LỜI CẢM ƠN Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Báo chí và Truyền thông trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Báo chí học với đề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ QUYÊN
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ - ĐỜI SỐNG TRÊN VTV1 VÀ BẢY NGÀY CÔNG NGHỆ TRÊN VTV2 NĂM 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ QUYÊN
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(KHẢO SÁT CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ - ĐỜI SỐNG TRÊN VTV1 VÀ BẢY NGÀY CÔNG NGHỆ TRÊN VTV2 NĂM 2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60320101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Khoa Báo chí và Truyền thông trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Báo chí học với đề tài “Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình Công nghệ - Đời sống trên VTV1, và Bảy ngày Công nghệ trên VTV2)”
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Nguyễn Thị Thanh Huyền, giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Đặng Thị Thu Hương, các thầy, cô giảng viên trong khoa Báo chí và Truyền thông và các thầy, cô giảng dạy các
bộ môn đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạo sau đại học
Luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo, của các anh chị và các bạn đồng môn
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Quyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoàn đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; Toàn bộ các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, các trích dẫn đều được dẫn nguồn đầy đủ Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Quyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12
7 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 15
1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ 15
1.1.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ 15
1.1.2 Khái niệm truyền thông và truyền thông về khoa học và công nghệ 18
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về Phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay 21
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 21
1.2.2 Vai trò của báo chí và truyền thông trong hoạt động khoa học và công nghệ 29
1.3 Thế mạnh và hạn chế truyền hình trong việc truyền thông về khoa học và công nghệ 38
1.3.1 Thế mạnh của truyền hình về truyền thông khoa học và công nghệ 38
1.3.2 Hạn chế của truyền hình về truyền thông khoa học và công nghệ 40
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 43
2.1 Quy trình tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 43
Trang 62.1.1 Xác định đề tài và phân công thực hiện 43
2.1.2 Lập đề cương và kế hoạch sản xuất tiền kỳ 45
2.1.3 Thực hiện các khâu hậu kỳ, hoàn thành sản phẩm 46
2.1.4 Nghiệm thu và phát sóng 47
2.2 Nội dung các chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 47
2.2.1 Kết cấu chương trình 48
2.2.2 Nội dung các chương trình về khoa học và công nghệ 54
2.3 Hình thức thể hiện của các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1), và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 65
2.3.1 Tin truyền hình 67
2.3.2 Thể loại phóng sự truyền hình 72
2.3.3 Thể loại phỏng vấn, tọa đàm truyền hình 76
2.4 Các ý kiến đánh giá về các chương trình khoa học và công nghệ 82
2.4.1 Ý kiến của khán giả 84
2.4.2 Ý kiến của người tổ chức sản xuất và phóng viên phụ trách các chương trình khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 85
2.4.3 Ý kiến của chuyên gia về khoa học và công nghệ 88
Tiểu kết chương 2 90
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP 91
3.1 Ưu, nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam 91
3.1.1 Ưu điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 91
3.1.2 Nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam 92
Trang 73.2 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền thông về khoa học và công nghệ trên đài truyền hình
Việt Nam 98
3.3 Giải pháp 98
3.3.1 Về cơ chế chính sách 99
3.3.2 Về quản lý 100
3.3.3 Về đào tạo và nhân lực 101
3.3.4 Về nội dung 103
3.3.5 Về hình thức 103
3.3.6 Cơ sở vật chất 104
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTV : Biên tập viên
KH&CN : Khoa học và công nghệ
PGS.TSKH : Phó giáo sư.Tiến sĩ khoa học
PTTH : Phát thanh truyền hình
VNPT : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG - BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH Danh mục bảng
Bảng 2.1: Kết cấu của hai chương trình Bảy ngày công nghệ và Công nghệ và Đời sống 48Bảng 2.2 Ví dụ minh họa hai chương trình Bảy ngày công nghệ và Công nghệ và Đời sống 50Bảng 2.3 Ví dụ tin truyền hình trong chương trình Bảy ngày công nghệ 67
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Nội dung các tác phẩm về khoa học và công nghệ trên chương trình Công nghệ và Đời sống VTV1 55 Biểu đồ 2.2: Nội dung các tác phẩm về khoa học và công nghệ trên chương trình Bảy ngày công nghệ VTV2 55 Biểu đồ 2.3 Thể loại báo chí về khoa học và công nghệ trên chương trình Công nghệ và Đời sống VTV1 66 Biểu đồ 2.4 Thể loại báo chí về khoa học và công nghệ trên chương trình Bảy ngày công nghệ VTV2 66 Biểu đồ 2.5 Số liệu tần suất xem chương trình khoa học và công nghệ theo khảo sát từ phiếu điều tra xã hội học online 82 Biểu đồ 2.6 Số liệu khảo sát nội dung được công chúng quan tâm khi xem các chương trình khoa học và công nghệ 83
