ảnh hưởng rộng rãi của nó Những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại tạo ra khả năng cho truyền hình xâm nhập tới bất cứ ngõ ngách nào trên mặt đất nếu điều kiện tài chính cho phép Với kỹ thuật cáp quang, vệ tinh địa tĩnh, sóng tín hiệu truyền hình tạo thành một mạng lưới đưa các kênh truyền hình bao phủ lên khắp bề mặt địa cầu, phá vỡ những ranh giới địa chính trị, thu hẹp không gian truyền hình
Công chúng truyền hình thường là số đông, nên quá trình xem truyền hình cũng còn là quá trình trao đổi, phân tích để tái nhận thức thông tin ở một chất lượng mới Điều này tạo nên một tính chất đặc thù, một sức mạnh to lớn,
mà không một phương tiện truyền thông đại chúng nào có thể so sánh nổi Chất lượng và sức mạnh ấy bảo đảm cho truyền hình trở thành một nhân tố có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến dư luận xã hội, cũng như những tư tưởng ở chiều sâu bên trong của nó Ngay nay, khó có một lực lượng chính trị nào,
Trang 25một nhà chính trị nào có thể thành công nếu không hiểu được truyền hình và sức mạnh của nó
Nếu như công chúng chỉ có thể tiếp nhận thông tin bằng con đường thị giác đối với báo in, bằng thính giác đối với phát thanh thì đối với truyền hình, khán giả tiếp cận bằng cả thị giác và thính giác Hơn nữa, hình ảnh trên truyền hình còn có tính sinh động, hấp dẫn và tính sát thực bởi là hình ảnh động, trong khi hình ảnh của báo in là hình ảnh tĩnh Các lợi thế trên tạo ra sức hấp dẫn lớn cho truyền hình và cũng làm tăng hiệu quả của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Chính vì “mắt thấy, tai nghe” nên khán giả dễ dàng bị thuyết phục với những gì đang diễn ra trên truyền hình
Tuy nhiên, tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo tuyến tính của truyền hình làm cho đối tượng công chúng bị động hoàn toàn về tốc độ, trình
tự tiếp nhận thông tin Những thông tin phức tạp, có mâu thuẫn logic khó có thể chuyển tải đầy đủ trên truyền hình Bên cạnh đó, khi xem truyền hình, người tiếp nhận thông tin hầu như tập trung toàn bộ các giác quan vào những
gì đang diễn ra trên màn hình Điều này cản trở các khả năng kết hợp tiếp nhận thông tin truyền hình với các hoạt động sống khác của con người Sự cồng kềnh về thiết bị, phương tiện kỹ thuật ghi hình, chuyển phát sóng hình không cho phép người ta tiếp cận nhanh những sự kiện thời sự ở xa các thành phố hay trung tâm, hay ở những địa hình núi non hiểm trở
1.2 Văn hóa và vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
Có nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng phổ biến và được nhiều người công nhận là văn hóa bao gồm tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống thực tiễn suốt chiều dài lịch sử
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
Trang 26hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Quan niệm này thể hiện cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử, về phạm vi rộng lớn của văn hóa và những biểu hiện của văn hóa trong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con người Quan niệm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chủ Tịch về văn hóa có ý nghĩa quan trọng, hướng định đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
mà Đảng đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”
Qua văn hóa, người ta có thể đánh giá trình độ phát triển của xã hội qua các thời kì lịch sử cụ thể Nói chung, hiểu một cách đơn giản là vì con người cần phải sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống nên phát minh và sáng tạo
