1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện trường đại học sư phạm nghệ thuật trung ương

124 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

13 Ngoài ra, còn có một số luận văn tốt nghiệp của học viên chuyên ngành thông tin thư viện như “Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI HÀ

Hà Nội - 2012

Trang 3

5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 9

MỞ ĐẦU 10

1 Tính cấp thiết của đề tài 10

2 Tình hình nghiên cứu 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13

4 Giả thuyết nghiên cứu 13

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

5.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn 14

5.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 14

6 Phương pháp nghiên cứu 14

6.1 Phương pháp luận 14

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 14

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của luận văn 14

7.1 Về mặt khoa học 14

7.2 Về mặt ứng dụng 14

8 Bố cục đề tài 15

CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG 16

1.1 Lý luận chung về hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện trong các trường đại học trước yêu cầu đổi mới giáo dục 16

1.1.1 Khái niệm về hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện 16

1.1.2 Tính tất yếu của việc hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện trong các trường đại học 18

1.1.2.1 Sự tác động của khoa học và công nghệ tới hoạt động thông tin thư viện 18

1.1.2.2 Hoạt động thông tin thư viện đại học trước nhu cầu xã hội 20

1.2 Vai trò của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương trong sự nghiệp đổi mới giáo dục 26

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 26

1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 28

1.2.3 Cơ cấu tổ chức 29

1.3 Vai trò của Trung tâm Thông tin - Thư viện đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương 30

1.3.1 Chức năng và nhiệm vụ 31

1.3.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trung tâm trong sự nghiệp đổi mới giáo dục 32

1.3.2.1 Đặc điểm người dùng tin 32

1.3.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin 36

Trang 4

6

1.3.3 Yêu cầu hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện đối với sự nghiệp

đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương 42

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG 44

2.1 Thực trạng nguồn lực của Trung tâm Thông tin - Thư viện 44

2.1.1 Cơ cấu tổ chức 44

2.1.2 Tài chính, cơ sở vật chất - trang thiết bị 45

2.1.2.1 Về đầu tư tài chính 45

2.1.2.2 Về đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị 46

2.1.3 Vốn tài liệu 47

2.1.4 Đội ngũ cán bộ 49

2.2 Thực trạng hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện 52

2.2.1 Công tác bổ sung 52

2.2.2 Công tác xử lý tài liệu 55

2.2.3 Sản phẩm thông tin - thư viện 56

2.2.4 Công tác tổ chức kho, sắp xếp và bảo quản tài liệu 58

2.2.4.1 Bố trí thư viện 58

2.2.4.2 Tổ chức kho và sắp xếp tài liệu 59

2.2.4.3 Công tác bảo quản 61

2.2.5 Ứng dụng Công nghệ Thông tin 62

2.2.6 Công tác phục vụ người dùng tin 62

2.3 Đánh giá các tiêu chí hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện 68

2.3.1 Điểm mạnh 68

2.3.2 Điểm yếu 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HÓA TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG 75

3.1 Đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý 76

3.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 78

3.3 Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng 82

3.3.1 Đầu tư cơ sở vật chất 82

3.3.2 Xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin 82

3.4 Trang bị phần mềm thư viện điện tử 85

3.4.1 Đầu tư phần mềm điện tử 85

3.4.2 Xây dựng phần mềm hệ thống 88

3.5 Phát triển và hiện đại hóa nguồn lực thông tin 89

3.5.1 Xây dựng chính sách bổ sung 89

3.5.2 Nội dung tài liệu bổ sung 94

3.5.3 Hình thức bổ sung tài liệu 94

3.5.4 Chuẩn hóa xử lý tài liệu 96

3.5.5 Đẩy mạnh việc tạo lập, phát triển và cung cấp nguồn tin số hóa 98

3.5.6 Tổ chức kho, sắp xếp tài liệu và bảo quản tài liệu 98

Trang 5

7

3.6 Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện theo hướng công nghệ

hiện đại 103

3.6.1 Sản phẩm thông tin thư viện 103

3.6.2 Dịch vụ thông tin thư viện 106

3.7 Vận dụng Marketing vào hoạt động thông tin thư viện 109

3.8 Công tác đào tạo người dùng tin 112

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

PHỤ LỤC 121

Trang 6

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

ĐHSPNTTW Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Danh mục từ viết tắt tiếng Anh

Quy tắc biên mục Anh Mỹ xuất bản lần thứ hai

Bộ nhớ chỉ đọc dùng cho đĩa compact

ISBD International Standard Bibliographic Description

Quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế

Khổ mẫu biên mục có thể đọc bằng máy

Trang 7

9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 1.1 Đối tượng người dùng tin Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật

Trung ương 36

Biểu đồ 2.1 Kinh phí đầu tư cho hoạt động thông tin thư viện từ 2008 - 2012 46 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu cán bộ theo giới tính 50

Danh mục các bảng Bảng 1.1 Thời gian thu thập thông tin của người dùng tin 37

Bảng 1.2 Lĩnh vực chuyên môn mà người dùng tin quan tâm 39

Bảng 1.3 Nguồn tài liệu hữu ích mà người dùng tin quan tâm khai thác 40

Bảng 2.1 Kinh phí đầu tư cho hoạt động thông tin thư viện từ 2008-2012 45

Bảng 2.2 Số liệu về nguồn lực thông tin tại thư viện 48

Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ 50

Bảng 2.4 Phân công lao động tại các bộ phận hiện nay 51

Bảng 2.5 Tổng kinh phí bổ sung tài liệu trong năm 2011 53

Bảng 2.6 Số liệu bổ sung sách 53

Bảng 2.7 Số thẻ cấp cho bạn đọc 67

Bảng 2.8 Nơi người dùng tin quan tâm khai thác thông tin tư liệu 71

Bảng 2.9 Tình hình sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 73

Danh mục các hình Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức đã điều chỉnh của Trung tâm 78

Hình 3.2 Sơ đồ trang thiết bị hệ thống thư viện điện tử, thư viện số 83

Hình 3.3 Chu trình xử lý tài liệu 97

Trang 8

10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, nhân loại đang chứng kiến cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 - cuộc cách mạng thông tin tư liệu, cuộc cách mạng dẫn tới

sự hình thành xã hội thông tin toàn cầu, một xã hội dựa trên nền tảng thông tin và trí

tuệ Hai yếu tố này được coi như là động lực cơ bản cho sự phát triển

Thông tin khoa học với những tri thức được tư liệu hoá đã trở thành một trong những ngành khoa học mũi nhọn của mỗi quốc gia Chính vì vậy, Nghị quyết Trung Ương 2 về phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ đã xác định công tác thông tin khoa học như là một điều kiện quan trọng để phát triển khoa học nước nhà Thông tin tư liệu vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của nghiên cứu khoa học

Nó là một trong ba bộ phận hợp thành của hoạt động khoa học (Thông tin tư liệu khoa học, quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học) Việc phát triển thông tin tư liệu không chỉ là chiến lược mà còn là trách nhiệm của Nhà nước, các Bộ, Ngành và địa phương

Trên thế giới, việc hiện đại hoá thư viện được hết sức chú trọng Nguồn tư liệu cũng như trang thiết bị cần thiết thường xuyên được cập nhật, bổ sung phù hợp với sự phát triển của thời đại Xu hướng phát triển này của thế giới cũng đã và đang

có những tác động lớn nhằm định hướng cho sự phát triển của thư viện ở Việt Nam hiện nay Nhà nước có chính sách đầu tư cụ thể về công nghệ thông tin, các thư viện

đã và đang được chú trọng đầu tư tiến tới nâng cao chất lượng phục vụ bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng các chuẩn về nghiệp vụ thư viện để có thể hợp tác, trao đổi, chia sẻ với các thư viện trong nước, khu vực và thế giới Tăng cường hợp tác, giao lưu với các thư viện trong khu vực và trên thế giới là cơ sở để

xây dựng những bước phát triển vững chắc của sự nghiệp thư viện Việt Nam

Nghị quyết của Đại hội Đảng 9 đã chỉ rõ: Để từng bước tiếp cận nền kinh tế tri thức, đi tắt đón đầu, chúng ta cần đổi mới tư duy, xây dựng và thực thi chính sách và biện pháp hữu hiệu, xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại, đi trước một bước, có một chiến lược con người, một nền giáo dục lành mạnh và tiên tiến, chú

Trang 9

11

trọng đào tạo cán bộ cho các ngành công nghệ cao mũi nhọn, các lĩnh vực điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, quản trị thông tin,… đồng thời đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ viên chức, người sử dụng máy tính và mạng, nâng cao mặt bằng dân trí, tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật

Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và quá trình tin học hóa đang được triển khai trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nước ta, trong sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu Tổ chức xây dựng thư viện điện tử tại các trường đại học, cao đẳng, trung học và các cơ quan nghiên cứu khoa học là một công việc rất quan trọng trong quá trình hiện đại hóa này

Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (ĐHSPNTTW) là trường đào tạo duy nhất về sư phạm nghệ thuật trong nước, với chủ trương mở thêm các

mã ngành đào tạo theo hướng đa ngành, trường có 02 khoa truyền thống là Sư phạm

Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật, gắn liền với quá trình trưởng thành của nhà trường, gần đây thành lập ba khoa Thanh nhạc - Nhạc cụ, Mỹ thuật cơ sở và Văn hóa Nghệ thuật Cùng với sự đi lên của Nhà trường, Trung tâm Thông tin - Thư viện của trường đã được thành lập ngày 25/11/2008 theo Quyết định số 11/QĐ-ĐHSPNTTW-TC của Hiệu trưởng Trường ĐHSPNTTW thành đơn vị độc lập, trực thuộc Ban Giám hiệu để đáp ứng nhu cầu tin đa ngành và mang tính đặc thù cao của trường Do mới thành lập nên Trung tâm Thông tin - Thư viện (TTTTTV) Trường ĐHSPNTTW hoạt động chủ yếu theo phương thức truyền thống, còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc cũng như mục tiêu đào tạo của Nhà trường

Vì những lý do trên tôi chọn vấn đề “Hiện đại hoá Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương” làm đề tài luận văn

tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học thư viện của mình

Trang 10

12

với hệ thống các thư viện Do vậy, vấn đề về hiện đại hoá (HĐH) thư viện, về ứng dụng công nghệ thông tin vào HTTTTV đặc biệt là đối với thư viện các trường đại học, đang là đề tài được các nhà chuyên môn cũng như những người làm việc trong ngành thư viện bàn đến rất nhiều Cụ thể các bài viết đề cập đến HĐH thư viện ở

Việt Nam như:

“Một góc nhìn khác về con đường hiện đại hoá thư viện trong điều kiện Việt Nam” của Võ Công Nam thuộc Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh

đăng trên Tạp chí Thông tin Tư liệu số 1 năm 2005 Tác giả đã giúp ta nắm bắt được những tồn tại hiện nay của ngành thư viện, lý giải về khái niệm HĐH trong lĩnh vực thư viện Luận chứng và phân tích nội dung của việc HĐH ở 03 bình diện: tầm nhìn, hành động và tổ chức

“Hiện đại hoá ngành Thông tin - Thư viện Việt Nam cần đi vào thực chất hơn” của giảng viên Đỗ Văn Hùng đăng trên Kỷ yếu hội thảo khoa học “Ngành

Thông tin - Thư viện trong xã hội thông tin” của Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn năm 2006 Tác giả đã giúp ta nắm được thực trạng công tác HĐH trong ngành thông tin thư viện (TTTV) Việt Nam, đưa ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó định hướng cho công tác HĐH thư viện tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với một số nguyên tắc cơ bản cần thực hiện khi tiến hành HĐH

Bên cạnh đó, còn có một số bài viết về kiến thức, giá trị thông tin trong các

trường đại học Việt Nam hiện nay cũng được đề cập khá phong phú: “Kiến thức thông tin với giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Xuân Huy đăng trên Kỷ yếu hội

thảo khoa học ngành Thông tin - Thư viện trong xã hội thông tin của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn năm 2006 Có bài viết của Tiến sĩ Lê Văn Viết và

Thạc sĩ Võ Thu Hương “Thư viện đại học Việt nam trong xu thế hội nhập” đăng

trên tạp chí Thư viện Việt Nam số 2 năm 2007 Bài viết đề cập đến vai trò của thư viện đại học, từ đó nhận diện về thực tiễn thư viện đại học Việt Nam hiện nay, thách thức đối với thư viện đại học Việt Nam trong xu thế hội nhập và cuối cùng là tác giả

đề xuất mô hình thư viện đại học Việt Nam trong tương lai

Trang 11

13

Ngoài ra, còn có một số luận văn tốt nghiệp của học viên chuyên ngành

thông tin thư viện như “Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay” của học viên Phạm Thị Mai thuộc khóa 1 đào

tạo Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học thư viện của Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn bảo vệ năm 2009;

Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về hiện đại hóa Trung tâm

Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở khảo sát nhu cầu tin và nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động TTTV của Trung tâm, nhận diện rõ yêu cầu, nhiệm vụ của TTTTTV Trường ĐHSPNTTW trong giai đoạn đổi mới đất nước, đề xuất những giải pháp hợp lý nhằm HĐH TTTTTV đáp ứng nhu cầu tin, nâng cao chất lượng phục vụ và phù hợp với mục tiêu đào tạo của Nhà trường

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn tiến hành nghiên cứu các nhiệm vụ

4 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết về quy trình hoạt động TTTV của Trường ĐHSPNTTW mang tính truyền thống, còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu tin của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong Nhà trường Nếu HĐH TTTTTV sẽ tạo nên bước phát triển lớn của TTTTTV Nhà trường và nâng cao được hiệu quả phục vụ nhu cầu tin, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường

Trang 12

14

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Các vấn đề về hiện đại hóa tổ chức và hoạt động TTTV

5.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Không gian: Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Thời gian: Từ tháng 11 năm 2008 đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển sự nghiệp thông tin thư viện

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp điều tra khảo sát;

- Phân tích, đánh giá và tổng hợp tài liệu, số liệu;

- Phỏng vấn, mạn đàm trực tiếp;

- Điều tra bằng bảng hỏi

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của luận văn

7.1 Về mặt khoa học

Thư viện trường đại học chuyên ngành nghệ thuật có những đặc thù riêng mà cho đến nay vấn đề về HĐH thư viện các trường nghệ thuật nói chung và HĐH thư viện Trường ĐHSPNTTW nói riêng chưa được nghiên cứu tổng thể và bài viết nào

Do vậy, nghiên cứu này góp phần vào việc hệ thống hoá quan điểm về hiện đại hoá thư viện trong trường đại học và đáp ứng được yêu cầu về HĐH thư viện đối với các trường đại học nghệ thuật bằng giải pháp HĐH thư viện phù hợp với quy mô và

chức năng, nhiệm vụ của một thư viện trường đại học nghệ thuật cụ thể

7.2 Về mặt ứng dụng

Đề xuất giải pháp HĐH TTTTTV Trường ĐHSPNTTW trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của một số thư viện trường đại học trong cả nước, từ đó nâng

Trang 13

15

cao chất lượng hoạt động của thư viện Nhà trường, nhằm rút ra những kinh nghiệm cần có cho trường đại học đào tạo chuyên ngành nghệ thuật khác và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ trực tiếp cho việc đào tạo nguồn nhân lực đạt chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước

8 Bố cục đề tài

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Sự cần thiết hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường

Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Chương 2: Thực trạng hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường

Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Chương 3: Giải pháp hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường

Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Trang 14

1.1.1 Khái niệm về hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện

Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân xuất bản năm 2000, định

nghĩa về “Hiện đại hóa là trang bị bằng những dụng cụ, máy móc hợp với thời đại nhất”.[20, tr.827]

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, “Hiện đại hóa là quá trình chuyển biến từ tính chất truyền thống sang trình độ tiên tiến, hiện đại.”1

Vì vậy có thể hiểu HĐH HTTTTV là ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiên tiến vào các quy trình hoạt động của HTTTTV

Công nghệ thông tin (CNTT) phát triển vừa là lợi thế cũng vừa đặt ra những thách thức đối với nghề TTTV, đặt hoạt động TTTV vào môi trường “nóng bỏng nhất” của xã hội để tiếp cận, khai thác, sở hữu, sử dụng và sản xuất ra thông tin - nguồn lực phát triển cơ bản và chủ lực của nền văn minh hiện đại

Ở các nước phát triển trên thế giới, HTTTTV đã được phát triển trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ thư viện truyền thống hoàn toàn thủ công sang thư viện điện

tử một phần (với một số tác nghiệp được tự động hoá) và gần đây nhất đó là thư

viện số Thư viện số với khả năng lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ, hầu hết các thao tác nghiệp vụ được thực hiện hoàn toàn tự động trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia tiên tiến Cùng với sự phát triển của mạng Internet và hệ thống hạ tầng hiện đại,

hệ thống các thư viện số được kết nối với nhau trở thành một HTTTTV liên thông

HTTTTV liên thông này đã trở thành nguồn Thông tin - Tư liệu khổng lồ cung cấp

tới bạn đọc ở bất kỳ nơi nào trên thế giới không phụ thuộc vào vị trí địa lý hay vùng lãnh thổ

1 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/khai-niem-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa.549942.html

Trang 15

17

Ngày nay, cán bộ TTTV không chỉ đơn thuần làm công tác giữ sách mà họ đang thực hiện vai trò điều phối giữa một bên là khối lượng thông tin khổng lồ luôn gia tăng nhanh chóng và một bên là nhu cầu thông tin ngày càng cao và khắt khe của xã hội Nguồn tài nguyên thông tin và khả năng khai thác sử dụng thông tin có nguy cơ ngày càng tách rời xa nhau Dù xã hội Việt Nam chưa hẳn đã bước vào nền văn minh ấy nhưng đã chịu sự tác động mạnh mẽ của nó, ít nhất trên lĩnh vực cạnh tranh, đào tạo và thông tin Vì vậy việc hội nhập thế giới về phương diện TTTV phải là sự lựa chọn mang tính đột phá của chiến lược “đi tắt đón đầu” bắt kịp sự phát triển của thế giới

