1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm trường đại học đồng nai

173 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả khẳng định tầm quan trong của kỹ năng giao tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, kích thích tính tích cực lĩnh hội tri thức và khêu gợi lòng khát khao hiểu biết ở học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn: PGS TS Lê Thị Minh Loan

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi thực hiện Những nội dung trong đề tài tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Minh Loan, cùng với những kiến thức tôi đã được học trong suốt thời gian học tại trường và sự giúp

đỡ nhiệt tình của các bạn cùng khoá

Mọi tài liệu trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng trong phần tài liệu tham khảo

Những lời khai trên là đúng sự thật, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 8, năm 2014

Học viên

Cao Thị Huyền

Trang 4

Lêi c¶m ¬n

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, có hiệu quả của rất nhiều tập thể và các cá nhân Tôi xin được trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHKHXH & NV Hà Nội, các thầy cô giáo khoa Tâm lý học trường ĐHKHXH & NV Hà Nội đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Minh Loan, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và kịp thời khích lệ động viên tôi trong việc hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã cổ vũ động viên tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua

Tuy nhiên, do hạn về mặt thời gian và khả năng của bản thân mà đề tài nghiên cứu của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp

và những ai quan tâm đến đề tài này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 08 năm 2014

Học viên

Cao Thị Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM KẾT……….i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… ….4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ……… … 5

MỞ ĐẦU……… ……… 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 10

1.1 Tổng quan nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng gao tiếp sư phạm 10

1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới 10

1.1.2 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm ở Việt Nam……….13

1.2 Các khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Giao tiếp sư phạm 15

1.2.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm 29

1.2.3 Kü n¨ng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 26

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 44

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU 48

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 48

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 48

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 48

2.2 Tổ chức nghiên cứu 49

2.2.1 Mục đích nghiên cứu 49

2.2.2 Nội dung nghiên cứu 50

2.3 Phương pháp nghiên cứu 50

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 50

Trang 6

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 51

2.4 Tiến độ triển khai nghiên cứu 55

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM 58

3.1 Thực trạng mức độ thực hiện kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai 58

3.1.1.Kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm 58

3.1.2 Kỹ năng định vị giao tiếp sư phạm 64

3.1.3 Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển giao tiếp sư phạm 70

3.2 Tổng hợp mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 79

3.2.1 Thực trạng mức độ các kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm 79

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … ……… 100

PHỤ LỤC……… 103

Trang 7

KNGT : Kỹ năng giao tiếp

KNGTSP : Kỹ năng giao tiếp sư phạm

ĐTB : Điểm trung bình

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1 Mức độ kỹ năng định hướng quá trình giao tiếp sư phạm

Bảng 3.2 Mức độ kỹ năng định vị quá trình giao tiếp sư phạm

Bảng 3.3 Mức độ kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp sư phạm Bảng 3.4 Mức độ các kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm

Bảng 3.5 Tương quan về mức độ thực hiện giữa các kỹ năng giao tiếp sư phạm Bảng 3.6 Vai trò của kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy Bảng 3.6 Mức độ hứng thú đối với nghề sư phạm của sinh viên sư phạm Biểu đồ 3.1: Tổng hợp mức độ kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm

Biểu đồ 3.2: Tổng hợp mức độ kỹ năng định vị quá tiếp sư phạm

Biểu đồ 3.3: Tổng hợp mức độ kỹ năng điều chỉnh điều khiển giao tiếp sư phạm Biểu đồ 3.4: Mức độ hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm

Biểu đồ 3.5 Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy giữa Nam và Nữ

Biểu đồ 3.6 Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy giữa năm 2 và năm 3

Biểu đồ 3.7 Tầm quan trọng của các kỹ năng giao tiếp sư phạm trong hoạt động giảng dạy

Biểu đồ 3.8 Động cơ chọn nghề của sinh viên sư phạm

Trang 9

Trong công việc, Đặc biệt là trong giáo dục nói chung và giảng dạy nói riêng giao tiếp không những có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ phận cấu thành hoạt động

sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản nhất để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục Nếu không có giao tiếp thì không thể hướng các hoạt động của thầy và trò vào các mục đích giáo dục Do đó, vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ động tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vào nghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay được những tình huống trong giao tiếp sư phạm Nhà trường sư phạm là nơi thực hiện nhiệm vụ này Hành trang của sinh viên khi bước vào cuộc sống nghề giáo ngoài tư cách, phẩm chất đạo đức tốt, niềm tin và bầu nhiệt huyết với sự nghiệp trồng người còn phải vững về chuyên môn giỏi về nghiệp vụ sư phạm, trong đó có kỹ năng giao tiếp Muốn đạt kết quả tốt trong việc chuẩn bị năng lực giao tiếp sư phạm cho sinh viên sau khi ra trường, trước tiên phải có sự đánh giá về đặc điểm, khả năng giao tiếp của họ ở góc độ tâm lí học để làm cơ

sở cho việc xác định chương trình, kế hoạch đào tạo một cách phù hợp

Trang 10

Trong thực tế, hiện nay cú rất nhiều giỏo viờn trẻ mới ra trường họ rất

cú khả năng về chuyờn mụn Họ đó từng là những sinh viờn thực sự giỏi về kiến thức chuyờn mụn khi cũn ngồi trờn giảng đường Nhưng khi trở thành giỏo viờn đứng trờn bục giảng thỡ lại lỳng tỳng, họ khụng được học sinh đỏnh giỏ cao trong việc giảng dạy và quan hệ giao tiếp với học sinh Điều đú phải chăng là do kỹ năng giao tiếp của họ chưa đỏp ứng được yờu cầu của dạy học

và giỏo dục

Hiện nay ở nước ta cũng đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm và cũng đó đưa ra được cỏc giải phỏp cụ thể cho vấn đề này Tuy nhiờn tại trường Đại học Đồng Nai thỡ chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm trờn cơ sở đú đưa ra cỏc biện phỏp thớch hợp trong việc nõng cao kỹ năng này cho sinh viờn Vỡ vậy để chuẩn bị tốt nghề nghiệp tương lai cho sinh viờn thỡ một trong những điều kiện phải chuẩn bị tốt ngay từ bõy giờ cho sinh viờn là kỹ năng giao tiếp sư phạm Chính vì lý do trên đây chúng tôi

mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình là: Kỹ năng

giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm trường Đại học Đồng Nai

2 Mục đớch nghiờn cứu

Trờn cơ sở một số vấn đề lớ luận về kỹ năng giao tiếp sư phạm, đề tài đi sõu, Tỡm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm trường Đại học Đồng Nai và Phõn tớch một số yếu tố ảnh hưởng, đề xuất một

số kiến nghị nhằm nõng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn trường Đại học Đồng Nai

Trang 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các quan điểm lý luận liên quan đến các vấn đề nghiên

cứu của đề tài

- Khảo sát thực trạng một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên

Sư phạm- trường Đại học Đồng Nai

- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của thực trạng kỹ năng giao tiếp

sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Mức độ kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

4.2 Khách thể nghiên cứu

- 200 sinh viên sư phạm trường Đại học Đồng Nai

- 50 học sinh ở các lớp do SVSP kiến tập, thực tập dạy

- 10 GVHD thực tập tại các trường có SVSP thực tập

5 Giả thuyết khoa học

- Kü n¨ng giao tiÕp sư phạm của phần lín sinh viªn sư phạm ë møc trung b×nh Sinh viên năm thức 3 có kỹ năng giao tiếp sư phạm tốt hơn năm thứ 2