Danh mục hình ảnh
Hình ảnh 2.1 Minh họa thiết bị lọc bụi trong chương trình Bảy ngày công nghệ 8/9/2014 59 Hình ảnh 2.2 Minh họa chương trình Công nghệ và Đời sống ngày 28/12/2014 60
Trang 10Hình ảnh 2.3 Tin ngắn về Lễ trao giải Sao Khuê trên chuyên mục Bảy ngày công nghệ 71 Hình ảnh 2.4 Phóng sự Cảnh báo tình trạng lừa đảo qua facebook 74 Hình ảnh 2.5 Phóng sự chân dung vợ chồng giáo sư Trần Thanh Vân, Lê Kim Ngọc ở Làng trẻ em SOS Đà Lạt 75 Hình ảnh 2.6 Biên tập viên Hà Bình thực hiện phỏng vấn khách mời tại trường quay 78
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khoa học và công nghệ đang phát triển trong thời kỳ quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Trên thế giới, tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng đang ngày càng được rút ngắn
Đối với Việt Nam, đẩy mạnh sự phát triển khoa học và công nghệ không chỉ bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển khoa học và công nghệ góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng đến xây dựng lộ trình phát triển kinh tế tri thức và nền kinh tế xanh, bền vững đến năm 2020 Do vậy, thời gian gần đây, các hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ được đẩy mạnh, quản lý khoa học – công nghệ có đổi mới, thị trường khoa học và công nghệ được hình thành, đầu tư cho khoa học và công nghệ được nâng lên
Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển khoa học và công nghệ như: Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết 46/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW; Luật khoa học và công nghệ (năm 2013) và Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020 theo quyết định số 418 QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ năm 2012 Các chủ trương, chính sách này đều nhấn mạnh vai trò của hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ
Trang 122
Để hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngành khoa học và công nghệ Việt Nam cũng có nhiều đột phá lớn trong nghiên cứu, phát minh, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ Nếu như năm
2013 được đánh giá là một năm sôi động của ngành khoa học và công nghệ thì năm 2014 là một năm đánh dấu những bước tiến lớn của ngành với nhiều thành tựu nghiên cứu nổi bật như: Nghiên cứu thành công vắc xin Rotavin – M1 phòng bệnh tiêu chảy; Ghép thành công tụy thận từ người cho chết não; Làm chủ công nghệ trong công tác đóng tàu quân sự; Chế tạo và thương mại hóa sản phẩm vi mạch đầu tiên; Hạ thủy thành công giàn trung tâm HRD sử dụng để khai thác dầu mỏ xuất khẩu cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; …Cùng với những thành quả mang tính đột phá của ngành khoa học và công nghệ, lực lượng báo chí và đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báo khắp cả nước đã liên tục sát cánh cùng ngành khoa học và công nghệ, tích cực tham gia truyền thông về khoa học và công nghệ Như vậy, để khoa học và công nghệ đạt được các mục tiêu đề ra và ngày càng phát triển thì vai trò của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ được ghi nhận và đánh giá cao Truyền thông khoa học và công nghệ là một quá trình tác động qua lại liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiến thức, thái độ, kinh nghiệm và kỹ năng về khoa học và công nghệ, nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng được tác động Có thể nói, trong kỷ nguyên khoa học và công nghệ, truyền thông khoa học và công nghệ góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới, tận tụy nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, gắn với nhu cầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay.Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, có 6 giải pháp thì giải pháp thứ 6 chính là thông tin, truyền thông khoa học và công nghệ Theo đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của
Trang 133
khoa học và công nghệ Tăng cường hoạt động truyền thông và tuyên truyền sâu rộng trong xã hội, đặc biệt là trong các doanh nghiệp về chủ trương, chính sách, pháp luật về khoa học và công nghệ, về vai trò động lực then chốt của khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Qua đây, có thể điểm qua những vai trò chính của báo chí, truyền thông trong phát triển khoa học và công nghệ như sau:
Trước hết, báo chí, truyền thông luôn đi đầu trong tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về khoa học và công nghệ Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tác động vào việc vận động chính sách, tạo dư luận xã hội hướng tới hoàn thiện các cơ sở pháp lý, thể chế, chính sách cho phát triển khoa học và công nghệ Điển hình là khoa học và công nghệ đã được thông qua với tỉ lệ phiếu rất cao, các chủ trương, chính sách do Bộ khoa học và công nghệ xin ý kiến của các Bộ, ngành, cũng nhận được sự đồng thuận cao
Phản ánh thực trạng và phản biện xã hội trong lĩnh vực khoa học và công nghệ: Báo chí truyền thông chính là cầu nối 4 nhà: Nhà nước – Nhà khoa học - Doanh nghiệp – Nhà nông, tham gia tích cực vào thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ mới
