1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đảng bộ huyện lập thạch ( tỉnh vĩnh phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến năm 2012

126 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HOÀI THU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO PH T TRIỂN GI O DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 20

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀI THU

ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH (TỈNH VĨNH PHÚC) LÃNH ĐẠO PH T TRIỂN GI O DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN HOÀI THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn “Đảng bộ huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục v đ o tạo từ năm 1997 đến năm 2012” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Đăng Tri mà trước đó chưa có bất cứ tác giả nào công bố

Những tư liệu và số liệu sử dụng trong bản khóa luận là có tính xác thực và nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Hoài Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các cô, chú, anh, chị công tác tại Văn phòng Huyện ủy huyện Lập Thạch, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã cung cấp những tư liệu hết sức quý giá Tác giả xin cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

- Khoa Lịch sử - trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và nhất là sự tận tình hướng dẫn, chỉ bảo của PGS.TS Ngô Đăng Tri

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do giới hạn về mặt thời gian và nhận thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Do vậy, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo và những đóng góp ý kiến quý báu của toàn thể các bạn

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 7

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 10

1.1 Hu ện Lập Thạch và tình hình GD ĐT của hu ện trước năm 1997 10

1.1.1 V i nét về huyện Lập Thạch 10

1.1.2 Tình hình GD&ĐT huyện Lập Thạch trước năm 1997 15

1.2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ hu ện Lập Thạch về phát triển GD&ĐT từ năm 1997 đến năm 2005 17

1.2.1 Ch trương c a Đảng ộ huyện Lập Thạch 17

1.2.2 uá trình chỉ đạo c a Đảng ộ huyện Lập Thạch 25

Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2012 38

2.1 Chủ trương của Đảng bộ hu ện Lập Thạch 38

2.1.1 u cầu mới trong việc đ y mạnh phát triển GD&ĐT 38

2.1.2 Ch trương c a Đảng ộ huyện Lập Thạch 41

2.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ hu ện 51

2.2.1 Sự chỉ đạo c a Đảng ộ huyện về phát triển GD&ĐT 51

2.2.2 ết quả đạt được 55

Chương 3: NHẬN T CHUNG VÀ INH NGHIỆM 74

3.1 Nhận x t chung 74

Trang 8

2

3.1.1 Về các ưu điểm 74

3.1.2.Về các hạn chế 83

3.2.Các kinh nghiệm 88

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 105

Trang 9

2020

Nghị quyết trên đã tiếp thu những tư tưởng của Nghị quyết Hội nghị lần 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về định hướng phát triển GD ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 đã nêu lên những nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục nước nhà: “nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…Giữ vững mục tiêu

xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp GD&ĐT, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội, phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục và đào tạo” [13, 512]

Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc là một huyện có lịch sử lâu đời, sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính được ổn định từ năm 2008 Mặc dù kinh tế còn nghèo nhưng về giáo dục thì Lập Thạch luôn là lá cờ đầu trong một tỉnh có tru ền thống hiếu học của cả nước Hiện na , mạng lưới giáo dục rộng khắp phân bố đều trên địa bàn hu ện Lập Thạch, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong hu ện Nhờ có sự quan tâm, đầu tư thích đáng

Trang 10

đề tài: “Đảng ộ huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo

dục v đ o tạo từ năm 1997 đến năm 2012” để làm luận văn tốt nghiệp của

mình

Tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng bộ hu ện Lập Thạch trong sự nghiệp phát triển GD ĐT giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2012 để thấ được tinh thần qu ết tâm, sáng tạo, chủ động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp

ủ Đảng, chính qu ền trong hu ện Đồng thời, cũng chứng minh tinh thần trách nhiệm, đóng góp của đội ngũ cán bộ, công nhân viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo hu ện Lập Thạch; đội ngũ các thầ cô giáo, học sinh và toàn thể nhân dân trong hu ện về cả tinh thần và vật chất cho sự nghiệp giáo dục

Đồng thời, luận văn còn nhằm tổng kết một cách khái quát quá trình phát triển sự nghiệp GD ĐT của hu ện Lập Thạch qua hơn 10 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ hu ện Lập Thạch Qua đó thấ được những thành tựu, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm; đề xuất những giải pháp nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở Lập Thạch trong giai đoạn tiếp theo

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đến na đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về GD ĐT Việt Nam nói chung, về GD ĐT của địa phương nói riêng, có thể tóm tắt thành 3 nhóm vấn đề nghiên cứu chủ ếu sau:

Nhóm nghi n cứu những vấn đề chung về GD&ĐT c a Việt Nam; với

nhóm nghiên cứu nà đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với các mức

Trang 11

5

độ chung và chu ên sâu khác nhau Trong đó phải kể đến các nghiên cứu: Mô

hình dạy học tích cực lấy người học l m trung tâm của Ngu ễn ỳ, Tổng kết mười năm (1990 - 2000) xóa mù chữ v phổ cập giáo dục tiểu học của Phạm

Minh Hạc, Một số vấn đề về cách dạy v học của Ngu ễn Cảnh Toàn…; nhiều bài nghiên cứu trên Tạp chí Giáo dục của các tác giả: Phan Ngọc Anh,

Ngu ễn Văn Đệ, Phạm Minh Hạc, Trần Viết Lưu…Các nghiên cứu nà đã đề cập một cách khái quát về các vấn đề cơ bản của GD ĐT của Việt Nam trong những năm gần đâ Đồng thời cũng đã chỉ ra được thực trạng của

GD ĐT Việt Nam trong quá trình triển khai thực hiện Nghị qu ết Hội nghị Trung ương 2, hóa VIII của BCH Trung ương Đảng

Nhóm nghi n cứu về GD&ĐT c a các địa phương cụ thể (tỉnh, huyện)

Trong đó, chủ ếu các nghiên cứu thuộc chu ên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, hoa Lịch sử, trường Đại học hoa học xã hội và Nhân văn,

Đại học Quốc gia Hà Nội như: luận văn Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo sự

nghiệp giáo dục v đ o tạo từ năm 1997 đến năm 2006, (Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn) của tác giả Vũ Thị Huệ năm 2011; luận văn

Quá trình lãnh đạo công tác giáo dục và đ o tạo c a Đảng bộ huyện Sóc Sơn

từ năm 2000 đến năm 2010 (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn)

của Nguyễn Thị Thanh Hòa năm 2013; luận văn Đảng bộ huyện Tam Dương

tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm

2010 (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) của Phùng Thị Thuận

Hải năm 2013…Đâ là những nghiên cứu mới nhất về sự phát triển GD ĐT của một số tỉnh và huyện trong cả nước cũng như tỉnh Vĩnh phúc

Nhóm nghiên cứu về các vấn đề c a tỉnh Vĩnh Phúc v huyện Lập Thạch có liên quan tới sự ngiệp GD&ĐT Đó là các tác giả: Vũ Quốc Khánh

với tác phẩm Vĩnh Phúc đất v người thân thiện, Nxb Thông tấn, Công ty Văn hóa trí tuệ Việt Nam, Hà Nội; Nguyễn Xuân Lân với cuốn Địa chí Vĩnh

Trang 12

6

Phúc, Sở Văn hóa - thể thao và du lịch Vĩnh Phúc, Vĩnh Phúc Về phía huyện

Lập Thạch, cuốn Địa chí Lập Thạch có đề cập tới nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực GD ĐT; công trình Lịch sử Đảng bộ huyện Lập Thạch (3 tập) cũng