ra chữ viết, ngôn ngữ, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, khoa học cũng như văn học nghệ thuật, sáng tạo ra các công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn ở, mặc cùng các phương thức sử dụng Tất cả những điều mà con người phát minh và sáng tạo ra chính là văn hóa Như vậy, văn hóa do con người sáng tạo ra để phục vụ lợi ích của mình Văn hóa là của con người và được cộng đồng giữ gìn qua các thế hệ, được dùng để phục vụ đời sống con người có tính lưu truyền và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác
Có một số định nghĩa khác nhau về giá trị văn hóa, tuy nhiên có thể thấy rằng chúng đều có điểm chung là nhấn mạnh đến vai trò chi phối hay tác động đến sự lựa chọn (phương thức giao tiếp, hay hành vi ứng xử) Trong số các yếu tố tinh thần thì các giá trị văn hoá đóng vai trò quan trọng nhất, điều tiết các hành vi của con người trong xã hội
Trong ngôn ngữ của các dân tộc, khái niệm giá trị thường được dùng với hàm nghĩa tích cực Giá trị là hệ thống những đánh giá của con người về
Trang 27bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội hay tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, có ý nghĩa
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, giá trị là hệ thống những đánh giá của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, là có ích Giá trị chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần mà mỗi cộng đồng người quan tâm dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóa tốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng
xã hội)
Phát huy giá trị văn hóa là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực văn hóa nhằm đem tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Trong lịch sử bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, Việt Nam luôn luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa ngoại lai
Bảo tồn và phát huy hệ giá trị văn hóa truyền thống dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong văn hóa tư tưởng, phong tục tập quán, lề thói
cũ Trong truyền thống văn hóa dân tộc có những đặc điểm mang tính tích cực của thời điểm này, nhưng ở thời điểm khác lại không còn phù hợp, có những nội dung được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, song cũng có những yếu
tố trở nên lỗi thời, không còn phù hợp cần được gạt bỏ Truyền thống văn hóa
Trang 28dân tộc cần luôn luôn được phát huy, bổ sung, thay thế, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống Muốn phát huy, bổ sung, thay thế, hoàn thiện văn hóa truyền thống dân tộc có thể tiến hành bằng nhiều con đường, nhưng trong đó không thể thiếu con đường tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
1.3 Văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer và công chúng truyền hình Khmer
1.3.1 Văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer
Người Khmer là 1 trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Hiện có khoảng 1,3 triệu người, định cư chủ yếu ở các tỉnh, thành khu vực Tây Nam
Bộ trên ba vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây nam giáp với biên giới Campuchia Ngôn ngữ của người Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Người Khmer đã có những cống hiến to lớn vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam Về văn học nghệ thuật dân gian, người Khmer là chủ nhân di sản của một nền văn hóa phong phú gồm nhiều thể loại: Dân ca, truyện cổ, những câu châm ngôn, tục ngữ thường như một lời khuyên răn, một kinh nghiệm sống Gắn liền với những sinh hoạt khác nhau, dân ca Khmer cũng có nhiều thể loại: hát ru con, hát trong lao động…những bài hát không chỉ phản ánh kinh nghiệm nông nghiệp mà còn phản ánh đời sống xã hội nhiều tình cảm của người Khmer Người Khmer là một trong những cư dân có mặt sớm ở đồng bằng sông Cửu Long, tụ cư thành các phum - Sóc (các đơn vị xã hội cổ truyền) sống đan xen với các dân tộc khác như Việt, Hoa, Chăm Trong quá trình cộng cư, bên cạnh kỹ thuật cổ truyền, người Khmer đã tiếp thu các yếu