- Có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến KNGTSP của sinh viên, trong đó các yếu tố cơ bản là: Nhận thức của sinh viên về KNGTSP, động cơ chọn nghề của sinh viên, hứng thú đối với nghề của sinh viên, thái độ của học sinh nơi sinh viên sư phạm thực tập và sư quan tâm giúp đỡ của trường nơi SVSP thực tập

Trang 12

6 Giới hạn nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nghiện cứu: Đề tài tập trung làm rõ thực trạng một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên Sư phạm - Trường Đại học Đồng Nai bao gồm: KN định hướng giao tiếp, KN định vị giao tiếp và KN điều chỉnh, điều khiển giao tiếp ở hai khối sư phạm tự nhiên và sư phạm xã hội

- Phạm vi nghiên cứu: Từ tháng 2- 4/2014 tại Trường Đại học Đồng Nai, một số trường trung học cơ sở nơi có sinh viên sư phạm thực tập kiến tập

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Trên cơ sở phân tích,

khái quát hóa các tài liệu thuộc lĩnh vực nghiên cứu chúng tôi đi xây dựng cơ

sở lí luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi: phương pháp này được

thực hiện thông qua việc phát phiếu điều tra cho đối tượng nghiên cứu để thu

thập thông tin cho đề tài

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này thực hiện thông

qua việc trao đổi trực tiếp với một số giáo viên hướng dẫn thực tập, sinh viên

sư phạm và học sinh nơi sinh viên sư phạm thực tập

7.4 Phương pháp quan sát: Việc quan sát được thực hiện tại lớp học

mà SVSP giảng dạy Chúng tôi sử dụng phương pháp này để đưa ra kết luận đầy đủ hơn cho quá trình điều tra bằng bảng hỏi

7.5 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý số liệu thu được, nhằm

đưa ra được những kết luận chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu,

Trang 13

chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê trong toán học: tính %, tính trung bình cộng, sử dụng excel và phần mền SPSS

7.6 Phương pháp giải quyết tình huống sư phạm

Phương pháp này thực hiện thông qua việc, chúng tôi đưa ra một số tình huống giao tiếp giả định để sinh viên sư phạm giải quyết

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ KỸ NĂNG GIAO

TIẾP SƯ PHẠM 1.1 Tổng quan nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng gao tiếp sư phạm

1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới

Vấn đề nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm trên thế giới hiện nay có thể phân những công trình nghiên cứu thành hai hướng: nghiên cứu lý luận giao tiếp và nghiên cứu giao tiếp ứng dụng

* Hướng nghiên cứu lí luận giao tiếp

Từ xa xưa giao tiếp đã là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tất cả các tâm lý học trên thế giới đều gặp nhau tại một điểm trong phạm trù giao tiếp – khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp đối với cuộc sống xã hội và sự hình thành nhân cách con người

Ngay từ thời kì cổ đại Arixtôt (384-322 TCN) trong cuốn sách “Bàn về tâm hồn”, cuốn sách đầu tiên của loài người bàn về tâm lý học đã quan tâm đến kỹ năng hoạt động nói chung Theo ông nội dung phẩm hạnh là: “Biết định hướng, biết làm viêc, biết tìm tòi”, điều đó có nghĩa con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng làm việc

Năm 1956 ba tác giả người Mỹ: Johnson, Lgrrison, M.Schlekamp đã viết cuốn sách về “giao tiếp” , đề cập đến mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp với sự tiến bộ trong trường đại học của sinh viên, cách biểu lộ tình cảm, kỹ năng bình luận

Năm 1960 Bavelas (Pháp) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc giao tiếp, đưa ra khái niệm “khoảng cách” được xác định như là một mắt xích giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới được người khác bằng con

Trang 15

Đến những năm đầu thế kỉ XX, tâm lý học hành vi ra đời với đại diện là: Watson, Skinner và Thordai…cũng bàn tới vấn đề rèn luyện kỹ năng trong việc tạo lập hành vi

Các nhà tâm lý học Xô viết cũng giành nhiều thời gian nghiên cứu về

kỹ năng trong đó có kỹ năng giao tiếp như: Rudic, Makarenco… Đặc biệt trước những năm 1970 khi lý thuyết hoạt động của Leonchiev ra đời, dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động hàng loạt các công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo được tuyên bố

Xavier Rogier Xem kỹ năng như một biểu hiện của năng lực và không

có kỹ năng nào tồn tại dưới dạng thuần khiết Mọi kỹ năng đều biểu hiện thông qua những nội dung cụ thể, theo ông thì kỹ năng được phân ra làm hai nhóm: nhóm kỹ năng nhận thức và nhóm kỹ năng hoạt động tay chân Nhưng thực tế sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì dù lao động chân tay nhưng hoạt động của con người vẫn được nhận thức ở mức độ nào đó

V.P Dakharov đã giành nhiều thời gian tâm huyết và làm việc của mình để phân loại các nhóm kỹ năng giao tiếp Trong trắc nghiệm giao tiếp của mình ông đã đưa ra 10 nhóm kỹ năng giao tiếp Đó là sự phân định khá rõ ràng mạch lạc, nghiên cứu của ông tới nay vẫn còn giá trị lớn, Đặc biệt trắc nghiệm này hiện nay vẫn còn được sử dụng tại Việt Nam

* Hướng nghiên cứu giao tiếp ứng dụng

Song song với việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên cứu hiện tượng giao tiếp theo tính chất và đặc trưng nghề nghiệp Trong đó giao tiếp của người thầy giáo đã trở thành đối tượng quan tâm đặc biệt của nhiều nhà tâm lý học sư phạm Chúng

ta có thể dễ dàng nhận thấy những quan điểm khác nhau về giao tiếp sư phạm trong các giáo trình tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi Nếu như trong cuốn “tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm” của Lêvitốp (NXB Giáo dục

Trang 16

Hà Nội) và cuốn “tõm lý học lứa tuổi và tõm lý học sư phạm” do Petrốpxki chủ biờn, giao tiếp sư phạm được xem như là năng lực truyền thụ tri thức cú hiệu quả, làm cho trẻ lắm vững và nhớ lõu tài liệu, thỡ ở trong cuốn “những phảm chất tõm lý của người giỏo viờn” của B.N Gụnụbụlen (NXB Giỏo dục

Hà Nội, 1976) và cuốn “những cơ sở của tõm lý học sư phạm” của Kruchetxki (NXB Giỏo dục Hà Nội, 1976) giao tiếp sư phạm được xem như là năng lực tiếp xỳc, sự khộo lộo đối sử sư phạm…của người thầy giỏo đối với học sinh Nhưng dự tiếp cận với giao tiếp sư phạm ở gúc độ nào cỏc tỏc giả này đều đỏnh giỏ cao vai trũ của nú trong quỏ trỡnh hỡnh thành nhõn cỏch cho học sinh Những năm gấn đõy tỏc giả Muđrich trong bài “tiềm lực của giao tiếp sư phạm” (tạp chớ giỏo dục học Xụ Viết thỏng 7, 1985) và A.T Curibanụva

“những cơ sở của giao tiếp sư phạm” xem giao tiếp như là tỏc động sư phạm của thầy giỏo và những người quản lý giỏo dục Bờn cạnh việc xem xột bản chất của giao tiếp sư phạm, cỏc tỏc giả cũng ớt nhiều đề cập đến kỹ năng giao tiếp của người thầy giỏo Mặc dự cú những ý kiến khỏc nhau nhưng nhỡn chung cỏc tỏc giả này đều xuất phỏt từ quan điểm của Macarenkụ về kỹ năng giao tiếp sư phạm Bằng cuộc đời hoạt động sư phạm của mỡnh, nhà giỏo dục học, tõm lý học thực hành Macarenkụ đó đề ra một loạt những yờu cầu đối với giao viờn khi tiến hành giao tiếp với học sinh Theo ụng, khi giao tiếp người thầy giỏo phải cú kỹ năng quan sỏt tinh tế, biết đỏnh giỏ đỳng đối tượng và đặc biệt phải biết làm chủ giọng núi, biết kiềm chế trạng thỏi tõm lý của bản thõn Những ý kiến này của Macarenkụ phự hợp hoàn toàn với lý thuyết của tõm lý học hiện đại về giao tiếp