đề cập một cách khái quát về GD ĐT của huyện Lập Thạch trong các thời kỳ

lịch sử Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Huyền có thực hiện luận văn: Đảng bộ

huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2012

Đặc biệt, bản thân tác giả cũng đã có những nghiên cứu bước đầu về

vấn đề nà Năm 2011, tác giả đã hoàn thành khóa luận với đề tài: “Đảng ộ

huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2000 đến năm 2010” hóa luận đã khái quát hoát quá trình phát triển

của GDPT ở hu ện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2010; phân tích, đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ hu ện Lập Thạch thông qua Nghị

qu ết của 2 kỳ Đại hội Tu nhiên, khóa luận chỉ đề cập tới các vấn đề phát triển của GDPT mà chưa khái quát được toàn bộ các vấn đề GD ĐT trong đó

có một vấn đề quan trọng là công tác hướng nghiệp dạ nghề đối với học sinh phổ thông THCS Bên cạnh đó, giới hạn thời gian nghiên cứu của khóa luận nằm trong 2 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ hu ện Lập Thạch lần thứ VII (2000

- 2005) và XVIII (2005 - 2010) nhưng chưa so sánh được sự phát triển của

GD ĐT trước và sau các kỳ đại hội nà

Chính vì vậy, tác giả muốn tiếp tục khai thác và nghiên cứu thêm đề tài trên theo hướng mở rộng thời gian và đào sâu về nội hàm của vấn đề Bởi lý

do trên, tác giả lựa chọn đề tài luận văn là: “Đảng ộ huyện Lập Thạch (tỉnh

Vĩnh Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục v đ o tạo từ năm 1997 đến năm 2012” Thông qua đó, tôi hi vọng sẽ làm rõ được những chủ trương, biện

pháp xâ dựng, phát triển và hoàn thiện công tác GD ĐT trên địa bàn hu ện

Trang 13

Với việc nghiên cứu đề tài: “Đảng ộ huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh

Phúc) lãnh đạo phát triển giáo dục v đ o tạo từ năm 1997 đến năm 2012”,

luận văn làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ hu ện Lập Thạch về phát triển GD ĐT từ năm 1997 đến năm 2012; trên cơ sở đó nêu lên thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm nhằm góp phần phát triển

GD ĐT của hu ện Lập Thạch trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghi n cứu

Luận văn có nhiệm vụ thu thập, xử lý các tư liệu về các chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Huyện Lập Thạch nhằm phát triển GD ĐT Trên cơ sở

đó trình bà , đánh giá quá trình Đảng bộ Huyện Lập Thạch lãnh đạo phát triển GD ĐT từ năm 1997 đến năm 2012, rút ra một số kinh nghiệm phục vụ hiện tại

4 Đ i tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển

GD ĐT của Đảng bộ huyện Lập Thạch

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo phát triển GD ĐT của Đảng bộ huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2012

- Về mặt không gian: huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2012

Trang 14

8

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Cơ sở lý luận: Những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD ĐT

- Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch

sử khác nhau: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống

kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh…

- Nguồn tư liệu: có 3 nguồn tư liệu chính: Văn kiện các Đại hội Đảng

bộ huyện Lập Thạch lần thứ XV, XVI, XVII, XVIII; các Nghị quyết chuyên

đề về GD ĐT của Huyện ủy Lập Thạch; các Báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ hàng năm của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch cũng như UBND huyện Lập Thạch về GD ĐT Ngoài ra còn sưu tầm các tư

liệu trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Lập Thạch, Địa chí Lập Thạch và

nhiều tài liệu tham khảo khác được liệt kê trong TÀI LIỆU THAM KHẢO

6 Đóng góp của luận văn

- Tập hợp các nguồn tư liệu khác nhau để trình bày một cách toàn diện,

cụ thể quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo, chỉ đạo phát triển

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo phát triển GD ĐT từ

năm 1997 đến năm 2005

Trang 16

10

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN LẬP THẠCH LÃNH ĐẠO PH T

TRIỂN GI O DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Huyện Lập Thạch và tình hình GD&ĐT của huyện trước năm

1997

1.1.1 Vài nét về huyện Lập Thạch

Lập Thạch là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc ở

vị trí từ 105°30′ đến 105°45′ kinh Đông và 21°10′ đến 21°30′ vĩ Bắc Lập Thạch có địa giới phía Bắc giáp hu ện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và

dã núi Tam Đảo; phía Đông giáp hu ện Tam Đảo và hu ện Tam Dương; phía Nam giáp hu ện Vĩnh Tường; phía Tâ giáp hu ện Sông Lô và thành phố Việt Trì (tỉnh Phú Thọ) Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Lập Thạch, cách trung tâm tỉnh khoảng 20km về phía Đông Nam Hu ện bao gồm 38 xã và thị trấn (tính đến năm 2005) Đến năm 2008, hu ện Lập Thạch được tách ra để thành lập 2 hu ện Lập Thạch và hu ện Sông Lô Từ đâ hu ện Lập Thạch có

20 đơn vị hành chính cấp cơ sở bao gồm 2 thị trấn và 18 xã, địa giới hành chính của hu ện Lập Thạch được ổn định cho tới na

* Sự thay đổi về địa giới hành chính qua các thời kỳ

Trong số các địa danh các hu ện của tỉnh Vĩnh Phúc hiện na , Lập Thạch là tên hu ện tương đối ít biến động suốt chiều dài lịch sử Ngu ên

nghĩa chữ Lập Thạch theo Hán tự là “Đá dựng” Trước khi có tên hu ện, thì

đó là tên làng, làng Lập Thạch, bởi trong làng có cột đá dựng tự nhiên, tựa như một tòa miếu cổ Về sau làng Lập Thạch đổi gọi là x Lập Thạch gồm

có 4 thôn: Do Nha (còn gọi là làng Ngà hoặc Miêu Nha Thôn), Vinh Quang (tức xóm Chùa), Đại Trung (tức làng Cả, Cao Trung thôn), Văn Lâm (tức Văn Minh thôn)

Trong các thư tịch cổ, địa danh huyện Lập Thạch được ch p lần đầu

tiên trong sách Sử ký tục i n của Phan Phu Tiên, và đặc biệt là trong Đại Việt

Trang 17

11

sử ký to n thư năm 1479, sử quan Ngô Sĩ Liên đã chọn ch p vào phần Bản kỉ

to n thư, uyển thứ VIII, ỉ nh Trần một đoạn có nhắc đến tên hu ện Lập

Thạch: “Thiếu Đế, ỉ Mão ( iến Tân) năm thứ 2 (1399), (Minh Thái Tổ kiến văn, năm thứ nhất) Tháng 8, tên cướp Ngu ễn Nhữ Cái trốn vào núi Thiết Sơn, làm giả tiền giấ tiêu dùng Gặp lúc Thuận Tông bị giết, hát Chân bị

ch m, mới chiêu dụ dân lành được hơn vạn người, hoạt động ở các xứ Lập Thạch, Để Giang, Lịch Sơn, Đà Giang, Tản Viên, cướp bóc bừa bãi, các châu

hu ện không sao khống chế được” Căn cứ theo Đại Việt sử ký toàn thư và các sách địa chí cổ về sau như Sơn Tâ chí, Sơn Tâ tỉnh chí khi chép về

hu ện Lập Thạch đều khẳng định “ nhi Lập Thạch tri danh thủ kiến” (nghĩa

là: tên hu ện Lập Thạch, lần đầu tiên thấ có từ đó - tức từ Đại Việt sử ký

to n thư) Như vậ , năm 1399 là năm đầu tiên tên huyện Lập Thạch được

ch p vào chính sử Hu ện Lập Thạch vẫn giữ ngu ên tên gọi cho tới ngà nay

Trong thời kỳ trung đại, địa dư hu ện Lập Thạch khá rộng, đến đầu thế

kỷ (năm 1903) hu ện có tới 11 tổng (Bạch Lưu, Đạo ỷ, Đông Định, Đông Mật, Hạ Ích, Hoàng Chỉ, Nhân Mục, Sơn Bình, Thượng Đạt, Tử Du và Yên Xá) và 81 làng Tới năm 1927, do sáp nhập một số làng với nhau và phân

bố lại một số tổng, hu ện Lập Thạch còn 70 làng, vẫn giữ ngu ên số lượng tổng, tu tổng Đông Định đổi tên thành tổng Đại Lượng và tổng Sơn Bình đổi thành tổng Bình Sơn

