Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; tiềm năng, thực trạng kinh tế - xã hội trong quá trình đô thi hóa; phát triển du du lịch làn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học “Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội” dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Lâm Thị Mỹ Dung là hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác
- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thanh Lan
Trang 3bộ trong Ủy ban nhân dân xã Mê Linh, Ban quản lý đền Hai Bà Trưng, đình Hạ Lôi và chùa Đại Bi tại xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội Đồng thời, người viết cũng luôn nhận được sự giúp đỡ và tin tưởng rất lớn của người thân, gia đình, đồng nghiệp và bè bạn Đó
là những sự giúp đỡ và nguồn cổ vũ quý giá giúp tôi vượt qua khó khăn và hoàn thành khóa học ngày hôm nay Xin gửi đến mọi người lời cảm ơn và biết ơn chân thành nhất! Mặc dù, người viết đã cố gắng hết sức, tuy nhiên do hạn chế về khả năng, trình độ, thời gian…khiến luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Người viết kính mong sự góp
ý của các Quý thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè giúp người viết khắc phục những hạn chế, tiếp tục phát triển đề tài của mình trong những công trình nghiên cứu tiếp theo Một lần nữa, xin gửi đến Cô, Thầy, các cơ quan đoàn thể, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè lời cảm ơn chân thành nhất!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Lan
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu: 4
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn: 8
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG HẠ LÔI 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa 10
1.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể: 16
1.1.2.1 Di sản văn hóa vật thể 16
1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể: 16
1.1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng 19
1.1.3.1 Khái niệm làng và làng văn hóa 19
1.1.3.2 Văn hóa làng 21
1.2 Tổng quan về làng Hạ Lôi 23
1.2.1 Nền tảng tự nhiên làng Hạ Lôi 23
1.2.1.1.Vị trí địa lý: 23
1.2.1.2.Điều kiện địa hình 25
1.2.1.3 Khí hậu và thời tiết 25
1.2.1.4 Các nguồn tài nguyên 26
1.2.2 Lịch sử địa chí làng Hạ Lôi 26
1.2.3 Lịch sử về tên gọi làng Hạ Lôi 32
Trang 61.2.4 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội làng Hạ Lôi 33
1.2.4.1 Diện tích 33
1.2.4.2 Dân số 33
1.2.4.3 Tình hình kinh tế 34
1.2.4.4 Tình hình văn hóa- xã hội 38
1.3 Tiểu kết 39
Chương 2: MỘT SỐ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ LÀNG HẠ LÔI 40
2.1 Một số di sản văn hóa vật thể của làng Hạ Lôi 40
2.1.1 Đền thờ Hai Bà Trưng 40
2.1.1.1 Lịch sử và truyền thuyết về Hai Bà Trưng: 40
2.1.1.2 Đền Hai Bà Trưng 44
2.1.2.2.1 Về vị trí địa lý 44
2.1.2.2.2 Về lịch sử xây dựng đền Hai Bà Trưng 45
2.1.2 Đền thờ thánh Cốt Tung: 58
2.1.3 Đình làng Hạ Lôi 60
2.1.4 Chùa Đoài (Đại Bi Tự) 63
2.2 Một số di sản văn hóa phi vật thể 65
2.2.1 Lễ hội đền Hai Bà Trưng 65
2.2.1.1 Về thời gian tổ chức, 65
2.2.1.2 Về không gian tổ chức lễ hội 66
2.2.1.3 Nội dung lễ hội 66
2.2.1.4 Ý nghĩa lễ hội đền Hai Bà Trưng 86
2.2.2 Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng 87
2.2.2.1 Tục Kết chạ 87
2.2.2.2 Tôn giáo và tín ngưỡng 88
2.2.3.Các truyền thuyết cổ 90
Trang 72.2.3.1 Truyền thuyết về thánh Cốt Tung 90
2.2.3.2 Truyền thuyết về cánh đồng Dai 92
2.2.3.3 Truyền thuyết về cánh đồng Đống 93
2.2.3.4 Truyền thuyết về cánh đồng Vỡ 93
2.2.3.5 Truyền thuyết về cánh đồng Đỗi 94
2.2.3.6.Truyền thuyết về Hai Cây Muỗm 94
2.3 Tiểu kết 95
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA HIỆN NAY CỦA LÀNG HẠ LÔI 96
3.1 Thực trạng sự tác động của quá trình đô thị hóa đền đời sống kinh tế xã hội và văn hóa hiện nay của làng Hạ Lôi 96
3.1.1 Thực trạng và những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi 96
3.1.1.1 Thực trạng kinh tế - xã hội 96
3.1.1.2 Tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống của người dân làng Hạ Lôi, xã Mê Linh 102
3.1.2 Thực trạng và những biến đổi trong đời sống văn hóa và lễ hội hiện nay của làng Hạ Lôi dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa 108
3.1.2.1 Sự biến đổi trong đời sống văn hóa 108
3.1.2.2 Sự biến đổi trong hoạt động lễ hội tại đền Hai Bà Trưng 110
3.2 Nguyên nhân 113
3.2.1 Về khách quan 113
3.2.2 Về chủ quan 114
3.3 Giải pháp và gợi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi 115
3.3.1 Xây dựng làng nghề trồng hoa theo hướng phát triển bền vững 115
3.3.2 Khôi phục một số di tích và những truyền thuyết đã mất 118
Trang 83.3.3 Điều chỉnh hoạt động lễ hội 119
3.3.4 Phát triển dịch vụ du lịch – văn hóa 120
3.3.5 Gợi ý định hướng phát triển làng 122
3.4 Tiểu kết 124
PHẦN KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC 134
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Mê Linh 24
Hình 1.2: Xã Mê Linh qua ảnh vệ tinh Google Earth 24
Hình 2.1: Tranh vẽ ghi lại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng 41
Trang 10DANH MỤC ẢNH
Ảnh 2.1: Đền Hai Bà Trưng năm 2009 44
Ảnh 2.2: Sơ đồ Bình diện thành Mê Linh tại nhà Trưng bày, đền Hai Bà Trưng 44
Ảnh 2.3: Một đoạn được coi là bờ thành Mê Linh bằng đất xưa còn xót lại 45
sau đền Hai Bà Trưng 45
Ảnh 2.4: Văn bia ghi đổi hướng đền 46
Ảnh 2.5: Tượng Hai Bà Trưng ở gian chính điện trong đền 47
Ảnh 2.6 : Cảnh nhà tiền tế 50
Ảnh 2.7: Hình ảnh lục bộ nữ tướng ở đền Hai Bà Trưng 51
Ảnh 2.8: Một trong tám sắc phòng còn lưu giữ tại nhà Trưng bày đền Hai Bà Trưng 55
Ảnh 2.9: Đền thờ thân phụ ông Thi Sách 55
Ảnh 2.10: Nhà bia ghi dấu tích hoạt động cách mạng của Tổng bí thư Trường Chinh 56 Ảnh 2.11: Cảnh sân đền trước tam môn ngoại (tác giả chụp năm 2011) 57
Ảnh 2.12: Tấm bằng công nhận đền Hai Bà Trưng là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1980 57
Ảnh 2.13 Nhà thờ Thiên chúa giáo tại xóm Bàng, làng Hạ Lôi 64
Ảnh 2.14 Đoàn rước kiệu bắt đầu xuất phát 69
Ảnh 2.15: Dân làng chọn những bô lão có đức độ, uy tín để đánh trống trong ngày hội 70
Ảnh 2.16 Lễ rước tượng voi chiến cùng các lễ vật từ Đình Hạ Lôi đến đền thờ Hai Bà 71
