Khái niệm Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Thực thi quyền Sở hữu trí tuệ dưới khía cạnh là một mảng quan trọng của bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ, hiểu theo nghĩa khách quan là việc bằng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ NHUNG
KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
(Nghiên cứu trường hợp vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG THỊ NHUNG
KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
(Nghiên cứu trường hợp vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang)
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Hải Yến
Hà Nội, 2016
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 8
9 Kết cấu luận văn 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI CDĐL 9
1.1 Khái quát chung về Chỉ dẫn địa lý và Bảo hộ, Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 9
1.1.1 Khái quát chung về CDĐL 9
1.1.2 Khái quát về Bảo hộ và Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 21
1.2 Khái niệm quản lý và tự quản trong việc Bảo hộ và Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 39
1.2.1 Khái niệm quản lý trong việc Bảo hộ và Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 39
1.2.2 Nội dung của quản lý CDĐL 44
1.3 Ý nghĩa của việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL 46
* Kết luận chương 1 47
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI
CDĐL VẢI THIỀU LỤC NGẠN CỦA TỈNH BẮC GIANG 48
2.1 Giới thiệu tổng quan huyện Lục Ngạn và lịch sử hình thành, đặc điểm phát triển cây vải thiều Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang 48
2.1.1 Tổng quan huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 48
2.1.2 Đặc điểm và tình hình phát triển cây Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang 49 2.2 Thực trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang 51
2.2.1 Thực trạng quản lý trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang 51
2.2.2 Thực trạng tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang 82
2.2.3 Đánh giá sự kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang 86
* Kết luận chương 2 95
CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỰ QUẢN, KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI CDĐL “LỤC NGẠN” CHO SẢN PHẨM VẢI THIỀU TỈNH BẮC GIANG 96
3.1 Công tác quản lý CDĐL của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Bắc Giang 96
3.1.2 Công tác quản lý CDĐL nhìn từ kinh nghiệm Cộng hòa Pháp 97
3.1.2 Công tác quản lý CDĐL tại Hoa Kỳ 99
3.1.3 Kinh nghiệm quản lý CDĐL của Trung Quốc 103 3.1.4 Kinh nghiệm cho quản lý và tự quản CDĐL vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang 107
Trang 53.2 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, tự quản, kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN cho
vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang 108
3.2.1 Nhóm giải pháp công tác “quản lý” CDĐL 109
3.2.2 Nhóm giải pháp cho công tác “ tự quản” CDĐL 110
3.2.3 Nhóm giải pháp giúp tăng cường hiệu quả việc phối hợp giữa quản lý và tự quản CDĐL 111
3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi quyền SHCN đối với CDĐL vải thiều Lục Ngạn 111
* Kết luận chương 3 113
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
Trang 6DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
SHCN : SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CDĐL : CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
SHTT : SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Trang 7sự phát huy sức mạnh của CDĐL dẫn tới hiệu quả còn nhiều hạn chế
- Bắc giang là tỉnh với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, được thiên nhiên ban tặng nên có vùng chuyên canh Vải Thiều lớn nhất cả nước Tới năm 2008 Vải Thiều Lục Ngạn chính thức được xứng danh Tuy nhiên, sau gần 6 năm việc khai thác và phát triển bền vững CDĐL “Lục Ngạn” cho sản phẩm Vải Thiều vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả Với mong muốn kết hợp tốt việc quản lý và tự quản nâng cao chất lượng, mang lại giá trị kinh tế cao cũng như quảng bá hình ảnh cây nông sản thế mạnh của vùng giúp bà con
nông dân thoát nghèo đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài: “Kết hợp giữa
quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL (Nghiên cứu trường hợp Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang)” làm luận
văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
- CDĐL là vấn đề khá mới mẻ Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã tham gia
và tổ chức một số cuộc hội thảo quốc gia, quốc tế bàn về quản lý CDĐL với
các chủ đề sau: “Bảo hộ CDĐL của ASEAN tại thị trường đã xuất khẩu và thị
trường tiềm năng” Hội thảo nằm trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho các
nước ASEAN trong lĩnh vực SHTT (Dự án ECAP III) đã phối hợp với
Trang 8ASEAN và Việt Nam tổ chức vào ngày 20/5/2013 tại Hà Nội; “ Quản lý
CDĐL” do Cục SHTT phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm và Lâm
nghiệp Pháp, Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận tổ chức vào ngày 04/12/2013 tại Thành Phố Phan Thiết Bên cạnh đó có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học liên quan tới Bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL điển hình như:
- Luận văn Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Lê Thị Thu Hà (2010) “Bảo hộ
quyền SHTT dưới góc độ thương mại đối với CDĐL của Việt Nam trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế” tại Trường Đại học Ngoại Thương Trong
nghiên cứu của mình tác giả đã hệ thống hóa, phân tích và hoàn thiện thêm cơ
sở lý luận về bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL dưới góc độ thương mại Đặc biệt tác giả nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Bên cạnh đó luận án đề xuất bốn nhóm giải pháp góp phần phát triển hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL ở Việt Nam: giải pháp hoàn thiện môi trường pháp lý, giải pháp đối với các bộ ngành địa phương, giải pháp đối với các tổ chức tập thể, giải pháp đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh
- Luận văn Thạc sĩ của Ninh Thị Thanh Thúy (2009), “Bảo hộ quyền
SHCN đối với CDĐL theo pháp luật Việt Nam”, trong công trình này tác giả
đi nghiên cứu một cách tổng thể các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo hộ CDĐL, những vấn đề chung cơ bản nhất Đánh giá thực trạng
và tác giả cũng đưa ra yêu cầu, kiến nghị Tác giả cho rằng: cần có một chính sách tổng thể quốc gia về CDĐL, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản dưới luật quy định chi tiết một số vấn đề liên quan đến CDĐL như quản lý CDĐL, quy chế quản lý và sử dụng CDĐL, cơ chế kiểm soát sản phẩm mang CDĐL, sử dụng CDĐL
- Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thanh Lâm (2010), “Bảo hộ
quyền SHTT trong bối cảnh hội nhập và xây dựng nền kinh tế tri thức”, Viện
Trang 9Tài Nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, tác giả nhận định rằng: Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc Xây dựng các văn bản Pháp Luật về SHTT nhưng vấn đề thực thi là một điểm yếu cần khắc phục Vì trên thực tế tình trạng vi phạm luật SHTT và xâm phạm quyền SHTT đang biểu hiện ở các mặt: có tính phức tạp và dấu hiệu khá phổ biến, mức độ nghiêm trọng của tình trạng xâm phạm đang gia tăng