Sau Cách mạng Tháng Tám, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa xoá bỏ cấp phủ và tổng là hai cấp trung gian, mở rộng cấp xã, nhỏ hơn tổng nhưng lớn hơn làng xã trước kia, bao gồm một số thôn xóm cũ Trải qua một số lần điều chỉnh địa dư và tên gọi, đến năm 1968 (năm hợp nhất Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú), hu ện Lập Thạch còn 38 xã Trong suốt thời kỳ trực thuộc tỉnh Vĩnh Phú, hu ện Lập Thạch có hai lần tha đổi

Trang 18

12

địa giới hành chính: năm 1977 hu ện Lập Thạch được hợp nhất với hu ện Tam Dương thành một hu ện lấ tên là Tam Đảo, hu ện lỵ đóng tại phố Miễu (Hoa Lư), xã Liễn Sơn Năm 1978, hu ện Tam Đảo lại được tách thành 2

hu ện: Hu ện Tam Dương hợp với hu ện Bình u ên và lấ tên là Tam Đảo; còn hu ện Lập Thạch giữ ngu ên địa dư và địa danh cũ; hu ện lỵ được chu ển về đóng tại uân Hòa

Từ ngà 1/1/1996, hu ện Lập Thạch có 39 đơn vị hành chính cấp cơ sở (38 xã và 1 thị trấn) Từ 1/1/1997 thực hiện Nghị qu ết kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa I (7/11/1996) tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập trên cơ sở tách tỉnh Vĩnh Phú thành tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Năm 2003 Chính phủ ra nghị định về việc thành lập thị xã Phúc Yên và hu ện Tam Đảo, hu ện Lập Thạch chu ển 3 xã Bồ Lý, Đạo Trù, Yên Dương về hu ện Tam Đảo mới Sau khi điều chỉnh, từ ngà 1/1/2004 hu ện Lập Thạch còn lại 32.30,17 ha diện tích

tự nhiên và 207.326 nhân khẩu với 36 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 35

xã và 1 thị trấn), vẫn là hu ện rộng nhất của tỉnh Vĩnh Phúc [22,14-21]

Từ ngà 7/1/2009, thực hiện Nghị định số 09/NĐ - CP của Chính phủ, huyện Lập Thạch còn lại 17.310,22 ha diện tích tự nhiên và 123.664 nhân khẩu, có 20 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: thị trấn Lập Thạch, thị trấn Hoa Sơn, các xã: Sơn Đông, Triệu Đề, Đình Chu, uân Lôi, Văn Quán, Tiên Lữ, Đồng Ích, Bàn Giản, Tử Du, Liên Hòa, Ngọc Mỹ, Xuân Hòa, Vân

Tính đến na , Lập Thạch là một địa danh cấp hu ện được ra đời sớm nhất của tỉnh Vĩnh Phúc và tồn tại lâu nhất với trên 600 năm lịch sử

* Điều kiện tự nhiên và xã hội

1

Trích Nghị định số 09/NĐ – CP (ngày 23/12/2008) của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện

Lập Thạch để thành lập huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 19

13

Về điều kiện tự nhi n v t i nguy n thi n nhi n, Lập Thạch là hu ện

miền núi có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè và khô lạnh vào mùa đông rất thích hợp với nhiều loại câ trồng, vật nuôi cho ph p phát triển nền nông nghiệp đa dạng Trên địa bàn hu ện có 2 con sông lớn chả qua là sông Lô và sông Phó Đá , ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ, suối và ngòi: ngòi Ngạc, ngòi Len, ngòi Dừa…; với 3 hồ lớn: hồ Suối Sải, hồ Bò Lạc

và hồ Vân Trục; ngoài ra còn nhiều mạch nước ngầm rất thuận lợi cho sinh hoạt và làm nông nghiệp của nhân dân trong vùng Hu ện Lập Thạch cũng là vùng đất có nhiều loại khoáng sản phi kim loại làm vật liệu xâ dựng: than bùn, đất s t, đá, cát, cuội, Caolin, Mica, Fenpat…thuận lợi cho việc phát triển nhiều ngành thủ công tru ền thống và công nghiệp xâ dựng

Về dân cư, lao động, tính đến năm 2010, Lập Thạch có 118.772 người

với nhiều tộc người khác nhau trong đó người inh chiếm tới 92,3%, ngoài ra còn có người Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Tà , Nùng, Thái, Hoa…Đặc biệt, Lập Thạch là vùng đất có người Việt Cổ cư trú từ rất lâu đời với nhiều di chỉ thời đại đá mới ở xã uân Hòa (thôn Đồng uân) Với những tru ền thống sản xuất khác nhau các tộc người trong hu ện luôn có sự giao lưu, trao đổi kinh nghiệm sản xuất tạo nên một sự đa dạng trong các ngành nghề sản xuất trong

cư dân Tổng số lao động trong độ tuổi tính đến năm 2010 là 63.556 người chiếm 53% tổng số dân

* Truyền thống đấu tranh và truyền thống giáo dục khoa cử

Về lịch sử đấu tranh, Lập Thạch là vùng đất liền kề với kinh đô của

Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương nên có một lịch sử đấu tranh hào hùng trong quá trình dựng nước và giữ nước Nga từ cuối thế kỷ II trước công ngu ên Lữ Gia đã đưa tướng sĩ cùng gia qu ến về lập căn cứ tại vùng đất phía

Tâ Bắc hu ện (thuộc xã Liễn Sơn, Liên Hòa và một số xã thuộc hu ện Sông

Lô ngà na ) chống lại quân nhà Hán Đến thế kỷ I sau công ngu ên, Hai Bà

Trang 20

14

Trưng khởi nghĩa tại Mê Linh (trước kia thuộc Vĩnh Phúc) chống lại nhà Hán, nhân dân trong vùng hăng hái tham gia Tiếp theo, các triều đại phong kiến Việt Nam, vùng đất Lập Thạch đã đóng góp rất nhiều sức người, sức của cho các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc: chống quân Lương thế kỷ VI, chống quân Ngu ên - Mông thế kỷ III, chống quân Minh thế kỷ

XV Trong đó, nổi lên những danh tướng lẫ lừng cho như: danh tướng đời

Lê là Trần Ngu ên Hãn Đến cuối thế kỷ I đầu thế kỷ , khi thực dân Pháp xâm lược và áp đặt nền đô hộ lên đất nước ta, vùng đất Lập Thạch lại một lần nữa anh dũng đứng lên chống giặc ngoại xâm Trong đó nổi bật nhất

là sự ủng hộ của nhân dân trong vùng trong cuộc khởi nghĩa của Ngu ễn Quang Bích (trong giai đoạn 9/1891 đến 12/1892) và cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Đề Thám tại Núi Sáng (từ tháng 7 đến tháng 9/1909) Ngoài ra, năm 1917 nghĩa quân của Đội Cấn từ Thái Ngu ên đã rút về Lập Thạch xâ dựng căn cứ ở vùng Liễn Sơn và Đạo Trù đã được nhân dân nơi đâ ủng hộ hết lòng