Ảnh 2.17: Thiếu nữ Mê Linh trong vai quân lính vua Bà năm xưa 71
Ảnh 2.18: Những lễ vật được người dân thành kính dâng lên vua Bà 72
Ảnh 2.19 Đoàn rước hội đền Hai Bà Trưng trên đường Kéo Quân 73 Ảnh 2.20: Đại tế ngày mồng 6 tháng Giêng năm 2005 76
Trang 11Ảnh 2.21: Chơi cờ người tại hội đền Hai Bà Trưng 81
Ảnh 2.22: Hội vật đền Hai Bà Trưng 83
Ảnh 2.23: Hát quan họ trên hồ Tắm voi tại đền Hai Bà Trưng 85
Ảnh 3.1: Những ruộng hoa màu mỡ tại xã Mê Linh 100
Ảnh 3.2 Một cảnh mua bán hoa tại Chợ Hoa Mê Linh 101
Ảnh 3.3: Những ruộng hoa sau khi bị thu hồi và bị bỏ hoang lãng phí 107
Ảnh 3.4 Một cảnh đường làng trên địa bàn xóm Chợ, xã Mê Linh 108
Ảnh 3.5 Cảnh một số nhà dân trên địa bàn xóm Đình, xã Mê Linh 110
Ảnh3.6: “Xới” tôm, cua, cá thu hút cả học sinh tham gia 112
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Các hạng mục được trùng tu, xây dựng mới tại đền Hai Bà Trưng (2004-2008) 48 Bảng 3.1 Bảng thống kê tổng thu nhập từ các ngành kinh tế của xã Mê Linh (giai đoạn 2006 – 2010) 97 Bảng 3.2: Diện tích gieo trồng nông nghiệp trong xã Mê Linh năm 2008 99 Bảng 3.3 Danh sách các dự án được cấp phép trên địa bàn xã Mê Linh 104 Bảng 3.4 Bảng thống kê một số tệ nạn xã hội điển hình ở xã Mê Linh (giai đoạn 2006 – 2010) 105
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, làng Hạ Lôi thuộc xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội không chỉ là vùng đất cổ lưu giữ những truyền thống và bản sắc văn hóa của nền văn hiến Văn Lang - Âu Lạc mà còn
là quê hương, là kinh đô của hai vị nữ tướng anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị - người có công dấy lên phòng trào chống giặc ngoại xâm, lật đổ ách đô
hộ tàn bạo của quân xâm lược Đông Hán trên vùng đất châu thổ Bắc Bộ Việt Nam trong những năm 40 - 43 đầu Công nguyên, giành độc lập lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam Tinh thần anh dũng quật cường “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” của cuộc khởi nghĩa đã trở thành biểu tượng cho dân tộc ta và cho phụ nữ Việt Nam Từ triết lý “sinh vi danh tướng, tử vi thần” và lòng kính trọng, biết ơn công lao to lớn của Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh thời đó, người dân nơi đây đã lập đền thờ và tổ chức lễ hội hàng năm Thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian phong phú và đặc sắc, lễ hội này đã trở thành hạt nhân cố kết nhiều thành tố văn hóa, thu hút sự tham gia đông đảo của hàng ngàn khách địa phương và du khách thập phương Và đền Hai Bà Trưng tại làng Hạ Lôi đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia đánh dấu:
“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.”
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, từ thời Hai Bà Trưng, rồi những năm Bắc thuộc, qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hạ Lôi vẫn đứng vững, phát triển mạnh mẽ Nơi đây không chỉ là vùng đất của văn hóa dân gian, của lễ hội văn hóa tâm linh và lưu giữ kho tàng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần hết sức
Trang 14giá trị mà còn là “mảnh đất năng động” luôn vươn mình hòa nhập cùng quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước Đặc biệt, kể từ khi tỉnh Vĩnh Phúc bàn giao huyện Mê Linh về thủ đô Hà Nội, làng cổ Hạ Lôi (còn gọi là làng hoa
Mê Linh), xã Mê Linh đang biến đổi rõ nét trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội
Mặc dù, từ xưa đến nay, nghiên cứu về công lao sự nghiệp dựng nước
và giữ nước của Hai Bà Trưng đã trở thành đề tài hấp dẫn của nhiều nhà sử học, văn hóa, văn học và kinh tế- xã hội…nhưng việc nghiên cứu một cách toàn diện về làng cổ Hạ Lôi - quê hương của hai vị nữ tướng anh hùng này thì chưa có một công trình tổng hợp nào
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện
Mê Linh, Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học của mình Luận văn nghiên cứu về làng cổ Hạ Lôi hoàn thành vào thời gian thủ đô Hà Nội vừa tròn 1000 năm tuổi sẽ góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch sử - văn hóa của thủ đô
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, các tác phẩm nghiên cứu, ghi chép về làng cổ Hạ Lôi còn rất
ít Các tài liệu chủ yếu nghiên cứu lịch sử và các truyền thuyết về Hai Bà Trưng và chỉ dừng ở việc sưu tầm, ghi chép, phân tích những giá trị mà chưa
đi sâu vào khai thác truyền thuyết trong đời sống lễ hội đền Hai Bà Trưng và giới thiệu về làng cổ Hạ Lôi, quê hương của Hai Bà
Trong những thư tịch cổ nhất còn lưu trữ tại viện Hán Nôm Việt Nam
có cuốn “Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ Hạ Lôi tổng Hạ Lôi xã thần sắc”, đây
là cuốn sách in bằng chữ Hán chủ yếu đề cập và lưu lại những thần sắc tại
làng Hạ Lôi xưa “Thần sắc xã Hạ Lôi thuộc tổng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh
Phúc Yên, phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (2 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (4 đạo), Cảnh Thịnh (3 đạo)” với những thần sắc về “Phong cho
Trang 15Bàn Thái Hầu Nội Giám Dương Hữu Sủng; Đặng Công Đại Vương; Trưng
Thị Chi Thần; Cốt Tung Đại Vương” [68, tr13]
Năm 1572, Nguyễn Bính biên soạn cuốn “Phúc Yên tỉnh Yên Lãng phủ
Hạ Lôi tổng các xã thần tích” được viết bằng chữ Hán có tới 39 trang cũng có
đề cập đến các thần tích về Cốt Tung Uy Linh thượng Đẳng thần, và xã Hạ
Lôi với gồm sự tích Trưng Trắc Hoàng Đế, Trưng Nhị Hoàng Đế, có bài hịch
về việc đánh Tô Định [48, tr30]
Năm 1975, Chi hội văn nghệ dân gian Vĩnh Phúc đã xuất bản cuốn
“Truyền thuyết Trưng Vương”, giới thiệu 12 truyền thuyết về Hai Bà Trưng
và các nữ tướng của Hai Bà thời đó Năm 1978, tác giả Bùi Thiết khi viết cuốn “Trẩy hội non sông” và năm 1979, nhiều tác giả đã cho ra đời cuốn
“Một số truyền thuyết về các tướng lĩnh của Hai Bà” đã giới thiệu các tướng lĩnh, những vị anh hùng giúp Hai Bà đánh giặc
Gần đây nhất, với việc xuất bản cuốn “Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam”, nhà xuất bản Giáo dục cũng đã giới thiệu đầy đủ 10 truyền thuyết về Hai Bà cùng các nữ tướng Một số cuốn sách khác như “Các nữ thần Việt Nam”, “Những vì sao đất nước” cũng chỉ đề cập đến các truyền thuyết về Hai Bà Trưng