Một số nguyên nhân được tác giả đề cập tới: Cơ chế đảm bảo thực thi chưa được phát huy đúng mức; các tổ chức đảm bảo thực thi chưa phù hợp vì hiện tại các tòa án và cơ quan thực thi SHTT có rất ít cán bộ được đào tạo về vấn đề này; sự hiểu biết của xã hội còn hạn chế và do mặt trái của quá trình hội nhập
Tác giả đưa ra 4 giải pháp và cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp
- Tác giả Lê Thị Thu Hà (2011), “Quản lý CDĐL ở Việt Nam nhìn từ
góc độ kinh nghiêm của Pháp”, Bảo hộ thương hiệu Ở nghiên cứu này tác giả
tập chung tìm hiều kinh nghiệm của Pháp trong công tác quản lý CDĐL và rút
ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ở Pháp việc quản lý CDĐL bao gồm: tự quản lý; quản lý nội bô; quản
lý ngoại vi
Tác giả cho rằng: thực tiễn quản lý CDĐL ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy hoạt động CDĐL dựa trên mô hình của Pháp và Châu Âu nhưng trong quá tình thực những nội dung của Việt Nam còn nhiều bất cập.Bởi vậỵ tác giả cho rằng việc nghiên cứu và học tập kinh nghiệm mô hình quản lý CDĐL của Pháp là cần thiết
- Bên cạnh đó, TS Lê Thu Hà lại có hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu bảo hộ CDĐL dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ Từ đó, tác giả đúc kết một số kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam TS Lê Thu Hà
(2010), “Bảo hộ CDĐL dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ”,
Học viện Tư pháp, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử
Trang 10Trong nghiên cứu này tác giả tập chung nghiên cứu kinh nghiệm bảo
hộ CDĐL theo hệ thống bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là nhãn hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ Tác giả đi sâu nghiên cứu một số nguyên tắc bảo hộ CDĐL dưới hình thức bảo hộ nhãn hiệu của Hoa Kỳ như: Khẳng định quyền tư hữu đối với CDĐL dưới những giám sát của tập thể và cộng đồng; Xây dựng quan điểm kiểm soát chất lượng trên hai góc độ từ sản phẩm và từ doanh nghiệp; Chính sách quản lý phù hơp đối với sản phẩm mang CDĐL Và cuối cùng tác giả đưa ra nhận định: “Luật SHTT Việt Nam tuy đã sửa đổi nhưng vẫn chỉ mang tính chất nền tảng chưa có hướng dẫn triển khai trên thực tiễn”
- Công trình nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn của nhóm tác giả: Trương Thị Minh, Bùi Minh Thắng, Uông Thị Nga và Trịnh Văn Tuấn
(2008), “Mô hình hệ thống quản lý nội bộ CDĐL Vải Thiều Thanh Hà”, Tạp
chí Khoa học và Công nghiệp Việt Nam Với nội dung nhấn mạnh vai trò của quản lý nội bộ, nhóm tác giả đã thu được kết quả nghiên cứu ý nghĩa khi vận hành thử mô hình như sau: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng Vải thiều Thanh Hà; Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý CDĐL Vải thiều Thanh Hà; Đưa ra được các yêu cầu của việc xây dựng với hệ thống tổ chức giám sát nội bộ; Xây dựng quy chế chất lượng Vải thiều mang CDĐL; Mô hình hệ thống chất lượng (cách thức vận hành của mô hình quản lý chất lượng); Tính toán đưa ra các điều kiện để đảm bảo tính bền vững của mô hình Từ đó, nhóm tác giả rút ra bài học kinh nghiệm từ mô hình: Lựa chọn kênh phân phối để tổ chức triển khai kênh phân phối có sử dụng nhãn mác; lựa chọn con người thực hiện công tác quản lý chất lượng
- Bộ Khoa học Công nghệ- Cục SHTT (2007), “Xây dựng hệ thống
quản lý dùng cho nông sản” Tác phẩm khái quát các vấn đề chung về quản
lý CDĐL và mô hình chung về hệ thống quản lý CDĐL với các nội dung chi tiết về quản lý CDĐL Cuốn sách được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu kinh
Trang 11nghiệm của các nước và thực tế hỗ trợ triển khai các hoạt động quản lý CDĐL
ở Việt Nam
- Đáng chú ý hơn cả: Cục SHTT (2010) “Quản lý CDĐL ở Việt Nam:
Khó khăn và giải pháp”, Hội thảo quản lý CDĐL ở Việt Nam tại Hà Nội Qua
đây tác giả hệ thống hóa các văn bản pháp luật liên quan CDĐL; Thực tiễn quản lý CDĐL “Quản lý CDĐL là một công việc mới nên trong công tác triển khai có gặp những khó khăn nhất định”
Tác giả cho rằng: Để phát triển CDĐL ở Việt Nam cần hoàn thiện pháp luật về quản lý CDĐL ở Việt Nam, cũng như việc đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và các nhà sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý của các tổ chức tập thể và cần quan tâm tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn quản lý CDĐL
- Ngoài ra còn một số tác phẩm với nội dung phong phú và có ý nghĩa
tham khảo sâu sắc như: Daniele Giovannucci (2009), “Hướng dẫn CDĐL-
Kết nối sản phẩm và xuất xứ sản phẩm”, Trung tâm thương mại quốc tế 2009
Với nội dung phong phú, hữu ích cuốn sách nghiên cứu về việc xử lý CDĐL; Lưu dữ các trường hợp điển hình nhất rồi rút ra bài học từ các nghiên cứu thực tiễn trong lĩnh vực này Từ đó khám phá được tiềm năng cho các quốc gia có mong muốn sử dụng phác thảo các nhân tố tạo nên thành công cho chiến lược phát triển CDĐL; Đặc biệt tác giả hệ thống hóa những chính sách
và phương thức tiếp cận khác nhau trên thế giới Đồng thời kiểm định các cơ chế khác nhau hiện có tại mỗi quốc gia nhằm bảo hộ và khuyến khích các sản phẩm, dịch vụ CDĐL mới
Nhận xét chung:
Điểm chung của các tác giả này là đều đề cập và tập chung nghiên cứu
hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến SHTT, đặc biệt là vấn đề bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL ở Việt Nam Từ đó, đánh giá thực trạng, nguyên
Trang 12nhân và đưa ra giải pháp, khuyến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam để phát triển CDĐL Có rất nhiều đề xuất và giải pháp đóng góp, có
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc góp phần tăng cường hiệu quả bảo hộ và thực thi quyền SHCN cho CDĐL của Việt Nam Một số tác phẩm đề cập và nghiên cứu vấn đề quản lý CDĐL và đưa ra hệ thống các giải pháp có ý nghĩa đóng góp về mặt lý luận Tuy nhiên, tất cả đều chung chung và ý nghĩa áp dụng, đóng góp trên thực tiễn còn mờ nhạt Bởi trên thực tế: Sau khi CDĐL được bảo hộ cần phải xây dựng và vận hành hệ thống quản lý CDĐL để phát huy giá trị và đảm bảo quyền sử dụng hợp pháp của các tổ chức cá nhân có đủ điều kiện sử dụng CDĐL và điểm mấu chốt của quản lý CDĐL là cơ chế đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc của địa lý của sản phẩm và đảm bảo tính đặc thù của sản phẩm thông qua quy trình kiểm soát chặt chẽ về chất lượng Nhưng nhìn chung chưa có tác giả nào tiếp cận vấn đề dưới góc độ kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL; Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống
về vấn đề này
Trong đề tài này, tác giả kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên và tập chung nghiên cứu, làm rõ việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL và trường hợp cụ thể CDĐL
Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Đưa ra những giải pháp quản lý và tự quản nâng cao hiệu quả kết hợp quản lý, tự quản CDĐL “Lục Ngạn” cho sản phẩm Vải Thiều tỉnh Bắc Giang
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tập chung nghiên cứu phân tích, đánh giá thực
trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL
Trang 13- Phạm vi về thời gian: từ năm 2008 tới 2015
- Phạm vi về không gian: huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
5 Mẫu khảo sát
- Các xã: xã Kim Sơn, xã Thanh Hải, xã Giáp Sơn, xã Hồng Giang;
- Một số chuyên gia về lĩnh vực SHTT
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Vì sao việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL ở Bắc Giang còn nhiều bất cập?