Từ năm 1930 đến năm 1945, Lập Thạch là nơi đầu tiên của tỉnh xâ dựng được phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Đến ngà 17/8/1945, Ủ ban Dân tộc giải phóng và Mặt trận Việt Minh

hu ện hu động đông đảo nhân dân trong hu ện vũ trang khởi nghĩa giành chính qu ền về ta nhân dân Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân và dân hu ện Lập Thạch đã làm nên chiến thắng uân Trạch ngà 27/12/1950 (thuộc xã uân Hòa và một phần xã Liễn Sơn ngà na ) góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Trung du (tháng 12/1950)

Hòa bình lặp lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ hu ện, nhân dân trong

hu ện tích cực khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân (1954 - 1957), tiếp đó là công cuộc cải tạo HCN, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội (1958

- 1960) và thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) Từ

Trang 21

15

năm 1966 đến năm 1975 Đảng bộ và nhân dân hu ện Lập Thạch tiến hành

xâ dựng hậu phương HCN, góp phần cùng cả nước đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, sẵn sàng chi viện sức người, sức của giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

VI, Đảng ta đã đề ra đường lối Đổi mới một cách toàn diện, triệt để Đảng bộ

hu ện kế thừa và phát hu tru ền thống đấu tranh và xâ dựng Tổ quốc đã không ngừng lãnh đạo phát triển nền kinh tế để xâ dựng quê hương giàu mạnh Nhân dân trong hu ện từ đó đã có cuộc sống ấm no và hạnh phúc

Về truyền thống giáo dục khoa cử, nổi bật là xã Sơn Đông - một mảnh

đất văn hiến và giàu tru ền thống lịch sử, quê hương của Tả tướng quốc Trần Ngu ên Hãn và 13 vị tiến sĩ các triều đại phong kiến Người dân Sơn Đông nổi danh hiếu học, xuất sắc trong đường khoa cử Đâ là làng khoa bảng từng được vinh danh, có tên trong danh sách 20 làng khoa bảng của cả nước Ngoài

xã Sơn Đông, trong hu ện còn có nhiều danh nhân, danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử: Danh sĩ Triệu Thái, quê ở xã Đồng Ích sống dưới triều vua Lê Thái

Tổ được phong là “Lưỡng quốc tiến sĩ” của nhà Minh và nhà Lê sơ Tiếp đó

là Đệ tam giáp đồng tiến sĩ Ngu ễn Thiệu Tri, xã Xuân Lôi dưới triều vua Lê Thánh Tông làm quan tới Thượng thư Bộ Hộ [23,41-119]

Hiện na tru ền thống hiếu học của xã Sơn Đông nói riêng và hu ện Lập Thạch nói chung vẫn còn được các thế hệ con cháu lưu tru ền và phát huy Mỗi năm hu ện Lập Thạch có số lượng lớn HSG Quốc gia và các sinh viên, cử nhân xuất sắc

1.1.2 Tình hình GD&ĐT huyện Lập Thạch trước năm 1997

Năm 1986, đường lối Đổi mới được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI của Đảng thông qua mở ra trang sử mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam

ở cuối thế kỷ Đâ là điểm mốc quan trọng đi lên CN H với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Trang 22

16

nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định GD ĐT là sự nghiệp quan trọng hàng đầu, có vai trò quyết định hơn cả Chính vì vậy, trong các kỳ Đại hội Đảng luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của GD ĐT

Xuất phát từ quan điểm đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục, đào tạo trong 5 năm tới

là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc điệt là đội ngũ thanh niên có việc làm, khắc

phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục, đào tạo” [8, 10]

Vận dụng các Nghị quyết của Trung ương và của Đảng bộ tỉnh về

GD ĐT, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XV (10/1991), XVI (2/1996) đã thông qua Nghị quyết nhằm phát triển hơn nữa sự nghiệp

Như vậy, nhìn một cách tổng thể, GD ĐT huyện Lập Thạch trước năm

1997 đã đạt được một số thành tựu đáng kể nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII về Giáo dục và đào tạo Cũng trong thời gian này, GD ĐT trong huyện có những bước chuyển mình để đáp ứng được công cuộc đổi mới, CNH, HĐH của huyện

Trang 23

17

1.2 Sự l nh đạo của Đảng bộ huyện Lập Thạch về phát triển

GD&ĐT từ năm 1997 đến năm 2005

1.2.1 Ch trương c a Đảng ộ huyện Lập Thạch

Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương VIII (6/1997) đã bổ sung và hoàn thiện những định hướng chiến lược phát triển GD ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH của Đảng đã đề ra trong Đại hội VIII đó là: “Thực sự coi GD ĐT là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc GD ĐT cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho

GD ĐT là đầu tư cho phát triển…Phát triển GD ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, những tiến bộ của khoa học, công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh, thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền

với gia đình và xã hội.” [9,28]

Thực hiện tinh thần các Nghị quyết của Đảng về giáo dục, Nhà nước đã lần lượt thể chế hóa thành luật và các văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Giáo dục được kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa X thông qua ngày 2/12/1998 Luật Giáo dục đã qu định về mục tiêu giáo dục, tính chất, nguyên lý giáo dục thể hiện rõ tư tưởng đổi mới giáo dục của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII diễn

ra tháng 11/1997 đã xác định nhiệm vụ của GD ĐT là: “Mở rộng và phát triển đồng bộ giáo dục, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống giáo dục, tập trung đầu tư xâ dựng những vùng giáo dục phát triển mạnh, những trường chất lượng cao, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức dạy và học…Đổi mới công tác quản lý giáo dục, không ngừng cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo Coi trọng chất lượng đại trà, chất lượng giáo dục toàn diện, làm tốt việc giáo dục chính trị truyền thống, đạo đức và nhân văn, giáo dục pháp luật trong

Trang 24

18

trường học, ngăn chặn tiêu cực trong nhà trường, chấn chỉnh việc dạy thêm và học thêm…Hu động các nguồn lực để xây dựng CSVC trường học, phấn đấu đến năm 2000 có 50% số phòng học được xây dựng kiên cố, còn lại là phòng học cấp 4 đủ tiêu chuẩn Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, tạo môi

trường giáo dục lành mạnh” [69,29]

Quán triệt chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về GD ĐT giai đoạn 1997 - 2000, cụ thể hóa Hội nghị lần thứ 2 BCH trung ương Đảng khóa VIII, ngày 20/3/1997 Tỉnh ủy

Vĩnh Phúc thông qua Đề án số 01/ĐA - TU về nhiệm vụ phát triển giáo dục và

đ o tạo đến năm 2000 c a tỉnh Vĩnh Phúc Tỉnh ủ đã nêu lên thực trạng

GD ĐT khi mới tái lập tỉnh năm 1997, đồng thời đề ra những chương trình

cụ thể và giải pháp chủ yếu

Bước sang giai đoạn 2000 - 2005, trước tình hình đất nước và toàn tỉnh

có nhiều chuyển biến mới về kinh tế, văn hóa và xã hội Đặc biệt, thời điểm năm 2000 được coi là thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại - thời điểm kết thúc thế kỷ XX và chuyển giao sang một thế kỷ mới thế kỷ XXI Trong những năm đầu của thế kỷ XXI cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển nhảy vọt thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức và làm chuyển biến sâu sắc các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội Trình độ làm chủ thông tin, tri thức có ý nghĩa qu ết định đến sự phát triển của các quốc gia, vùng lãnh thổ Con đường đi lên CN H của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vừa đứng trước thời cơ, vận hội mới vừa phải đối mặt với ngu cơ và thách thức mới Nắm bắt cơ hội, tận dụng thời cơ, đẩy lùi ngu cơ, vượt qua thách thức với tinh thần cách mạng tiến công sẽ góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH cho đất nước và từng địa phương