Trong những sách viết về làng Hạ Lôi, chúng ta không thể bỏ qua tác phẩm “Mê Linh một vùng đất cổ” của tác giả Trần Duy Phương, xuất bản năm 2004 Có thể nói, so với các tác phẩm trên, đây là cuốn sách duy nhất giới thiệu khái quát về thân thế, sự nghiệp, cuộc đời Hai Bà Trưng, về sư phụ
và sư mẫu của Hai Bà và một số huyền thoai, hoành phi, câu đối về cuộc khởi nghĩa và công lao của Hai Bà Trưng, , đồng thời, thống kê môt số di tích lịch
sử hiện có ở Mê Linh
Gần đây nhất, hai tác giả Đặng Anh Ninh và Nguyễn Huy Canh đã cho
ra đời hai cuốn sách “Hai Bà Trưng nhìn từ góc nhìn lịch sử” và cuốn “Lục bộ
Trang 16nữ tướng thời Hai Bà Trưng” (Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 2005) Trong hai cuốn sách này, các tác giả đã giới thiệu những nhận định, những tác phẩm thơ, lời bàn của các sử gia về Hai Bà Trưng và các sáu nữ tướng thời đại Hai Bà
Như vậy, các công trình nghiên cứu về làng cổ Hạ Lôi chưa nhiều Thực tế, đến bây giờ, chưa có một công trình nào đề cập một cách có hệ thống, toàn vẹn về các mặt địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội của làng Đây cũng là một lý do để người viết chọn làng Hạ Lôi làm đề tài cho luận văn của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khía cạnh văn hóa làng cổ Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện
Mê Linh, Thành phố Hà Nội
- Phân tích làm nổi lên những đặc trưng riêng và những đóng góp của làng Hạ Lôi với thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,
- Đưa ra những biện pháp khoa học góp phần vào quá trình phát triển kinh tế bền vững, bảo vệ, làm giàu và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng đã có tại làng Hạ Lôi; từ đó, giúp người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn và
có cái nhìn vừa cụ thể, vừa toàn cảnh về làng Hạ Lôi
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể; tiềm năng, thực trạng kinh tế - xã hội trong quá trình đô thi hóa; phát triển du du lịch làng xã thông qua lễ hội đền Hai Bà Trưng từ năm 2005 -2010 và các giải pháp khoa học góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội làng Hạ Lôi theo hướng nhanh, mạnh, bền vững
4.2 Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi
làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, thành phố Hà Nội
Trang 175 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Mỗi ngµnh khoa học có thể sử dụng c¸c phương pháp nghiên cứu khác nhau víi những ưu thế và hạn chế nhất định Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết dựa trên những phương pháp và quan điểm sau:
5.1 Quan điểm lịch sử
Mỗi sự vật trong đời sống và trong tự nhiên luôn luôn vận động theo trình tự thời gian Đặc điểm của đối tượng vào một thời điểm nào đó là kết quả của quá trình chuyển hoá lâu dài, và ở một mức độ nào đó cũng cho biết được tương lai của nó Hoạt động nghiên cứu về làng xã cũng không nằm ngoài quy luật vận động đó, vì vậy muốn rút ra bài học kinh nghiệm, dự đoán được xu hướng phát triển, đề ra giải pháp hữu hiệu áp dụng quan điểm lịch sử
để phân tích tình hình hoạt động kinh tế, văn hóa và du lịch trước đó
5.2 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: thu thập thông tin, tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm
Các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của địa phương
Bản quy hoạch các dự án đã được cấp phép tiến hành tại xã
Các nghị định, định hướng phát triển của xã đến năm 2020
Những tài liệu thứ cấp này là cơ sở, nền tảng cho việc tiến hành nghiên cứu thực địa tại địa phương, đồng thời giúp sàng lọc thông tin, tập trung vào những vấn đề chính, từ đó giúp tiết kiệm thời gian nghiên cứu
Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng
Sử dụng hình thức phỏng vấn bán chính thức dựa trên cơ sở bảng hỏi
để phát hiện vấn đề cần quan tâm, trong đó chú trọng điều tra mong muốn của người dân trong việc lựa chọn phướng án phát triển của làng xã
5.3 Phương pháp biểu đồ, thống kê
Các số liệu thống kê trong nghiên cứu kinh tế, văn hóa - xã hội là rất phổ biến: thực trạng và những biến đổi kinh tế, xã hội diễn ra tại làng Hạ Lôi
Trang 18trong những năm gần đây với phương pháp phân tích biểu đồ, phân tích các bảng thống kê cho phép rút ra nhiều kết luận quan trọng về sự biến đổi toàn diện của làng Các loại bảng biểu, biểu đồ là những hình thức biểu hiện sự vật trực quan sinh động
5.4 Phương pháp thực địa
Phương pháp này được tiến hành để có cái nhìn tổng thể về địa phương nghiên cứu, tìm hiểu thêm các số liệu cần thiết mà chưa được đề cập đến trong các tài liệu thứ cấp có liên quan dến nội dung nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, điền dã thực tế, điều tra xã hội học (phát phiếu điều tra kinh tế, văn hóa, xã hội cho 300 hộ đại diện của các xóm khác nhau trong làng
Hạ Lôi) để thu thập các thông tin cần thiết, nhằm rút ra những kết luận chính xác, nâng cao ý nghĩa thực tiễn của luận văn
5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành và khu vực học
Khác với khoa học chuyên ngành lấy lĩnh vực hoạt động của con người làm đối tượng nghiên cứu (ngôn ngữ, chính trị, văn học, lịch sử…) Phương pháp liên ngành lấy không gian văn hóa làm đối tượng tìm hiểu với mục đích đạt tới những nhận thức tổng hợp về không gian, trong đó mối liên hệ mật thiết giữa các lĩnh vực hoạt động của con người và quan hệ tương tác giữa con người với điều kiện tự nhiên được nghiên cứu một cách đầy đủ Áp dụng phương pháp liên ngành vào nghiên cứu làng Hạ Lôi có nghĩa là không đơn thuần nghiên cứu dưới góc độ địa lý, văn hóa hay kinh tế mà kết hợp nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý, du lịch, kinh tế, văn học, lịch sử…) nhằm tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện nhất về làng Hạ Lôi trong quá khứ và đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Áp dụng phương pháp liên ngành vào liên nghiên cứu làng, thấy được mối quan hệ giữa con người và các yếu tố văn hóa,
Trang 196 Đóng góp của luận văn
Luận văn giới thiệu một cách khái quát và khá toàn diện về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội làng Hạ Lôi, một làng cổ có lịch sử hàng nghìn năm trong lịch sử dựng nước, giữ nước, và phát triển đi lên quá trình đô thị hóa Trong