Nh- vậy, việc nghiên cứu kỹ năng nói chung, kỹ năng giao tiếp nói riêng của các tác giả n-ớc ngoài ở một mức nào đó đã thu đ-ợc những hiệu quả nhất định Kết quả cung cấp cho chúng ta những tri thức khoa học trong

Trang 17

việc nhìn nhận vai trò cụ thể của kỹ năng đối với một hoạt động, với một lĩnh vực lao động bất kỳ trong xã hội

1.1.2 Nghiờn cứu về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm ở Việt Nam

Tại Việt Nam, tõm lý học là khoa học cũn non trẻ Vấn đề giao tiếp được đi sõu nghiờn cứu từ năm 1970 - 1980 Việc nghiờn cứu giao tiếp phỏt triển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khỏc nhau, thể hiện cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu lớ luận và thực tiễn

* Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về mặt lớ luận

Nguyễn Quang Uẩn trong “ Tâm lý học đại c-ơng” 1995, đã quan niệm Tri thức- Kỹ năng- Kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào đó [33, tr.29]

Tác giả Ngô Công Hoàn, Hoàng Thị Anh đặc biệt đi sâu nghiên cứu cấu trúc của 3 nhóm kỹ năng giao tiếp s- phạm đó là nhóm kỹ năng định h-ớng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp Theo các tác giả các kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau

Bên cạnh đó nhiều tác giả cũng đi sâu nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động s- phạm nh- tác giả Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Nh- An, Nguyễn Bảo Ngọc…

* Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về mặt thực tiễn

- “Đặc điểm giao tiếp của sinh viờn trường Cao Đẳng sư phạm Quảng Trị” - Nguyễn Thị Diễm Đề tài đó chỉ ra: Giao tiếp của sinh viờn sư phạm cú đặc thự riờng, thể hiện cụ thể là nhu cầu giao tiếp khỏ cao và chịu ảnh hưởng của thời gian theo học tại trường sư phạm, kỹ năng giao tiếp trung bỡnh, nội dung giao tiếp mang đặc trưng của lứa tuổi thanh niờn

- “Tỡm hiểu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn”, của tỏc giả Nguyễn Thị Thanh Bỡnh, khoa Tõm lý giỏo dục- trường Đại học sư phạm

Trang 18

Hà Nội Tác giả khẳng định tầm quan trong của kỹ năng giao tiếp đối với việc nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, kích thích tính tích cực lĩnh hội tri thức và khêu gợi lòng khát khao hiểu biết ở học sinh….Kỹ năng giao tiếp là một trong những điều kiện quan trọng cho sự thành công của sinh viên trong thực tập sư phạm, đồng thời góp phần hình thành nhân cách của người thầy giáo trong tương lai

- Nguyễn Thị Thanh Bình trong luận án “Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp”, đã chỉ ra khó khăn như hiểu biết chưa đầy đủ về học sinh, chưa làm chủ được trạng thái tâm lý của bản thân

- “Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên sỹ quan”, 2005, đề tài so sánh đánh giá mức độ sử dụng các nhóm kỹ năng giao tiếp với nhau ở sinh viên sỹ quan chưa chỉ ra được hiệu quả của việc sử dụng kỹ năng giao tiếp đối với hoạt động chính của sinh viện sỹ quan Nói chung nghiên cứu chỉ dừng lại

Đề tài “kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” đi sâu vào phân tích, xem xét và đưa ra nhận xét “kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận biết kịp thời các biểu hiện tâm lý bên ngoài và bên trong của bản thân và đối tượng giao tiếp, trong quá trình giao tiếp tạo ra và vận hành mối quan hệ giao tiếp giữa mình và người khác góp phần tạo ra mối quan hệ tối ưu cho quá trình dạy và học”

Trang 19

- Cụng trỡnh nghiờn cứu trẻ em phạm phỏp trẻ em vị thành niờn ở khớa cạnh từ nguyờn nhõn sang thoỏi nhõn cỏch Phạm Minh Hạc đó nờu lờn định nghĩa : “giao tiếp là hoạt động vận hành và xỏc lập cỏc quan hệ người -người

để thực hiện húa cỏc quan hệ xó hội giữa ta với nhau”

- Đặng Trần Hoài cựng với tổ Tõm lý học giỏo dục- nhõn cỏch thuộc viện khoa học giỏo dục tiến hành thực nghiệm sư phạm, trong đú đó thu hỳt học sinh cấp II và cấp III tham gia cỏc hỡnh thức tập thể dưới dạng tự quản, xem đú là biện phỏp giỏo dục chủ yếu đến mặt đạo đức của nhõn cỏch học sinh Từ thực nghiệm này cỏc tỏc giả đó rỳt ra nhận định: giao lưu là hoạt động tất yếu tạo nờn sự hiểu biết lẫn nhau sự ăn ý, sự thụng cảm, sự hối hợp hành động…

→ Điểm qua một số đề tài phía trên chúng ta thấy mỗi đề tài khai thác

kỹ năng giao tiếp ở các chiều, các khía cạnh khác nhau Chủ thể của các kỹ năng lại khá đa dạng họ ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, chưa đi sõu vào nghiờn cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viờn sư phạm

Vỡ vậy những giải phỏp mà họ đưa ra khụng thể ỏp dụng chung cho cụng tỏc đào tạo

- Với đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu mức độ hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm của SV sư phạm tr-ờng Đại học Đồng Nai trong hoạt

động, học tập, kiến tập và thực tập

1.2 Cỏc khỏi niệm cơ bản

1.2.1 Giao tiếp sư phạm

1.2.1.1 Vấn đề chung về giao tiếp

Giao tiếp là vấn đề quan trọng và phức tạp cú nhiều mặt và nhiều mức

độ Giao tiếp cú liờn hệ với nhiều tỏc động đa phương trong đời sống tõm lý con người Hiện nay cú thể phõn những cụng trỡnh nghiờn cứu thành hai dũng: nghiờn cứu lý luận giao tiếp và nghiờn cứu giao tiếp ứng dụng

Trang 20

* Nhóm giao tiếp ứng dụng: Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tâm lý học

giao tiếp vào các loại giao tiếp cụ thể trong các hóm xã hội cụ thể Họ viết sách dạy các thành viên trong nhóm giao tiếp hiệu quả hơn

Từ các ngành tâm lý học ứng dụng, các liên ngành tâm lý học du lịch, tâm lý học kinh doanh, tâm lý học trị liệu, tâm lý học tuyên truyền, tâm lý học

y học Hầu hết các nhà tâm lý học ứng dụng khi nhìn nhận khái niệm giao tiếp đều đề cập tới hai vấn đề sau:

- Nhấn mạnh đến vấn đề thông tin, thông báo trong giao tiếp

- Tính đến hiệu quả mang tính đặc thù trong lĩnh vực riêng biệt đó + Tâm lý học kinh doanh xem giao tiếp là một quá trình, một kích thích dưới dạng một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây hậu quả khi đi tới bộ thu

+ Tâm lý học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền đạt

và tri giác các thái độ, niềm tin và ý định, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lý chung của loài người làm sao cho đôi bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được mục tiêu giao tiếp

+ Tâm lý học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân - bệnh nhân trong bệnh viện nhằm tạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân

* Nhóm nghiên cứu lý luận giao tiếp: lại có thể được phân nhóm theo

Trang 21

Chủ thể  Hoạt độngĐối tượng Như vậy chủ thể, tác động vào khách thể thông qua đối tượng Đặc trưng cơ bản của hoạt động là tính đối tượng Con người- chủ thể tác động lên đối tượng-khách thể trong thực tiễn và hoạt động này được gọi là hoạt động bên ngoài Ngoài ra con người con thực hiện những thao tác tư duy- hoạt động bên trong

Hoạt động có thành phần cơ bản là hành động Hành động của hoạt động luôn có mục đích Ngoài mục đích, hành động còn được cấu thành bởi các thao tác

Hoạt động được gắn với động cơ Kết quả của hoạt động là khách thể (đối tượng) được biến đổi và nhận thức của chủ thể được cải tạo

Rất nhiều nhà tâm lý học có tên tuổi của Liên Xô như: B.G Ananhev, P.Ia Galprein, G.M Andreeva, A.A Bodalev…đã theo quan điểm là một hình thức của hoạt động Họ áp dụng nó vòa nghiên cứu một số lĩnh vực trong đời sống của con người và gặt hái được một số thành tựu Tuy nhiên theo quan điểm này đôi khi trong thực tế lại chỉ có thể coi giao tiếp là điều kiện của hoạt động hoặc khía cạnh của hoạt động

Định nghĩa của A.A Leonchev đưa ra trong thấp kỷ 70 của thế kỷ XX

đã thâu tóm được quan điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô coi giao tiếp là dạng của hoạt động Theo ông, “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các mối quan hệ xã hội và nhân cách, các hoạt động tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngôn ngữ” [1, tr.23]

Quan điểm thứ hai: Quan điểm coi giao tiếp là một phạm trù riêng, độc

lập với phạm trù hoạt động

Trang 22

Khác với A.A.Leonchev, B.Ph.Lomov cho rằng giao tiếp không phải là một dạng đặc biệt của hoạt động mà là một phạm trù độc lập, đồng đẳng với hoạt động

Theo Lomov trong quá trình giao tiếp, hình thức đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này với người khác đã diễn ra sự trao đổi qua lại các hoạt động, các phương pháp và kết quả, giữa các biểu tượng, các tư tưởng, các tâm thế, các hứng thú, các cảm xúc…

Giao tiếp là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể Kết quả của nó không phải là đối tượng được cải tạo (vật chất hay tinh thần)

mà là các quan hệ với người khác, với những người khác

Cơ sở lý luận để Lomov đưa vào tâm lý học phạm trù giao tiếp độc lập với phạm trù hoạt động gồm hai luận điểm sau:

+ Luận điểm dầu tiên là: “nhiệm vụ quan trọng nhất của tâm lý học lý luận là vạch ra sự thống nhất trong tính đa dạng của hiện tượng tâm lý”

+ Luận điểm thứ hai: khoa học tâm lý phải được xây dựng trên cơ sở một hệ thống các phạm trù Việc chuyển đổi hóa một phạm trù nào đó sẽ dẫn đến việc “lược tính nhiều mặt có thực của đời sống con người”

Tóm lại, B.Ph lomov cho rằng hoạt động và giao tiếp là hai mặt của sự tồn tại xã hội con người Hai mặt này gắn liền với nhau trong lối thống nhất Giữa chúng luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau và nhiều khi giao tiếp để hoạt động và hoạt động giao tiếp, giao tiếp được thực hiện bằng phương thức của hoạt động, hoạt động được tiến hành bằng phương thức của giao tiếp, giữa chúng luôn có chuyển hoá giữa cái này sang cái kia

Như vậy, khi coi giao tiếp là phạm trù đồng đẳng với hoạt động, Lomov đã khắc phục được những lúng túng của các nhà tâm lý học trường phái hoạt động trong việc xác định vai trò, đối tượng, động cơ, chiều hướng

Trang 23

cũng mở ra được lĩnh vực nghiên cứu mới cho giao tiếp Đó là tương tác liên nhân cách (tương tác đồng chủ thể) thông qua giao tiếp Tuy nhiên, hạn chế của Lomov là ông không đánh giá đúng mức vai trò của các yếu tố văn hóa và tâm lý cá nhân

Quan điểm thứ ba: Quan điểm truyền thông tin

Moles, nhà tâm lý học theo quan điểm truyền thông tin cho rằng: Giao tiếp là lý luận về các hệ thống phức hợp tự kiểm soát, thông tin không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói và viết mà còn cả các mã và tín hiệu Giao tiếp là một quá trình phát và nhận tin, trao đổi thông tin có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp…

Quan điểm này được ra đời vào giữa thế kỉ XX trong lĩnh vực liên ngành của điều khiển học, lý thuyết thông tin và lý thuyết hệ thống với tâm lý học Đại diện của quan điểm này là N.Wiener (1948), C Senen (1949), Moles (1971)

Quá trình giao tiếp có thể mô tả bằng quá trình truyền tin qua bộ mã hóa thông tin, bộ phát thông tin, môi trường truyền thông tin, bộ nhận thông tin, bộ giải mã và quá trình phản hồi Thông tin nhận được có thể bị biến đổi

do nhiễu hoặc do giải mã không tương thích với mã hóa Người nhận thông tin có thể dùng phản hồi để nhận được thông tin chính xác hơn

Việc gạt bỏ các yếu tố tâm lý cá nhân, văn hóa, xã hội ra khỏi quá trình giao tiếp của quan điểm truyền thông tin đã làm đơn giản hóa quá trình giao tiếp, giúp các nhà nghiên cứu đi sâu và khía cạnh trao đổi thông tin nhưng lại làm cho việc lý giải sự biến dạng thông tin trở nên khó khăn vì yếu tố nhận thức, động cơ, nhu cầu của cá nhân cũng như phẩm chất tâm lý của họ góp phần vào cơ chế lọc tin Ngoài ra, nếu xem xét giao tiếp như quá trình truyền thông tin thì chúng ta đã đánh mất một tính chất quan trọng nhất của giao tiếp

là đặc trưng xã hội của nó

 Trong đề tài này chúng tôi xem xét giao tiếp theo mặt nhân cách, trong đó dựa trên quan điểm của Leonchev

Trang 24

Theo quan điểm của Leonchev: Vị trí quan trọng nhất khi phân tích hoạt động thuộc về động cơ và mục đích Động cơ có liên quan đến nhu cầu, kích thích hoạt động, mục đích liên quan đến đối tượng mà hoạt động hướng đến, đối tượng cần phải ở trong quá trình thực hiện hoạt động và bị biến đổi thành sản phẩm Động cơ của giao tiếp xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc với người khác Mỗi con người ai cũng có nhu cầu giao tiếp lẫn nhau để chiếm lĩnh đối tượng Hoạt động thường được thực hiện như là hệ thống các hành động triển khai liên tục, mỗi hành động giải quyết một phần nhiệm vụ và có thể xem như là một “bước” hướng đến mục đích Hành động triển khai trong thực tiễn là nhờ vào kỹ năng Việc hình thành kỹ năng hành động là hình thành ở con người khả năng triển khai thao tác theo đúng logic phù hợp với mục đích khách quan [33, tr.18]

Như vậy chúng tôi có thể rút ra định nghĩa giao tiếp làm công cụ nghiên

cứu cho đề tài này như sau: Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa con

người với con người, trong một quan hệ xã hội nhất định nhằm nhận thức, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp qua đó có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau [1, tr.35]