Sự nghiệp thư viện Việt Nam có sự thuận lợi khá lớn so với thế giới là được nhà nước đầu tư trọn vẹn Đội ngũ cán bộ thư viện Việt Nam chỉ việc hành động mà không cần lựa chọn về chiến lược, mục tiêu, nội dung và phương thức, con người và

tổ chức, tài chính và cơ sở vật chất… Mọi thứ hầu như đã được thiết định đầy đủ bằng chủ trương, chính sách và cơ chế Và đây cũng là lý do giải thích tại sao một đất nước chậm phát triển như chúng ta lại có được một sự nghiệp thư viện to lớn chí

ít cũng về qui mô và phạm vi hoạt động như chúng ta hiện có

Tuy nhiên có thể xem đây cũng chính là điểm yếu cơ bản của chúng ta và có thể nói về một phương diện nào đó, là một vật cản khá lớn chắn trên con đường hội nhập của chúng ta Chính sự bao bọc này đang làm thui chột ý chí tiến thủ, tính năng động sáng tạo, khả năng tự vươn lên và khẳng định của những người làm nghề thư viện ở Việt Nam hiện nay

Đã có thời kỳ nói đến HĐH, chúng ta thường nghĩ đến một hệ thống trang thiết bị hiện đại: bao gồm hệ thống máy tính, những phần mềm chuyên dụng, những

hệ thống an ninh tài liệu: camera, cổng từ… Những trang thiết bị này là cần thiết nhưng chỉ là những phần rất thứ yếu và có lẽ là phần dễ thực hiện nhất trong các nội dung hiện đại hoá HĐH thư viện ở nước ta hiện nay cần phải nhằm tới những mục tiêu bao trùm hơn, cơ bản hơn và thiết yếu hơn

Trước tiên để việc HĐH thực sự có hiệu quả và đi đúng hướng thì việc đầu tiên và vô cùng quan trọng là phải bắt đầu từ việc HĐH tầm nhìn các nhà lãnh đạo, nhà quản lý và đội ngũ nhân viên thư viện Tự bản thân mỗi người cần hiểu rõ vai

Trang 16

18

trò của mình trong thời kỳ mới từ đó chủ động phát huy tính năng động, sáng tạo, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với thế giới, đưa sự nghiệp thư viện Việt Nam lên ngang tầm thế giới

Có thể hiểu HĐH hoạt động TTTV bao gồm: HĐH cơ sở vật chất - kỹ thuật, HĐH nghiệp vụ, HĐH công tác quản lý và thực thi công việc

Trước thách thức của thời đại thì việc HĐH hoạt động thư viện là sự sống còn của sự nghiệp thư viện Việt Nam hiện nay

1.1.2 Tính tất yếu của việc hiện đại hóa trung tâm thông tin thư viện trong các trường đại học

1.1.2.1 Sự tác động của khoa học và công nghệ tới hoạt động thông tin thư viện

Sự phát triển của sự nghiệp thư viện nói chung và thư viện các trường đại học nói riêng hiện nay chịu tác động lớn của thành tựu khoa học công nghệ Thế kỷ

XV máy in bằng chữ rời ra đời là một bước tiến vượt bậc Việc ứng dụng máy in vào việc in sách và trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho thời kỳ này với gần 20 triệu bản sách của 35.000 đầu sách được in ra Máy in ra đời làm thay đổi chức năng của sách, từ chỗ lưu trữ văn bản, sách đã trở thành một công cụ truyền thông và thành một đối tượng thương mại Cùng với việc phát minh ra máy in, việc phát minh ra máy chữ vào thế kỷ XVIII đã góp phần cơ giới hóa việc ghi các tài liệu văn bản Tiếp theo việc phát minh ra phim và kỹ thuật chụp ảnh vào thế kỷ XIX đã giúp cho con người lần đầu tiên có thể ghi lại thông tin bằng hình ảnh một cách chính xác

Những năm 1960-1970, công nghệ truyền thông (thông tin liên lạc) ra đời hay còn gọi là thập kỷ công nghệ truyền thông, giúp cho con người có thể truyền dữ liệu xa hơn, không bó hẹp trong phạm vi không gian

Đến những năm 1970-1980 sự ra đời của máy tính giúp hệ thống thư viện hoạt động tự động hóa ở nhiều khâu Thời kỳ này xuất hiện thêm nhiều loại hình tài liệu mới như băng từ, giúp thuận tiện cho việc lưu giữ thông tin, tiết kiệm diện tích, với các máy tính có khả năng làm việc theo chế độ xử lý bao gói các dữ liệu Dạng

xử lý này phù hợp với các quá trình bổ sung, biên mục, xử lý các ấn phẩm định kỳ, hay thống kê vòng quay của sách Đầu những năm 70 vấn đề tự động hóa thư viện

Trang 17

19

đã diễn ra một bước tiến lớn đó là sự liên kết giữa kỹ thuật máy tính với các phương tiện viễn thông Kết quả của việc liên kết này tạo ra các mạng máy tính khác nhau như mạng LAN, mạng WAN, các mạng quốc gia và quốc tế Đến những năm 1980-

1990, CNTT phát triển, đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển thư viện, đặc biệt trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, các dạng CSDL hình thành và phát triển, sử dụng nhiều nguồn tin nên các loại hình thông tin dưới dạng giấy, băng từ, tài liệu nghe nhìn,… được phổ biến

Thập kỷ Internet phổ biến vào những năm 1990-2000, việc ứng dụng công nghệ này tạo ra các xuất bản phẩm điện tử, vốn tài liệu điện tử và siêu phương tiện

ra đời, giúp cho các loại hình thư viện cũng thay đổi hơn như có vật mang tin số hóa thuận lợi cho việc lưu trữ, và bảo quản các siêu dữ liệu khổng lồ Đến những năm gần đây việc phát triển của công nghệ web và internet ở thế hệ 1 ra đời giúp cho thư viện có thể xây dựng được website riêng, thư viện cá nhân phát triển với các vật mang tin số hóa

Sự tác động của CNTT-Truyền thông đến thư viện là tạo ra môi trường làm việc điện tử (số hóa) trong hoạt động TTTV Các thư viện sử dụng các công cụ điện

tử để điều hành các thủ tục thư viện như đặt mua, các dịch vụ cung cấp tài liệu điện

tử Nguồn tin điện tử tăng lên như tạp chí điện tử, sách điện tử, CSDL trên đĩa cứng

và CD-ROM Internet trên mạng nội bộ (Intranet), nguồn tin được nối mạng, phép tạo lập mạng và chia sẻ các nguồn tin, giao lưu bằng công cụ điện tử như email, chat, thông báo cũng phát triển

Như vậy, hoạt động thông tin thư viện đã áp dụng rất sớm các thành tựu của khoa học công nghệ Trong đó phải kể đến việc ứng dụng CNTT trong việc tổ chức, quản lý và khai thác thông tin Cùng với xu hướng đó là các xu hướng đang có tác động mạnh mẽ đến hoạt động TTTV như chuẩn hóa, thống nhất, trao đổi – chia sẻ

và cung cấp dữ liệu điện tử

Những thành tựu của khoa học công nghệ được ứng dụng trong hoạt động TTTV đã chứng minh tầm quan trọng của nó trong hoạt động TTTV, quá trình

Trang 18

20

HĐH hoạt động TTTV trở thành xu thế phát triển tất yếu trong sự nghiệp TTTV ngày nay

1.1.2.2 Hoạt động thông tin thư viện đại học trước nhu cầu xã hội

Bước đi quan trọng của nền giáo dục đại học Việt Nam là việc thay đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành về “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Những năm gần đây, nhiều trường đại học ở Việt Nam đã bắt đầu triển khai đào tạo theo hướng học tín chỉ - mô hình đào tạo phổ biến trong các trường đại học tại nhiều nước trên thế giới

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, một số trường đại học đã quan tâm đầu

tư cho phát triển thư viện từ nguồn vốn ngân sách và một số đề tài hợp tác với nước ngoài quy mô nhỏ bé Sang đầu thế kỷ XXI, hơn 20 thư viện đại học từ Bắc vào Nam đã được đầu tư lớn với số kinh phí từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới Ngoài

ra, một số trường được sử dụng nguồn vốn ngân sách rất lớn (Đại học Bách khoa

Hà Nội 300 tỷ đồng Việt Nam) hoặc các đề tài tài trợ nước ngoài (Đại học Thủy Lợi, Đại học Hàng Hải) Đặc biệt, từ quỹ của tổ chức Atlantic Philanthrophie (Mỹ),

4 trung tâm học liệu lớn được xây dựng tại Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế, Đại học Cần Thơ và Đại học Thái Nguyên với tổng chi phí từ 5 đến 10 triệu đô la Mỹ cho mỗi trường Kho tài liệu (kể cả tài liệu in ấn và tài liệu số hóa) phát triển rất nhanh với chất lượng khá cao Trang thiết bị thư viện chuyên dụng, hệ thống cổng từ kiểm soát tài liệu và hệ thống mạng máy tính hiện đại được lắp đặt thay thế cho hệ thống thiết bị lỗi thời và lạc hậu trước đây Trình độ năng lực của cán bộ thư viện được nâng cao Điều quan trọng hơn là công tác tổ chức, quản lý và phục vụ thông tin thư viện đã đổi mới theo các quy chuẩn tiên tiến trên cơ sở một phần mềm quản trị thư viện tích hợp