Bên cạnh đó, báo chí, truyền thông cũng thường xuyên nêu gương các điển hình tiên tiến, mô hình, cách làm mới trong hoạt động khoa học
và công nghệ, nhằm nhân rộng kết quả nghiên cứu, đưa những hiệu quả thiết thực nhất vào đời sống
Truyền thông về khoa học và công nghệ còn đóng vai trò làm diễn đàn
xã hội, đăng tải các luồng ý kiến khác nhau về vấn đề khoa học và công nghệ của đất nước, các địa phương, các ngành Đặc biệt là đăng tải ý kiến của chuyên gia, nhà quản lý về một vấn đề khoa học và công nghệ đang tranh cãi,
ý kiến người dân được thụ hưởng hoặc chịu tác động hoạt động khoa học và công nghệ đó Đồng thời, tổng kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để
Trang 14Song thực trạng chung của truyền thông về khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Hiện nay, công tác truyền thông trên truyền hình đang được thực hiện ra sao? Hoạt động này mang lại những hiệu quả thực tế như thế nào phục vụ cho chiến lược phát triển khoa học
và công nghệcủa Chính phủ? Đây là câu hỏi đang được đặt ra cho các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và những người làm truyền thông về khoa học công nghệ
Qua nghiên cứu, thì hiện mới chỉ có một vài hội thảo và một vài công trình lẻ tẻ bàn về truyền thông khoa học và công nghệ nói chung và truyền thông về khoa học và công nghệ trên truyền hình nói riêng Đặc biệt là với Đài Truyền hình Việt Nam - một trong những cơ quan báo chí đi đầu trong truyền thông khoa học và công nghệ, trong đó, hai chương trình điển hình là: Công nghệ và Đời sống – chương trình khoa học và công nghệ ra đời từ nửa đầu những năm 2000, một trong các chương trình truyền thông về khoa học
và công nghệ sớm nhất và chương trình Bảy ngày Công nghệ - là chương trình được coi là đại diện tiêu biểu cho lĩnh vực truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam, thì thực sự chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này
Đây chính là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài "Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam" (Khảo sát chương trình
Trang 155
Công nghệ - Đời sống trên VTV1, và Bảy ngày Công nghệ trên VTV2 năm 2014) để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới
Khoa học và công nghệ có mặt ở tất cả các khía cạnh của đời sống kinh
tế - xã hội Khoa học và công nghệ tạo nên sự sáng tạo, sự đổi mới, thậm chí tạo nên một sự thay đổi lớn đến không ngờ Hiểu rõ khoa học và công nghệ sẽ làm cho chất lượng cuộc sống (vật chất và tinh thần) được nâng cao, sức khỏe tốt hơn, tuổi thọ con người được nâng lên rất nhiều Ham mê tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo đã trở thành nét văn hóa của mỗi người dân, đặc biệt là giới trẻ
Do vậy, hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ đã được triển khai hết sức sâu rộng và mạnh mẽ Bên cạnh đó, chuyên gia nhiều nước đã có những nghiên cứu khoa học rất sâu sắc về sự phát triển của khoa học và công nghệ như: Cuốn “White Paper”(Sách Trắng) của Cục Khoa học và Công Nghệ Nhật Bản xuất bản từ năm 1958 về thực trạng phát triển khoa học và công nghệ của Nhật Bản
Song, trong luận văn này, tác giả chủ yếu đi sâu vàocông trình nghiên cứu về vấn đề truyền thông về khoa học công nghệ Điển hình cho nghiên cứu
về chủ đề này là cuốn “Journalism, Science and Society: Science Communication between News and Public Relations”của Martin W Bauer
và Massimiano Bucchi – hai giáo sư tại trường Kinh tế London, xuất bản năm
2007 Martin W Bauer và Massimiano Bucchi là các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về sự tương tác giữa khoa học và công nghệ với truyền thông và thái độ của công chúng với khoa học và công nghệ Cuốn sách có 286 trang, tập trung vào hai mục đích chính:
Thứ nhất, chỉ ra sự gia tăng của các bảo trợ cá nhân với các nghiên cứu khoa học làm thay đổi bản chất của quá trình truyền thông khoa học bằng cách dùng tư duy xúc tiến thương mại thay vì tư duy báo cáo khoa học
Trang 166
Thứ hai, các tổ chức khoa học đang ngày càng áp dụng nhiều chiến lược và chiến thuật truyền thông độc đáo để quảng bá hình ảnh, uy tín và điều hành sản phẩm
Với các mục đích này, cuốn sách bao gồm bốn phần:
Chương 1: Các tác giả giới thiệu chung về những thay đổi của bối cảnh truyền thông khoa học trong nửa sau thế kỷ XX
Chương 2: Đánh giá của các chuyên gia về quá trình truyền thông khoa học và đề nghị một số giải pháp dựa trên những lĩnh vực mà họ đang theo đuổi
Chương 3: Phân tích các trường hợp nghiên cứu cụ thể để đưa ra những
xu thế mới nổi trong lĩnh vực truyền thông khoa học
Chương 4: Khái quát chung của các chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông khoa học trên toàn cầu Các chuyên gia truyền thông khoa học đến từ các nước Nhật, Hàn Quốc, Australia, Nam Phi, Mỹ cùng bình luận về những trường hợp nghiên cứu cụ thể và đặt ra câu hỏi: Liệu các vấn đề này nổi lên trên toàn cầu hay chỉ thuộc cấp độ khu vực, địa phương? Và trong mỗi trường hợp cụ thể thì vai trò của các nhà báo, cũng như vai trò của truyền thông sẽ thể hiện như thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất?