tố kỹ thuật của người Việt như sử dụng guồng nước, cải tiến các loại công cụ cày, bừa cho phù hợp với đất đai trong vùng Người Khmer cũng có những cống hiến to lớn vào kho tàng văn hóa chung của các dân tộc ở Việt Nam
Trang 29Người Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Người Khmer ở Nam Bộ gắn chặt với sự phát triển của vùng đất Nam Bộ Sự giao thoa giữa người Khmer với các dân tộc khác trên đất Nam Bộ; sự gắn bó giữa người Khmer Nam Bộ với người Khmer ở Campuchia đã tạo nên một nền văn hóa Khmer Nam Bộ vừa kế thừa
và phát huy những giá trị tinh hoa truyền thống của dân tộc Khmer, vừa có sự tiếp thu với những giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em Người Khmer Nam Bộ có nét văn hóa rất đặc sắc thể hiện qua kiến trúc nhà cửa, chùa, trang phục, văn nghệ, và các phong tục tập quán…
Lễ hội và tín ngưỡng
Người Khmer vốn có truyền thống văn hóa phong phú và lâu đời nhưng đặc điểm riêng biệt và độc đáo là mọi sinh hoạt văn hóa đều gắn bó với chùa chiền, đạo Phật Hầu như tất cả các lễ hội lớn nhỏ trong năm đều được thực hiện tại ngôi chùa Nói đến lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer, chúng ta có thể kể đến 3 lễ hội chính trong năm là: Tết Chol Chnam Thmay cổ truyền (Tết năm mới), Lễ hội Sen Đôn Ta (Phchum Banh - Lễ hội cúng ông bà tổ tiên) và
Lễ hội Dâng Y Kathinat Ngoài ra còn có lễ hội Ok om bok (lễ Cúng trăng), lễ Dâng bông, lễ Phật Đản, lễ hội phum sóc …
Là một dân tộc mộ đạo nên phần lớn các phum, sóc đều có chùa để dân chúng đến tụng kinh, thờ Phật Chùa đối với người Khmer là sự gắn bó thiêng liêng cả đời người Hiện khu vực đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 600 ngôi chùa ở những nơi có người Khmer sinh sống Trong mỗi chùa có nhiều
sư, đứng đầu là sư cả Nhà chùa ngoài việc đọc kinh, lễ Phật còn tổ chức dạy chữ Khmer, truyền bá kinh nghiệm sản xuất Những chùa lớn thường có dàn nhạc ngũ âm, đội ghe ngo Người Khmer phần lớn theo đạo Phật (phái Nam tông), một số ít khác theo đạo Bà La Môn Lớn lên được tu dưỡng trong tinh thần phật giáo xuống tóc đi tu, học giáo lý phật và học văn hoá trước khi bước vào cuộc sống tự lập của người trưởng thành Chùa cũng là nơi giữ tro cốt của
Trang 30người Khmer sau khi được hỏa táng Chùa trở thành trung tâm tín ngường, cõi thiêng và cũng là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân Khmer
Nhà cửa
Kiến trúc nhà của người Khmer có sự tương phản rõ rệt giữa nhà của người dân trong phum, sóc với chùa Nhà của người dân thì khá đơn giản còn chùa thì lại rất lộng lẫy Trước đây các phum, sóc của người Khmer thường tọa lạc trên suờn đồi hoặc trên những giồng cao (ở vùng đất trũng) Gần đây
do áp lực kinh tế thị trường và dân số, các phum, sóc của người Khmer đã ở dọc hai bên trục quốc lộ, dọc các dòng sông hay kênh rạch Nhà của người Khmer làm đơn giản, mái lợp lá dừa nước, ít nhà lợp ngói Nhà thường làm theo kiểu mái dài về phía sau Đồng bào làm nhà thường dùng con số lẻ như chiều cao 5m, 7m và cửa thường quay về hướng Đông Người Khmer vốn ở nhà sàn, nhưng nay nhà sàn chỉ còn lại rất ít ở dọc biên giới Việt - Campuchia