Đứng trước sự đổi mới giáo dục đại học và xu thế hội nhập khu vực và quốc

tế, các thư viện trường đại học Việt Nam đã không ngừng được đầu tư trang thiết bị,

cơ sở vật chất, nguồn nhân lực,… nhằm thay đổi phương thức phục vụ từ các mô

Trang 19

Các chuẩn nghiệp vụ TTTV như: Sử dụng khổ mẫu biên mục MARC21, MARC21VN; chuẩn ISO 10161 cho mượn liên thư viện, hỗ trợ đề mục chủ đề, từ khóa không kiểm soát, quy tắc biên mục ISBD, AACR2, LC-In-Publication Catalog, TCVN4743-89,…

Tuy nhiên, nhìn bức tranh HTTTTV các trường đại học Việt Nam, trừ một số Trung tâm học liệu và các thư viện đại học quốc gia được đầu tư xây dựng từ cơ sở

hạ tầng cho đến thiết bị phần cứng và phần mềm một cách khá bài bản theo đặc thù

và tiêu chuẩn quốc tế về thông tin, thư viện còn hầu hết các trung tâm thư viện khác đều đầu tư trang bị nhỏ lẻ, chắp vá thiếu đồng bộ hoặc thiếu kinh nghiệm, tư vấn của chuyên gia khi thiết kế và trang bị dẫn đến còn nhiều bất cập, hiệu quả khai thác

sử dụng chưa cao,…

Trên đây là những bước chuyển mình mà các thư viện Việt Nam nói chung

và thư viện đại học nói riêng đang hướng tới nhằm trang bị đầy đủ và sẵn sàng hội nhập với các thư viện trên thế giới Tuy nhiên, để có thể theo kịp với sự phát triển các thư viện số, thư viện điện tử đang hoạt động hiệu quả và tiện lợi trên thế giới thì các thư viện đại học tại Việt Nam cần phải có những bước đi tắt đón đầu để đạt được các mục tiêu phát triển thư viện trong tương lai gần Đó là mục tiêu xây dựng được các mô hình thư viện số theo các tiêu chuẩn quốc tế, chia sẻ và liên thông với khu vực và quốc tế

Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã được Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII nêu rõ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy

Trang 20

22

tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi,

có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe và là người thừa

kế xây dựng chủ nghĩa xã hội Những nội dung cơ bản của chiến lược bao gồm:

- Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu: Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển

- Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển xã hội, những tiến

bộ khoa học và công nghệ và củng cố an ninh quốc phòng

- Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục và đào tạo

- Nâng cao chất lượng và đảm bảo đủ số lượng giáo viên cho toàn hệ thống giáo dục, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, các điều kiện dạy và học, phấn đấu sớm có một số cơ sở đại học đạt chuẩn quốc tế

Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo là một điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững trên con đường hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa”2

Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi

mới Quản lý giáo dục Đại học giai đoạn 2010-2012 có nêu: “Triển khai việc phân cấp mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phát huy cao độ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường, trên cơ sở các quy định của nhà nước và của các trường, tăng cường công tác giám sát và kiểm tra của Nhà nước, của xã hội và của bản thân các cơ sở” Qua đó, xác định tinh thần:

Nhà trường tự chủ, Nhà nước quản lý đối với các trường đại học trong công cuộc đổi mới giáo dục đại học

2

http://vietbao.vn/Giaoduc/Đoi-moi-co-tinh-cach-mang-nen-giao-duc-va-dao-tao-cua-nuoc-nha/40219356/202/)

Trang 21

xã hội;

- Phát triển các chương trình giáo dục học theo hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp ứng dụng Bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình của toàn hệ thống Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp đảm bảo chất lượng và hệ thống kiểm định giáo dục đại học, xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế;

- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên/1 vạn dân (2010) và 450/1 vạn dân (2020), trong đó 70 - 80% sinh viên theo học có chương trình nghề nghiệp ứng dụng, khoảng 40% sinh viên ngoài công lập;

- Nâng tầm đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học: Bảo đảm

tỷ lệ sinh viên/1 giáo viên không quá 20 Đến năm 2010 ít nhất 40% giáo viên có trình độ Thạc sĩ, và 25% đạt trình độ Tiến sĩ, đến 2020 có ít nhất 60% giáo viên có trình độ Thạc sĩ và 35% trình độ Tiến sĩ;

- Nâng cao rõ rệt quy mô hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học Các trường đại học lớn phải hình thành trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ mạnh của cả nước, nguồn thu hoạt động khoa học và công nghệ phải chiếm 15% tổng thu sự nghiệp năm 2010 và 25% năm 2020;

- Hoàn thiện chính sách phát triển theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học

Để thực hiện những tư tưởng chỉ đạo Nghị quyết trên, trong những năm tới Trường ĐHSPNTTW sẽ cần phải xác định theo các định hướng sau:

- Duy trì việc tăng quy mô đào tạo, chú trọng việc tăng quy mô đào tạo sau đại học tại tất cả các ngành đào tạo;

Trang 22

- Xã hội hóa giáo dục bằng nhiều hình thức, đa dạng hóa loại hình đào tạo để thích nghi với nhu cầu học tập của nhân dân, tăng cường việc hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, viên chức;

- Tăng cường liên doanh, liên kết đào tạo các chương trình tiên tiến của quốc

tế để đẩy nhanh việc tiếp cận chuyển giao công nghệ về đào tạo và nghiên cứu khoa học của thế giới;

- Tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ trình độ cao, chuyên nghiệp, và có tâm với nghề; đẩy mạnh việc đưa cán bộ ra nước ngoài đào tạo bằng nhiều nguồn khác nhau;

- Tăng cường thu hút đội ngũ chuyên gia chất lượng cao là Việt kiều về tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại trường dài hạn;

Củng cố tổ chức bộ máy, tăng quyền tự chủ cho các đơn vị

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI nhấn mạnh việc đổi mới tư duy giáo dục một cách nhanh nhất, tiếp cận trình độ giáo dục khu vực và thế giới, ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học; đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học đảm bảo đủ số lượng, chất lượng giáo viên ở tất

cả các cấp, điều chỉnh mức thu học phí hợp lý để đảm bảo chất lượng đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo; có lộ trình cụ thể cho việc chuyển một số trường công lập sang dân lập, tư thục; phát triển nhanh nguồn lực có chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành

Trong chiến lược đổi mới giáo dục đại học Việt Nam đến năm 2020 đã xác định 7 nhiệm vụ quan trọng sau:

- Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống Nhà trường;

Trang 23

25

- Xây dựng chương trình và quy mô đào tạo;

- Phát triển đội ngũ giảng viên;

- Tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai;

- Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học;

- Đổi mới quản lý giáo dục đại học;

- Nâng cao sức mạnh cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học trong quá trình hội nhập quốc tế.3

Với xu thế thông tin toàn cầu như hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống thông tin phục vụ cho các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, giải trí,… của cán bộ, giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh,… trong trường là một nhu cầu không thể thiếu được Hệ thống thông tin này phải được xây dựng một cách hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu sử dụng hiện tại cũng như trong tương lai Hệ thống thông tin được xây dựng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin

và truyền thông đa phương tiện cho phép quản lý, lưu trữ và tìm kiếm, khai thác một cách dễ dàng, đồng thời bảo đảm được vấn đề bảo mật

Xây dựng một giải pháp thư viện điện tử tích hợp cung cấp những công cụ mới cho người quản lý thư viện, giảng viên, nhà nghiên cứu khoa học và sinh viên tạo môi trường dạy, học và nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội là vấn đề đang được các trường đại học, cao đẳng hết sức quan tâm

Đặc biệt, trong điều kiện tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu phải chuyển sang hướng xây dựng chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, sự bùng

nổ thông tin trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tức là chỉ đủ thời gian đào tạo cho sinh viên những phần kiến thức cốt lõi (phần kiến thức phải học dưới sự hướng dẫn của thầy) của ngành nghề, đồng thời rèn luyện cho sinh viên có khả năng tự nghiên cứu các phần kiến thức có thể tự học được ngay cả khi không có thầy hướng

3

http://www.vietnamplus.vn/Home/Cong-bo-toan-van-cac-van-kien-Dai-hoi-XI-cua-Dang/20113/82074.vnplus)

Trang 24

26

dẫn thì việc các trường đại học, cao đẳng cần có một thư viện hiện đại là một yếu tố

vô cùng quan trọng, nó góp phần phục vụ có hiệu quả nhất cho công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Mặt khác, trong sự bùng nổ của thông tin hiện nay, các tư liệu số tỏ ra có ưu thế hơn với việc chiếm ít không gian lưu trữ (được lưu bên trong các ổ cứng máy tính) thay vì dưới dạng giấy in chất đống trên các kệ sách Các tư liệu dưới dạng số hóa thuận tiện hơn cho công tác bảo quản (ít chịu tác động của mối mọt, và các tác động môi trường khác) Đặc biệt, với việc phổ thông Internet, tài liệu số dễ dàng được luân chuyển trao đổi qua lại giữa các nơi khác nhau, giữa các đơn vị với nhau, với thế giới bên ngoài sẽ được cập nhật thường xuyên, liên tục Do vậy, các thư viện điện tử với việc ứng dụng CNTT cho thư viện đang ngày càng phát triển là một yếu