- Có những vướng mắc nào về lý luận và thực tiễn làm cho vấn đề quản
lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL chưa đạt hiệu quả? Giải pháp khắc phục như thế nào?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc vận hành hệ thống quản lý CDĐL trên thực tế là vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực đầu tư công sức, thời gian chi phí và sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cũng như cơ sở sản xuất và cá nhân liên quan Tuy nhiên, trên thực tế năng lực của cán bộ quản lý về CDĐL yếu kém; nhận thức của nông dân, các cơ sở sản xuất còn nhiều hạn chế, thói quen của người tiêu dùng chưa phân biệt và mặn mà với sản phẩm mang CDĐL;
- Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có bất cứ quy định pháp luật nào
về hoạt động của tổ chức quản lý CDĐL Những quy định về chủ thể cũng như nội dung quản lý CDĐL của Việt Nam chưa cụ thể; mỗi CDĐL lại được quản lý theo một hướng khác nhau
- Cần hoàn thiện pháp luật về quản lý CDĐL; mở lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức về SHTT và Quy trình sản xuất canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, nông dân
Trang 148 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về thực trạng quản lý và tự quàn CDĐL ở Bắc Giang;
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu 03 lãnh đạo: 01 lãnh đạo Sở Khoa học
và Công nghệ tỉnh Bắc Giang; 01 lãnh đạo huyện Lục Ngạn; 01 Chủ tịch Hiệp hội sản xuất và Tiêu thụ Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang
- Phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu và so sánh hệ thống văn bản về bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Danh mục các từ viết tắt; Danh mục tài liệu tham khảo; Danh mục các bảng biểu; Phần mở đầu và Phần kết luận Luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL;
Chương 2 Thực trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo
hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL vải Thiều Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang ;
Chương 3 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, tự quản, kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL “Lục Ngạn” cho sản phẩm vải Thiều tỉnh Bắc Giang
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ VÀ
TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN
ĐỐI VỚI CDĐL 1.1 Khái quát chung về Chỉ dẫn địa lý và Bảo hộ, Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL
1.1.1 Khái quát chung về CDĐL
Theo khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”
Khái niệm về CDĐL theo pháp luật hiện hành của Việt Nam là hoàn toàn tương thích với Điều 22.1 của Hiệp định TRIPS
* Khái niệm CDĐL: Chỉ dẫn địa lý là một yếu tố mà sản phẩm, hàng
hóa được mang một cách tự nhiên, nói lên sự gắn kết của sản phầm với tên một miền lãnh thổ Thường là gắn với truyền thống tập tục của địa phương từ tay nghề truyền thống của người dân địa phương, tạo nên sự khác biệt hay nổi tiếng của sản phẩm
Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới (WTO): “CDĐL là
một chỉ dẫn được dùng để xác định một hàng hóa có nguồn gốc từ lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng một địa phương của lãnh thổ đó, với điều kiện chất lượng, danh tiếng của sản phẩm hoặc các đặc điểm khá của sản phẩm mà chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm này mang lại”
Trang 16Chỉ dẫn địa lý là những từ, tên gọi dấu hiệu, biểu tượng, hình ảnh được
sử dụng để chỉ ra rằng sản phẩm có nguồn gốc từ quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trung về chất lượng, uy tín danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có được chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên
Tính chất đặc thù về danh tiếng của hàng hóa được biểu hiện bằng một hoặc một số yếu tố như chỉ tiêu định chính, định lượng hoặc cảm quan về vật
lý, hóa học , vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật khoa học hoặc chuyên gia theo phương pháp thử được xác định cụ thể
Danh tiếng uy tín của hàng hóa mang CDĐL thể hiện thông qua sự biết đến hàng hóa đó một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng trong quá trình tồn tại
và phát triển của sản phẩm
Tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên được thể hiện thông qua các yếu tố độc đáo về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình và các điều kiện tự nhiên khác Tính chất đặc thù về con người được thể hiện thông qua các yếu
tố độc đáo về kĩ năng , kĩ xảo của người sản xuất, bao gồm cả quy trình sản xuất, truyền thống của người dân địa phương, nếu quy trình đó là nhân tố tạo
ra và duy trì chất lượng , uy tín của sản phẩm
Chỉ dẫn địa lí có thể là các dấu hiệu từ ngữ: Đó là các danh từ chung hoặc danh từ riêng chỉ tên của một địa danh cụ thể; Dấu hiệu là hình ảnh hoặc biểu tượng mô tả một khu vực địa lí Đó là những hình ảnh đặc trưng của chỉ dẫn địa lí, cho khả năng phân biệt, nhận diện với sản phẩm cùng loại Ví dụ như khi nhìn thấy logo Thanh Hà và Lục Ngạn dưới đây người đọc bằng trực quan có thể phân biệt được hai sản phẩm cùng loại nhưng của hai địa danh khác nhau:
Trang 17
* Quy định chung của pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lí
Theo quy định tại Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý được bảo
hộ khi đáp ứng được hai điều kiện : (i) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý ;(ii) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Điều kiện 1: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có nguồn gốc địa lí từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lí
Có “nguồn gốc địa lí” dùng để chỉ khu vực, địa phương nơi hàng nông
sản được sản xuất, gia công, chế biến từ khu vực địa lí đó Ở đây, yếu tố quan trọng nhất đặt ra là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải liên quan đến khu vực địa lí, nếu sản phẩm được sản xuất tại khu vực địa lí khác sẽ không được như vậy
Theo thông tư số 01/2007/TT- BKHCN ngày 14/2/2007 thì phải tồn tại vùng địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí nêu trong đơn và sản phẩm phải có nguồn gốc địa lí từ vùng đó Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, hồ sơ đăng kí chỉ dẫn địa lí phải có bản đồ địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó Điều 83 Luật sở hữu trí tuệ quy định về khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn
địa lí: “Khu vực địa lí mang chỉ dẫn địa lí có ranh giới được xác định chính
xác bằng từ ngữ và bản đồ”
Trang 18Điều kiện 2: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có danh tiếng, chất lượng
hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lí của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó quyết định
Thứ nhất, về danh tiếng của sản phẩm:
Theo quy định tại khoản1, Điều 81 Luật SHTT “ Danh tiếng của sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm đó” Việc xác định danh tiếng của sản phẩm