và một số nhỏ trong các chùa phật giáo Khmer là nơi hội họp sư sãi và tín đồ Nay số đông người Khmer ở nhà nền đất như người Kinh Nhà nền đất có thể chia làm hai dạng: Dạng nhà nghèo, nhà cỡ nhỏ chỉ có hai mái, mái trước ngắn, mái sau dài, cột kèo đều bằng gỗ nhỏ, bằng tre, mây buộc, mái lợp lá dừa hoặc lá thốt nốt, xung quanh che phên lá đơn giản Còn nhà cỡ lớn thường gắn với tầng lớp trung phú nông Nhà bốn mái gồm: hai mái chính, hai mái phụ đầu hồi Kết cấu bộ khung nhà đều bằng gỗ, các cột xà ngang, xà dọc, kèo dầm, kèo trích gắn kết với nhau bằng những lỗ đục mộng ngoàm Xung quanh nhà thường có ván gỗ hoặc xây tường che khuất Trong nhà được bài trí như sau: Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang, một phần làm nơi ở, một phần dành cho bếp núc Phần dành để ở lại chia thành hai phần theo chiều dọc bởi những vách ngăn: phần phía trước, ở giữa kê bàn ghế tiếp khách, bên cạnh thường có tủ kính đựng những chiếc gối thêu vừa để trang trí vừa tiện dùng khi có khách Sau bộ bàn ghế tiếp khách là bàn thờ Phật Nửa sau, bên phải là buồng của vợ chồng chủ nhà Về bên trái là phòng con cái Cách bố trí
Trang 31nhà như vậy là do người Khmer quan niệm: mọi tín ngưỡng thờ cúng đều được thực hiện ở trên chùa Khi cần cúng tổ tiên, khi có lễ cưới, lễ tang thì bày ra cúng ở giữa nhà
Đến vùng người Khmer cư trú, trông từ xa thấy một không gian cây cổ thụ xanh tốt, trong đó kiến trúc gạch ngói, đó là một ngôi chùa Dựng chùa, nuôi chùa là hạnh phúc lớn của toàn dân Khmer Người Khmer dành hết mọi nguồn lực, tài nghệ và vật liệu xây dựng tốt nhất cho ngôi chùa Cao và nổi bật lên trung tâm ngôi chùa Khmer là chính điện Chính điện là tổ hợp kiến trúc được làm từ gỗ, gạch đá, ngói thành ngôi nhà cao to 5 - 7 gian, chạy dọc theo hướng Đông - Tây với hàng hiên rộng bao quanh, nóc nhọn vút như lưỡi búa chổng ngược lên nhau, trên nóc cột đỉnh chỏm tháp và các đầu mái vút lên như những nóc dừa Trong chùa bàn thờ Phật bao giờ cũng đặt ở đầu nhà phía Tây, Phật nhìn về phía Đông phù hộ chúng sinh Có những ngôi chùa hai bên còn mở một hoặc hai gian thành ra ngôi chùa bốn mặt, mở ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Mỗi ngôi chùa Khmer là một bảo tàng về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tượng pháp bích họa trang trí trên trần, trên cửa, cột, hàng hiên, bệ tượng, thân tượng với những mô-típ hoa văn rồng rắn, hoa lá, chim muông, thú vật xung quanh những sự tích về Phật
Chữ viết
Người Khmer có chữ viết riêng, gọi là chữ Pali, loại chữ này cũng được dùng để chép kinh Phật giáo Nam tông Chữ Khmer xuất phát từ chữ Pallava, một biến thể của chữ Grantha mà nguyên thủy là chữ Brahmi ở Ấn Độ Hiện nay, để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, ngoài học chữ phổ thông, các em học sinh người Khmer còn được học chữ truyền thống của dân tộc mình ở trường học hay trong các ngôi chùa Đây chính là một trong những nguyễn nhân mà trong thời gian gần đây tỷ lệ người Khmer viết được chữ của dân tộc mình tăng nhiều so với vài chục năm trước
Trang 32Trang phục
Trang phục truyền thống của người Khmer được bảo tồn qua nhiều thế
hệ Người đàn ông hàng ngày mặc bà ba đen, quấn khăn rằn Ngày lễ họ mặc
áo bà ba trắng, quần đen, quàng khăn trắng quấn chéo vắt lên vai trái Chú rể trong đám cưới mặc sarong, áo ngắn màu đỏ, quàng khăn trắng vắt qua vai trái, đem thêm con dao tượng trưng, ngụ ý để bảo vệ cô dâu Nhưng nét riêng trang phục của dân tộc Khmer thể hiện rõ rệt hơn ở người phụ nữ là mặc váy dệt bằng sợi tơ tằm Trong những ngày lễ lớn kéo dài cả tuần, người phụ nữ đi
dự lễ, mỗi ngày mặc một chiếc váy màu sắc khác nhau Ngày cưới cô dâu thường mặc váy, gọi là Săm Pôl Hoil màu tím sẫm, áo dài tăm ong màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ tháp nhọn Hiện nay, ở khu vực Tây Nam Bộ trong cuộc sống hàng ngày, về trang phục có sự pha trộn, giao thoa giữa người Khmer, người Kinh, người Hoa, người Chăm, người Stiêng , đặc biệt ở lớp trẻ, miễn là đẹp mắt, hợp thời đại và tiện lợi trong sinh hoạt Tuy nhiên vào những ngày lễ thì hầu hết người Khmer ở Tây Nam Bộ kể cả nam và nữ, người già và người trẻ vẫn mặc những bộ trang phục truyền thống của họ Chính vì vậy nếu đến với những phum, sóc của người Khmer vào những ngày lễ lớn sẽ thấy được những nét văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ vẫn còn khá đậm nét