Trải qua hơn 40 năm hoạt động và trưởng thành, Trường ĐHSPNTTW luôn gắn kết sự nghiệp đào tạo của mình với sự phát triển của nền giáo dục đại học và sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước

Thực hiện chủ trương đổi mới sự nghiệp đào tạo và tinh thần “nhà trường tự chủ”, Trường ĐHSPNTTW đã không ngừng đổi mới công tác tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo; phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; xây dựng cơ

sở vật chất hiện đại phục vụ công tác đào tạo trong Nhà trường

Trường ĐHSPNTTW là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học về giáo dục nghệ thuật, đặc biệt là đào tạo giáo viên Âm nhạc, giáo viên Mỹ thuật ở các trình độ từ trung cấp, cao đẳng đến đại học Mục tiêu phấn đấu trong kế hoạch

2010 - 2015 của Nhà trường là: “Đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học về đào tạo loại hình giáo viên âm nhạc, mỹ thuật và các môn nghệ thuật khác ở trình độ

Trang 25

27

sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, để giảng dạy và hoạt động ở các trường phổ thông và các trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân và phục vụ nhu cầu xã hội”.[37,tr.6]

Một số đặc điểm học tập, giảng dạy tại Trường ĐHSPNTTW

Chương trình học tập, giảng dạy của Trường ĐHSPNTTW có đặc điểm sau:

- Nội dung kiến thức chương trình học tập rất lớn, sinh viên học lý thuyết

kiến thức đại cương và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm buổi sáng thì buổi chiều học chuyên môn, hoặc ngược lại, nên sinh viên ít có thời gian để tự học

- Phương tiện và trang thiết bị học tập, thực hành của sinh viên còn nhiều thiếu thốn: Là một trường đại học mới được nâng cấp trên cơ sở Trường Cao đẳng

Sư phạm Nhạc - Họa Trung ương nên còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về trang thiết

bị và phương tiện giảng dạy cũng như học tập Tuy nhiên, hiện tại Trường cũng đã được cung cấp những trang thiết bị nhất định phục vụ cho việc học tập và giảng dạy Cụ thể: thư viện với hàng nghìn đầu sách, tạp chí về chuyên ngành sư phạm

mỹ thuật và âm nhạc và các khoa học khác; phòng thực tập tin học với số lượng trên

50 máy tính; phòng Lab phục vụ cho việc học ngoại ngữ của sinh viên; các phòng học lý thuyết được trang bị hệ thống máy chiếu overhead và video

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đang được từng bước HĐH Những cơ

sở vật chất này giúp cho hoạt động học tập của sinh viên thuận lợi để tích lũy tri thức, nâng cao tay nghề

- Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Nhà trường đã có gần 40 năm hoạt

động với đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm giảng dạy, hầu hết các cán bộ giảng viên đều có trình độ Thạc sĩ trở lên Tuy nhiên, do mới được nâng cấp thành trường đại học nên chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy của giảng viên còn chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu đào tạo trong giai đoạn mới

Cùng với điều này thì yêu cầu về giáo trình học tập chính thống cho sinh viên cũng là một vấn đề cấp thiết của trường hiện nay Nhiều môn học do không có giáo trình, đặc biệt những giáo trình mang tính đặc thù, nên sinh viên suốt buổi học phải chép bài đã tạo ra sự ức chế lớn cho sinh viên Mặc dù đội ngũ giảng viên của

Trang 26

28

nhà trường đang từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học, lấy người học làm trung tâm, song phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn mang tính truyền thống đọc - chép

Điểm khác biệt của sinh viên Trường ĐHSPNTTW với sinh viên các trường khác là các em đều có năng khiếu nghệ thuật, các em rất mạnh dạn và ưa hoạt động, tuy nhiên, mức độ năng lực sáng tạo của các em là không đồng đều do các em được tuyển từ nhiều vùng miền khác nhau: thành phố, nông thôn, vùng sâu, vùng xa và một số sinh viên thuộc chỉ tiêu đào tạo của địa phương Hà Giang, Điện Biên, Lào Cai Và thông thường điểm tuyển sinh của các em ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa thường thấp hơn so với các em ở thành phố Vì đặc thù là trường nghệ thuật, nên một số bộ phận không nhỏ trong sinh viên nhận thức chưa đúng về mục tiêu đào tạo của nhà trường, thích học nghệ thuật biểu diễn để thành họa sĩ, ca sĩ, nên đã có thái

độ lơ là trong việc học tập, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực sáng tạo của sinh viên

1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ

Là đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục - Đào tạo, Trường có chức năng:

- Đào tạo giáo viên ngành âm nhạc, mỹ thuật có trình độ đại học, sau đại học

- Nghiên cứu và ứng dụng kết quả NCKH sư phạm âm nhạc - mỹ thuật và các ngành khác trong lĩnh vực nghệ thuật cho các bậc học phổ thông, trung cấp, đại học và cho xã hội

- Tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật có quy mô địa phương và toàn ngành

Trang 27

29

- Liên kết hợp tác về đào tạo, NCKH với các cơ sở trong và ngoài nước như Đại học Hoa Lư Ninh Bình, Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa, Lào, Đan Mạch,…

Để góp phần đạt được những mục tiêu trên, trong những năm tới Trường ĐHSPNTTW sẽ cần nhìn nhận và thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, sử dụng công nghệ thông tin tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó với thực tiễn phát triển của các địa phương trong cả nước; đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp kinh tế xã hội của đất nước

- Mở rộng quy mô đào tạo một cách hợp lý, phát triển quy mô đào tạo cả bình diện chung và mũi nhọn trên cơ sở đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả; gắn đào tạo, nghiên cứu khoa học với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH

- Tổ chức đa dạng các loại hình đào tạo, chú trọng việc đào tạo trình độ cao với chất lượng tiếp cận khu vực và trên thế giới

- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ (Cán bộ giáo dục, Cán bộ quản lý); phát triển cơ sở vật chất bằng nhiều nguồn lực, xây dựng các phòng thí nghiệm, tập trung nghiên cứu mũi nhọn để đi tắt, đón đầu sự phát triển của khoa học và công nghệ

- Đẩy mạnh nâng cấp đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng: thư viện, giảng đường,… cho sinh viên;

Hình thành nên con người Việt Nam phát triển toàn diện, Trường ĐHSPNTTW luôn sẵn sàng hợp tác đào tạo, NCKH, trao đổi chuyên môn với các trường, các địa phương và các nước trên thế giới

Trang 28

30

- Giúp Ban Giám hiệu điều hành các hoạt động của Trường là các phòng ban chức năng: phòng Tổ chức cán bộ, phòng Hành chính tổng hợp, phòng Đào tạo, phòng Khoa học Công nghệ, phòng Hợp tác Quốc tế, phòng Quản trị - Thiết bị, phòng Tài chính - Kế toán, phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng, phòng Công tác học sinh - sinh viên

- Trường có 08 khoa/bộ môn trực thuộc, 09 phòng chức năng, 01 viện nghiên cứu, 02 trung tâm, 01 tạp chí, 01 website và các tổ chức đoàn thể

(Phụ lục 1: Sơ đồ tổ chức Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương)

Với tổng số lượng cán bộ và giảng viên là 273 người Trong đó cán bộ hành chính 97 người: 52 biên chế, 41 hợp đồng đóng bảo hiểm; giảng viên 176: biên chế

137 người, 28 hợp đồng bảo hiểm Trình độ chuyên môn có 01 Phó Giáo sư, 01 Tiến sĩ khoa học, 07 Tiến sĩ, 121 Thạc sĩ; 01 Nghệ sĩ ưu tú, 01 Nhà giáo ưu tú, 30 giảng viên chính và tương đương, 62 Thạc sĩ, 28 hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam,

12 hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam Hiện nay có gần 100 cán bộ, giảng viên đang theo học nghiên cứu sinh và cao học

Tổng số sinh viên tính đến năm 2012 là 5.709 sinh viên Trong đó số sinh viên chính quy đại học: 2.540 sinh viên, cao đẳng chính quy: 286 sinh viên, liên thông chính quy: 374 sinh viên, liên thông tại chức: 2.509 sinh viên

1.3 Vai trò của Trung tâm Thông tin - Thư viện đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Trước những yêu cầu về đổi mới toàn diện về giáo dục, xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược phát triển của ngành giáo dục và chiến lược phát triển của Trường ĐHSPNTTW, Trung tâm có vai trò rất quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, Trung tâm có vai trò cung cấp thông tin và

tư liệu các ngành tri thức đặc biệt là thông tin tư liệu về khoa học công nghệ, khoa học kinh tế, thông tin về văn hóa nghệ thuật,… nhằm đáp ứng các nhu cầu NCKH, giảng dạy, học tập và các hoạt động của Nhà trường cũng như của ngành giáo dục, văn hóa và nghệ thuật