đó, người viết đi sâu giới thiệu về một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt là lễ hội đền Hai Bà Trưng – một lễ hội lớn không chỉ có giá trị với người dân địa phương mà còn với cả nhân dân cả nước với những nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo Từ đó, người viết cũng đưa ra những biến đổi trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt trong hoạt động lễ hội nơi đây Đồng thời, người viết cũng thử đưa ra những giải pháp để phát huy những mặt tích cực và khắc phục những tồn tại đã có trong những hoạt động trên tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội
Ngoài ra, làng cổ Hạ Lôi cũng chính là “vựa hoa” của thủ đô Hà Nội hiện nay Tuy nhiên, việc đô thị hóa đã tác động quá nhiều vào đời sống mọi mặt của người dân Hạ Lôi, Mê Linh và có nguy cơ “xóa sổ” một làng nghề trồng hoa của những người nông dân cần mẫn và giàu kinh nghiệm… Luận văn sẽ đưa ra thực trạng của quá trình đô thị hóa làng hoa Hạ Lôi, Mê Linh và giải pháp để giúp Hạ Lôi không chỉ lưu giữ được những giá trị văn hóa dân gian mà còn lưu giữ và phát huy nghề trồng hoa, môi trường cảnh quan một vùng quê giàu đẹp
Là công trình nghiên cứu làng xã theo hướng liên ngành, lần đầu tiên luận văn đã kết hợp phương pháp và kiến thức của nhiều ngành khoa học: văn hóa, lịch sử, du lịch, kinh tế, địa lý, văn học, áp dụng vào nghiên cứu làng
Hạ Lôi Vì vậy, những kết luận về các giá trị văn hóa và kinh tế, xã hội được nhìn nhận tổng hợp, không đơn thuần là số liệu kinh tế mà dựa trên cả cơ sở phân tích những giá trị nhân văn và biến đổi xã hội, biến đổi thiên nhiên trước ảnh hưởng của hoạt động du lịch và quá trình đô thị hóa Các giải pháp mà
Trang 20luận văn đưa ra cũng chủ yếu nhấn mạnh đến việc kết hợp giải pháp cần thiết trước mắt là xây dựng văn hóa du lịch với giải pháp lâu dài là đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đào tạo du lao động du lịch có chiều sâu, phát triển du lịch văn hóa lịch sử theo hướng bền vững; đồng thời phát triển làng nghề bền vững trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện nay
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài các phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan làng Hạ Lôi
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm văn hóa
1.2 Khái niệm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng
Chương 2 Một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể làng Hạ Lôi
2.1 Một số di sản văn hóa vật thể của làng Hạ Lôi
2.1.1 Đền thờ Hai Bà Trưng
2.1.2 Đền thờ thánh Cốt Tung
2.1.3 Đình làng Hạ Lôi
2.1.4 Chùa Đoài ( Đại Bi Tự)
2.2 Một số di sản văn hóa phi vật thể của làng Hạ Lôi
2.2.1 Lễ hội đền Hai Bà Trưng
Trang 212.2.2 Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng
3.1.1 Thực trạng và những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh
tế - xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi
3.1.2 Thực trạng và những biến đổi trong đời sống văn hóa và lễ hội hiện nay của làng Hạ Lôi
3.1.2.1 Sự biến đổi trong đời sống văn hóa
3.1.2.2 Sự biến đổi trong hoạt động lễ hội tại đền Hai Bà Trưng
3.2 Biện pháp và gơi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi
3.2.1 Xây dựng làng nghề trồng hoa theo hướng phát triển bền vững 3.2.2 Khôi phục một số di tích và những truyền thuyết đã mất
3.2.3 Điều chỉnh hoạt động lễ hội
3.2.4 Phát triển dịch vụ du lịch – văn hóa
3.2.5 Gợi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi
3.3 Tiểu kết
Trang 22PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG HẠ LÔI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Như chúng ta đều viết, bàn về văn hóa đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu về khái niệm này, nhưng cho đến nay, giới nghiên cứu khoa học, giảng dạy về văn hoá trong nước cũng như trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một khái niệm chung nhất Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học lại đặt ra một khái niệm riêng cho mình để nghiên cứu Mỗi thể chế chính trị, mỗi quốc gia, mỗi ngành khoa học xã hội nhân văn cũng có một khái niệm
về văn hoá riêng biệt Nhiều nhà khoa học đi thống kê các khái niệm văn hoá
và có thể tìm thấy hàng vài trăm khái niệm
Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A L Kreber và K.Klaxon đã thu thập được 164 cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ văn hoá Trong cuốn “Triết học văn hoá” M.S.Kagan thu thập được hơn 70 cách định nghĩa khác nhau Tại Hội nghị về văn hoá UNESCO tại Mêhicô năm
1982, người ta cũng đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hoá Hiện nay thì số lượng khái niệm về văn hoá ngày càng tăng thêm và khó mà thống kê hết được
Qua quá trình tìm hiểu về văn hoá, có thể định vị một số dạng tiêu biểu của các khái niệm về văn hoá và quy các dạng khái niệm về văn hoá như sau:
Văn hoá theo nghĩa rộng nhất là khái niệm văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị Theo khái niệm này, có thể thấy văn hoá bao gồm cả vật chất và tinh
Trang 23thần, cả kinh tế lẫn xã hội Có lẽ đây là những khái niệm theo nghĩa rộng nhất
về văn hoá
Một số khái niệm dù không theo nghĩa rộng như trên nhưng vẫn theo nghĩa rộng kiểu như: Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, văn hoá là tất cả đời sống tinh thần của con người v.v…
Đa số các nhà nghiên cứu, giảng dạy về văn hoá ở Việt Nam là những người được đào tạo trong khối các nước Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây Vì vậy, khái niệm được sử dụng nhiều nhất và gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lý thuyết và áp dụng thực tiễn ở Việt Nam là khái niệm văn hoá của Liên Xô
(cũ) “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng
tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người”[72, tr62]
Đây là một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, mang tính triết học, có phần nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên về tính giá trị, được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin Trong cuốn