1.2.1.2 Vấn đề chung về giao tiếp sư phạm

Cũng giống như khái niệm giao tiếp, khái niệm giao tiếp sư phạm cũng

có rất nhiều quan điểm khác nhau Mặc dù giao tiếp sư phạm là một thực tế có thể quan sát và thử nghiệm được, song cách tiếp cận với giao tiếp sư phạm của các nhà nghiên cứu có khác nhau Có người xem giao tiếp sư phạm như một loại hình của một hoạt động sư phạm Có người xem giao tiếp sư phạm như một phạm trù quan trọng và độc lập của tâm lý học sư phạm Vì vậy hiện nay trong tâm lý học sư phạm chưa có một định nghĩa thống nhất về giao tiếp

sư phạm Trong hệ thống các định nghĩa về giao tiếp sư phạm có thể tạm thời

Trang 25

- Thứ nhất: Coi giao tiếp sư phạm là năng lực của người giáo viên, gồm

các tác giả:

+ F.N.Gônobôlin cho rằng: “giao tiếp sư phạm là năng lực truyền đạt

một cách dễ hiểu để các em nắm vững và ghi nhớ bài học”

+ N.D Lêvitốp quan niệm: “giao tiếp sư phạm chính là giao tiếp và

truyền đạt tri thức cho trẻ bằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn”

+ T.V Trakhov: “giao tiếp sư phạm là những năng lực tiếp xúc với học sinh, kĩ năng tìm được cách đối xử đúng đắn với trẻ, thiếtt lập mối quan

hệ hợp lí theo quan điểm sư phạm”

+ A.I Sevbacov cho rằng: “năng lực giao tiếp sư phạm giúp xác lập

nên các mối quan hệ qua lại đúng đắn với đặc điểm cá nhân và lứa tuổi học sinh”

- Thứ hai: Coi giao tiếp sư phạm là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo

viên và học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội được những tri thức khoa học, vốn kinh nghiệm sống, nhằm xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh Bao gồm các tác giả:

+ A.N.Leonchev: giao tiếp sư phạm là loại giao tiếp có tính chất nghề

nghiệp giữa giáo viên và học sinh trong và ngoài lớp, là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sư phạm

+ Hai tác giả A.T.Curơbavôna và R.M.Rankmatulia đã đưa ra một định

nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu giao tiếp chú ý: “Giao tiếp sư phạm là giao

tiếp nghề nghiệp của giáo viên với học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục Nó có ảnh hướng tới việc hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện hơn, cho phép điều khiển quá trình tâm lý xã hội trong tập thể, củng

cố bầu không khí thuận lợi, lành mạnh trong lớp, tạo điều kiện để hình thành

sự tác động qua lại có hiệu quả giữa giáo viên và học sinh ảnh hưởng trực tiếp tới sự thành công của hoạt động học tập” [37, tr.43]

Trang 26

+ Ngô Công Hoàn: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn kinh nghiệm sống, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở học sinh [18, tr.12]

+ Phan Văn Lê: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc trao đổi giữa giáo viên và học sinh, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy có hiệu quả

Từ những định nghĩa trên, có thể thấy được tính chất phức tạp, khó khăn khi nghiên cứu giao tiếp sư phạm Cần thiết phải đặt nó trong bản thân quá trình sư phạm, trong mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa giao tiếp sư

phạm và hoạt động sư phạm

+ Nguyễn Thạc và Hoàng Anh trong cuốn “luyện giao tiếp sư phạm”

cho rằng: Giao tiếp sư phạm là một quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên

và học sinh, trong đó diễn ra sự trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, nhận thức, tác động qua lại lẫn nhau và cũng là quá trình người giáo viên xây dựng và phát triển nhân cách học sinh [33, tr.19]

Có thể nói sư phạm là một nghề đặc biệt, nó chỉ có thể xảy ra trong nhà trường trong đó chủ yếu là sự giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Giáo viên

là người tổ chức điều khiển quá trình giáo dục trong nhà trường được gọi là chủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất, còn học sinh là người lĩnh hội tri thức khoa dọc, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp do giáo viên truyền đạt cho, với nghĩa này học sinh là khách thể trong hoạt động sư phạm Tuy nhiên để quá trình dạy học và giáo dục đạt hiệu quả cao thì học sinh còn là chủ thể có ý thức tiếp nhận tri thức khoa học mà thầy cô truyền đạt lại

Giao tiếp sư phạm có một đặc thù là giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng tri thức khoa học, mà họ phải là tấm gương

Trang 27

1.2.1.3 Khái niệm về giao tiếp sư phạm

Từ những khái niệm mà các tác giả đã đưa ra, trong phạm vi nghiên cứu của mình chúng tôi xin chọn khái niệm giao tiếp sư phạm của Nguyễn Thạc- Hoàng Anh làm khái niệm công cụ cho đề tài

Giao tiếp sư phạm là một quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên và học sinh, trong đó diễn ra sự trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, nhận thức, tác động qua lại lẫn nhau và cũng là quá trình người giáo viên xây dựng và phát triển nhân cách học sinh [17, tr.19]

1.2.1.4 Đặc trưng của giao tiếp sư phạm

- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinh

qua nội dung bài giảng và tri thức khoa học, mà còn là tâm gương mẫu mực

về nhân cách cho học sinh noi theo, đúng với yêu cầu của xã hội quy định Nghĩa là, ở thầy giáo thì bao giờ cũng có sự thống nhất giữa lời nói và việc làm Tấm gương của thầy có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

- Giao tiếp sư phạm là thầy giáo chỉ được dùng các biện pháp giáo dục tình cảm để thuyết phục, vận động học sinh, không được đánh đập, hành hạ, trù dập học sinh, không dùng bất cứ hình thức áp bức nào Đây là yếu tố kích thích việc giáo dục và giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất, là thái độ ân cần chăm sóc học sinh, tin cậy học sinh và đề ra yêu cầu đúng đắn với học sinh

Tóm lại, chúng ta thấy rằng để giao tiếp sư phạm đạt được hiệu quả cao phải tạo ra được bầu không khí tâm lý giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Bầu không khí giao tiếp được tạo nên bởi những yếu tố tâm lý của cả hai phái giáo viên và học sinh, nảy sinh trong quá trình tiếp xúc với nhau Để cho bầu không khí giao tiếp sư phạm góp phần tích cực vào quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên phải thực sự là chủ thể có ý thức tổ chức, xây dựng mối quan hệ này

Trang 28

1.2.1.5 Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm

Nguyên tắc giao tiếp sư phạm là hệ thống những quan điểm nhận thức

chỉ đạo, địnhhướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của giáo viên đối với

học sinh và ngược lại Nguyên tắc giao tiếp sư phạm mang tính chất bền

vững, ổn định nhưng vẫn có độ dao động nhất định để bảo đảm kết quả của

một quá trình giao tiếp Trong giao tiếp sư phạm, cần bảo đảm các nguyên

tắc sau:

* Tính mô phạm trong giao tiếp (Nhân cách mẫu mực trong giao tiếp)

Trong giao tiếp, thầy cô giáo phải bảo đảm tính mô phạm, bởi vì:

- Giáo viên hàng ngày giao tiếp với học sinh, mọi hành vi, cử chỉ, cách

nói năng… của thầy, cô dù có chủ định hay không đến tác động trực tiếp với

các em

- Học sinh lứa tuổi nhỏ thường bắt chước cả cái hay lẫn cái dở về hành

vi, cử chỉ, cách nói năng của thầy cô Nhân cách của giáo viên phải là

nhân cách mẫu mực để học sinh noi theo

Nhân cách mẫu thực thể hiện ở:

+ Sự mẫu mực trong trang phục, hành vi, cử chỉ, hành vi ngôn ngữ nói + + Thái độ và những biểu hiện của thái độ phải phù hợp với các chuẩn hành vi