Trang 29

31

TTTTTV Trường ĐHSPNTTW hình thành và phát triển cùng với sự hình thành của Nhà trường; tiền thân là một bộ phận (thư viện) nằm trong các phòng Giáo vụ (năm 1967), Quản trị Thiết bị (năm 1989), Đào tạo (phòng Giáo vụ cũ) (năm 1998), phòng Nghiên cứu khoa học (nay là phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, năm 2002) Ngày 25/11/2008, Hiệu trưởng Trường ĐHSPNTTW

ký quyết định số 11/QĐ-ĐHSPNTTW-TC thành lập TTTTTV trên cơ sở bộ phận thư viện nằm trong phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

* Chức năng:

TTTTTV Trường ĐHSPNTTW là “giảng đường thứ hai” của cán bộ, giảng viên và sinh viên của Nhà trường Trung tâm thực hiện chức năng: thông tin, thu thập, xử lý, bảo quản, cung cấp và phổ biến thông tin tư liệu bằng nhiều hình thức khác nhau

* Nhiệm vụ:

- Tham gia đóng góp ý kiến cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin, tư liệu phục vụ cho quá trình đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Trường

- Tổ chức quản lý và điều hành các hoạt động thông tin thư viện nhằm phục

vụ cho nhu cầu học tập, giảng dạy và NCKH;

- Xây dựng kế hoạch tổ chức và điều phối HTTTTV; Nghiên cứu, thu thập,

xử lý, thông báo và cung cấp tin, tư liệu về khoa học, giáo dục, ngoại ngữ, công nghệ, phục vụ cán bộ, giảng viên và sinh viên;

Trang 30

32

- Xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy cập và tìm kiếm thông tin tự động hoá; tổ chức cho bạn đọc khai thác, sử dụng thuận lợi và có hiệu quả kho tin và tài liệu của Trung tâm và các nguồn tin bên ngoài;

- Thực hiện công tác tổ chức sắp xếp, lưu trữ, bảo quản kho tư liệu; Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật phục vụ công tác TTTV;

- Tổ chức các hình thức bồi dưỡng, trang thiết bị kiến thức về hình thức cấu trúc cung cấp tin, các phương pháp tra cứu, tìm kiếm tin và sử dụng thư viện cho cán bộ, giảng viên và sinh viên (CB,GV&SV);

- Phát triển quan hệ trao đổi nguồn lực thông tin với các cơ quan TTTV, các

tổ chức khoa học, các trường đại học trong và ngoài nước Tham gia hoạt động trong Liên hiệp Thư viện các trường Đại học và Liên hiệp Thư viện Việt Nam cũng như các Hiệp hội Thư viện Quốc tế

1.3.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trung tâm trong sự nghiệp đổi mới giáo dục

Để tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động TTTV ở TTTTTV Trường ĐHSPNTTW trong giai đoạn hiện nay, đồng thời chỉ ra phương hướng và giải pháp

cụ thể cho hoạt động TTTV phát triển, góp phần vào việc hoàn thành tốt hơn công tác phục vụ nhiệm vụ giáo dục đào tạo và NCKH của Trường, cần phải nghiên cứu đặc điểm NDT và điều tra nhu cầu tin (NCT) của NDT tại đây

1.3.2.1 Đặc điểm người dùng tin

Tham gia vào hoạt động thông tin ở Trường ĐHSPNTTW là tập thể cán bộ lãnh đạo, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và đông đảo sinh viên của nhà trường

NDT bất kỳ trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào cũng đều bị ảnh hưởng bởi sự phát triển kinh tế xã hội của giai đoạn đó Hiện nay quá trình đổi mới của kinh tế xã hội nói chung và của giáo dục nói riêng có ảnh hưởng sâu sắc đến đội ngũ những người tham gia vào công tác giáo dục và NCKH của Trường ĐHSPNTTW

Đội ngũ cán bộ của Trường trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển trở thành Trường ĐHSPNTTW duy nhất trong nước đã tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng Theo số liệu thống kê của phòng Tổ chức cán bộ, đến nay tổng số cán

Trang 31

33

bộ của trường gồm 273 người trong đó giảng viên là 137 người, chiếm 50,2% Số cán bộ giảng viên là Phó giáo sư 01 người, chiếm tỉ lệ 1%; Có 1 Tiến sĩ khoa học chiếm 1%, 07 Tiến sĩ chiếm tỉ lệ 2,6 %, 121 Thạc sĩ, chiếm tỉ lệ 52,74 %, 152 cử nhân, chiếm 55,67%, 01 nhà giáo ưu tú, 01 nghệ sĩ ưu tú, 30 giảng viên chính và tương đương, 28 hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và Hà Nội, 12 hội viên Hội Nhạc

sỹ Việt Nam Hiện nay có gần 100 cán bộ, giảng viên đang theo học nghiên cứu sinh và Cao học

Ngoài ra, một lực lượng đông đảo tham gia vào hoạt động TTTV của Trường là sinh viên chính quy và không chính quy Năm học 2011 - 2012, tổng số sinh viên của Trường là 5.968 sinh viên cho tất cả các ngành học, trong đó số sinh viên được đào tạo chính quy là 3.075 sinh viên, sinh viên các hệ đào tạo liên kết có

2893 sinh viên

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường ĐHSPNTTW trong giai đoạn hiện nay, cũng như trên cơ sở xem xét nhu cầu thông tin và tài liệu, ta có thể phân chia ra thành 3 nhóm NDT cơ bản sau:

Nhóm 1: Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: (Ban Giám hiệu, trưởng phó các khoa,

các phòng ban chức năng)

Nhóm này tuy số lượng không lớn nhưng đặc biệt quan trọng, họ vừa là NDT vừa là chủ thể thông tin ở Trường ĐHSPNTTW Những cán bộ lãnh đạo vừa thực hiện chức năng quản lý công tác giáo dục đào tạo, vừa là người xây dựng các chiến lược phát triển của Trường ĐHSPNTTW trong ngành giáo dục

Chính vì vậy, thông tin cho nhóm này mang tính tổng kết, dự báo Lượng thông tin có diện rộng, khái quát trên các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, khoa học xã hội và nhân văn, tài liệu chính trị, kinh tế, xã hội, các văn bản tài liệu của Đảng, Nhà nước, của Ngành Khi ra quyết định quản lý, điều hành hoạt động giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học ở Trường ĐHSPNTTW, họ chính là những người cung cấp thông tin có giá trị cao, do vậy cán bộ thông tin cần khai thác triệt để nguồn thông tin này bằng cách trao đổi, xin ý kiến nhằm tăng nguồn thông tin cho công tác thông tin, khi đó họ là chủ thể của hoạt động thông tin

Trang 32

34

NCT của nhóm này rất phong phú Do cường độ lao động của nhóm này cao nên thông tin cung cấp cho họ càng cần phải cô đọng, súc tích Hình thức phục vụ thường là các thông tin chuyên đề, tổng quan, tổng luận, ấn phẩm thông tin, bản tin Phương pháp phục vụ chủ yếu dành cho nhóm đối tượng này là phục vụ từ xa (bằng cách cung cấp đến từng người) theo những yêu cầu cụ thể

Phần lớn cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trường ĐHSPNTTW vẫn tham gia giảng dạy và hoạt động NCKH Do vậy, ngoài những thông tin về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục, nhu cầu của họ còn cần các thông tin có tính chất chuyên ngành như giáo viên và cán bộ nghiên cứu khác

Nhóm 2: Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng viên:

Đây là những chủ thể thông tin năng động và quan trọng trong nhà trường sư phạm Họ vừa là những người cung cấp thông tin qua các bài giảng, các công trình nghiên cứu được công bố, các đề xuất, các dự án, các hội nghị vừa là những NDT thường xuyên, liên tục của các bộ phận thông tin trong trường và ngoài Trường ĐHSPNTTW

Thông tin cho nhóm này là những thông tin có tính chất chuyên sâu, có tính

lý luận và thực tiễn, tính thời sự và liên quan tới các ngành khoa học cơ bản và khoa học giáo dục Hình thức phục vụ thường là các thông tin chuyên đề, thư mục chuyên đề, thông tin chọn lọc về các ngành khoa học cơ bản và khoa học giáo dục cũng như lý luận sư phạm

Hiện nay trong chủ trương đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp học, những tài liệu có nội dung liên quan đến phương pháp sư phạm, công nghệ dạy học là những tài liệu có tính chất quan trọng tới nhóm NDT này bởi thông qua sự truyền đạt, giảng dạy của họ, lớp NDT là sinh viên sẽ được tiếp nhận một cách trực tiếp những nội dung thông tin, phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu của mình

Nhóm 3: Nhóm sinh viên: Đây là những chủ thể thông tin đông đảo và biến động

nhất trong Trường ĐHSPNTTW

Với NDT là sinh viên: Do yêu cầu đòi hỏi đặt ra trong học tập, nghiên cứu, nhóm người này thực sự đông đảo, có nhiều biến động và NCT của họ rất lớn Việc đổi mới phương pháp dạy - học đã khiến nhóm này ngày càng có những biến

Trang 33

35

chuyển về phương pháp học tập Hiện nay phương pháp tự học, tự nghiên cứu đang được chú trọng và quan tâm rất lớn của hầu hết sinh viên trong Trường ĐHSPNTTW