Như vậy, các tài liệu về truyền thông khoa học và công nghệ ở ngoài nước cũng tương đối đa dạng, nhưng vẫn chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về hiệu quả truyền thông khoa học và công nghệ trên truyền hình
2.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, trong 5 năm trở lại đây, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp chặt chẽ với các quan báo chí nhằm đẩy mạnh hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ Đã có nhiều chương trình, chuyên trang khoa học và công nghệ ra đời với sự hợp tác của Bộ với các cơ quan thông tấn, báo chí như trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1, VTV2), Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân Đồng thời các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố, Sở khoa học và công nghệ địa phương,
Trang 177
trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ cũng đã xây dựng nhiều chuyên trang hoặc chuyên mục về khoa học và công nghệ Các hoạt động truyền thông này không chỉ là cầu nối gắn kết 4 nhà: Nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp và nhà nông, mà còn góp phần tạo những chuyển biến lớn, thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển
Song về các công trình nghiên cứu thì hiện nay có rất ít các đề tài tiếp cận dưới góc độ báo chí về công tác truyền thông khoa học và công nghệ:
Đề tài “Tác động của khoa học và công nghệ hiện đại đến con người Việt Nam hiện nay”, luận văn Thạc sỹ ngành Báo chí năm 2005 của tác giả
Lê Thị Thắm, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn khái quát tình hình phát triểnkhoa học và công nghệ ỏ Việt Nam Đồng thời phân tích sự tác động của khoa học hiện đại đến con người Việt Nam Từ đó đưa ra các dạng phác thảo xây dựng con người Việt Nam phù hợp với thời đại khoa học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở nước ta Tuy vậy, luận văn chưa đề cập đến vấn đề truyền thông về khoa học và công nghệ trên truyền hình
Luận văn thạc sĩ “Thông tin Khoa học Công nghệ trên sóng VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam” năm 2013 của tác giả Nguyễn Thu Quyên bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã cơ bản khái quát được những thông tin khoa học và công nghệ trên truyền hình, song đề tài tập trung chính vào chương trình “Nhà sáng chế” - một chương trình được mua lại bản quyền của nước ngoài, được phát sóng trên kênh VTV2 Chương trình này nhằm tôn vinh những phát minh mới của con người Tuy nhiên, luận văn mới chỉ khảo sát được trên một kênh và chủ yếu đi vào một chương trình, nên chưa phân tích sâu được bức tranh toàn cảnh về các chương trình truyền hình khoa học
và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, trong các hội thảo về khoa học và công nghệ được tổ chức cũng có một số báo cáo khoa học của các
Trang 188
chuyên gia có đề cập đến truyền thông về khoa học và công nghệ Đặc biệt, trong Hội nghị khoa học và công nghệ (2013) đã bàn khá toàn diện về các vấn
đề xoay quanh truyền thông vềkhoa học và công nghệ dưới nhiều góc độ như:
“Vai trò của công tác truyền thông với hoạt động khoa học và công nghệ và một số định hướng truyền thông khoa học và công nghệ” của TSKH Nghiêm
Vũ Khải (Thứ trưởng Bộ khoa học và công nghệ) đã nêu lên tầm quan trọng của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước Tham luận
“Vai trò của khoa học và công nghệ và thực trạng truyền thông về khoa học
và công nghệ hiện nay” do Nhà báo Trần Đức Chính (Nguyên TBT báo Nhà báo và Công luận) đưa ra những đánh giá về tác phong chưa chuyên nghiệp của phóng viên, biên tập viên khi truyền thông về khoa học và công nghệ trên các phương tiện truyền thông đại chúng Bên cạnh đó, còn một số báo cáo đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học và công nghệ như:
“Nâng cao chất lượng truyền thông phát triển khoa học và công nghệ” của PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng (Học viện Báo Chí và Tuyên truyền); Báo cáo
về “Vấn đề đào tạo cho truyền thông khoa học và công nghệ – cần tạo bước đột phá trong chiến lược” của PGS.TS.Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí
và Tuyên Truyền); “Chương trình khoa học và công nghệ trên Đài Tiếng nói Việt Nam: Thực trạng và kinh nghiệm xây dựng chương trình phát thanh về
đề tài khoa học” của Nhà báo Nguyễn Mỹ Hà (Đài Tiếng nói Việt Nam);
“Một số hạn chế về thông tin khoa học và công nghệ trên báo chí: hiện trạng
và giải pháp” của TS Trần Bá Dung (Hội Nhà báo Việt Nam)
Ngoài ra, tham luận về “Vai trò của Quỹ vì sự phát triển của khoa học và sáng tạo Hàn Quốc trong hoạt động truyền thông KH&CN” của TS Nguyễn Thị Thanh Huyền (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã nêu lên những kinh nghiệm truyền thông về khoa học và công nghệ của Hàn Quốc Là một trong những biểu tượng xuất sắc về khoa học
và công nghệ trên thế giới, kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, truyền thông
Trang 199
khoa học là phải được tổ chức mọi nơi, mọi lúc, tác động từ bên trong tổ chức
xã hội nhỏ bé nhất là gia đình, đến cộng đồng và quốc gia
Qua đây có thể thấy, những bài tham luận này có vai trò rất quan trọng, giúp tác giả có thêm những kiến thức về truyền thông khoa học và công nghệ trong quá trình làm luận văn, đồng thời thấy rõ được thực trạng truyền thông về khoa học và công nghệ trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay Song vẫn chưa có báo cáo nào thực sự đi sâu tìm hiểu về thực trạng và giải pháp truyền thông khoa học và công nghệ trên truyền hình từ góc nhìn báo chí học
Do vậy, luận văn “Truyền thông về Khoa học và Công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam” sẽ làm rõ hơn các vấn đề về vị thế của truyền thông trong các chính sách khoa học và công nghệ, thực trạng sản xuất chương trình truyền hình về khoa học và công nghệ thông qua hai trường hợp cụ thể là chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1) và Bảy ngày Công nghệ (VTV2) của Đài Truyền hình Việt Nam Đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các chương trình này, qua đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượng thông tin
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về quy trình tổ chức sản xuất, nội dung, hình thức, hiệu quả của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam qua khảo sát Chương trình Công nghệ Đời sống (VTV1) và Bảy ngày Công nghệ (VTV2) phát sóng năm 2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngoài việc cập nhật, hệ thống hóa văn bản về chủ trương chính sách về truyền thông khoa học và công nghệ trong thời gian gần đây, luận văn đã khảo sát 187 chương trình về khoa học và công nghệ, trong đó có: 52 chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và 135 chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) trong năm 2014
Trang 20Đưa ra giải pháp, kiến nghị với ban biên tập các chương trình, cơ quan quản lý và nghiên cứu về khoa học và công nghệ, các chuyên gia, các nhà khoa học để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về khoa học và công nghệ