tương đối khó khăn do căn cứ vào “mức độ tín nhiệm” thông qua “mức độ rộng rãi của người tiêu dùng biết đến và lựa chọn sản phẩm” khi mà chưa có bất kì thước đo nào cũng như số liệu thống kê để xác định mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng
Việc xác định danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí dựa trên thực tiễn chủ yếu thông qua: các yếu tố gắn với lịch sử, đặc tính khác biệt, nổi trội của sản phẩm mà các sản phẩm cùng loại không thể nào có được:
Các yếu tố gắn với lịch sử: sản phẩm đó xuất hiện năm nào, nổi tiếng bởi
sự kiện lịch sử nào hay được ghi lại trong một số văn bản lịch sử nào
Đặc tính khác biệt, nổi trội của sản phẩm thu hút người tiêu dùng mà các sản phẩm cùng loại không có được Thông thường chất lượng, đặc tính nổi trội của hàng nông sản chính là do sản phẩm được người tiêu dùng biết đến rộng rãi và làm nên danh tiếng của sản phẩm
Thứ hai, về mặt chất lượng, đặc tính của sản phẩm
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 81 Luật SHTT “Chất lượng, đặc tính
của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác định bằng một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp” Như vậy, chất lượng, đặc tính của sản
Trang 19phẩm chủ yếu qua các yếu tố: chỉ tiêu vật lí, chỉ tiêu hóa học, cảm quan màu sắc, mùi vị:
Chỉ tiêu vật lí: gồm các yếu tố khối lượng, thể tích, kích thước sản phẩm
Chỉ tiêu hóa học: gồm các yếu tố như các chất đường, protein, nước, tinh dầu…tỉ lệ các chất trong một đơn vị khối lượng, thể tích sản phẩm…
Cảm quan màu sắc, mùi vị:
Thứ ba, danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính của hàng nông sản phải
do điều kiện địa lí của khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó quyết định
Các điều kiện địa lí này là những yếu tố tự nhiên, yếu tố con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí
đó Theo điều 82 Luật sở hữu trí tuệ bao gồm hai yếu tố:
Yếu tố thứ nhất: yếu tố về tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác
Yếu tố thứ hai: yếu tố về con người bao gồm kĩ năng, kĩ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương
Trong đó yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên tính chất, chất lượng đặc thù của các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí Cùng một giống cây nhưng chăm sóc, sinh trưởng ở khu vực khác nhau sẽ cho ra những sản phẩm mang chất lượng đặc tính khác nhau Mặt khác dù điều kiện
tự nhiên gần đồng nhất nhưng cách chăm sóc khác nhau cũng khiến cho sản phẩm có chất lượng khác nhau
* Địa vị pháp lí của chủ thể đối với chỉ dẫn địa lí
Trang 20chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có được là do những đặc thù về điều kiện tự nhiên kết hợp với kĩ năng, kĩ xảo đúc rút qua nhiều thế
hệ của người dân Hơn nữa, chỉ dẫn địa lí còn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực địa phương, thậm chí là của cả quốc gia Vì vậy, chỉ dẫn địa lí chỉ có thể thuộc quyền sở hữu của nhà nước
Với tư cách là chủ sở hữu, nhà nước thực hiện những quyền sau:
- Nhà nước trực tiếp quản lí thông qua các cơ quan quản lí hành chính Nhà nước thực hiện hoạt động quản lí như các Bộ, cơ quan ngang bộ,
Ủy ban nhân dân, các Sở, phòng… Được sự cho phép của các cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đại diện quyền lợi của những người sản xuất cũng có thể được trao quyền quản lí
- Nhà nước trao quyền cho các cá nhân, tổ chức tiến hành sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó
ra thị trường dưới sự giám sát của cơ quan quản lí chỉ dẫn địa lí
Người có quyền sử dụng
Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí tại các địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường Như vậy, chỉ có những chủ thể sản xuất và kinh doanh hàng nông sản mang chỉ dẫn địa lí tại địa phương tương
ứng mới có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí
Theo quy định tại Khoản 7, Điều 124 Luật sở hữu trí tuệ, người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí có các quyền sau:
- Gắn chỉ dẫn địa lí lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
- Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hóa
có mang chỉ dẫn địa lí được bảo hộ;
- Nhập khẩu có mang chỉ dẫn địa lí được bảo hộ;
Trang 21- Có quyền ngăn cấm không cho người khác sử dụng chỉ dẫn địa lí trừ hai trường hợp: (1) sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lí được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đạt được sự bảo hộ trung thực trước ngày nộp đơn đăng kí chỉ dẫn đó; (2) sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lí và các đặc tính khác của hàng hóa hoặc dịch vụ
Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí không được chuyển giao cho người khác
Tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí
Chỉ dẫn địa lí là một loại tài sản chung Tất cả những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí đều có quyền sử dụng Tuy nhiên không phải ai cũng có thể tự do, tùy tiện sử dụng Để đảm bảo cho uy tín, chất lượng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí cần có một tổ chức thực hiện việc bảo vệ, giám
sát chỉ dẫn địa lí Theo khoản 4, điều 121 Luật sở hữu trí tuệ: “Nhà nước trực
tiếp thực hiện quyền quản lí chỉ dẫn địa lí hoặc trao quyền quản lí chỉ dẫn địa
lí cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí đó”
Theo Điều 19 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì những cơ quan, tổ chức này bao gồm:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý trong trường hợp chỉ dẫn địa lý thuộc một địa phương;
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đại diện theo
uỷ quyền của các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý trong trường hợp chỉ dẫn địa lý thuộc nhiều địa phương;
Trang 22- Cơ quan, tổ chức được Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý với điều kiện cơ quan, tổ chức đó đại diện cho quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật Sở hữu trí tuệ
Theo Điều 123 khoản 2 Luật sở hữu trí tuệ quy định tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền sử dụng, quyền quản lí chỉ dẫn địa lí theo quy định tại khoản 4 Điều 121 Luật này có hai quyền sau:
Thứ nhất, tổ chức được trao quyền quản lí chỉ dẫn địa lí có quyền cho
phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lí;
Thứ hai, tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc tổ chức được
trao quyền quản lí chỉ dẫn địa lí có quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lí
Quy định như vậy là còn thiếu, chưa thể hiện đủ chức năng của tổ chức này Một số nhiệm vụ, quyền hạn rất quan trọng của tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí lại không được đề cập như: quyền kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lí, trong đó có thể bao gồm việc kiểm tra và cấp giấy chứng nhận sản phẩm đủ điều kiện mang chỉ dẫn địa lí cho mỗi lô, mỗi đơn vị sản phẩm: quyền tiến hành các biện pháp để phát triển uy tín, danh tiếng và giá trị của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí…