Nghệ thuật
Đồng bào Khmer Tây Nam Bộ Việt Nam có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ và sân khấu nghệ thuật như sân khấu Rô băm, Dù kê; múa Ram Vong, Lâm Lêv, Saravan; các điệu hát dân gian như hát Aday, Chlay Yam, hát ru con; nhạc cổ như làn điệu Alê, Chôl Chhung, Khan Bram, Peak Brambei, Peak Brampil, Sâmpông Trong đó tiêu biểu nhất là sân khấu Rô Băm và hát Dù Kê
Sân khấu Rô Băm là loại sân khấu cổ truyền, là loại kịch múa hay nghệ thuật múa sân khấu đã được công nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa
Trang 33phi vật thể quốc gia đợt 18 theo Quyết định số 1852/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Dù kê là loại kịch hát được tổng hợp của sân khấu Rô Băm với hát Tiều, hát Quảng của người Hoa, hát Bội, hát Cải Lương của người Kinh Các tiết mục văn nghệ được người Khmer biểu diễn vào dịp
lễ, tết hoặc đám cưới…
1.3.2 Công chúng truyền hình Khmer
Công chúng bao gồm các tầng lớp người, các cộng đồng dân cư khác nhau, họ trở thành công chúng báo chí khi tiếp xúc thường xuyên với báo chí, tiếp nhận ở đây các thông tin, chịu ảnh hưởng của nó Công chúng vẫn sẽ là công chúng báo chí khi họ còn thấy các loại hình báo chí đem đến cho họ những thông tin có ý nghĩa về phương diện chủ quan và thỏa mãn những nhu cầu của họ
Công chúng báo chí luôn phát triển một phần vì nhu cầu thông tin trong
xã hội hiện đại tăng cao, số lượng công chúng tìm đến một trong số các loại hình báo chí ngày càng nhiều Nhưng mặt khác, nói rằng số lượng công chúng báo chí tăng cao còn vì bộ phận công chúng tiềm năng, những người được công chúng báo chí truyền đạt thông tin mà họ nhận được từ báo chí Lớp công chúng này không tiếp xúc trực tiếp với thông tin báo chí, nhưng họ lại được nhận thông tin báo chí từ người tiếp xúc trực tiếp, cho dù thông tin này ít nhiều
bị biến đổi thì nó vẫn có tác dụng phổ biến thông tin và kích thích lớp công chúng này trở thành công chúng báo chí
Công chúng truyền hình là những người được xem truyền hình, tiếp nhận thông tin và chịu ảnh hưởng từ các thông tin mà truyền hình mang lại Cũng như tất cả các phương tiện thông tin đại chúng khác, khái niệm công chúng truyền hình được biết đến khi truyền hình xuất hiện
Vùng đồng bằng sông Cửu Long (hay cách gọi thông thường là miền Tây Nam Bộ) gồm 13 tỉnh, thành phố là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc
Trang 34Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ Khu vực này có diện tích
tự nhiên gần 4 triệu hecta, dân số khoảng 18 triệu người (chiếm 21%) dân số
cả nước Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đặc biệt là trong quan hệ với nước láng giềng Campuchia và các nước ASEAN
Người Khmer là tộc người thiểu số trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Các tỉnh có nhiều người Khmer cư trú là: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên
Giang, An Giang,… Theo cuốn Dân tộc Khmer Nam Bộ (nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, năm 2009 của tác giả Phan An), tổ tiên của người Khmer Nam Bộ là lớp cư dân cổ ở Đông Nam Á cư ngụ tại vùng hạ Lào, đông bắc Campuchia ngày nay Tộc người này từ thế kỷ 5-6 đã tạo dựng được một quốc gia với tên gọi Bhavapura, thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Chân Lạp Sau sự tàn lụi của nền văn hóa Óc Eo và quá trình biển tiến (cuối thế kỷ 7), vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung trở nên hoang vu Tình trạng đó kéo dài nhiều thế kỷ Đến thế kỷ 12 khi biển rút dần làm nổi lên những giồng đất cao màu mỡ ở vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp Mười , thu hút cư dân Khmer trốn chạy sự bóc lột hà khắc của triều đại Ăngko đến đây cư trú Cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, người Khmer đã có mặt đông đúc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Họ lập thành 3 vùng dân cư tập trung lớn là: vùng Sóc Trăng - Bạc Liêu, An Giang - Kiên Giang và vùng Trà Vinh Người Khmer ở Nam Bộ Việt Nam và người Khmer ở Campuchia do