+ Khi nói năng phải chọn từ sao cho có văn hóa; phong cách ngôn ngữ

phong phú, phù hợp với tình huống, nội dung và đối tượng giao tiếp

* Tôn trọng nhân cách trong giao tiếp

Tôn trọng nhân cách trong giao tiếp là:

- Trong giao tiếp phải coi học sinh là con người với đầy đủ các quyền

được học tập, vui chơi, lao động… với những đặc trưng tâm lý riêng, bình

đẳng với mọi người trong các quan hệ xã hội

- Trong giao tiếp, giáo viên không áp đặt, ép buộc học sinh tuân theo ý

Trang 29

điểm nhận thức, thái độ và có kiểu hành vi ứng xử riêng

Thái độ tôn trọng nhân cách học sinh có biểu hiện:

+ Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ nét tính cách, nguyện vọng của các em + Biết lắng nghe ý kiến, tôn trọng ý kiến, điệu bộ… của các em + Giọng điệu, cách phát âm, cách dùng từ sao cho bảo đảm tính văn hóa + Hành vi, cử chỉ, điệu bộ luôn ở trạng thái cân bằng, tránh những cử chỉ, hành vi bột phát

+ Trang phục lịch sự, gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách

* Có thiện ý trong giao tiếp

- Trong giao tiếp sư phạm thầy cô luôn luôn nghĩ tốt về học sinh của mình, luôn o điều kiện thuận lợi nhất, ưu ái nhất để học sinh học tập, lao động tốt, tạo niềm vui cho các em, không nên có thành kiến

- Giáo viên cần biết thông cảm và hiểu biết học sinh

- Phải luôn tin tưởng học sinh Nếu ở học sinh còn có mặt nào chưa tốt thì thầy cô nên nghĩ rằng đó là nét tính cách chưa hoàn thiện và học sinh có thể sửa chữa được

- Luôn động viên, khích lệ tinh thần của học sinh , điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với sự tiến bộ của học sinh

- Thiện ý của giáo viên thể hiện rõ nét trong việc chuẩn bị bài và khi lên lớp; thầy cô dốc hết tài năng và trí lực của mình phục vụ cho học sinh

- Phải công bằng khi cho điểm, nhận xét, đánh giá

- Thiện ý c̣òn thể hiện trong khi giao việc để giúp học sinh sửa chữa lỗi lầm, để học sinh có điều kiện phát huy khả năng, sửa chửa lỗi lầm…

- Thiện ý cũng thể hiện trong khen chê, trách phạt, phán xử chuyện quan hệ giữa học sinh với nhau

* Đồng cảm trong giao tiếp

- Thầy cô biết đặt mình vào vị trí của học sinh khi tiếp xúc, giải quyết

Trang 30

các tình huống giao tiếp sư phạm: nếu mình ở vị trí của học sinh thì mình sẽ ứng xử như thế nào? Có như vậy, thầy cô mới sống cùng niềm vui, nỗi buồn của học sinh và sẽ xử sự phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của các em Nhờ đồng cảm với học sinh mà giáo viên tạo ra được sự gần gũi, thân mật với học sinh và tạo ra được cảm giác an toàn nơi học sinh

- Thầy cô có biện pháp giảng dạy, giáo dục có hiệu quả

- Giáo viên có cơ sở để hình thành hành vi ứng xử nhân hậu, độ lượng, khoan dung Để có thể đồng cảm với học sinh, giáo viên phải quan tâm tìm hiểu nắm vững hoàn cảnh gia đình của học sinh

1.2.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm

Họ cho rằng “kỹ năng là năng lực của con người khi thực hiện một công việc

có kết quả trong những điều kiện mới, trong một khoảng thời gian tương ứng” [24, tr.26] Trong cấu trúc của KN không chỉ có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn có cả tư duy sáng tạo

- Theo A.V Pªt«vxki, từ diển tâm lý học, 1990 “KN là cách thức thực hiện hành động đã được chủ thể tiếp thu, được đảm bảo bằng tập hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội”

Trang 31

- Theo tỏc giả A.V.Covaliov: “kỹ năng là phương thức hành động thớch hợp với mục đớch và những điều kiện hành động” Theo ụng kết quả của hành động phụ thuộc vào năng lực của con người chứ khụng đơn giản là nắm vững cỏch thức hành động thỡ sẽ đem lại kết quả tương ứng [20, tr.56 ]

- Trong cuốn Tõm lý học lứa tuổi và tõm lý học sư phạm, A.V.Petroxki

và V.A.Cruchetxki cho rằng: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đó được con người nắm vững khụng cần tớnh đến kết quả hành động, cơ sở hỡnh thành KN là tri thức KN được hỡnh thành bằng con đường luyện tập KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động khụng chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đó thay đổi

- Trần Trọng Thuỷ trong giáo trình Tâm lý học lao động cũng cho rằng:

“Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động Con ng-ời nắm đ-ợc cách hành

động tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng” [9, tr.32]

Cỏc tỏc giả như Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Quốc Thành cũng quan niệm: “kỹ năng là một năng lực của con người trong việc thực hiện một cụng việc cú kết quả”

Trong “từ điển Tõm lý học” do Vũ Dũng chủ biờn định nghĩa: “kỹ năng

là năng lực vận dụng cú kết quả tri thức về phương thức hành động đó được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”

Tuy khỏi niệm KN được soi chiếu và bàn luận dưới cỏc gúc độ khỏc nhau nhưng nhỡn chung KN kỹ năng được hỡnh thành thiờn về hai quan điểm như sau:

+ Quan điểm thứ nhất: kỹ năng được định nghĩa thiờn về mặt kỹ thuật của thao tỏc hay hành đụng hoạt động Theo quan điểm này cú cỏc tỏc giả V.X Radic, V.A Cruchextki, A.G Covaliôv, Trần Trọng Thuỷ Cỏc tỏc giả này thống nhất ở quan điểm cho rằng KN là phương tiện hành động mà con người đó nắm vững

Trang 32

+ Quan điểm thứ hai: kỹ năng được xem xột nghiờng về mặt năng lực của con người Theo quan điểm này cú cỏc tỏc giả: N Lêvitôv, K.K Platônôv, G.G.Gôlubév, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn…Cỏc tỏc giả này cho rằng

KN thể hiện năng thực hiện một hành động cú kết quả với chất lượng cần thiết

và thời gian tương ứng trong điều kiện xỏc định

Riờng chỳng tụi đồng ý với quan điểm thứ hai: kỹ năng là thuật ngữ chỉ mức độ thành thạo ỏp dụng tri thức trong hành động, trong cỏc thao tỏc hành

động Núi cỏch khỏc “kỹ năng chớnh là năng lực của chủ thể vận dụng những

hiểu biết của tri thức về phương thức thực hiện hành động phự hợp với những điều kiện hiện cú nhằm đạt mục đớch đề ra” Quan niệm KN nghiờng về năng

lực của con người khụng phủ nhận quan điểm thứ nhất mà đú là việc mở rộng thờm thành phần cấu trỳc của KN cũng như đặc tớnh của chỳng Như vậy người cú KN về một hành động nào đú phải đạt được một số yờu cầu sau:

- Có tri thức về ph-ơng thức thực hiện hành động đó, tức là nắm đ-ợc các thao tác, cách thức hành động, các điều kiện và h-ớng đến mục đích hành

Trang 33

hành động đó Trong ý nghĩa đó, K.K Platonov khẳng định: “cơ sở tâm lý của

KN là sự thông hiểu mối quan hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động”

Khi xem xét kỹ năng cần phải lưu ý những điểm sau:

- Kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể

- Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng để hình thành và phát triển kĩ năng Một hành động chưa thể gọi là KN nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, các thao tác diễn ra theo khuôn mẫu cứng nhắc

- Kỹ năng không phải là bẩm sinh mà là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, đó là kết quả vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra

Như vậy khái niệm KN được hiểu là “KN chính là năng lực của chủ

thể thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện hiện có nhằm đạt mục đích đề ra” [17, tr.14]

1.2.2.2 Vấn đề chung về kỹ năng giao tiếp

Tùy vào mục đích nghiên cứu của mình mà mỗi tác giả đưa ra những khái niệm cụ thể về KNGT vì vậy cho đến nay vẫn chưa có khái niệm phổ quát, chung nhất về KNGT

- Theo tác giả Hoàng Thị Anh: “KNGT là khả năng nhân thức nhanh chóng những dấu hiệu bề ngoài, những diễn biến tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp và bản thân chủ thể giao tiếp Là KN sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh điều khiển quá trình giao” [5, tr.38]

- Trong tài liệu tập huấn cán bộ nữ về giới và kỹ năng lãnh đạo tác giả Nguyễn Thị Kỷ viết: “kỹ năng giao tiếp của người quản lý lãnh đạo là KN

Trang 34

tiếp cận truyền tin, thuyết phục quần chúng, kỹ năng phản hồi nhằm đạt được kết quả mục đích nhất định”

- Trong luận án tiến sĩ về “kỹ năng giao tiếp của cán bộ quản lý sở giao dịch Hà Nội thuộc ngân hành Công thương Việt Nam”, 2004 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, khoa tâm lý học xã hội, Học viện chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh thì KNGT được định nghĩa như sau: “kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận biết, phán đoán, sử dụng phương tiện giao tiếp để định hướng, định

vị, điểu chỉnh điều khiển quá trình giao tiếp” Cụ thể người có kỹ năng giao tiếp là người có khả năng đoán nhận được diễn biến tâm lý cũng như nhu cầu, mong muốn, tâm trạng, trình độ của đối tượng giao tiếp Xác định đúng vị trí chức năng của mình trong hoạt động giao tiếp, biết thu hút, lôi cuốn, chủ động trong quá trình giao tiếp, biết chế ngự bản thân và đối tượng trong quá trình giao tiếp Người có KNGT là người làm chủ trạng thái tình cảm, biết lắng nghe, có khả năng thuyết phục và ứng xử thích hợp trong các tình huống đa dạng của hoạt động

- Theo tác giả Nguyễn Văn Đính trong giáo trình “tâm lý học và nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch” quan niệm: “KNGT là khả năng nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết những đặc điểm tâm lý bên trong của con người Đồng thời biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, biết cách định hướng, điều chỉnh điều khiển quá trình giao tiếp để đạt được mục đích nhất định”

- Trong giáo trình giao tiếp với trẻ em của Trần Văn Lũy và Trần Thị Tuyết Hoa viết: “KNGT là mức độ phối hợp, hợp lí nhất các thao tác, cử chỉ, điệu bộ hành vi đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp KNGT vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích Bản chất của KNGT là sự phối hợp phức tạp giữa chuẩn mực hành vi xã hội

Trang 35

hài hũa, hợp lý cú nghĩa là nú mang một nội dung thụng tin nhất định, phự hợp với mục đớch giao tiếp và mang lại hiệu quả trong quỏ trỡnh giao tiếp” [25, tr.15]

Mặc dự cỏc định nghĩa của cỏc tỏc giả núi trờn chưa hẳn đó hoàn toàn đồng nhất nhưng theo chỳng tụi những khỏi niệm về KNGT cú những điểm chung sau:

- Kỹ năng giao tiếp biểu hiện khả năng nhận biết hay năng lực của của mỗi ng-ời về đối t-ợng giao tiếp cụ thể đó chính là việc nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết đ-ợc những đặc điểm tâm lý bên trong của đối t-ợng giao tiếp

- Trong quá trình giao tiếp chủ thể giao tiếp sử dụng các ph-ơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm đạt đ-ợc mục đích giao tiếp một cách tốt nhất Hay đó cũng chính là khả năng- năng lực sử dụng các ph-ơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của chủ thể hành động nhằm thực hiện một cách có hiệu quả kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng giao tiếp thể hiện khả năng điều khiển điều chỉnh, định h-ớng quá trình giao tiếp để sao cho mục đích giao tiếp đạt đến một cách hiệu quả nhất (Sự điều khiển điều chỉnh ở đây có thể bao hàm việc cả việc điều khiển, làm chủ cảm xúc hành vi của chính bản thân chủ thể giao tiếp và đối t-ợng giao tiếp)

Từ việc phân tích và tìm ra đặc điểm của kỹ năng giao tiếp theo chúng

tôi nên hiểu kỹ năng giao tiếp nh- sau: Kỹ năng giao tiếp là năng lực của chủ

thể sử dụng hệ thống ph-ơng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, là khả năng nhận biết nhanh nhạy những biểu hiện tâm lý bên ngoài, đoán biết đ-ợc những đặc

điểm tâm lý bên trong của đối t-ợng giao tiếp để làm sao có thể biết cách định h-ớng, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp đạt đ-ợc mục đích nhất định

[34, tr.28]

Trang 36

1.2.2.3 Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm

Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giáo dục [32, tr.20]

1.2.2.4 Căn cứ để phân loại kỹ năng giao tiếp sư phạm

Quá trình giao tiếp sư phạm diễn ra rất đa dạng, phức tạp, hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau như: phong cách, tâm thế của các chủ thể giao tiếp Hay nói cách khác, trình độ thành thạo của các

kỹ năng giao tiếp sư phạm được xác định bởi sự phong phú, đa dạng của nhân cách chủ thể giao tiếp Như vậy, phân loại các kỹ năng giao tiếp trong một tình huống cụ thể là một vấn đề hết sức phức tạp Thông thường người ta căn

cứ vào quá trình diễn biến của một pha giao tiếp để xác định các loại kỹ năng giao tiếp Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, pha giao tiếp giữa giáo viên

và học sinh được cấu tạo từ ba thành phần chủ yếu sau:

- Hướng sự giao tiếp vào tình huống giao tiếp, nghĩa là hướng vào các điều kiện không gian, thời gian và đối tương giao tiếp

- Quá trình tiếp xúc, phục vụ giao tiếp, dẫn dắt phát triển, truyền đạt tinh thần, nội dung cho đối tượng và kết thúc sự giao tiếp

- Quá trình giao tiếp thực sự, biểu hiện sự thống nhất trong bản thân mình các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố nhân cách (mục đích, nội dung, phong cách cá nhân giao tiếp) sự thống nhất này được xác đinh bởi xu hướng nhân cách

Từ những yếu tố trên có thể vạch ra những kỹ năng chính như sau: + Phán đoán dựa trên nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của đối tượng giao tiếp

Trang 37

+ Điều khiển mình và người mình giao tiếp

+ Điều khiển các ý kiến của cuộc giao tiếp

+ Sử dụng các phương tiện giao tiếp

+ Xác định được vị trí của mình trong quá trình giao tiếp

Giữa các kỹ năng này có sự liên quan gắn bó chặt chẽ với nhau và sự biểu hiện của nó trong một pha giao tiếp không phải là độc lập mà đan chéo vào nhau Vì vậy, có thể căn cứ vào bản chất, chức năng và biểu hiện của chúng người ta chia thành ba nhóm sau: Nhóm kỹ năng định hướng, Kỹ năng định vị, Nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp [32, tr 21,22,23]