Bên cạnh đó, luận văn cũng bổ sung tài liệu nghiên cứu và giảng dạy cho ngành báo chí và truyền thông về các vấn đề liên quan
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị với Ban biên tập chương trình, cơ quan quản lý và nghiên cứu về khoa học và công nghệ, các chuyên gia, các nhà khoa học để nâng cao chất lượng chương trình và hiệu quả thông tin về khoa học và công nghệ ở Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 2111
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung: Dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề về Lý luận về báo chí – truyền thông; Các vấn đề về truyền thông khoa học và công nghệ và truyền thông trên truyền hình; Quan điểm chỉ đạo của Đảng, các chính sách và pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phương pháp phân tích nội dung các chương trình truyền hình mà luận văn khảo sát; Phương pháp phỏng vấn sâu những người thực hiện chương trình, chuyên gia quản lý khoa học và công nghệ ở Bộ, ngành; Phương pháp điều tra xã hội học phỏng vấn anket khán giả về hiệu quả xem các chương trình khoa học và công nghệ trên truyền hình Các phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết như sau:
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sưu tầm và hệ thống
hóa các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động truyền thông về khoa học
và công nghệ như Quyết định 418/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng chính phủ về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020; Luật khoa học và công nghệ năm 2013; Nghị quyết số 20-NQ/TW trong Hội nghị BCH TWĐ khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước…Ngoài ra còn nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo tư liệu, tài liệu, các luận văn, khóa luận ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Báo chí tuyên truyền có liên quan tới đề tài Truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam
- Phương pháp phân tích nội dung các chương trình truyền hình mà luận văn khảo sát: Đề tài phân tích sâu quy trình sản xuất chương trình, cũng như nội
dung, hình thức thể hiện của 52 chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và
… chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) Qua đó chỉ rõ ưu, nhược điểm
của từng chương trình và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng chương trình
Trang 22- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với khán giả về hiệu quả xem
chương trình khoa học và công nghệ trên truyền hình: Tác giả sử dụng
phương pháp này để thăm dò ý kiến của các khán giả Mục đích sử dụng phương pháp này cũng để có được kết quả định lượng, mang tính khách quan liên quan đến hiệu quả truyền thông của các chương trình phát sóng mà tác giả khảo sát Cụ thể, tác giả lập bảng hỏi gồm 19 câu hỏi và 200 phiếu hỏi online được phát cho các đối tượng liên quan Trong đó phát ra 85 phiếu cho công chúng xem truyền hình, 60 phiếu cho các nhà khoa học và 55 phiếu cho
phóng viên phụ trách khoa học và công nghệ ở các báo, đài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Các hoạt động khoa học và công nghệ đang diễn ra ngày càng sôi động, song để công chúng có thể thực sự hiểu và “ngấm” vào đời sống thực tiễn thì cần phải có những chiến lược truyền thông quốc gia mạnh mẽ, xuyên suốt, làm kim chỉ nam định hướng Hiện nay, ngành khoa học và công nghệ đã hợp tác với rất nhiều cơ quan báo chí, đặc biệt là truyền hình để tăng cường để
Trang 2313
tăng cường sức mạnh tuyên truyền khoa học và công nghệ đến toàn dân Muốn làm được như vậy, thì các chương trình truyền hình về khoa học và công nghệ phải thực sự có chất lượng Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng
sẽ có những đóng góp quan trọng cho:
+ Hoạt động thực tiễn của nhà báo trong tác nghiệp các vấn đề về KH&CN, đặc biệt là những người trực tiếp sản xuất các chương trình Công nghệ và Đời sống (VTV1), chương trình Bảy ngày Công nghệ(VTV2), để nâng cao hiệu quả thông tin khoa học và công nghệ trên truyền hình, làm tốt vai trò là cầu nối cung cầu giữa nghiên cứu khoa học và công nghệ với hoạt động sản xuất, kinh doanh Từ đó, đưa kết quả nghiên cứu, chuyển giao khoa học và công nghệ một cách hiệu quả nhất vào thực tiễn đời sống
+ Các nhà quản lý về khoa học và công nghệ từ đây cũng sẽ có cái nhìn toàn diện hơn đối với công tác truyền thông về khoa học và công nghệ, để đưa
ra các chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm thúc đẩy hoạt động tuyên truyền các thông tin về khoa học và công nghệ trên phương tiện thông tin đại chúng nói chung và truyền hình nói riêng
+ Luận văn cũng sẽ giúp các nhà nghiên cứu và cán bộ giảng dạy báo chí có thêm cơ sở thực tiễn trong hoạt động đào tạo nhà báo chuyên về khoa học và công nghệ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung củaluận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông khoa học và công nghệ
1.1.Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ
1.2.Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay
1.3.Thế mạnh và hạn chế truyền hình trong việc truyền thông về khoa học và công nghệ
Trang 2414
Chương 2: Thực trạng các chương trình truyền hình về khoa học
và công nghệ của Đài Truyền hình Việt Nam
2.1 Quy trình tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.2.Nội dung các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.3.Hình thức thể hiện của các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1), và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2)
2.4 Ý kiến khán giả về các chương trình truyền hình khoa học và công nghệ
Chương 3: Đánh giá chung về hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam và giải pháp
3.1 Ưu nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam
3.2 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền thông về khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam
3.3 Giải pháp
Trang 2515
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN
THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm về khoa học và công nghệ
Khái niệm về khoa học
Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thức sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của con người Từ lâu người ta đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về khoa học
Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau: Khoa học là toàn
bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách thức
đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.1
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khoa học
Theo giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Phó Giáo sư Tiến
sĩ Vũ Cao Đàm thì: Khoa học là một hệ thống tri thức, bao gồm: Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
1 Khoa học và các khoa học: La science et les sciences Gilles-Gaston Granger; Phan Ngọc, Phan Thiều dịch Nhà xuất bản Thế giới, 1995, 147tr