đó có chung nguồn gốc lịch sử tộc người, chung tiếng nói, gần gũi về những đặc trưng văn hóa
Người Khmer sinh sống tại các vùng sông nước, chủ yếu bằng kinh tế sản xuất lúa nước, trồng rẫy và khai thác thủy sản, tạo giống lúa mới thích hợp với nhiều loại đất phèn, đất nước lợ, đất bồi phù sa và nghề thủ công truyền thống
Trang 35Ngày nay, từ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cuộc sống của đồng bào Khmer được đổi mới, đời sống ngày càng sung túc Tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm mạnh, tỷ lệ hộ giàu cũng không còn hiếm Lĩnh vực giáo dục, số lượng và tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng ở vùng này còn ít nhưng có sự tăng dần theo từng năm do Nhà nước có những chính sách quan tâm, việc học chữ Khmer và bổ túc văn hóa được cải thiện Theo đánh giá của Ủy Ban Dân tộc, kinh tế - đời sống của đồng bào Khmer ở nhiều địa phương trong vùng hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ giảm nghèo hàng năm tuy ở mức 3-4% nhưng nếu xét tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới thì tỷ lệ hộ Khmer nghèo vẫn còn cao (trên 28%, có nơi trên 30%) Đa phần đồng bào Khmer sinh sống ở khu vực vùng sâu, vùng núi, vùng còn nhiều khó khăn nên việc học hành, giáo dục cũng gặp những điều kiện bất lợi Nhiều gia đình Khmer chỉ lo cái
ăn cái mặc, chưa quan tâm đến việc học hành cho con em mình Chính vì vậy, nhiều trẻ em dân tộc Khmer lớn lên mà không biết đọc chữ quốc ngữ cũng như không biết đọc chữ của dân tộc mình
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, dân số của vùng Tây Nam Bộ trong độ tuổi 15 trở lên mù chữ chiếm tỷ lệ cao: 8,1% (toàn quốc là 6%), đặc biệt người Khmer độ tuổi 15 trở lên không biết chữ chiếm 25,6% (toàn quốc chiếm 21,5%) Sau 10 năm, theo kết quả điều tra dân số năm 2019 tỷ lệ người dân mù chữ chung của cả nước giảm được 1.8 điểm phần trăm Như vậy tỷ lệ người dân mù chữ trong vùng đồng bào Khmer vẫn còn rất cao Do vậy, việc thụ hưởng các món ăn tinh thần trong đồng bào từ đó cũng chưa được chú trọng thật sự Từ đó, đã dẫn tới khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào cũng gặp những khó khăn nhất định Đồng bào ít khi đọc những bài báo dài, những bình luận sâu, những bài viết mang tính khoa học cao Thay vào đó, đồng bào thích đọc, nghe nhưng thông tin ngắn mang tính thông tin nhưng câu chữ đơn giản, dễ nghe, dễ nhớ
Trang 36Theo ông Danh Vuông, Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Kiên Giang: Hiện
nay phần lớn đồng bào Khmer ở Nam Bộ vẫn chủ yếu là canh tác nông nghiệp, nên họ cũng không quan tâm đến những thông tin quá cao siêu mà thích những gì gần gũi, thiết thực với cuộc sống thường ngày của họ Đây là đặc điểm tâm lý chung của đồng bào, bởi do cuộc sống thường ngày họ gắn với ruộng, vườn và lao động vất vả để mưu sinh nên tư duy trực diện, cụ thể
và cần những thông tin phù hợp với khả năng tiếp nhận của mình
Theo ông Sơn Lương, Nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Sóc
Trăng: Mặc dù hiện nay phần lớn người Khmer không đọc và viết được tiếng
Khmer nhưng đa số họ vẫn nói được tiếng Khmer Việc trao đổi bằng tiếng
mẹ đẻ diễn ra hàng ngày nên người Khmer Nam Bộ vẫn có thể nghe, giao tiếp thuận lợi bằng tiếng nói của dân tộc mình Đồng bào không có thói quen đọc báo, tạp chí… nhưng đồng bào vẫn hàng ngày tiếp cận với tivi, radio bằng tiếng dân tộc mình Đây là điều kiện tốt để các chương trình truyền hình tiếng Khmer của VTV5 Tây Nam Bộ phát triển