.1.1.1.2 Xác lập quyền đối với CDĐL và thời hạn bảo hộ
Khái niệm
Luật SHTT cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa đưa ra khái niệm xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý Do đó CDĐL là đối tượng của SHCN nên quyền được xác lập ở đây là quyền SHCN đối với CDĐL Trước đây, điều 5 Nghị định 54/2000/CP-NĐ quy định quyền SHCN đối với CDĐL tự động được xác lập khi có đủ một số điều kiện mà không cần
Trang 23phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Hiện nay, theo quy định tại điều 1.3 của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về SHCN (sau đây viết tắt là Thông tư 01/2007) thì căn cứ xác lập quyền SHCN đối với CDĐL phải trên cơ sở quyết định của Cục SHTT về việc cấp giấy Chứng nhận đăng ký CDĐL cho tổ chức quản lý CDĐL Như vậy, theo pháp luật hiện hành, quyền SHCN đối với CDĐL không được xác lập một cách tự động nữa mà phải trên cơ sở quyết định của Cục SHTT về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký CDĐL cho tổ chức quản lý CDĐL
Theo quy định của Nghị định số 28/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2004, thì Cục SHCN được đổi tên thành Cục SHTT với phạm vi thẩm quyền được mở rộng hơn Cục SHTT vừa đảm nhiệm chức năng của một cơ quan quản lý nhà nước, vừa là một đơn vị sự nghiệp trực tiếp thực hiện các thủ tục xác lập quyền đối với các đối tượng của SHCN phải đăng ký Do CDĐL là một trong những đối tượng của SHCN phải đăng ký nên việc xác lập quyền đối với CDĐL phải được thông qua Cục SHTT
Điều 88 Luật SHTT 2005 có quy định quyền đăng ký CDĐL thuộc về Nhà nước nhưng Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền này mà cho phép một số chủ thể nhất định thực hiện; đó là: tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang CDĐL hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có CDĐL Và những chủ thế có quyền đăng ký CDĐL muốn được cấp giấy chứng nhận đăng ký CDĐL thì phải thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật SHTT Nếu các trình tự, thủ tục này được thực hiện đúng và đầy đủ theo yêu cầu của pháp luật SHTT thì chủ thể nộp đơn đăng ký CDĐL sẽ được Cục SHTT cấp giấy chứng nhận đăng ký CDĐL Khác với các đối tượng khác của SHCN văn bằng bảo hộ thường chỉ làm phát sinh quyền SHCN đối với chủ sở
Trang 24hữu đối tượng của SHCN Giấy chứng nhận đăng ký CDĐL sẽ làm phát sinh quyền với không chỉ chủ sở hữu mà còn phát sinh quyền với một số chủ thể khác nữa Cụ thể là: Quyền Sở hữu CDĐL luôn luôn thuộc về chủ thể Nhà nước; quyền quản lý được xác lập với tổ chức quản lý CDĐL và quyền sử dụng thuộc về cá nhân, tổ chức sản xuất sản phẩm mang CDĐL
Từ những phân tích trên xác lập quyền đối với CDĐL có thể được hiểu
như sau: Xác lập quyền đối với CDĐL là hành vi pháp lý của các chủ thể có
liên quan tiến hành thủ tục đăng ký CDĐL theo trình tự, thủ tục được pháp luật SHTT quy định nhằm hướng tới mục đích làm phát sinh quyền đối với CDĐL đó
Đặc điểm của xác lập quyền đối với CDĐL
Nguyên tắc xác lập quyền đối với CDĐL theo pháp luật hiện hành được thực hiện trên nguyên tắc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, chứ không phải dựa trên nguyên tắc bảo hộ tự động như trước đây
Căn cứ xác lập quyền Sở hữu đối với CDĐL phát sinh trên cơ sở quyết định cấp Văn bằng bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền cấp theo trình tự, thủ tục luật định
Việc đăng ký xác lập quyền đối với CDĐL có ý nghĩa là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền SHCN của Nhà nước; quyền sử dụng đối với cá nhân, tổ chức sản xuất sản phẩm mang CDĐL và quyền quản lý đối với tổ
chức quản lý CDĐL
Thủ tục đăng kí xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lí
Về cơ bản, đơn đăng kí cũng như quy trình thời hạn xem xét đơn đăng
kí chỉ dẫn địa lí được quy định cụ thể từ mục 7 đến mục 18 Thông tư số
01/2007/TT- BKHCN Đơn đăng kí gồm:
- Tờ khai đăng kí ( mẫu do Cục sở hữu trí tuệ cấp);
Trang 25- Bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa
lí;
- Bản đồ khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí;
- 10 mẫu thể hiện cách trình bày chỉ dẫn địa lí (nếu không phải là từ
ngữ);
- Chứng từ nộp phí, lệ phí
Cũng theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN từ mục 13 đến mục 19, đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí được xử lí tại Cục sở hữu công nghiệp theo trình tự sau:
Thứ nhất, thẩm định hình thức
Là đánh giá tính hợp lệ của đơn theo các yêu cầu về hình thức, về đối tượng loại trừ, về quyền nộp đơn… để từ đó đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay không hợp lệ Thời gian thẩm định hình thức là 1 tháng kể từ ngày nộp đơn
Thứ hai, công bố đơn hợp lệ
Đăng kí chỉ dẫn địa lí hợp lệ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận là đơn hợp lệ Nội dung công bố đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí là các thông tin liên quan đến đơn hợp lệ ghi trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, tóm tắt tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí
Thứ ba, thẩm định nội dung
Đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí đã được công nhận là hợp lệ được thẩm định nội dung để đánh giá khả năng cấp Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí cho đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ Thời hạn thẩm định cho nội dung đơn chỉ dẫn địa lí là 6 tháng kể từ ngày công bố đơn
Thứ tư, cấp văn bằng bảo hộ và hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Theo Khoản 2 Điều 92 Luật sở hữu trí tuệ, Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí ghi nhận tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí, các tổ chức, cá nhân có
Trang 26quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí, chỉ dẫn địa lí được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí, tính chất đặc thù về điều kiện địa lí và khu vực địa lí mang chỉ dẫn địa lí
Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí có hiệu lực vô thời hạn trên toàn lãnh thổ Việt Nam kể từ ngày cấp Tuy nhiên, giấy chứng nhận đăng
kí chỉ dẫn địa lí có thể bị chấm dứt hiệu lực nếu “các điều kiện địa lí tạo
nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm địa lí bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó” (Điểm g, Khoản 1
Điều 95 Luật sở hữu trí tuệ)
Ý nghĩa của việc xác lập quyền đối với CDĐL
Đăng ký xác lập quyền đối với CDĐL là sự ghi nhận bảo hộ một cách chính thức của Nhà nước đối với những chủ thế liên quan được Nhà nước trao quyền (tổ chức quản lý, cá nhân, tổ chức sản xuất sản phẩm mang CDĐL) có được đối với CDĐL Từ đó ngăn cản người khác khai thác, sử dụng CDĐL