Trang 2616
Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì khoa học là hệ thống
tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học theo cách tiếp cận
có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ
Khái niệm về công nghệ
Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương ( ESCAP) đưa ra: công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa
và cung cấp dịch vụ
Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt động xã hội
Theo các tài liệu nghiên cứu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm thì
có 3 khái niệm về công nghệ:
Khái niệm 1: “Công nghê ̣ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất/thông tin
Khái niệm 2: “Công nghê ̣ là một phương tiê ̣n (device) chế biến vật chất/thông tin, gồm: Phần cứng và Phần mềm”
Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghê ̣ là một cơ thể (hê ̣ thống) tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin về phương tiê ̣n và phương pháp chế biến vật chất và/hoặc thông tin Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware)
Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì Công nghệ là
giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
Trang 27Đặc điểm công nghệ: Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy: Trước
đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thường được dùng thay cho thuật ngữ kỹ thuật Với nội dung như vậy, công nghệ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nó đang thực
sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường trong nước cũng như quốc tế
Khác với khoa học, các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp’ và do đó nó là thứ hàng để mua bán Nghị định số 63/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định 5 đối tượng được bảo hộ ở Việt nam đó là: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi, xuất xứ hàng hoá
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ có nội
dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật
và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến
các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác
Trang 2818
Ngày nay, không thể tách rời công nghệ khỏi khoa học cũng như không thể nói đến khái niệm khoa học mà lại không bao hàm trong nó khái niệm công nghệ Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là bất cứ nền khoa học tiên tiến sẽ có một trình độ công nghệ tiên tiến xét trong phạm vi từng khu vực, từng quốc gia, từng ngành cụ thể
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử
Vào thế kỉ XVII - XVIII khoa học công nghệ tiến hoá theo những con đường riêng có những mặt công nghệ đi trước khoa học Vào thế kỉ XIX khoa học công nghệ bắt đàu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi ý cho
sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng Sang thế kỉ 20 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ Ngược lại sự đổi mới công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển
1.1.2 Khái niệm truyền thông và truyền thông về khoa học và công nghệ
Khái niệm truyền thông: Truyền thông bao hàm ý nghĩa hết sức rộng
lớn Hiện nay trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông Song khái niệm chung nhất, phổ
biến nhất về truyền thông là:
“Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng, nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”2
Ở định nghĩa này cần lưu ý:
+ Truyền thông là một quá trình tức là không phải việc làm tức thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau
2 Dương Xuân Sơn (chủ biên): Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2011
Trang 2919
khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diên sau đấy Đấy là quá trình trao đổi, chia sẻ, nghĩa là ít nhất fai có hai thực thể và không phải là một bên cho một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận
+ Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳquan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
Khái niệm truyền thông về khoa học và công nghệ: Truyền thông khoa
học và công nghệ là quá trình trao đổi liên tục những thông tin về khoa học và công nghệ giữa chủ thể truyền thông khoa học và công nghệ với công chúng, nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động khoa học và công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển đất nước, là cầu nối cung - cầu giữa hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống Từ đó, góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới tận tụy nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ gắn với nhu cầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay; một xã
hội văn minh biết tư duy khoa học trong các hoạt động
Như vậy, khái niệm về truyền thông về khoa học và công nghệ bao gồm: Chủ thể truyền thông, nội dung truyền thông và phương pháp truyền thông và công chúng của truyền thông về khoa học và công nghệ, trong đó:
Chủ thể truyền thông: Chính là nơi nguồn thông tin về khoa học và
công nghệ được phát ra Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cá nhân hoặc tổ chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về khoa học và công nghệ
Cụ thể, trước kia, khi chương trình về khoa học và công nghệ mới ra đời, thì chủ thể chính là Bộ Khoa học và Công nghệ - là cơ quan đại diện cho toàn bộ hoạt động quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ Tuy nhiên, hiện nay, với nhiều chính sách mới, cơ chế mới và nhiều giải thưởng khuyến
Trang 3020
khích, ưu tiên cho phát triển khoa học và công nghệ do chính phủ ban hành thì các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, sáng chế, phát minh và ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào đời sống không chỉ dừng lại ở các đề tài, sản phẩm của các nhà khoa học, mà đã lan rộng tới cả những doanh nghiệp sản xuất, những học sinh, sinh viên và cả những người nông dân…Tất cả đều nhằm đưa những công nghệ mới, sản phẩm mới tự phục vụ đời sống để tăng hiệu quả, năng suất lao động, sản xuất…Do vậy, trong khoảng 5 năm trở lại đây, nguồn thông tin về các hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng đa dạng, phong phú hơn
Nội dung truyền thông: Những nội dung truyền thông tập trung chính vào:
+ Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ
+ Thông tin hoạt động khoa học và công nghệ, về thành tựu, kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ
+ Biểu dương những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả, những tổ chức, cá nhân điển hình…
+ Những tiến bộ khoa học và công nghệ đạt được, khả năng áp dụng những kết quả, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống
Các nội dung này sẽ được phân tích sâu hơn ở mục tiếp theo đây
Phương pháp truyền thông: Bên cạnh hình thức truyền thông trực tiếp
thông qua mở các cuộc họp, hội thảo, tập huấn…về khoa học và công nghệ, thì để đạt hiệu quả cao nhất và sức lan tỏa rộng lớn nhất, thì truyền thông khoa học và công nghệ cần phải thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để truyền tải toàn bộ những thông tin “nóng” nhất, mới nhất, quan trọng nhất tới công chúng Các kênh truyền thông đại chúng chủ yếu chính là báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình…