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 -

Trang 25

trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [10,53] Phát triển GD ĐT cùng với phát

triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đầu tư cho lĩnh vực nà là đầu tư cho phát triển

Trên cơ sở đó, Đại hội chỉ ra các quan điểm phát triển GD ĐT như sau:

Một là, phát triển giáo dục toàn diện, nhằm đào tạo những người lao

động có lý tưởng HCN, có đạo đức, có tri thức văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật Giáo dục truyền thống cách mạng, văn hóa dân tộc thấm đượm, xuyên suốt các môn học, các hoạt động và mọi hình thức giáo dục Chú trọng cải tiến nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng phù hợp với từng bậc học; tăng cường ngoại ngữ và tin học

Hai là, xây dựng nền giáo dục theo hướng “chu n hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa”, đặc biệt nhấn mạnh chuẩn hóa - tiêu chí đánh giá sản phẩm cuối

cùng là con người và nguồn nhân lực Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, CSVC, trường lớp, thiết bị dạy và học cho tất cả các cấp học, bậc học

Ba là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục nhằm đưa lại sự bình

đẳng trong cơ hội tiếp cận trong việc tham gia vào quá trình giáo dục, cư xử đối với mọi học sinh trong các cơ sở đào tạo khác nhau Tiếp tục duy trì chính sách ưu tiên, hỗ trợ giáo dục cho các khu vực khó khăn, các đối tượng chính

Trang 26

20

sách xã hội, học sinh nghèo, trẻ em khuyết tật Khuyến khích tạo điều kiện cho những học sinh giỏi, những người có năng lực học tập thuận lợi hơn ở các bậc học

Bốn là, phát triển GD ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

“học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nh trường gắn liền với xã hội” Đâ vừa là yêu cầu của việc kế thừa các nguyên tắc xây

dựng nền giáo dục cách mạng, vừa là đòi hỏi nâng cao hiệu quả giáo dục phục

vụ sản xuất, thực hành cho học sinh trong quá trình dạy học, để những điều học được trong nhà trường phải gắn với nghề nghiệp và cuộc sống của họ trong tương lai Đặc biệt coi trọng kết quả cuối cùng là đạo đức và tay nghề [10,54]

Đồng thời Đại hội chỉ ra các phương hướng phát triển GD ĐT trong

những năm tới như sau: C ng cố thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục

tiểu học, phấn đấu để ngày càng có nhiều trường tiểu học đ điều kiện học 2 buổi mỗi ngày tại trường, được học ngoại ngữ, tin học Đ y nhanh tiến độ phổ cập tin học cơ sở tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng ho n thành sớm việc phổ cập bậc giáo dục trung học thông qua việc mở rộng quy

mô đ o tạo và phát triển đa đạng các loại hình PTTH Tăng ngân sách cho giáo dục theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế” [10,54-55]

Như vậy, thông qua Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, GD ĐT ngày càng được Đảng ta quan tâm và đề ra những phương hướng nhằm phát triển hơn nữa trong thời gian tới Để thực hiện những chủ trương đó của Đảng, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cụ thể cho nền

GD ĐT tỉnh nhà phát triển

Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII tiến hành từ ngày 12/3 đến ngày 15/3/2001 tại Vĩnh Yên đã nêu lên phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu trong 5 năm 2001 - 2005, trong đó đề cập đến GD ĐT: “ổn định quy mô

Trang 27

21

GDPT, đảm bảo những điều kiện cơ bản để trẻ em từ 6 - 14 tuổi được đi học, hoàn thành phổ cập THCS, thực hiện tốt giáo dục phân luồng học sinh sau THCS Nâng cao chất lượng giáo dục chất lượng toàn diện Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng và chất lượng Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng CSVC trường học, phấn đấu có 80% phòng học được xây dựng kiên cố, có 60% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đổi mới công tác quản lý giáo dục, ngăn chặn đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực Mở rộng qu mô đi đôi với coi trọng chất lượng đào tạo hướng vào nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế -

xã hội Phấn đấu đến năm 2005 đạt 20 - 25% lao động được qua đào tạo”

[69,10]

Trong chương trình kinh tế - xã hội trong 5 năm 2001 - 2005 của tỉnh,

có đề cập tới chương trình giáo dục: thực hiện phổ cập giáo dục THCS, tiếp tục đa dạng hóa các loại hình trường lớp, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, tăng cường CSVC trường học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Thực hiện chủ trương Nghị quyết trên, Tỉnh ủ đã đề ra: Chỉ thị số 03 -

CT/TU, Thông báo số 389 TB/TU về GDPT tới các cơ quan chu ên trách

UBND tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng tiến hành chỉ đạo thực hiện các Chỉ

thị, Nghị quyết và Thông báo trên; đồng thời tham mưu lên Tỉnh ủy Kế hoạch

số142/GD - KHTC, Báo cáo số 105/GD đề ra Đề án về tin học nhằm phát

triển sự nghiệp GD ĐT

* Chỉ thị số 03 - CT/TU ngày 4/2/2002 của Tỉnh ủ Vĩnh Phúc về việc

đ y mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở tr n địa bàn tỉnh yêu

cầu:

- Các cấp ủy và chính quyền có kế hoạch, giải pháp để thực hiện nhiệm

vụ phổ cập GDTHCS trên địa bàn Các địa phương thành lập ngay ban chỉ

Trang 28

22

đạo phổ cập giáo dục Tăng cường chỉ đạo công tác xã hội hóa giáo dục, đẩy mạnh phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, thực hiện phổ cập theo độ tuổi ở THCS, đầu tư CSVC trường học; giảm mức thấp nhất tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học đặc biệt là bỏ học qua hè, có kế hoạch và tích cực tập trung mở các lớp bổ túc THCS nhằm đạt mục tiêu phổ cập THCS ở mỗi xã và ở tất cả các huyện

- Ban Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học; tham mưu với cấp ủy, UBND các cấp về xâ dưng kế hoạch, tổ chức thực hiện và theo dõi, tổng hợp kết quả

- Các ban cán sự ngành tài chính, kế hoạch đầu tư, lao động - thương binh - xã hội, tổ chức chính quyền có trách nhiệm cùng phối hợp thống nhất với ngành giáo dục giải quyết các vấn đề liên quan tới đầu tư, cân đối nguồn lực, hỗ trợ tài chính

- Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên lồng ghép các hoạt động, có kế hoạch, biện pháp tham gia, tuyên truyền, vận động công tác phổ cập [70,1-2]

* Để thực hiện tốt Nghị quyết số 04 - NQ/TU của Tỉnh ủy, ngày

11/3/2003 Tỉnh ủ đã ra Thông báo số 389 - TB/TU về việc triển khai một số

nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết 04 c a Tỉnh y về phát triển GD&ĐT đến năm 2005, Thông báo đã đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục quán triệt và

nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của giáo dục Đẩy mạnh thực hiện 3 chương trình trọng tâm trong giáo dục từ na đến năm 2005: chương trình xâ dựng trường chuẩn quốc gia; chương trình giải quyết đất đai trường học; chương trình nâng cao năng lực dạy tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục” [73, 1-3]

Như vậ , trong giai đoạn 2001 - 2005, Đảng bộ tỉnh mà trực tiếp là Tỉnh ủ đã đề ra nhiều chủ trương nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo công

Trang 29

23

tác GD ĐT của tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh XIII Từ những chỉ đạo trên, các Huyện ủy và ngành giáo dục đã tiến hành triển khai và cụ thể hóa thành những chủ trương cụ thể phù hợp với từng địa phương