“Cơ sở văn hoá Việt Nam”, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm (cũng học tập ở Liên Xô) đưa ra khái niệm:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [50, tr10]
Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng Theo đó, văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người) Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại Cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giá trị” Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho
Trang 24con người) Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra) nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá (ví dụ: bom hạt nhân, heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người v.v…) Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng v.v… tuy không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó (thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hoá
Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [33, tr19]
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng
Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm
1970 tại Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm:
"Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm
Trang 25tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
và lao động" [73, tr21]
Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt văn hoá dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hoá dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, văn hoá dân tộc này văn minh, văn hoá dân tộc kia lạc hậu Khái niệm nêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng Quan điểm này càng được khẳng định tại Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [72, tr8]
Khái niệm trên vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng
là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt
Văn hoá theo nghĩa hẹp gồm những khái niệm gắn từ “văn hoá” với một chuyên ngành nào đó Ví dụ: văn hoá dân gian, văn hoá bác học, văn hoá tôn giáo, văn hoá giao tiếp, văn hoá xã hội văn hoá chính trị, văn hoá ứng xử (giao tiếp), văn hoá nghệ thuật, văn hoá giáo dục (học vấn), văn hoá kinh
Trang 26doanh, dân tộc học văn hoá, nhân học văn hoá, địa văn hoá, sử văn hoá, triết học văn hoá, xã hội học văn hoá v.v…
Còn đối với những khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp, những từ được gắn với từ “văn hoá” sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó Ví dụ khái niệm “văn hoá nghệ thuật” hay “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hoá gắn với việc sáng tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hoá nghệ thuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh v.v…; Khái niệm “văn hoá
tư tưởng” là khái niệm gắn với thể chế chính trị và công tác lý luận; Khái niệm “văn hoá giao tiếp” nói đến mối quan hệ ứng xử giữa người với người; Khái niệm “sử văn hoá” nói đến quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hoá theo trục thời gian và trong không gian; Khái niệm “địa văn hoá” nói đến điều kiện địa lý khí hậu trong một không gian nhất định ảnh hưởng đến một nền văn hoá nào đó v.v…
Ngày nay, các ngành nghiên cứu khoa học xã hội ngày càng phát triển Trong đó có Văn hoá học Văn hoá học như là một ngành khoa học tổng hợp bởi tính chất liên ngành của nó, thể hiện đầy đủ bản chất vừa phong phú, vừa phức tạp của văn hoá Mặc dù là một khoa học liên ngành nhưng khi nghiên cứu, tuỳ theo từng đối tượng, phạm vi nghiên cứu để nhà nghiên cứu định ra một hoặc hai ngành trung tâm Ví dụ như nghiên cứu về lễ hội thì phải lấy ngành văn hoá dân gian làm trung tâm, nghiên cứu về đời sống tâm linh của người Kh’me thì phải lấy ngành văn hoá tôn giáo làm trung tâm, nghiên cứu
về lý luận văn hoá thì phải lấy văn hoá chính trị làm trung tâm v.v…
Mặc dù khoa học nghiên cứu văn hoá đã hình thành từ vài trăm năm nay và ngày càng phát triển, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm văn hoá chung nhất, được thống nhất cao nhất Tổ chức cao nhất về văn hoá của nhân loại là UNESCO đã nhiều lần đưa ra những khái niệm về văn hoá (như khái niệm năm 1982) nhưng cũng chưa phải là khái niệm được toàn thế
Trang 27giới chấp nhận Với tính chất vừa phong phú, vừa phức tạp của văn hoá, để tìm ra một khái niệm văn hoá chung cho tất cả các nhà nghiên cứu khoa học văn hoá là điều khó có thể có được Khái niệm về văn hoá của Liên Xô (cũ) được ghi trong Từ điển triết học - Nxb Chính trị Matxcova – 1972, với sự phân tích ở trên, có lẽ đây là một trong những khái niệm chung nhất Tuy nhiên, để khái niệm vừa có tính kế thừa, vừa có tính khái quát cao hơn nữa,
theo quan điểm cá nhân tôi, có thể đi đến một khái niệm rộng nhất: “Văn hoá
là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra có tính giá trị”[72, tr10]
Thực ra, việc đưa những khái niệm “giá trị vật chất và tinh thần” trong khái niệm của Liên Xô cũng như của GS Trần Ngọc Thêm là sự phân chia theo cấu trúc của văn hoá (văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể), vì vậy, có thể “rút gọn” thành “những gì do con người sáng tạo ra”
Như vậy, văn hoá đã được hiểu theo nghĩa rộng nhất Đó là toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích cuộc sống của con người
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và
phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình
xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người
và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Trang 281.1.2 Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
1.1.2.1 Di sản văn hóa vật thể: Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,
văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1.1.2.2 Di sản văn hóa phi vật thể
Thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” hay “di sản bất động”
Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của
UNESCO năm 2003 đã ghi nhận “di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các
tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về
sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững”[73, tr3] Trong khái niệm này, UNSECO đã cố gắng cụ
thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc định dạng một số biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể như tập quán, biểu đạt tri thức,
kỹ năng, các công cụ đồ vật, đồ tạo tác, các không gian văn hóa có liên quan… Những biểu hiện này được ví như “hình thức chứa đựng” di sản văn hóa phi vật thể Đó cũng chính là phần cốt lõi bên trong, chính là phần hồn của di sản văn hóa phi vật thể mà UNESCO ghi nhận dưới khía cạnh ý nghĩa
Trang 29đối với cộng đồng Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới
Bản sắc của mỗi dân tộc là khác nhau và di sản văn hóa phi vật thể, vì thế không có biểu hiện giống nhau ở mỗi quốc gia Tại Nhật Bản, điều 2 của Luật bảo vệ tài sản văn hóa có đưa ra định nghĩa di sản văn hóa phi vật thể là
“nghệ thuật, kĩ năng thu nhận được từ các vở kịch, âm nhạc và nghệ thuật
ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật thể khác sở hữu giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật đối với một đất nước” Còn tại Hàn Quốc thì quan niệm
“tài sản văn hóa phi vật thể chỉ dẫn đến kịch, âm nhạc, nghề thủ công và các
hình thức biểu đạt di sản văn hóa phi vật thể khác có giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và học thuật nổi bật” [71, tr12] Cách hiểu về di sản văn hóa phi
vật thể của Hàn quốc khá gần với cách hiểu của Nhật Bản Với Myanmar, nước này không dùng phương pháp liệt kê mà chỉ nêu ra đặc tính cơ bản của
di sản văn hóa phi vật thể, theo đó “văn hóa vật thể là khía cạnh vật chất còn
văn hóa phi vật thể là khía cạnh tinh thần của đời sống Những ngành nghệ thuật nhìn được bằng thị giác thuộc về văn hóa vật thể, nghệ thuật biểu diễn
là văn hóa phi vật thể”[71, tr13] Còn Croatia – một đất nước ở châu Âu thì
quan niệm rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể bao trùm các dạng đặc biệt
và các hiện tượng của hoạt động sáng tạo trí óc được truyền từ đời này sang
đời khác bằng bất kì cách thức nào, và đặc biệt là “ngôn ngữ, thổ ngữ, tiếng
bản địa và tất cả các loại văn học truyền thống; sáng tạo dân tộc trong những lĩnh vực của nhạc, múa, truyền thuyết, trò chơi, lễ hội, phong tục cũng như các giá trị dân tộc truyền thống khác; kĩ năng truyền thống và nghề thủ công”
[71, tr3]
Qua cách định nghĩa trên của UNESCO và một số nước, có thể nhận thấy:
Trang 30– Thứ nhất, vì di sản văn hóa phi vật thể là di sản mang tính trừu tượng cao, khó nắm bắt nên cần phải đưa ra các hình thức biểu hiện cơ bản của loại hình di sản này Không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các quốc gia, mà dựa trên đặc điểm văn hóa, mỗi quốc gia sẽ đưa ra các hình thức biểu hiện cụ thể của di sản văn hóa phi vật thể;
– Thứ hai, nếu chỉ dựa vào hình thức biểu hiện thì chưa đủ mà còn cần căn cứ vào các yếu tố khác như: sức sống lâu dài của di sản (chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác), sự vận động, gắn bó với đời sống con người (tái tạo để thích nghi với môi trường sống); giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật,…;
– Thứ ba, vai trò quan trọng nhất của di sản văn hóa phi vật thể là đại diện cho bản sắc dân tộc Thông qua di sản văn hóa phi vật thể chúng ta có thể hiểu hơn về quan niệm, cách nghĩ, tâm tư, tình cảm, lối sống tốt đẹp của cộng đồng, mà khó có thể tìm thấy ở một cộng đồng khác
Quan điểm về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được ghi nhận tại Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
theo đó di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [58, tr18] Về cơ bản, cách xác định
này tiếp thu quan điểm của UNESCO Tuy nhiên trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009) không liệt kê các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể như một số quốc gia khác trên thế giới Việc chi tiết,
cụ thể hóa được thể hiện trong Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa Theo đó, có 7 hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: (i)
Trang 31tiếng nói chữ viết; (ii) ngữ văn dân gian; (iii) nghệ thuật trình diễn dân gian, (iv) tập quán xã hội và tín ngưỡng; (v) lễ hội truyền thống, (vi) nghề thủ công truyền thống; (vii) tri thức dân gian
1.1.3 Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng
1.1.3.1 Khái niệm làng và làng văn hóa
Làng, tên được dùng để gọi một cộng đồng dân cư ở nông thôn nước ta
và được coi là một đơn vị hành chính từ thời phong kiến Ở đó có nhiều tộc
họ cùng chung sống, nhiều người cùng chung sống một số nghề nhất định (làng nghề) như làm nông, làm gốm, hoặc hát quan họ: làng quan họ
Thôn, khi xã hội ngày càng phát triển đi lên và có sự giao thoa bởi nhiều trào lưu tiến bộ xã hội manh nha “đô thị hóa”, thì nhiều vùng dân cư có tính chất “cận đô thị” hoặc ra đời sau, không gọi là làng mà gọi là “Thôn”, nhưng về tính chất thì không thay đổi Đến đời Gia Long (1802 – 1820) đơn
vị hành chính nước ta đã có 4 cấp, đó là: Phủ, Huyện, Tổng, Thôn Đến năm
1940, tên “Thôn” bắt đầu phổ biến và mãi đến những năm 1960, phần lớn các khu dân cư ở phía Nam chính thức gọi là Thôn và Thôn cũng là đơn vị hành chính cấp cơ sở của các chính quyền Ngụy Sài Gòn: Tỉnh, Quận, Xã, Thôn (về mặt hành chính có con dấu)
“Ấp” theo nghĩa bóng là xóm nhỏ, còn theo nghĩa gần là phủ lên cho có hơn nóng, ấp áp Từ “Ấp” được dùng để gọi những cộng đồng dần cư vùng sông nước Nam bộ Có lẽ, ở những nơi này kênh, rạch chằng chịt, người dân như sống trong “ốc đảo” nên cần có sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, cho nên người xưa lấy từ Ấp mà gọi
“Buôn, bản, sóc ” cũng là những từ để chỉ một cộng đồng dân cư dành cho người dân tộc thiểu số Việt Nam (dân tộc tây nguyên: Buôn, đồng bào phía bắc, tây bắc: Bản; người Chăm, Khơ me: Sóc, Phum)
Trang 32Chúng ta biết rằng nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống và
có bản sắc văn hóa riện Cách xác lập tên gọi như trên là một phần của bản sắc văn hóa dân tộc, vùng miền không có gì là lạ
Từ những khái niệm trên cho thấy, Làng là tên đầu tiên (là gốc) của xã
hội Việt Nam Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt và đã