Công chúng của truyền thông về khoa học và công nghệ: Thông tin về
khoa học và công nghệ được cập nhật hàng ngày, hàng giờ trên truyền hình,
Trang 3121
xen kẽ trong các bản tin thời sự và được phân tích sâu hơn, thể hiện rõ ràng, sắc nét hơn trong các chương trình chuyên biệt về khoa học và công nghệ như: Công nghệ và Đời sống trên VTV1 và Bảy ngày công nghệ trên VTV2 Công chúng của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên hai chương trình này, theo nghiên cứu của luận văn, trước hết họ là những người yêu thích khám phá, tìm tòi khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để phục vụ đời sống Bên cạnh đó, trước kia, các nội dung về khoa học và công nghệ thường “khô cứng” nên hầu hết, những chương trình này chỉ dành cho những người “uyên bác, trí thức”, còn công chúng thông thường rất khó tiếp thu những tri thức khoa học và công nghệ này Song hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, cũng như với chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 đã có nhiều khuyến khích ưu tiên cho các phát minh, sáng chế mới, nên các chương trình về khoa học và công nghệ ngày càng có nhiều hơn những khán giả mới, đó là những người đam mê sáng tạo Ngoài ra, các chương trình về khoa học và công nghệ đang ngày càng có nội dung cũng như hình thức thể hiện đa dạng, phong phú hơn, làm “mềm” hơn các thuật ngữ,các tri thức khoa học, khiến công chúng “dễ” tiếp thu hơn, gần gũi hơn, hấp dẫn nhiều hơn với công chúng, do vậy những người xem truyền hình về khoa học và công nghệ hiện nay không chỉ nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nhân hay các học sinh, sinh viên mà cả người dân cũng đều
quan tâm hơn tới các chương trình này
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về Phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Khoa học và công nghệ là động lực của sự phát triển Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác
Trang 32.Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định,
ở miền Bắc, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, coi trọng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế, nhất là nông nghiệp (cơ giới hóa, thủy lợi hóa, cách mạng về giống cây trồng và vật nuôi)4
Năm 1976 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề ra đường lối chung của cách mạng Việt Nam trên phạm vi cả nước, ngay trong nội dung đầu tiên đã yêu cầu: “Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” để đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội làm cho nước Việt
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
4 Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10-9-1960
Trang 3323
Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học - kỹ thuật tiên tiến5
Năm 1986 đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đã nhấn mạnh các nhiệm vụ sau: “Tăng cường và kết hợp chặt chẽ hoạt động của các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội Tăng mức đầu tư, đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức lại lực lượng khoa học kỹ thuật, làm cho khoa học, kỹ thuật gắn chặt với sản xuất và đời sống, đem lại hiệu quả thiết thực, trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật nhằm trước hết phục vụ ba chương trình mục tiêu6” Trong tình hình ấy, nước ta cần thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra động lực để giải phóng năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học và kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (1991) về khoa học và công nghệ đã nêu rõ những mặt yếu kém của khoa học và công nghệ ở nước ta, đề
ra những nhiệm vụ quan trọng của khoa học và công nghệ trong giai đoạn cách mạng mới, những biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhà nước đối với khoa học và công nghệ Đảng ta cho rằng: Phát triển khoa học và công nghệ là nhu cầu của nước ta nhằm đuổi kịp các nước trên thế giới bằng thực lực kinh tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác định đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
Trang 34và công nghệ để thể chế hóa mọi mặt hoạt động khoa học và công nghệ, phải nhanh chóng đổi mới cơ chế quản lý khoa học, phải đầu tư thỏa đáng, bước đầu dành tối thiểu 2% chi ngân sách cho khoa học và công nghệ
Bước tiến lớn nhất đó là năm 2000, Luật khoa học và công nghệ chính thức được ban hànhtạo hành lang pháp lý cơ bản cho hoạt động khoa học và công nghệ chính thức được ban hành tạo hành lang pháp lý cơ bản cho hoạt động khoa học và công nghệ chỉ rõ việc “đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư phát triển”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định, phát triển khoa học và công nghệ vừa là nền tảng, vừa là động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đại hội đã nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi, khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất" Phát triển khoa học và công nghệ phải hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, xây dựng năng lực cạnh tranh của hàng hóa, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực
sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa) Tăng đầu tư từ ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ
Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX (7- 2002) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII và xác định nhiệm vụ của khoa học và
Trang 3525
công nghệ trong thời gian tới là: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; đổi mới nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế quốc dân; xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: "Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ Kết hợp chặt chẽ hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học - công nghệ, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao”7
Hội nghị Trung ương 9 Khóa X (2009) đã ra Nghị quyết 31-NQ/TW
"Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng", về khoa học và công nghệ, Nghị quyết ghi: "Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học và công nghệ; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các ngành, các sản phẩm quan trọng Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo Có chính sách, chế độ đãi ngộ và điều kiện
7 Trích Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2006 – 2010, ngày 10 tháng 4 năm 2006
Trang 3626
làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là cán bộ đầu ngành,
có trình độ cao”8
.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định:
“Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Quản lý khoa học, công nghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ Thị trường khoa học, công nghệ bước đầu hình thành Đầu tư cho khoa học, công nghệ được nâng lên”9