Quán triệt những chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy về công tác

GD ĐT trong giai đoạn 1997 - 2005, Đảng bộ huyện đã đề ra những chủ trương để lãnh đạo công tác GD ĐT của huyện

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lập Thạch lần thứ XVII diễn ra từ ngày 20 - 22/11/2000 tại thị trấn Lập Thạch với sự có mặt của 180 đại biểu đại diện cho 9.370 đảng viên trong toàn huyện

Đại hội đã thông qua mục tiêu và phương hướng chung 2000 - 2005:

“Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh toàn dân, phát huy nội lực khai thác mọi tiềm năng, tranh thủ thời cơ để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất…Phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế tạo nguồn lực mới cho sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn Phấn đấu đến năm 2005 Lập Thạch là huyện vững về kinh tế, mạnh về

an ninh quốc phòng, đời sống nhân dân ngà càng no đủ, giàu có, học tập chu đáo, nâng cao dân trí Phấn đấu đạt và vượt những chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Nhịp độ tăng bình quân hàng năm về giá trị tổng sản lượng trên 10% Giá trị thu nhập bình quân đầu người 250 đôla/năm

- Phổ cập cấp II 100% số xã, có 80 - 100% số xã có trường học cao tầng, trong đó: 40 - 50% số xã có 2 trường tầng cho cấp I và cấp II” [20,84-85]

Trong Đại hội nà , các đại biểu cũng thông qua Nghị quyết của Đại hội, trong đó có đề cập tới các vấn đề liên quan đến GD ĐT Nghị quyết nêu

Trang 30

24

rõ: “Tiếp tục quán triệt GD ĐT là quốc sách hàng đầu, là khâu đột phá của giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của quá trình CNH, HĐH Những mục tiêu và giải pháp cho phát triển GD ĐT đến năm 2005 là:

- Về qu mô trường lớp: tách một số trường tiểu học có 30 lớp trở lên thành 2 trường Khi tách hoặc nhập trường cần căn cứ vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ phổ cập của từng xã để tránh tình trạng khủng hoảng thừa hoặc thiếu của những năm tiếp theo Tỷ lệ tuyển sinh vào lớp 1 đạt trên 99%; tuyển 98% học sinh tốt nghiệp tiểu học và THCS; phấn đấu tuyển từ 75% trở lên học sinh tốt nghiệp THCS vào các trường THPT

- Chất lượng học sinh các cấp hàng năm tăng từ 0,2% - 0,3% Thi tốt nghiệp tiểu học và THCS đạt 98%, tốt nghiệp THPT đạt 95% Thi đỗ đại học, cao đẳng đạt 30%, số còn lại tổ chức học một nghề Phấn đấu đến năm 2005

có 95% giáo viên mầm non đạt trình độ chuẩn, 20% giáo viên tiểu học trên chuẩn, 35% giáo viên THCS đạt trên chuẩn, 5% giáo viên THPT có trình độ Thạc sĩ trở lên [20,51-52]

- Đề nghị tỉnh nâng cấp tường THCS Dân tộc nội trú thành trường cấp II,, III Dân tộc nội trú

- Thành lập trung tâm hướng nghiệp dạy nghề tại trung tâm huyện” [21,51-52]

Với nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVII, ngành GD ĐT huyện Lập Thạch nói riêng đang đứng trước một bước ngoặt mới để được tha đổi về chất dần đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của huyện Để triển khai cụ thể chủ trương của Đảng bộ huyện, Huyện ủy và các

cơ quan liên quan đã tích cực triển khai chỉ đạo việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Đảng bộ huyện

Đồng thời đề ra những mục tiêu chính để phấn đấu hoàn thành trong những năm từ 2001 - 2005: “Phấn đấu đến năm 2005 giáo dục Lập Thạch

Trang 31

1.2.2 uá trình chỉ đạo c a Đảng ộ huyện Lập Thạch

Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ hu ện về phát triển giáo dục phổ thông, các cấp các ngành trong hu ện đã qu ết tâm thực hiện tốt sự lãnh đạo

để đạt qu ết tâm đạt được mục đích đã đề ra

Trong giai đoạn từ năm 1997 đến 2000, GD ĐT đã có những bước tiến rõ rệt hơn so với các năm trước đó

Năm học 1999 - 2000 toàn huyện có 58.115 học sinh phổ thông chiếm 26,5% dân số toàn huyện và tăng 27,6% so với năm học 1991 - 1992 (5.546 em), chất lượng cà hiệu quả giáo dục có chuyển biến tốt Huyện được công nhận hoàn thành giáo dục phổ cập và xóa mù chữ từ năm 1991 vẫn được giữ vững Hai trường tiểu học Đình Chu và uân Lôi được công nhận trường chuẩn Quốc gia Đến năm 2000 có 23/39 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập GD THCS Chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên rõ rệt, trường chuyên, lớp chọn được quan tâm chỉ đạo nên số HSG và học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng tăng khá (năm học 1998 - 1999 có 260 em) Năm 1991 trường chuyên cấp 2 được thành lập, sau 8 năm trường đã bồi dưỡng được hàng trăm học sinh có học lực giỏi và nhiều em đạt giải trong các kỳ thi HSG các cấp Đến năm học 1998 - 1999, trường Chuyên chuyển lên thành trường Dân tộc nội trú huyện làm nhiệm vụ đào tạo học sinh có chất lượng cao và

1

Trích Chương trình GD - ĐT tới năm 2005 của Phòng GD - ĐT hu ện Lập Thạch (năm 2001)

Trang 32

26

học sinh các dân tộc ít người trong huyện Ngành học phổ thông xuất hiện một số điển hình tiên tiến, với những thành tích xuất sắc nhiều năm trong giảng dạy và học tập, được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba: trường THPT Ngô Gia Tự năm học 1996 - 1997, trường THCS Liễn Sơn năm học 1998 - 1999, trường THCS Thái Hòa năm học 1999 - 2000, trường THCS Bắc Bình năm học 2000 - 2001 [76,8-9]

Đi đôi với việc nâng cao chất lượng dạy và học, CSVC trong các nhà trường được chú trọng tăng cường đầu tư thường xu ên, năm học 1999 - 2000

có 935 phòng học đạt tiêu chuẩn từ cấp 4 trở lên, không có phòng học tạm Có

23 trường cao tầng đã đưa vào sử dụng trong đó: trường THPT có 4 trường, 1 trường Dân tộc nội trú, 16 trường THCS và Tiểu học, 6 trường đang xâ dựng Như vậy, trong thời gian này toàn huyện có 20 trên 39 xã, thị trấn có trường học cao tầng [77,9]

Như vậy, trong những năm đầu thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, GD ĐT của huyện Lập Thạch đã có sự khởi sắc nhất định theo hướng tích cực đổi mới Đâ là tiền đề quan trọng để GD ĐT của huyện bước vào thế kỷ XXI với những sự phát triển mạnh mẽ

Bước sang giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, dựa sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện mà trực tiếp là Huyện ủ , các cơ quan ban ngành chức năng trong huyện đã chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết nhằm đạt được những kết quả khả quan về GD ĐT

Cho đến năm 2005 ngành GD ĐT đã thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương; dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện, với sự nỗ lực của ngành, ngành GD ĐT đã đạt được những kết quả rất khả quan Sau đâ là những kết quả thể hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện về

GD ĐT từ năm 2000 - 2005:

Trang 33

Hệ thống mạng lưới trường lớp, quy mô giáo dục tiếp tục được củng

cố, ổn định và phát triển Các trường được phân bố rộng khắp, đồng đều ở tất

cả các vùng, miền và cân đối ở các cấp học, ngành học Đến năm 2005, toàn huyện có 128 trường, trong đó có 44 trường tiểu học, 39 trường THCS, 7 trường THPT Hệ thống trường lớp THPT về cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong huyện