+ Kỹ năng định hướng giao tiếp: Kỹ năng này biểu hiện ở chỗ, dựa vào sự tri giác ban đầu về đặc điểm bên ngoài của đối tượng giao tiếp, diện mạo, cử chỉ, ngôn ngữ, biểu cảm…nó thể hiện trong thời gian và không gian giao tiếp Từ đó đoán biết diễn biến tâm lý đang diễn ra trong đối tượng để định hướng cho đối tượng trong quá trình giao tiếp tiếp theo Thông qua những biểu hiện bên ngoài để xác định động cơ, nhu cầu, trạng thái tâm lý, mục đích, sở thích của đối tượng Căn cứ vào kỹ năng tri giác, đặc biệt là tri gaics những biểu hiện phi ngôn ngữ của đối tượng giao tiếp Bởi vì những hành vi, cử chỉ, phi ngôn ngữ rất tự nhiên, con người không thể che dấu được, chúng ít có sự tham gia của ý thức

- Kỹ năng định vị: Đó là khả năng xác định đúng vị trí giao tiếp để từ

đó taọ điều cho đối tượng giao tiếp chủ động giao tiếp, cần xác định đúng ai đứng vai trò gì trong quá trình giao tiếp

- Kỹ năng điểu chỉnh, điều khiển giao tiếp: Việc điều chỉnh, điều khiển quá trình giao diễn ra rất phức tạp và sinh động, bởi lẽ có rất nhiều thành phần tâm lý tham gia, trước hết là hoạt động nhận thức, tiếp theo là thái

độ rồi đến hành vi ứng xử Sự phối hợp của ba hoạt động này cần nhịp nhàng,

Trang 38

hợp lí Để điều khiển quá trình giao tiếp, giáo viên phải biết “đọc được qua nét mặt, ngôn ngữ, xúc cảm, biểu cảm, qua cử chỉ, điệu bộ, dáng đi biết học sinh muốn gì? có nhu cầu gì?

Một số tác giả lại chia KNGT thành 2 nhóm:

- Nhóm KN nhận thức: là khả năng phán đoán nhân cách của đối tượng giao tiếp thông qua những biểu hiện bên ngoài Hay nói cách khác đó chính là quá trình chủ thể xác định những đặc điểm tâm lý đặc thù của đối tượng giao tiếp để từ đó đề ra các hình thức giao tiếp thích hợp

- Nhóm KN điều khiển quá trình giao tiếp: là những KN thu hút đối tượng theo ý mình để đạt mục đích giao tiếp

Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình giao tiếp người ta chia giao tiếp ra thành các KNGT tương ứng

Theo chúng tôi dù cách chia có khác biệt nhưng đều có nhắc đến các KNGT chủ yếu như: KN thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp, kỹ năng linh hoạt mềm dẻo, kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng diễn đạt Ở đề tài này chúng tôi lựa chọn theo cách chia của tác giả Ngô Công Hoàn và Hoàng Thị Anh KNGT có thể chia thành 3 nhóm: KN định hướng,

KN định vị và KN điều chỉnh điều khiển

1.2.2.5 Vai trò của kỹ năng giao tiếp sư phạm đối với sinh viên sư phạm

Để thành công trong hoạt động của mình, người thầy giáo không những cần thiết lắm vững và am hiểu một cách sâu sắc những kiến thức khoa học chuyên ngành, cũng như các khoa học liên quan, mà phải lắm vững một hệ thống các kỹ năng nghề nghiệp Trong số các kỹ năng đó, kỹ năng giao tiếp

sư phạm giữ vai trò quan trọng bậc nhất Nhờ có kỹ năng giao tiếp sư phạm người thầy giáo dễ dàng thiết lập nên những mối quan hệ gần gũi và thân thiết với đối tượng giáo dục, thông qua các lực tham gia quá trình giáo dục

Trang 39

Trong thời gian thực tập sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời thông qua đó thiết lập các mối quan hệ thân mật, gần gũi hay xa lánh sau này, góp phần hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm, hình thành và phát triển lòng yêu nghề của họ

Trong quan hệ với học sinh¸kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp sinh viên sư phạm thu hút được các em vào các hình thức khác nhau của hoạt động học tập Đối với hoạt động giảng dạy trên lớp kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm dạy tốt hơn, nâng cao hiệu quả giờ học, thể hiện từ khâu chuẩn bị bài, chuẩn bị hành vi và suy nghĩ có tính chất xúc cảm của hành vi, tạo nên tâm thế sẵn sàng, tâm trạng truyền lan kích thích tính tích cực lĩnh hội tri thức, giáo viên biết đặt câu hỏi đúng khơi dậy lòng khát khao hiểu biết của học sinh

Trong quá trình giảng bài giúp cho giáo viên tạo ra không khí tích cực trong tư tưởng của học sinh Kỹ năng này thể hiện từ khâu tổ chức hoạt động như thế nào cho học sinh, đến việc quan sát trạng thái làm việc của học sinh trong giờ lên lớp và giải quyết các tình huống xunng đột Khi tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh tập chung tư tưởng cao, tích cực tìm tòi suy nghĩ nhiệm vụ tri thức đặt ra cho chúng, kỹ năng quan sát giúp cho sinh viên sư phạm theo dõi được những diễn biến tâm trạng của học sinh, kịp thời ngăn chặn tình trạng ể oải tạo ra những tình huống thích hợp kích thích học sinh tham gia tích cực Kỹ năng sử dụng các hình thức khen thưởng, trách phạt đúng lúc đòi hỏi phải có nghệ thuật khéo léo, việc đánh giá phải làm cho học sinh tin ở bản thân mình khiến cho các em vui vẻ, hăng hái, tích cực đi sâu vào tìm tòi, sáng tạo Ngược lại nếu đánh giá học sinh không chính xác, còn

mơ hồ, hời hợt làm cho tính tích cực của các em giảm sút Kỹ năng sư phạm

Trang 40

còn giúp sinh viên ngăn ngừa trước sự vi phạm kỷ luật của học sinh hơn là giải quyết xung đột

Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm có giọng nói thích hợp, tác phong đúng đắn khi giao tiếp với học sinh và tập thể học sinh Giọng nói có ngữ điệu, nhịp điệu trong quá trình giảng dạy có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ, gây ra những rung động tích cực Nếu giọng nói đều đều hoặc chậm chạp dẫn đến học sinh lơ đãng, không quan tâm Ngược lại ngôn ngữ có tính truyền cảm kích thích tình cảm của học sinh, lôi cuốn học sinh vào trong bài giảng

Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp sinh viên sư phạm dễ dàng thiết lập mối quan hệ với đồng nghiệp, tạo nên bầu không khí thân mật giữa giáo sinh

và học sinh, giúp sinh viên sư phạm nhanh chóng thâm nhập vào hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà trường thống nhất mục đích, phương pháp và nội dung giảng dạy Tạo ra mối quan hệ gần gũi, thân tình giữa các đồng nghiệp với nhau

Kỹ năng giao tiếp sư phạm giúp cho sinh viên sư phạm tranh thủ sự giúp đỡ của cán bộ lãnh đạo nhà trường, giúp cho hoạt động có nhiều thuận lợi hơn, sinh viên sư phạm chủ động công tác như một thành viên tích cực của nhà trường, chủ động bàn bạc, góp ý nội dung thực hiện hoạt động với ban lãnh đạo, làm cho họ quan tâm chú ý đến hoạt động của mình, giúp sinh viên

sư phạm biết cách làm việc trong tập thể và biết cách hoạt động trong tập thể các nhà sư phạm

1.2.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên sư phạm

1.2.3.1 Khái niệm sinh viên sư phạm

Sinh viên sư phạm là những người đang học tập, rèn luyện trong các trường đại học và cao đẳng sư phạm Họ mang đầy đủ những đặc điểm chung

Ngày đăng: 09/12/2020, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w