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bảo thiểu số và của đồng bào Khmer
1.4.1 Một số quan điểm chung
Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho vùng đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long đã được triển khai thực hiện và đi vào cuộc sống Nổi bật là: Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư khóa VI về công tác ở vùng đồng bào Khmer Tiếp đến là Quyết định số 135/1998/TTg, ngày 31/7/1998 “Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa”; Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg, ngày 20/7/2004 “Về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn”; Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 “Về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào
Trang 37dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn”; Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg, ngày 9/8/2008 “Về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo”, Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020; Quyết định số 59/QĐ - TTg ngày 6/1/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc “cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn” giai đoạn 2019 - 2021” Kết luận số 28-KL/TW, Ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 Mới nhất, ngày 10 tháng 1 năm 2018 Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới
Thực hiện các quyết sách của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua vùng đồng bào Khmer đã đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào Khmer từng bước được cải thiện Các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào được bảo tồn và phát huy
1.4.2 Hành động của đài Truyền hình Việt Nam để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào Khmer
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc tăng cường tuyền truyền trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Đài Truyền hình Việt Nam đã chủ động sắp xếp, bố trí lại các kênh truyền hình khu vực thành hai kênh truyền hình quốc gia (VTV8 và VTV9), đồng thời phát triển kênh VTV5 Tây Nam Bộ, VTV5 Tây Nguyên, VTV5 Tây Bắc và Đông Bắc Trong đó, VTV5 - Tây Nam Bộ được hình thành trên cơ sở chuyển đổi nội dung kênh VTV Cần Thơ 2 (kênh truyền hình khu vực chuyên biệt dành cho đồng bào
Trang 38dân tộc Khmer) Hiện nay, kênh VTV5 Tây Nam Bộ trực thuộc Ban Truyền hình tiếng dân tộc (VTV5), Đài Truyền hình Việt Nam
Việc tổ chức sản xuất các chương trình văn hóa, văn nghệ dành cho đồng bào Khmer, VTV5 Tây Nam Bộ cần chú trọng những yếu tố sau:
Thứ nhất, nội dung các chương trình cần bám sát chủ trương, đường lối
và chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào Khmer nói riêng Đây chính là kim chỉ nam cho việc lựa chọn đề tài, sàng lọc thông tin và định hướng thông tin cho từng chương trình truyền hình Ví dụ: vừa qua, Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành quyết định về việc phê duyệt đề án Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, với tổng kinh phí là 222,9 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương là 51,2 tỷ đồng và ngân sách đối ứng từ địa phương là 171,7 tỷ đồng Như vậy, chỉ cần bám sát chủ trương này, VTV5 - Tây Nam Bộ sẽ có nguồn đề tài khai thác về trang phục dân tộc cực kỳ phong phú, lâu dài
Thứ hai, các chương trình văn hóa, văn nghệ cho đồng bào phải đáp
ứng đồng thời nhiều mục tiêu Với mỗi mục tiêu, các chương trình sẽ có định hướng xây dựng nội dung rõ ràng và hiệu quả Trong đó, các chương trình văn hóa, văn nghệ cần hướng tới một số mục tiêu cơ bản sau: (1) Đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao trình độ; (2) Quảng bá hình ảnh, văn hóa, văn nghệ; (3) Gắn văn hóa, văn nghệ với phát triển kinh tế - xã hội; (4) Giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển bản sắc đó qua các thế hệ; (5) Bình đẳng,