Tổng số học sinh năm 2005 là 55.480 em, trong đó, học sinh tiểu học là 15.951, học sinh THCS là 18.489, học sinh THPT là 9.724 (Hệ A là 5.245, Hệ

B là 4.479) [43, 1-2]

Trong tổng số học sinh trên, việc hu động học sinh ra lớp đạt kết quả cao: số học sinh 6 tuổi vào lớp 1 và số học sinh học hết chương trình tiểu học vào lớp 6 luôn đạt 99,9% Công tác du trì sĩ số lớp khá tốt, toàn huyện chỉ có

47 học sinh bỏ học ở bậc Tiểu học và THCS, trong đó ở bậc tiểu học là 1 em (chiếm 0,006%), ở bậc THCS là 46 em (chiếm 0,02%) Hầu hết trẻ em khuyết tật đều được vận động ra lớp để hòa nhập vào các lớp học tập cộng đồng Nhờ vậy mà tỷ lệ phổ cập ở Tiểu học được du trì, có độ bền vững cao với 99%, ở bậc THCS đạt trên 90%, đối với THPT phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành các tiêu chuẩn phổ cập THPT trong toàn huyện [43, 1-2]

- Về xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia và trường chất lượng cao

Do xác định xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia là trục xuyên suốt nhằm chuyển đổi cơ cấu chất lượng các mặt giáo dục Ngành giáo dục đã tham mưu với Huyện ủy, UBND huyện ra Nghị quyết về xây dựng CSVC cho

Trang 34

28

các trường Đến năm 2005 toàn hu ện có 23 trường tiểu học, 5 trường THCS

và 1 trường THPT được công nhận đạt chuẩn quốc gia ã có trường đạt chuẩn quốc gia nhiều nhất là: Bắc Bình có 3 trường, thị trấn Lập Thạch có 2 trường, Tân Lập có 2 trường, Thái Hòa có 2 trường [42,3]

Hệ thống trường chất lượng cao đã được hình thành: trường tiểu học thị trấn Lập Thạch, trường THCS Thị trấn Lập Thạch và trường THPT Ngô Gia

Tự đã có nhiều tiêu chí đạt tới trường chất lượng cao Trường THCS Lập Thạch được đầu tư CSVC khá đầ đủ, khang trang, bề thế, hiện đại Đội ngũ giáo viên các trường chất lượng cao đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn khá tốt, tinh thần trách nhiệm cao, bước đầu đã phát hu tác dụng và được thể hiện qua kết quả chất lượng đào tạo Các trường này thực sự trở thành nơi đào tạo nhân tài cho quê hương đất nước, tạo được uy tín, vị trí và niềm tin đối với Đảng bộ và nhân dân trong huyện [42,3]

* Thực hiện có hiệu quả chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục

ở tất cả các cấp học, ngành học Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả giáo dục

- Công tác chỉ đạo đổi mới chương trình, nội dung SGK:

Cho đến năm học 2004 - 2005 là năm thứ ba thực hiện đổi mới chương trình GDPT Để triển khai việc dạy và học theo nội dung, chương trình SG mới ngành giáo dục đã chủ động tập trung chỉ đạo công tác bồi dưỡng cho giáo viên dạy theo SGK mới, cung ứng đầ đủ SGK cho giáo viên và học sinh Sau khi được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc trang bị cho các đồ dùng thiết bị dạy học, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã chủ động có kế hoạch bảo quản, khai thác có hiệu quả Phòng đã mở nhiều lớp tập huấn về phương pháp giảng dạy theo SGK mới, các lớp tập huấn về sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học Đồng thời, Phòng tăng cường công

Trang 35

- Công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng toàn diện, chất lượng đại trà trong các nhà trường:

Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực Các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức, giáo dục giới tính, giáo dục Luật An toàn giao thông, giáo dục phòng chống các tệ nạn

xã hội…đã được coi trọng Hàng năm, ngành giáo dục đã tổ chức được nhiều cuộc thi tìm hiểu do huyện, tỉnh và Trung ương tổ chức Sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội được tiến hành nền nếp và mang lại hiệu quả thiết thực Nhìn chung, đạo đức của học sinh ở tiểu học, THCS, THPT cơ bản là chăm ngoan, có ý thức phấn đấu tốt Công tác giáo dục thể chất được coi trọng, các giờ thể dục chính khóa thực hiện nghiêm túc, có chất lượng Hàng năm đã tổ chức được các cuộc thi thể thao: cầu lông, đá cầu, bóng chuyền, điền kinh…có chất lượng

Trong năm học 2005 huyện đã triển khai thí điểm dạ chương trình Tin học cho trường Tiểu học Thị trấn Lập Thạch, các trường THCS Lãng Công, Đồng Thịnh, Đồng Quế, Thị trấn Lập Thạch, Thái Hòa, Văn Quán, Bắc Bình, uân Lôi…và dạy Ngoại ngữ cho trường Tiểu học Thị trấn Lập Thạch Đã

mở các lớp tập huấn hướng dẫn giáo viên cách soạn giáo án điện tử để thi cấp

Trang 36

30

tỉnh, có 4 giáo viên đi thi đều đạt giải Giáo viên THPT và một số giáo viên trường THCS bước đầu đã thực hiện soạn giáo án điện tử, biết ứng dụng phần mềm tin học phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy và học ở một số bộ môn Nhìn chung, các hoạt dộng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là khá đồng đều, nó đã góp phần đáng kể vào việc giáo dục phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh; trang bị những phương pháp, kỹ năng cho cả thầy và trò trong quá trình dạy học

Đồng thời với đó, chất lượng giáo dục đại trà không ngừng được nâng cao và coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường Đối với cấp học tiểu học, THCS, THPT đã tập trung chỉ đạo tốt việc phân công,

bố trí giáo viên giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn của từng trường Thường xuyên mở các lớp chu ên đề, sinh hoạt cụm để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau về phương pháp giảng dạy mới Đổi mới cách đánh giá đối với học sinh, chống hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp

Chất lượng HSG của huyện tiếp tục được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, mở rộng ở tất cả các vùng, miền Danh hiệu HSG và GVG do tỉnh

tổ chức trong năm 2005 đạt được kết quả như sau:

Thi tiếng hát học sinh tiểu học lần V xếp thứ Nhì toàn tỉnh

Thi Trạng nguyên nhỏ tuổi lần thứ Nhất có: 2 bảng nhãn, 4 thám hoa, 2 khuyến khích

Thi HSG lớp 5 văn hóa đạt 117 giải (7 giải nhất, 32 giải nhì, 34 giải ba,

44 giải khuyến khích, tăng so với năm 2004 là 50 giải)

Thi vở sạch chữ đẹp tiểu học: 1 em đạt giải nhì quốc gia, 1 giải nhì tỉnh, 3 giải ba, 4 giải khuyến khích

Thi HSG văn hóa lớp 9 tỉnh đạt: 128 giải (6 giải nhất, 14 giải nhì, 34 giải ba, 74 giải khuyến khích, so với năm 2004 tăng 24 giải)

Trang 37

31

Thi giải toán trên máy tính Casio của THCS có 9 giải (2 giải nhất, 3 giải nhì, 2 giải khuyến khích), xếp nhất toàn tỉnh và có 2 học sinh được chọn

đi thi khu vực

Thi Olympic khoa học quốc tế tại Inđônêxia đạt 1 hu chương đồng Thi môn đá cầu đạt hu chương vàng, môn Aerobic đạt hu chương đồng toàn đoàn