mà không được sự cho phép của Nhà nước Việc đăng ký xác lập quyền đối với CDĐL một mặt đem lại cho các chủ thể Nhà nước trao quyền các quyền năng tương ứng về tài sản và nhân thân được bảo đảm bởi cưỡng chế bởi Nhà nước, mặt khác làm phát sinh nghĩa vụ của người thứ ba trong việc tôn trọng, không xâm phạm tới CDĐL đã được xác lập và bảo hộ
Kết quả của việc đăng ký xác lập quyền đối với CDĐL là văn bằng bảo
hộ quyền SHCN đối với CDĐL do cơ quan có thẩm quyền cấp Văn bằng bảo
hộ này là bằng chứng pháp lý ghi nhận quyền của chủ sở hữu đối với CDĐL của các chủ thể có liên quan, ngăn cản những chủ thể khác không đủ điều kiện khai thác, sử dụng CDĐL
Trong trường hợp không thực hiện việc đăng ký xác lập quyền đối với CDĐL, thì các chủ thể có liên quan không có căn cứ pháp lý để ngăn cản người khác khai thác, sử dụng CDĐL thuộc quyền sử dụng và quản lý của mình Quyền này chỉ phát sinh trên cơ sở quyết định cấp Văn bằng bảo hộ do
Trang 27cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo trình tự, thủ tục luật định Nói cách khác, xác lập quyền đối với CDĐL là một biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ của các chủ thể tránh sự xâm phạm của người khác
Từ thực tiễn và những phân tích trên có thể thấy ý nghĩa mà xác lập quyền đối với CDĐL mang lại về mặt kinh tế- xã hội không chỉ cho người sản xuất mà cho cả người tiêu dùng
Thời hạn bảo hộ CDĐL
Thời hạn bảo hộ CDĐL khác biệt so với thời hạn bảo hộ một số tài sản trí tuệ khác Các tài sản trí tuệ khác thường được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định rồi hết hiệu lực hoặc muốn kéo dài thời hạn bảo hộ thì chủ
sở hữu phải xin gia hạn nhưng CDĐL lại không bị giới hạn về thời hạn bảo
hộ Điều này được quy định tại khoản 7 Điều 93 Luật SHTT Giấy chứng nhận đăng ký CDĐL chỉ bị chấm dứt hiệu lực bếu các điều kiện tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang CDĐL bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó (điểm g, khoản 1 Điều 95 Luật SHTT)
1.1.2 Khái quát về Bảo hộ và Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL
Bảo hộ quyền SHCN và thực thi quyền SHCN là hai khâu có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình bảo vệ quyền SHCN Tuy nhiên, đây là hai khái niệm có nội hàm khác nhau Bảo hộ quyền SHCN được hiểu là việc nhà nước bằng những quy định của pháp luật, xác lập quyền SHCN, xác định những hành vi bị coi là xâm phạm quyền SHCN và quy định những biện pháp
xử lý những hành vi vi phạm đó
Thực thi quyền SHCN là việc thực hiện pháp luật về SHCN thông qua
sự bắt buộc các chủ thể phải hoàn toàn tuân thủ, chấp hành pháp luật dù muốn hay không muốn Nói tới thực thi quyền SHCN là nói đế trình tự, thủ tục mà
Trang 28các chủ thể phải tuân theo, cũng như các biện pháp xử lý, các chế tài do các
cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi có hành vi xâm phạm.1
1.1.2.1 Khái niệm Bảo hộ quyền SHCN đối với CDĐL
* Khái niệm quyền SHCN
QSHCN là các quyền hợp pháp của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng SHCN QSHCN phát sinh khi đối tượng SHCN đáp ứng đủ các tiêu chuẩn bảo hộ hoặc khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ
Khoản 4 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, CDĐL, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”
* Đặc điểm của quyền SHCN
Quyền SHCN là một loại quyền sở hữu, do vậy nó cũng mang đặc điểm chung của quyền sở hữu (chẳng hạn chủ thể mang quyền luôn xác định còn chủ thể mang nghĩa vụ là không xác định…) Ngoài ra, quyền SHCN còn có nhưng đặc điểm riêng như tính vô hình; tính hạn chế về không gian, hạn chế
về thời gian, hạn chế quyền của chủ sở hữu;
* Khái niệm và đặc điểm của quyền SHCN đối với CDĐL
Theo quy định tại Điều 751 Bộ luật dân sự năm 2005, quyền SHCN đối với CDĐL bao gồm quyền sở hữu CDĐL của Nhà nước và quyền sử dụng CDĐL của các tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện do pháp luật về SHTT quy định
Quyền SHCN đối với CDĐL cũng có một số đặc điểm chung của quyền SHCN như tính vô hình, tính hạn chế về không gian Ngoài ra, quyền SHCN đối với đối tượng này còn có những điểm riêng biệt như sau:
1 Thực thi quyền SHCN ở Việt Nam- Pháp Luật và Thực tiễn (Phạm Văn Toàn- Trưởng Phòng Thanh tra 3-
Trang 29- Người sử dụng CDĐL không phải là chủ sở hữu CDĐL
- Việc bảo hộ tại nước xuất xứ là điều cốt lõi, là nền tảng cho việc tồn tại và bảohộ các CDĐL Việc bảo hộ tại nước xuất xứ là điều kiện tiên quyết cho sự bảo hộ trên phạm vi quốc tế
- CDĐL không bị giới hạn thời hạn bảo hộ nếu đối tượng bảo hộ là CDĐL vẫn đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định
- Quyền đối với CDĐL không được chuyển nhượng,, quyền sử dụng CDĐ không được chuyển giao
1.1.2.2 Khái niệm Thực thi quyền SHCN đối với CDĐL
Thực thi quyền Sở hữu trí tuệ dưới khía cạnh là một mảng quan trọng của bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ, hiểu theo nghĩa khách quan là việc bằng quy định của pháp luật, Nhà nước xác định những hành vi bị coi là xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ và quy định các cách thức, biện pháp xử lý hành vi xâm
phạm đó Thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý là việc Nhà nước và chủ thể
của quyền đối với chỉ dẫn địa lý sử dụng các phương thức và biện pháp do pháp luật quy định để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý, khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm 2
Luật Sở hữu trí tuệ dành Phần thứ năm “Bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ”
để quy định về các biện pháp, cách thức xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Theo nội dung các quy định trong phần này, bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý được xem xét dưới góc độ là các phương thức, biện pháp do pháp luật quy định để bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý Theo quy định của Điều
198 Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ thể của quyền Sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các phương thức khác nhau để bảo vệ quyền của mình bao gồm: quyền tự bảo
vệ và quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ
Trang 30
* Các phương thức, biện pháp thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Phương thức thực thi quyền Sở hữu trí tuệ nói chung là những cách thức mà chủ thể của quyền Sở hữu trí tuệ hoặc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo quy định của Pháp luật để bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ khi bị xâm phạm Theo quy định của Phần thứ 5 Luật Sở hữu
trí tuệ, quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể được bảo vệ thông qua các phương thức sau:
- Phương thức tự bảo vệ
Tự bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý là việc những người có quyền