hình thành từ rất sớm (trước khi có Nhà nước) Đầu tiên, làng là điểm tụ cư của những người cùng huyết thống, sau đó để phù hợp với sự phát triển của xã hội và lịch sử, làng còn là điểm tụ cư của những nhóm người cùng nghề nghiệp, bao gồm nhiều dòng họ khác nhau Khi Nhà nước ra đời, làng là một đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước và là một tổ chức tự quản, quân sự và văn hoá khá hoàn chỉnh
Từ Làng đã đi vào trong máu thịt con người ngay từ khi ra đời Làng quê Việt Nam từ ngàn xưa đến bây giờ, làng nào chẳng có đình Đình làng, lũy tre xanh, con sông nhỏ đã bao đời đi vào sâu thẳm tiềm thức người Việt Nam rồi Người Việt Nam cón có quan niệm: “Làng là nơi con gnười sinh ra
và lớn lên, cũng là nơi ngày nào đó gởi lại nắm xương tàn”, nên chúng ta thường nghe nói: Đình làng, lũy tre làng, giếng làng chứ không ai nói: Đình thôn, lũy tre thôn, giếng thôn; Khi có chuyện xích mích, người ta nói “đi báo làng”; hoặc nói: làng nghề truyền thống chứ không ai nói: đi báo thôn; thôn nghề truyền thống Hay đi ăn cúng đình có câu: “một miếng giữa làng bằng một sàng giữa chợ” chứ không ai nói “Một miếng giữa thôn” Chừng ấy ví dụ cũng đũ thất làng đã trở thành máu thịt của người Việt Nam từ bao đời
Từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [59, tr2] thì tại điểm (b) điều (1) Quyết định 01/QĐ-BVHTT ngày 01/01/2002 của Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn Hóa, Thông tin và Du lịch) đã ghi rõ: “Làng, thôn, ấp, buôn,
Trang 33sóc là đơn vị trực tiếp dưới cấp xã thì gọi chung là làng” [58, tr2] Đến ngày 26/6/2003, Quyết định 62 của Bộ Văn Hóa Thông Tin cũng giữ nguyên như vậy
Như vậy có thể nói, làng văn hóa là cụm từ để gọi những cộng đồng
dân cư trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa sao cho phù hợp với tinh thần Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [58, tr6] (từ làng còn được coi là văn hóa truyền thống)
1.1.3.2 Văn hóa làng
Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hoá làng cũng
ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hoá dân tộc
Văn hoá làng của các làng xã cổ truyền ở Việt Nam có 3 đặc trưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức ); ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhau nhưng không hề giống nhau) Văn hóa làng còn được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, các nghề thủ công truyền thống, những làn điệu dân ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏi võ,
vv Văn hóa làng mang những giá trị đẹp giàu tính truyền thống, đồng thời cũng cần xoá bỏ những tập tục cổ hủ, lạc hậu
Do đó, văn hóa làng xã vốn mang bản sắc của một lối sống cộng đồng, nơi mà quyền lợi của mọi thành viên trong cộng đồng gắn bó chặt chẽ với nhau Nó thể hiện trong mỗi gia đình với gia phong đã được chuẩn mực hóa
từ lâu, được thể hiện bởi một nền văn học dân gian phong phú, cuộc sống lễ hội sống động Mặt khác, văn hóa làng xã cũng được thể hiện bằng cảnh quan thơ mộng của những con đường làng với những hàng tre uốn lượn, tiếng sáo
Trang 34diều dập dìu, hệ thống đình chùa cổ kính… Nó là pháo đài vững chắc chống
sự xâm lăng của kẻ thù thời kỳ chiến tranh và là "bức tường lửa" ngăn chặn các tệ nạn và thói xấu từ bên ngoài trong xã hội hiện đại ngày nay Trong khi
đó, bản thân mỗi người dân đều mong muốn giữ được những nét đẹp truyền thống xưa
Từ bao đời nay, sức sống của nền văn hoá truyền thống Việt Nam được lưu giữ và thể hiện mạnh mẽ nhất ở văn hoá làng, do vậy vấn đề bảo vệ và kế thừa văn hoá làng luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm Tuy nhiên trong thời điểm hiện nay, muốn thực hiện tốt việc kế thừa văn hoá làng, trước hết chúng ta phải chỉ ra được những tiêu cực còn tồn tại ở làng từng đè nặng lên mỗi con người và cản trở sự phát triển của xã hội
Ví dụ như: Làng là nơi thường có khuynh hướng tự cung, tự cấp nên giao lưu có phần tự nhiên mà ít chủ động mở rộng, để tạo cho người dân tư tưởng bảo thủ, "kháng cự" với những cái mới…
- Sự tranh giành địa vị, những phong tục lạc hậu tồn tại lâu dài trong làng làm ảnh hưởng tới mỗi con người và sự phát triển chung của làng
- Một số quan niệm cần được nhìn nhận lại để điều chỉnh cho phù hợp với cuộc sống mới như "phép vua thua lệ làng", "suy bụng ta ra bụng người"…
Nếu loại bỏ được những tiêu cực còn tồn tại, phát huy được những
"thuần phong mỹ tục", lựa chọn được những nội dung phù hợp với xã hội hiện đại tức là chúng ta đã góp phần một cách tích cực vào công cuộc bảo tồn và chấn hưng văn hoá dân tộc, đồng thời cũng làm cho văn hoá làng thêm những giá trị và sức sống mới
“Tìm hiểu làng xã Việt Nam trong lịch sử để hiểu hơn về quá trình ra
đời, lịch sử biến đổi, cũng như kết cấu kinh tế xã hội, văn hóa của làng Việt từ truyền thống đến hiện đại.” [35, tr4]
Trang 35Làng xã đóng một vai trò hết sức đặc biệt với lịch sử đất nước nói chung và đối với cuộc sống của người Việt Nam nói riêng Vì thế nghiên cứu làng Việt để vạch ra quá trình phát sinh, phát triển, những đóng góp cụ thể về vai trò, vị trí của nó trong lịch sử sẽ góp phần làm sáng tỏ không chỉ lịch sử (nhất là mảng lịch sử do nhân dân lao động sáng tạo ra mà không được sử cũ ghi chép lại) mà còn có thể góp phần lý giải cuộc sống hiện tại và cả những vấn đề tương lai phát triển của đất nước, của con người Việt Nam Có thể nói
“làng Việt Nam là cái chìa khóa để giải mã bí mật Việt Nam, thần kỳ Việt
Nam” [35, tr3]
Làng còn là một đơn vị kinh tế - xã hội độc lập, đang có xu hướng phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, các ngôi làng Việt Nam đều tồn tại trong vận mệnh chung của đất nước và có sự kết hợp chặt chẽ với nhau Nghiên cứu về làng sẽ giúp chúng ta xã định được bản chất kinh tế, xã hội của làng, nhằm không chỉ nâng cao hiểu biết về làng mà còn góp phần lý giải những nét độc đáo của xã hội Việt Nam truyền thống, những mối quan hệ chằng chéo giữa truyền thống và hiện đại và trên cơ sở đó có thể lý giải và tìm hiểu con đường phát triển đặc thù của xã hội Việt Nam
Trang 36Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Mê Linh( nguồn www.maps.google.com )