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã vạch rõ những định hướng lớn về phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ mới với những quan điểm cơ bản dưới đây: “khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài
và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”10
10
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): Đoạn 4, phần 2, Mục III- Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Trang 3727
Trong năm 2012, nhiều văn bản quan trọng cho phát triển khoa học và công nghệ được banhành Ngày 11/4/2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 Chiến lược được kỳ vọng sẽ tạo ra sự chuyển biến căn bản trong hoạt động khoa học và công nghệ,
để khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững
Ngày 01/11/2012, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Ngay sau đó, ngày 29/3/2013 Thủ tưởng Chính phủ cũng đã ký ban hành Nghị quyết số 46/NQCP ban hành chương tình hành động, thực hiện Nghị quyết số 20NQ/TW
Ngày 18/6/2013, Quốc hội đã thông qua Luật khoa học và công nghệ thay thế Luật khoa học và công nghệ năm 2000 với nhiều đột phá trong cơ chế chính sách phát triển khoa học và công nghệ, đem lại nguồn sinh khí mới
để đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành chìa khóa để phát triển kinh
tế, xã hội
Nghị định về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ (Nghị định thay thế Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004) Theo đó, hoạt động thông tin khoa học và công nghệ phải tuân theo các nguyên tắc: Chính xác, khách quan, đầy
đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng sản phẩm, dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ, đồng thời, kết hợp chặt chẽ hoạt động thông tin khoa học và công nghệ với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống kê, truyền thông khoa học và công nghệ
Trang 3828
Ngay sau đó, ngày 20/5/2014 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định
số 40/2014/NĐ-CP về quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN Nghị định này thực sự đã tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi cho cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ phát huy tối
đa năng lực và được hưởng lợi ích xứng đáng với kết quả hoạt động khoa học và công nghệ Có thể nói, đây là sự đột phá lớn trong chính sách khoa học và công nghệ để thu hút nhân tài
Quyết định về việc ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của Bộ Khoa học và Công nghệ của Bộ khoa học và công nghệ số 2093/QĐ-BKHCN ngày 14/08/2014 Thực hiện quyết định này, Bộ Khoa học
và Công nghệ tổ chức cung cấp thông tin định kỳ cho báo chí về hoạt động của
cơ quan, về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua các hình thức sau: Cập nhật thông tin trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Khoa học và Công nghệ và Trang Thông tin điện tử của các đơn vị thuộc Bộ, đồng thời tổ chức họp báo định kỳ hàng quý để cung cấp thông tin cho báo chí và trả lời trực tiếp những vấn đề báo chí quan tâm; Thông tin sẽ được cung cấp bằng văn bản hoặc trực tiếp tại buổi giao ban báo chí thường kỳ
do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức trong trường hợp cần thiết Nội dung thông tin cung cấp cho báo chí: Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực khoa học
và công nghệ; Chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển của ngành khoa học và công nghệ; chương trình, kế hoạch hành động của Bộ Khoa học và Công nghệ; Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định của pháp luật; Quan điểm và ý kiến giải quyết của Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ đối với các vấn đề quan trọng
về lĩnh vực khoa học và công nghệ được dư luận xã hội quan tâm…
Hệ thống văn bản chủ trương chính sách nói trên chính là những thuận lợi, thời cơ lớn cho phát triển ngành khoa học và công nghệ nhưng cũng đặt ra
Trang 3929
cho ngành nhiều thách thức Nhiệm vụ đặt ra cho ngành khoa học và công nghệ không nhỏ Vai trò, vị trí của khoa học và công nghệ đặt ra trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020 là hết sức quan trọng nhằm điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế của đất nước, điều chỉnh lại cơ cấu công nghiệp, cơ cấu công nghệ của đất nước hướng tới công nghệ an toàn, hiệu quả, sạch Có như thế đất nước mới phát triển bứt phá trở thành nước vượt qua ngưỡng trung bình thấp, trung bình vươn lên thành một nước phát triển như một số nước Châu Á đã trải qua Vì thế, hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ cũng cần bám sát các hoạt động của ngành, tập trung khai thác các tiềm năng và thế mạnh trong khoa học và công nghệ, gương điển hình, nhà sáng chế, mô hình thương mại hóa và ứng dụng, chuyển giao các sản phẩm khoa học và công nghệ thành công…
1.2.2 Vai trò của báo chí và truyền thông trong hoạt động khoa học
và công nghệ
Để thúc đẩy nền khoa học và công nghệ nước nhà, vai trò của truyền thông về khoa học và công nghệ được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng để gắn kết cộng đồng và giới nghiên cứu.Trước hết, truyền thông khoa học và công nghệ giữ vai trò chủ đạo trong công tác giới thiệu, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Qua các kênh truyền thông, người dân cũng như các cấp quản lý ý thức được vai trò của khoa học và công nghệ có tính chất quyết định phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của sản phẩm, hàng hóa và của cả nền kinh tế
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn
2011-2020 theo quyết định số 418/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ đã xác định hoạt động tuyên truyền, phổ biến khoa học và công nghệ là một trong 6 giải pháp chủ yếu để phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam: “Đẩy mạnh hoạt
Trang 40tổ quốc”11
Một vai trò trọng yếu khác của truyền thông khoa học và công nghệ là tuyên truyền, phổ biến, đưa nhanh các tri thức khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống Từ những thông tin phục vụ cho công tác lãnh đạo chỉ đạo, điều hành; thông tin phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; phục vụ chuyển giao, đổi mới công nghệ; đến những tri thức khoa học thường thức gắn liền với đời sống hàng ngày của mỗi người dân
Trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam đánh giá cao vai trò, sức mạnh to lớn của Báo chí Đảng
ta khẳng định “Báo chí là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”
Bên cạnh các chức năng khác của báo chí thì chức năng thông tin tuyên truyền của báo chí Việt Nam có nhiệm vụ truyền bá, giải thích cho toàn xã hội những quan điểm, đường lối, chính sách có quyết định của Đảng và Nhà nước
về các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực khoa học và công nghệ Lĩnh vực khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Phát triển
11 Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 418/QĐ-TTG Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011-2020, năm 2012