sử dụng chỉ dẫn địa lý hợp pháp tự mình tiến hành các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật cho phép để bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý của mình Hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý trước tiên sẽ làm phát sinh quan hệ giữa chủ thể quyền và người xâm phạm Vì vậy, trước hết, người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý có quyền tự bảo vệ bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật bởi việc bảo vệ quyền này gắn liền với quyền lợi thiết thân của những người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ thể của quyền Sở hữu trí tuệ có thể tự bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ của mình bằng các biện pháp như: áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ; yêu cầu tổ chức, cá nhân
có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại
Đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác “là tài sản tư” nên chủ
sở hữu phải tự bảo vệ tài sản của mình Còn chỉ dẫn địa lý là “tài sản công” nên chủ thể thực hiện quyền tự bảo vệ có thể là người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý hợp pháp; tổ chức đại diện quản lý sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý Đây là những cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý hoặc những tổ chức
Trang 31có thẩm quyền quản lý chỉ dẫn địa lý được bảo hộ Như vậy, khi phát hiện ra hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý, các cá nhân hay tổ chức này có thể tự chủ động yêu cầu (có thể dưới hình thức gửi thông báo) người sử dụng trái phép chỉ dẫn địa lý chấm dứt hành vi xâm phạm đó; có thể kèm theo cả yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Để tăng tính thuyết phục cho yêu cầu này cũng như để có căn cứ
về hành vi xâm phạm, chủ thể của quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể gửi đơn tới Cục Sở hữu trí tuệ với nội dung yêu cầu giám định hành vi thực tế đó có xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý không và có thể gửi công văn trả lời của Cục Sở hữu trí tuệ kèm theo thông báo nói trên
Theo phương thức này, những người sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý
có thể chủ động, kịp thời tiến hành các biện pháp pháp lý cần thiết ngay khi phát hiện ra hành vi xâm phạm để bảo vệ lợi ích của mình Bên cạnh đó, do không phải tuân thủ theo bất kỳ một trình tự, thủ tục pháp lý nào nên phương thức này tạo điều kiện cho các bên có thể thương lượng, hoà giải với nhau để
tự giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, không những thế còn tiết kiệm thời gian cũng như hạn chế bớt các chi phí tốn kém cho việc giải quyết tranh chấp (như chi phí cho việc tham gia tố tụng, chi phí giám định )
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương thức tự bảo vệ cũng có những nhược điểm nhất định Nhược điểm lớn nhất là việc tự bảo vệ của chủ thể không được bảo đảm bằng các cơ chế mang tính quyền lực Nhà nước mà hoàn toàn trông chờ, phụ thuộc vào sự tự nguyện và thiện chí của bên xâm phạm Vì vậy, nếu bên xâm phạm không tự nguyện và thiện chí chấm dứt hành vi xâm phạm của mình, khắc phục hậu quả đã gây ra thì phương thức bảo vệ này không mang lại kết quả khả quan
- Phương thức khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm
Trang 32Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ về Quyền tự bảo vệ, chủ thể của quyền Sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ của mình Bên cạnh quyền tự yêu cầu chủ thể xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại , chủ thể có quyền khởi kiện ra Toà án hoặc trọng tài hoặc yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm để bảo vệ quyền lợi cho mình Người áp dụng phương thức này để bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo Điều 198 có thể bao gồm những chủ thể sau:
- Chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý: Người sử dụng hợp pháp, tổ chức đại diện cho những người này để quản lý chỉ dẫn địa lý, cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý
- Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý hoặc những người phát hiện ra hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng
và xã hội để bảo vệ lợi ích của chính mình và của cộng đồng
- Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trên cơ sở yêu cầu của họ, các cơ quan Nhà nước trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa
lý, đồng thời khôi phục lại các lợi ích chính đáng cho người sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm mà người có hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể bị xử lý về dân sự, hành chính hoặc hình sự
Khác với phương thức tự bảo vệ, phương thức này chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của các quy phạm pháp luật như: chủ thể có quyền xử lý, về hình thức yêu cầu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện việc xử lý vi phạm
Trang 33Về thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ nói chúng, chỉ dẫn địa lý nói riêng, tuỳ theo yêu cầu của chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý,
có hai hệ thống cơ quan có thẩm quyền là các cơ quan hành chính và các cơ quan tư pháp Việc áp dụng các biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của
hệ thống các cơ quan hành chính như: Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp Các cơ quan tư pháp thực hiện việc xét
xử các vụ án xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo thủ tục tố tụng dân
sự hoặc tố tụng hình sự
Phương thức này đã khắc phục được nhược điểm của phương thức tự bảo vệ là thiếu tính cưỡng chế Các quyết định được đưa ra bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý hành vi xâm quyền luôn được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước, vì vậy mà có hiệu quả cao trong việc ngăn chặn hành vi xâm phạm, khôi phục lại các quyền và lợi ích cho người sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý
- Phương thức bảo vệ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trên thực tế, ở nước ta cũng như các nước khác, việc bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ nói chung, bảo vệ chỉ dẫn địa lý nói riêng chỉ được thực hiện khi
có yêu cầu của chủ thể của quyền Sở hữu trí tuệ, bởi chính họ là người biết rõ nhất quyền Sở hữu trí tuệ của mình có bị xâm phạm không
Tuy nhiên, về mặt lý luận theo quy định của pháp luật, quyền đối với chỉ dẫn địa lý và các đối tượng khác không chỉ được bảo vệ khi chủ sở hữu khiếu nại hoặc khởi kiện tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà trong nhiều trường hợp chính các cơ quan Nhà nước tự đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho chủ thể Khoản 1 Điều 200 quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ” Xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý không
Trang 34chỉ xâm phạm đến lợi ích của một vài chủ thể mà cũng là xâm phạm trật tự công, xâm phạm tới lợi ích Nhà nước, nên Nhà nước phải có trách nhiệm chủ động bảo vệ nó mà không cần có yêu cầu của chủ thể Ví dụ: khi phát hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý có dấu hiệu tội phạm, cơ quan Công an có quyền thu giữ, Viện kiểm sát có quyền khởi tố ngay về mặt hình sự và sau đó yêu cầu chủ thể của quyền đối với chỉ dẫn địa