Tùy theo từng chuyên ngành theo học mà những thông tin, tài liệu cần phải phù hợp với nhu cầu cũng như cấp học của nhóm đối tượng này

Do phải học tập trên lớp, thời gian tự nghiên cứu còn ít nên thông tin phục

vụ cho sinh viên cần đáp ứng cụ thể, chi tiết và đầy đủ Hình thức phục vụ cho họ chủ yếu là thông tin phổ biến về những tri thức cơ bản dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo hoặc một số ít là các bài viết trong tạp chí và những luận

án, luận văn có tính chất cụ thể, trực tiếp phục vụ cho môn học và chuyên ngành đào tạo về sư phạm, giáo dục cũng như chuyên ngành khoa học mà họ đang trực tiếp học tập, nghiên cứu

Trường ĐHSPNTTW là một trung tâm giáo dục đào tạo thực hiện nhiệm vụ cung cấp những thế hệ giáo viên chuyên ngành sư phạm mỹ thuật, âm nhạc, thiết kế thời trang, thiết kế đồ họa, văn hóa nghệ thuật , là nơi trực tiếp NCKH, đặc biệt là khoa học giáo dục Chính vì vậy, theo trình độ ta có thể phân chia NDT ở đây theo học hàm, học vị, Tiến sĩ, Thạc sĩ, cử nhân, Phó giáo sư,

Tuy nhiên, sự phân chia thành nhóm NDT ở Trường ĐHSPNTTW như trên chỉ là tương đối Bởi mỗi cán bộ, giảng viên đều được coi là cán bộ lãnh đạo, quản

lý hay nghiên cứu khi họ tham gia vào các hoạt động chuyên ngành, thực hiện nhiệm vụ chính của mình

Ngoài ra, NDT ở Trường có đời sống vật chất và tinh thần phong phú, họ từ khắp các địa phương, các trường học trên mọi miền đất nước, thuộc nhiều lứa tuổi,

sở thích khác nhau về học tập và công tác tại Trường ĐHSPNTTW

Từ những đặc điểm riêng của từng nhóm đối tượng như trên, để làm tốt công tác phục vụ thông tin tài liệu, chúng ta phải tiến hành xem xét, đánh giá NCT của

họ, trên cơ sở đó đáp ứng hiệu quả NCT của NDT ở Trường ĐHSPNTTW

Trang 34

36

4.3% 16.9%

78.8%

Cán bộ lãnh đạo Cán bộ giảng viên Học sinh - Sinh viên

Biểu đồ 1.1 Đối tượng người dùng tin Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật

Trung ương

1.3.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin

Nhu cầu tin là những đòi hỏi khách quan về thông tin của các cá nhân, tập thể hay nhóm xã hội nhằm đảm bảo các hoạt động nhận thức và thực tiễn xã hội Các hoạt động thông tin của cá nhân, nhóm tập thể đều phát sinh từ NCT và nhằm thoả mãn NCT của các đối tượng đó NCT ở Trường ĐHSPNTTW dưới ảnh hưởng của công cuộc đổi mới giáo dục đã có nhiều biến đổi, phong phú và sâu sắc hơn

Trong thời kỳ đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội có xu hướng tốt hơn, trong đó có CB,GV&SV của Trường ĐHSPNTTW Đời sống vật chất được cải thiện, đời sống tinh thần cũng phong phú hơn, đã không còn các nỗi

lo thường nhật như thời kỳ bao cấp, vì vậy họ đã có nhiều thời gian hơn cho công việc và cho giải trí

Mặt khác, với yêu cầu của chương trình đào tạo của Nhà trường, yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học, vấn đề tự học, tự nghiên cứu được hết sức chú trọng Một số lượng lớn NDT là sinh viên đã tận dụng mọi thời gian để có thể thu thập thông tin, phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí

Những NCT của những nhóm NDT trên đã cơ bản chi phối hoạt động thông tin ở Trường ĐHSPNTTW

Các nhóm đối tượng dùng tin được chọn lựa để điều tra là các cán bộ lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên đang học tập, công tác tại Trường ĐHSPNTTW

Trang 35

37

615 phiếu điều tra đã được gửi tới các phòng chức năng, các khoa và các sinh viên, học viên của các khoa Trong đó số phiếu gửi đến các cán bộ quản lý, lãnh đạo là 25 phiếu, các phòng chức năng và các khoa cho cán bộ, giảng viên là 90

và đến tận tay các sinh viên là 500 phiếu

Luận văn đã nhận được 486 phiếu trả lời, đạt 79% trên tổng số phiếu gửi đi Trong đó số phiếu nhận được của cán bộ quản lý, lãnh đạo là 21 phiếu, đạt 4,3%, của cán bộ nghiên cứu, giảng viên là 82 phiếu, đạt 16,9% và của sinh viên là 383 phiếu, đạt 78,8%

Qua phân tích kết quả thu được từ các câu hỏi có trong mẫu, luận văn đã thu được một số vấn đề trong NCT của NDT ở Trường ĐHSPNTTW

* Thời gian dành cho việc đọc, nghiên cứu tài liệu: Kết quả điều tra cho thấy, số

NDT dành thời gian cho việc đọc, nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin như sau:

Đối tượng người

dùng tin

Không có thời gian Từ 1-2h Từ 2-3h Từ 3-4h

Cán bộ lãnh đạo,

quản lý 2 50,00 1 25,00 1 25,00 0 0 Cán bộ nghiên cứu, giảng

viên 3 14,28 12 57,16 5 23,80 1 4,76 Sinh viên 2 2,78 9 12,5 18 25,00 43 59,72

Tổng số 7 7,21 22 22,68 24 24,74 44 45,36

Bảng 1.1 Thời gian thu thập thông tin của người dùng tin

Trong tổng số 486 phiếu điều tra, có đa số NDT ở Trường dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu tư liệu và thu thập thông tin, phần nhiều nghiêng về nhóm NDT là sinh viên Bởi đối tượng này thu thập thông tin chủ yếu để giải quyết nhiệm

vụ chính của họ là học tập Theo kết quả điều tra có 45,36% số người dành từ 3-4h thời gian cho việc thu thập và nghiên cứu thông tin (Trong đó sinh viên là 59,72%, cán bộ nghiên cứu, giảng viên 4,76%, cán bộ quản lý 0%); Có 24,74% dành từ 2-3h thời gian (sinh viên là 25%; cán bộ nghiên cứu, giảng viên 23,80%; cán bộ lãnh đạo quản lý 25%) Có 22,68% dành 1-2h thời gian trong đó sinh viên là 12,5%; cán bộ

Trang 36

38

nghiên cứu, giảng viên 57,16%; cán bộ quản lý 25% Còn lại chỉ có 7,21% là không

có thời gian dành cho việc học tập và nghiên cứu

* Lĩnh vực chuyên môn NDT quan tâm: NDT ở Trường ĐHSPNTTW có

một khối lượng NCT hết sức đa dạng và phong phú Xuất phát từ đặc thù chuyên ngành đào tạo mà NCT của họ cũng bị chi phối theo Tuy nhiên, riêng đối với lĩnh vực Mỹ thuật, đặc biệt là tìm hiểu và thưởng thức các tác phẩm hội họa, các trường phái hội họa, các loại hình nghệ thuật nhằm phát huy tính sáng tạo của mình

Chiếm tỉ lệ cao thứ hai trong NCT của NDT ở Trường ĐHSPNTTW là tâm

lý học Tâm lý học là khoa học nghiên cứu về tâm sinh lý con người và có mối quan hệ mật thiết với giáo dục học Hầu như tất cả các chuyên ngành đào tạo, nghiên cứu của trường đều cần và có liên quan đến kiến thức về tâm lý Cho dù NDT là cán bộ quản lý, nghiên cứu hay giảng viên, sinh viên đều phải hiểu biết

về tâm lý của người học, người dạy

Lĩnh vực về khoa học giáo dục, đặc biệt là thông tin về đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp sư phạm và công nghệ dạy học đang thu hút sự quan tâm rất lớn của đông đảo bạn đọc trong Trường ĐHSPNTTW Khoa học giáo dục là một khoa học liên quan đến con người và mang tính xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực ngành nghề của trường sư phạm thì những thông tin dạng này lại càng trở nên cần thiết

Một trong những yêu cầu đặt ra cho giáo dục là phải phù hợp và đáp ứng nhu cầu xã hội Để đảm bảo chất lượng cho mỗi công trình nghiên cứu hay mỗi bài giảng, cần phải nắm vững tình hình phát triển kinh tế xã hội, văn hoá trên thế giới nói chung và của quốc gia nói riêng Chính vì vậy mà NDT ở đây cũng có nhu cầu rất cao về những tài liệu, thông tin thuộc chuyên ngành văn hoá, xã hội, chiếm 52,22%