đoàn kết các dân tộc
Thứ ba, để đảm bảo được chất lượng của chương trình, nguồn nhân lực
về truyền hình là yếu tố mấu chốt, nguồn nhân lực với vai trò cố vấn là quan trọng Cần phát triển nhân lực từ đồng bào; phát triển mối liên hệ với các nghệ nhân, già làng, người có uy tín
Trang 39Thứ tư, các chương trình cần hướng tới sự lan tỏa văn hóa của người
Khmer đối với đồng bào cả nước và nước ngoài Thực tế là, các chương trình văn hóa, văn nghệ truyền thống gặp khó khăn để cuốn hút các dân tộc khác, bởi nó có những sắc thái rất đặc thù mang bản sắc dân tộc mà những tộc người khác khó có thể thẩm thụ hết Trong khi đó, mục tiêu quảng bá là hướng tới sự hấp dẫn của bản sắc văn hóa dân tộc này với các tộc người khác
Ví dụ: biểu diễn nghệ thuật kịch Rô Băm và Dù Kê, nếu không có sự am hiểu nhất định về tín ngưỡng thờ phật của đồng bào Khmer, không hiểu hết tâm tình và sự kết nối tâm linh trong từng điệu múa, câu hát, lời thoại sẽ khó có thể hiểu được ý nghĩa của vở diễn Vậy, làm sao để các chương trình quảng bá cho loại hình nghệ thuật này hấp dẫn đồng bào các dân tộc khác là một nhiệm
vụ hết sức quan trọng
Thứ năm, xây dựng nhiều chương trình mang tính thâm nhập thực tế để
phản ảnh được hiện thực, không “tô màu” làm cho hiện thực trở nên khác lạ… Đây là cơ sở để cải thiện chất lượng văn hóa
Thông qua các chương trình này, văn hóa, văn nghệ của dân tộc Khmer được quảng bá, gìn giữ và phát triển, đời sống tinh thần của người dân được nâng lên, các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng được củng cố và phát triển
1.5 Một số tiêu chí về chương trình góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào Khmer
Từ những yếu tố quyết định đến chất lượng chương trình truyền hình nói chung, các yếu tố quyết định chất lượng chương trình truyền hình văn hóa văn nghệ của đồng bào Khmer được xác định như sau:
- Chủ đề của chương trình: Thông tin đến đồng bào về lĩnh vực văn hóa văn nghệ cần phong phú, đa dạng, vừa tuyên truyền đời sống văn hoá văn nghệ của đất nước nói chung, vừa tập trung thể hiện các giá trị văn hoá văn
nghệ truyền thống
Trang 40- Nội dung chương trình: Từ đặc điểm tâm lý, văn hóa của đồng bào Khmer, khi sản xuất các chương trình văn hóa văn nghệ phải chú ý lựa chọn xác định kỹ càng về mặt nội dung, đảm bảo chương trình thực sự thiết thực, bổ ích, hấp dẫn và lôi cuốn Đối với đồng bào Khmer, âm nhạc dân gian có vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Cho nên khi xây dựng nội dung các chương trình văn hóa văn nghệ cho đồng bào cần ưu tiên lựa chọn các chất liệu văn hóa liên quan trực tiếp đến đời sống tại phum sóc của bà con.
- Kết cấu chương trình: Kết cấu chương trình văn hóa văn nghệ cần được sắp xếp khoa học giữa các tiết mục, kết hợp hài hòa giữa hình ảnh và âm thanh đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người xem Kết cấu chương trình mang tính ổn định, tạo thói quen cho công chúng khi xem chương trình
- Ngôn ngữ (hình ảnh + âm thanh)
+ Hình ảnh: Khuôn hình, bố cục, góc máy, ánh sáng và màu sắc phải chuẩn và sinh động
+ Âm thanh (âm nhạc và lời hát): sử dụng âm nhạc dân gian, các bài hát dân ca gần gũi với đời sống văn hoá văn nghệ của đồng bào Khmer
- Thời lượng phát sóng: cần có sự ổn định và có thời hạn Độ dài chương trình được thiết kế dựa trên nhu cầu và khả năng tiếp nhận của khán giả là người dân tộc thiểu số Chính vì thế, một chương trình văn hoá văn nghệ dành cho đồng bào dân tộc thiểu số chỉ nên thiết kế khoảng 30 phút