Mê Linh là một xã lớn, có diện tích tự nhiên của toàn xã là 600,18 ha (theo số liệu đo đạc năm 2006 hoàn thành năm 2008), trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 70% với tổng diện tích la 426 ha [25, tr1]
Xã Mê Linh
Trang 371.2.1.2.Điều kiện địa hình
Về đặc điểm địa hình, Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh nằm ở trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, đất đai được hình thành do sự lắng đọng phù sa của hệ thống sông Hồng nên địa hình tương đối bằng phẳng và không có đất lâm nghiệp, lại được đê sông Hồng ngăn lũ vào mùa mưa nên tương đối thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp quanh năm Nhìn chung, làng Hạ Lôi nói riêng và
xã Mê Linh nói chung có địa hình hơi dốc từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây
1.2.1.3 Khí hậu và thời tiết
Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng
“Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C Nóng nhất vào các tháng 6, 7,
8 với nhiệt độ trung bình là 27-290C Lạnh nhất từ 14 – 160C vào các tháng
Độ ẩm không khí bình quân đạt 85 – 86%, tháng cao nhất đạt 86 – 88% (tháng 4), thấp nhất là 79 – 80% (tháng 2)
Có hai hướng gió thình hành là: Gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9 và gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau
Trang 38và thường kéo theo không khí lạnh, sương muối gây ảnh hưởng cho sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân
1.2.1.4 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên nước: Mê Linh có nguồn nước nguồn nước ngầm và nước mặt khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt Nguồn nước mặt được khai thác nhờ có hệ thống kênh Tây, Thạch Phú, Thạch Điền và hệ thống mương máng Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hệ thống dẫn nước này chỉ phục vụ cho một phần nhỏ diện tích nông nghiệp trong xã Còn nguồn nước ngầm đang được khai thác cho cả mục đích sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Chất lượng nước ngầm trong xã được đánh giá là khá tốt hiện nay
- Tài nguyên đất: Đất Mê Linh chủ yếu là đất bạc màu trên nền phù sa
cổ có nhiều sét, độ phì trung bình khá, độ PH trung bình từ 5,8 – 7,5; hàm lượng mùn cao
- Tài nguyên khoáng sản: Mê Linh là xã nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản
1.2.2 Lịch sử thay đổi địa chí hành chính làng Hạ Lôi qua các thời
kỳ lịch sử
Qua các nguồn thư tịch cho thấy, đất Mê Linh, Phong Châu xưa và làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ngày nay là quê hương của Hai Bà Trưng Đây là vùng đất có lịch sử lâu đời, hội tụ đủ những truyền thống, bản sắc văn hóa của nền văn hiến Văn Lang- Âu Lạc
Truyền thuyết kể rằng “Vào đầu Công nguyên, hai thế kỷ sau Thục An Dương, ở Mê Linh, thuộc vùng đất tổ Hùng Vương có hai người con gái,
…Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em, con gái lạc tướng Mê Linh, thuộc dòng dõi Hùng Vương Quê hương của Hai Bà là trang Cổ Lai, nay là xã Mê Linh, thuộc huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay” Theo truyền thuyết này, thì làng Hạ Lôi xưa có tên là trang Cổ Lai, thuộc huyên Châu Phong, là
Trang 39quê hương của Hai Bà Trưng Thực tế này còn được dân gian lưu truyền trong bài ca dao:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong, Giận người tham bạc, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ lương tử thay quyền tướng quân
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên, Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà, Một là báo phục, hai là bá vương…”
(13, tr11)- Lê Ngô Cát, Đại Nam Quốc sử diễn ca
Về tên gọi, theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, Nhà xuất bản Sử
học Hà Nội, 1961, các tác giả có viết: “Châu Phong là nước Văn Lang xưa
Thuộc vào Tượng quận đời Trần, và quận Giao Chỉ đời Hán Ngô gọi là Tân Hưng, Tấn đổi làm Tân Xương, Trần đặt là Hưng Châu, Tùy đổi lại làm Phong Châu; sau gộp cả vào quận Giao Chỉ Đầu đời Vũ Đức nhà Đường lấy huyện Gia Ninh của quận Giao Chỉ đặt ra Châu Phong…
Về mặt hành chính, thời nhà Hán, nước ta được đặt làm 9 quận, trong
đó huyện Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ, đến thời nhà Tấn thuộc huyện Tân Xương Qua nhà Tùy, quận Tân Xương đổi là huyện Tân Xương (lại thuộc Giao Chỉ) Sang nhà Đường, nước ta gồm 12 châu (50 huyện), huyện Tân Xương (trong đó có Mê Linh) thuộc về Châu Phong
Huyện Mê Linh (nay là Yên Lãng): Trưng Vương đóng đô ở đây.”[14, tr22]
Trang 40Theo An Nam chí: “Thành cổ Phong Châu ở phía tây bắc phủ Giao
Chỉ, tức là đất Mê Linh, quận Giao Chỉ, tức là đất Mê Linh, quận Giao Chỉ thời thuộc Hán; đời Tam Quốc, năm Kiến Hành thứ 3, nhà Đông Ngô đổi làm huyện Gia Ninh và dung làm lị sở quận Tân Xương; nhà Tấn, năm Thái Khang thứ 3 đổi làm quận Tân Xương; nhà Tống và nhà Tề vẫn theo như thế; nhà Trần đặt làm Châu Hưng; nhà Tùy sau khi diệt xong nhà Trần, bỏ quận, còn châu vẫn để như cũ; năm Khai Hoàng thứ 18, đổi tên là Châu Hưng, Châu Phong; đầu đời Đại Nghiệp, bỏ châu, còn huyện thì cho thuộc quận Giao Chỉ; nhà Đường, năm Vũ Đức thứ 4, đặt lại Châu Phong, lãnh 6 huyện
là Gia Ninh, Tân Xương, Yên Nhân, Trúc Cách, Thạch Đê và Phong Khê, sau
đó, khi đặt khi bỏ không nhất định; đầu đời Kiền Nguyên lại gọi là Phong Châu
Mê Linh ở phía Tây phủ Giao Châu, thời thuộc Hán là huyện của quận Giao Chỉ; nhà Hậu Hán vẫn theo như thế; giữa đời Kiến Vũ, Hai Bà Trưng đóng đô ở đây; thời Tam Quốc, nhà Ngô đặt làm quận Tân Hưng, sau thuộc quận Tân Xương; đời Lương và đời Trần bỏ huyện, gộp vào huyện Gia Ninh.” [36, tr18]
Về địa lý lịch sử, Trần Quốc Vượng trong bài nghiên cứu “Một vấn đề địa lý lịch sử: Những trung tâm chính trị của đất nước ta trong thời cổ đại” có
ghi rõ: “Phong Châu, tức huyện Mê Linh đời Hán, tức lãnh thổ bộ lạc Mê
Linh xưa, gồm một miền đất rất rộng ở hai bên bờ sông Hồng, từ núi Ba Vì đến miền Tam Đảo” [56, tr14] Và trong đó, “Phong Châu thành: ở phía tây bắc phủ Giao Châu (thuộc thời Minh); là đất huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ đời Hán, đời Tấn đổi làm quận Tân Xương; đời Lương dồn lại làm Hưng Châu Năm Khai Hoàng thứ 18, đổi gọi là Phong Châu; có 6 huyện: Gia Ninh, Tân Xương, Anh Nhân, Trúc Cách, Thạch Đê, Phong Khê, phủ lị là Gia Ninh