Một nhu cầu lớn của NDT Trường ĐHSPNTTW trong giai đoạn hiện nay,

đó là nhu cầu thông tin, tài liệu về các lĩnh vực tin học và ngoại ngữ Tài liệu về tin học chiếm tỷ lệ 71% và về ngoại ngữ chiếm 80% Trong xu thế chung của đất nước

ta là hội nhập, phát triển, kèm theo đó là sự phát triển mạnh mẽ, không ngừng của công nghệ hiện đại, điều này buộc mọi người đều phải ý thức để nâng cao trình độ

về mọi mặt trong đó có các kỹ năng về tin học và ngoại ngữ

Trang 37

39

Ngoài ra, một nội dung nữa cũng chiếm tỷ lệ cao là những tài liệu về âm nhạc, chiếm 23,71% Các tác phẩm âm nhạc, cơ sở lý luận về các trường phái âm nhạc, phương pháp giảng dạy âm nhạc,…

Đối với các chuyên ngành khác như quản lý văn hóa, thiết kế thời trang, đồ họa số lượng NCT tương đối đồng đều, do các chuyên ngành này mới được thành lập và số lượng sinh viên cũng ít Tùy theo từng chuyên ngành đào tạo mà NDT ở Trường ĐHSPNTTW tham gia mà có nhu cầu thông tin, tài liệu khác nhau Ví dụ, nhu cầu về quản lý văn hóa chiếm tỷ lệ 14%, thiết kế thời trang chiếm tỷ lệ 12%, đồ họa chiếm tỷ lệ 13%

Lĩnh vực chuyên môn

Cán bộ quản lý, lãnh đạo

Cán bộ nghiên cứu, giảng viên Sinh viên

Quản lý văn hóa 0 0 2 9,52 12 16,66

Thiết kế thời trang 1 25 4 19,04 7 9,72

Bảng 1.2 Lĩnh vực chuyên môn mà người dùng tin quan tâm

Có thể thấy rằng, NDT ở Trường ĐHSPNTTW, ngoài việc quan tâm đến những ngành của mình, họ còn có những nhu cầu khác cơ bản về các nội dung như giáo dục, tâm lý, văn hoá xã hội và tin học, ngoại ngữ

Trong giai đoạn hiện nay, NCT của NDT cao hơn, phong phú và đa dạng hơn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Những thông tin được NDT quan tâm thường được họ khai thác ở các loại hình tài liệu khác nhau, với mục đích đáp ứng cho NCT của mình một cách hữu hiệu nhất

Trang 38

40

Nguồn tài liệu

Cán bộ lãnh đạo, quản lý

Cán bộ nghiên cứu, giảng viên Sinh viên

Luận án, luận văn 0 0 8 38,09 31 43,05

Đề tài nghiên cứu 2 50 5 23,80 52 72,22

Sách giáo khoa phổ thông 0 0 6 28,57 12 16,66

Các nguồn khác 1 25 3 14,28 0 0

Cơ sở dữ liệu 2 50 19 90,47 2 2,77

Bảng 1.3 Nguồn tài liệu hữu ích mà người dùng tin quan tâm khai thác

* Loại hình tài liệu NDT quan tâm: Do tính chất nhóm NDT ở Trường

ĐHSPNTTW có nhiệm vụ, chuyên ngành khác nhau và mục tiêu khác nhau, chính

vì vậy, đã ảnh hưởng đến cách lựa chọn loại hình tài liệu để sử dụng cho mục đích đáp ứng NCT của họ

Trong nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý, thông tin của họ cần phải có tính tổng hợp, khái quát, tính thời sự và dự báo cao, phục vụ thiết thực cho việc ra quyết định Chính vì vậy, những tài liệu họ lựa chọn để sử dụng là các báo cáo khoa học (chiếm 100%), các sách chuyên khảo, các tạp chí và sách tra cứu (đều chiếm tỷ lệ 75%) Một số khác quan tâm đến các đề tài nghiên cứu (50%) và các nguồn khác

Đối với nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng viên, những thông tin họ cần lại có tính cụ thể, tính lý luận và thực tiễn, thông tin phải phù hợp và chính xác Chính vì vậy họ thường tìm đến sử dụng những loại hình tài liệu như báo cáo khoa học (chiếm tỷ lệ 95,23%), sách chuyên khảo (chiếm 100%), các đề tài nghiên cứu (chiếm 90,47%) và các tạp chí (chiếm 85,71%) Một số cán bộ giáo viên có tham gia biên soạn sách giáo khoa phổ thông nên tài liệu là sách giáo khoa phổ thông cũng được họ quan tâm, chiếm 28,57%

Những nhu cầu về sử dụng tài liệu là các giáo trình, luận án, luận văn thường ít được sự chú ý, quan tâm của nhóm đối tượng này

Trang 39

41

Đối với nhóm NDT là sinh viên, do đặc thù của họ là sử dụng thông tin để phục vụ cho mục đích học tập là chính, vì vậy những tài liệu có tính chất tham khảo, bài giảng là những loại hỗ trợ rất đắc lực trong việc tìm tin của nhóm đối tượng này

Cao nhất trong các loại tài liệu được sử dụng là tài liệu dạng giáo trình (chiếm 100%) Những giáo trình được sử dụng thường là có liên quan đến bài giảng tại lớp, có tính chất cẩm nang, giúp sinh viên định hướng được chủ đề cần lĩnh hội và tiếp nhận tri thức từ phía người thầy được nhanh hơn

Các loại hình tài liệu khác cũng được NDT nhóm này lựa chọn sử dụng cho mục đích của mình như sách tra cứu (chiếm 52,77%), tạp chí (chiếm 37,5%), các

cơ sở dữ liệu (chiếm 43,05%) và luận án, luận văn chiếm 72,22% Các loại khác như sách chuyên khảo, sách giáo khoa phổ thông, báo cáo khoa học chiếm tỷ lệ ít hơn so với các loại khác

Với mục đích thoả mãn NCT của mình, NDT đã có những lựa chọn, tiếp cận đến với những mảng thông tin, những loại hình thông tin khác nhau và đã có được những kết quả thu nhận từ phía những người cung cấp thông tin

Cũng theo khảo sát này, tác giả cũng tìm hiểu thêm về độ tuổi của NDT Theo đó, tác giả thu nhận được các kết quả sau: chiếm số lượng đông đảo nhất là

độ tuổi “dưới 25” trong đó phần lớn là sinh viên (67%), đứng thứ hai là độ tuổi “từ

25 – 35” là 19%, thứ ba là độ tuổi “từ 35 - 45” còn các độ tuổi cao hơn chỉ khoảng 1%, Từ đó có thể nhận thấy “dưới 25” và “từ 25 - 35” là hai độ tuổi có NCT cao

nhất do đang trong quá trình tích lũy kiến thức Vì vậy, cần phải đặc biệt quan tâm đến NDT ở hai nhóm tuổi này

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy rằng, NDT của Trường ĐHSPNTTW không chỉ cần biết rõ những thông tin trong lĩnh vực giảng dạy, học tập và nghiên cứu mà họ còn cần hiểu biết thêm rõ ràng và sâu sắc về các lĩnh vực:

- Đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể

- Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước cũng như các hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới

Trang 40

42

NCT của NDT Trường ĐHSPNTTW là rất lớn, đa dạng, chuyên sâu và phong phú nhưng tập trung chủ yếu vào những nội dung về mỹ thuật, khoa học giáo dục và lý luận sư phạm thuộc các chuyên ngành mà nhà trường đào tạo, nghiên cứu Một mảng nhu cầu thông tin khác là những kiến thức xã hội, chính trị tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử của đất nước Vì vậy, đòi hỏi cán bộ TTTV không chỉ nắm vững NCT của từng nhóm hay từng trình độ NDT mà còn phải nắm vững NCT của từng người cụ thể để từ đó có những phương hướng, biện pháp đáp ứng cho phù hợp

1.3.3 Yêu cầu hiện đại hóa Trung tâm Thông tin - Thư viện đối với sự nghiệp đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường, TTTTTV Trường ĐHSPNTTW xác định nhiệm vụ phải hoàn thiện HĐH cơ sở vật chất, trang thiết bị,

cơ cấu tổ chức các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ và phát triển các hoạt động thông tin để phục vụ hiệu quả công tác đào tạo tại cơ sở

Có thể khẳng định con đường mà TTTTTV ĐHSPNTTW đã chọn là đúng đắn, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về HĐH hoạt động thư viện và góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của Nhà trường

Trung tâm đã từng bước thực hiện hóa mục tiêu: “Lấy khoa học công nghệ tiên tiến làm nền tảng; lấy mục tiêu, chương trình đào tạo và NCKH của Trường ĐHSPNTTW làm nội dung hoạt động; lấy thông tin và tư liệu làm phương tiện, phục vụ theo tinh thần trung thực - tận tâm - thân thiện”

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Thư viện, trước hết phải được thể hiện bằng việc hoàn chỉnh nhanh chóng việc xây dựng các CSDL cho vốn tài liệu Xây dựng một số CSDL đặc thù bao gồm: Các loại hình thông tin tư liệu dạng nghe nhìn nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin về văn hoá, nghệ thuật, CSDL thư mục, CSDL toàn văn, CSDL quản lý NDT, Ứng dụng CNTT trong công tác thư viện của Nhà trường để nâng cao chất lượng phục vụ của thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu của CB,GV&SV trong trường là vấn đề rất cần thiết

Ngày đăng: 09/12/2020, 19:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w