Đối với các trường THPT mà Phòng Giáo dục và Đào tạo không trực tiếp quản lý thì có 457 học sinh đạt HSG qua các kỳ thi cấp tỉnh

Đối với thi GVG tiểu học đạt 1 giải nhì, 3 giải khuyến khích, giáo viên THCS soạn giáo án điện tử đạt 4 giải khuyến khích [42,4-5]

* Về xây dựng CSVC tiếp tục được quan tâm đầu tư theo hướng kiên

cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa phục vụ nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục

Năm 2005 là năm toàn hu ện dấy lên một phong trào xây dựng CSVC mạnh mẽ nhất cho các nhà trường Tổng kinh phí đầu tư là 33.974.130.000 đồng, đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng 174 phòng học (trong đó có 144 phòng học kiên cố) Xây dựng mới 20 nhà điều hành (trong đó trường tiểu học là 9 nhà, THCS là 6 nhà) Xây dựng được 10 phòng để đồ dùng thiết bị dạy học, 8 thư viện và kho sách, 25 phòng chức năng, 14 phòng bảo vệ Sửa chữa được 150 phòng cấp 4 Đóng mới 1196 bộ bàn ghế học sinh, 565 tủ hồ

sơ, 400 bộ bàn ghế giáo viên [42,5-6]

Tính đến năm 2005 đã có 32 trường có đủ CSVC cho học 1 ca/ngày (trong đó có 19 trường tiểu học, 13 trường THCS) Với hệ thống CSVC như vậy, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu dạy và học trong các nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục một cách có hiệu quả [42,5-6]

* Về xây dựng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ GV và CBQL

Trang 38

32

- Huyện đã xác định đội ngũ CBQL và GV là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục ở các nhà trường hiện nay Huyện đã đề xuất với tỉnh bố trí GV cho ngành đảm bảo: đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn về chất lượng Năm 2005 hu ện đã tiếp nhận thêm 70 GV, trong đó: THCS có 46

GV, THPT có 31 GV, nâng tổng số GV hiện có của toàn huyện lên 2.578, trong đó, số GV tiểu học là 910, số GV đạt chuẩn và trên chuẩn là 905 GV, chiếm tỷ lệ 99%; số GV THCS là 944, số GV đạt chuẩn và trên chuẩn là 926 chiếm tỷ lệ 98%; số GV THPT là 295, số GV đạt chuẩn và trên chuẩn là 287 đạt tỷ lệ 97% Căn cứ vào số GV hiện có trên địa bàn toàn huyện đã chỉ đạo, sắp xếp và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương [42,6-7]

- Công tác bổ nhiệm CBQL luôn luôn được huyện coi trong Huyện đảm bảo bổ nhiệm CBQL đúng tiên chuẩn, công đoạn, đúng ngu ên tắc công khai dân chủ Năm 2005 đã bổ nhiệm được 29 CBQL, trong đó có 2 hiệu trưởng, 27 phó hiệu trưởng Số CBQL sau khi bổ nhiệm đã phát hu được tác dụng, đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ đổi mới

- Ngành GD ĐT huyện thường xu ên được chăm lo tới công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng Triển khai ý tưởng của Sở Giáo dục và Đào tạo, mỗi nhà trường phải thực sự là trung tâm bồi dưỡng, huyện đã triển khai và coi

đâ là giải pháp thiết thực Các hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn, khối chuyên môn, cụm chuyên môn thực sự đi vào nền nếp Thông qua các hoạt động sinh hoạt trên các trường đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu để cho mọi người áp dụng

- Công tác đào tạo và đào tạo lại được huyện coi là rất cần thiết, trong năm 2005 hu ện đã cử 580 GV đi học các lớp nâng cao trình độ, trong đó: cao học là 23 GV, đại học là 470 GV, cao đẳng là 54 GV, học lớp quản lý là

29 GV, đại học chính trị là 4 GV [42,6-7]

Trang 39

33

- Ý thức tu dưỡng phấn đấu vươn lên để được đứng trong hàng ngũ của Đảng trong GV thể hiện khá rõ n t Năm 2005 đã kết nạp được 175 GV vào Đảng, trong đó gồm cả mầm non, tiểu học, THCS là 154 đồng chí, THPT là

21 đồng chí [42,6-7]

* Về công tác xã hội hóa giáo dục, luôn được đẩy mạnh bằng nhiều chủ trương và biện pháp khác nhau

- Xã hội hóa giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc hu động trẻ

ra lớp, du trì sĩ số học sinh Sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và

xã hội đã được phát huy và có tác dụng tích cực tới việc giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống, động cơ, ý thức, thái độ học tập của học sinh Kỷ cương, nền nếp của nhà trường được giữ vững, ý thức trách nhiệm của gia đình đối với việc giáo dục con em mình được nâng cao

- Xã hội hóa giáo dục đã phát hu được toàn xã hội tạo ra nguồn vốn để đầu tư cho giáo dục, góp phần chuẩn hóa các điều kiện học tập cho học sinh,

hỗ trợ một phần kinh phí cho việc thực hiện chế độ chính sách đối với GV các ngành, trang bị CSVC cho nhà trường tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển [42,7]

* Về công tác quản lý giáo dục

- Công tác QLGD tiếp tục được đổi mới, năng lực trách nhiệm của các lớp QLGD từng bước được nâng cao Từ đó thực hiện tốt phương châm: chuyển trách nhiệm một cách cụ thể tới từng đơn vị, cá nhân; coi trọng công tác chỉ đạo bằng kế hoạch hóa một cách khoa học Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và đánh giá xếp loại Việc triển khai nhiệm vụ từng năm học đối với từng ngành, từng cấp học được thống nhất các giải pháp trên cơ sở tăng cường quản lý, thực hiện mục tiêu, kế hoạch phát triển giáo dục của đơn vị, địa phương sát với tình hình thực tiễn của nhà trường

Trang 40

- Từ Phòng Giáo dục và Đào tạo tới các trường đã làm tốt công tác tham mưu với các cấp ủy, chính quyền địa phương một cách có hiệu quả Đồng thời huyện đã làm tốt công tác vận động các đoàn thể, quần chúng nhân dân ý thức được: đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, giáo dục là

quốc sách hàng đầu; thực hiện tốt cuộc vận động: “Dân ch , kỷ cương, tình

thương, trách nhiệm”

- Công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục được coi trọng Phòng Giáo dục

và Đào tạo đã thanh tra được 44 trường trong năm 2005 (trong đó đạt loại tốt

và khá là 44 trường, đạt yêu cầu là 7 trường); kiểm tra 100% hồ sơ CBQL (trong đó đạt loại tốt 35%, loại khá 51%, đạt yêu cầu 14%); kiểm tra hồ sơ

GV được 496 bộ (trong đó tốt đạt 6,45%, loại khá 58,1%, đạt yêu cầu 14%, chưa đạt yêu cầu 6,45%) [42,7-8]

Nhìn chung CBQL có nhận thức đúng đắn về quyền tự chủ, ý thức trách nhiệm trong việc tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ các năm học, công khai hóa và dân chủ hóa được phát huy, khuyến khích động viên được đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên tự giác làm việc Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đã quan tâm đến giáo dục, giáo dục thực sự là

sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân

* Về công tác đào tạo nghề và hướng nghiệp được quan tâm chỉ đạo

Từ năm 1997 đến năm 2005, Trung tâm dạ nghề hu ện Lập Thạch đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, đáp ứng một phần nhu cầu học nghề của lực lượng thanh niên các dân tộc trong hu ện

Ngày đăng: 09/12/2020, 19:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w