lý tham gia tố tụng với tư cách người bị hại
Phương thức này bảo đảm khả năng ngăn chặn hành vi xâm phạm khá triệt để thông qua việc áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc có tính răn
đe, trừng phạt Tuy nhiên, phương thức này chủ yếu hướng tới việc bảo vệ trật
tự công mà không chú trọng vào việc bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý như
là một quyền tài sản trong dân sự, vì vậy mà những tổn thất kinh tế mà chủ thể phải gánh chịu không được quan tâm, giải quyết một cách đáng kể
* Các biện pháp bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Biện pháp dân sự
Chủ thể của quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể lựa chọn phương thức bảo vệ là khởi kiện ra Toà án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo phương thức này phải tuân thủ theo những nguyên tắc chung của Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự
Chủ thể có quyền khởi kiện
Đối với chỉ dẫn địa lý thì chủ thể có quyền khởi kiện có thể là: những người có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý hợp pháp theo quy định của pháp luật;
tổ chức tập thể đại diện cho những người sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý; Cơ quan hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý Những chủ thể này
có nghĩa vụ chứng minh tư cách chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý bằng Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý và bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp
Trang 35Về hình thức khởi kiện: Việc khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm phải do những chủ thể có quyền khởi kiện như
đã nêu trên tiến hành Tuy nhiên họ có thể trực tiếp khởi kiện hoặc hoặc uỷ quyền cho người khác (như Đại diện sở hữu công nghiệp, luật sư) thực hiện việc khởi kiện và đại diện tham gia tố tụng tại Toà án
Về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự
Theo Điều 203, nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền
Sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật Nguyên đơn trong vụ kiện xâm phạm chỉ dẫn địa lý phải cung cấp các chứng cứ:
- Khẳng định quyền hợp pháp của mình: văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý; các tài liệu khác khẳng định chỉ dẫn địa lý đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo hộ
- Chứng cứ về hành vi xâm phạm: các tài liệu, mẫu vật thể hiện đối tượng được bảo hộ; các tài liệu, mẫu vật, ảnh chụp hoặc bản ghi hình sản phẩm bị xem xét là có yếu tố xâm phạm; các tài liệu khác chứng minh hành vi xâm phạm như: công văn trả lời của Cục Sở hữu trí tuệ sau khi giám định sản phẩm bị xem xét, các bản giải trình, so sánh giữa sản phẩm bị xem xét với đối tượng được bảo hộ
- Chứng cứ xác định thiệt hại (nếu có) như: bản kê khai hoặc bản thuyết minh các loại thiệt hại, các kết quả giám định, thẩm định Trong vụ xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý, người khởi kiện có thể đưa ra những chứng
cứ về việc họ đã phải gánh chịu những thiệt hại về tài sản, uy tín, danh tiếng
do hành vi xâm phạm gây ra như: doanh thu bị giảm sút, các chi phí phải bỏ ra
để quảng cáo nhằm khôi phục danh tiếng, uy tín thương mại của mình
Các biện pháp dân sự
Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ, Toà án có thể áp dụng các biện pháp dân sự sau để xử lý cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý:
Trang 36- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm (1);
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai (2);
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự (3);
- Buộc bồi thường thiệt hại (4);
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được
sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền Sở hữu trí tuệ (5)
(1) Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm: là biện pháp Toà án ra một phán quyết buộc người đang thực hiện hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa
lý phải ngừng lại, không được tiếp tục thực hiện hành vi đó, nhằm ngăn chặn những thiệt hại có thể xảy ra do hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa
lý Đây là một yêu cầu mà những chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý mong đợi nhiều nhất Tuy nhiên, biện pháp giải quyết này bằng con đường dân sự mất nhiều thời gian hơn so với giải quyết bằng thủ tục hành chính
(2) Buộc xin lỗi, cải chính công khai: Đây là biện pháp Toà án áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý, gây thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của những người sản xuất chân chính cũng như đến uy tín của chỉ dẫn địa lý, theo đó người xâm phạm phải đưa ra các thông tin nhằm sửa chữa, cải chính cho đúng sự thật, khôi phục lại uy tín bị xâm hại của người bị hại trên các phương tiện thông tin đại chúng
(3) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự: nếu giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ nghĩa vụ dân sự, thì bị đơn bên cạnh việc phải gánh chịu các biện pháp chế tài khác như: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại vẫn phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ dân sự mà họ chưa thực hiện theo thoả thuận đối với bị đơn Ví dụ: Giữa người có quyền sử dụng chỉ dẫn
Trang 37địa lý và người xâm phạm có thể có quan hệ hợp đồng dịch vụ, theo đó bên xâm phạm là đại lý bán sản phẩm Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng đại lý, bị đơn đã gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên cả các sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó Trong trường hợp này, ngoài việc phải chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại, bị đơn vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng với nguyên đơn
(4) Buộc bồi thường thiệt hại: Bồi thường thiệt hại là biện pháp bảo vệ quyền đối với chỉ dẫn địa lý có tính thiết thực và mang lại hiệu quả lớn nhất cho chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý vì nó là biện pháp duy nhất giúp họ
có thể được bù đắp lại những tổn thất mà họ phải gánh chịu do hành vi xâm phạm gây ra Đây là hình thức trách nhiệm do Toà án áp dụng, buộc bên có hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý phải khắc phục những hậu quả
do họ gây ra bằng cách đền bù những tổn thất vật chất và tinh thần cho bên bị xâm phạm
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có đầy đủ 4 điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường trong dân sự:
- Có thiệt hại gây ra cho chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý;
- Có hành vi trái pháp luật, xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý của bị đơn;
- Có lỗi của bị đơn;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa
lý và thiệt hại cho chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý;
Lần đầu tiên, Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra nguyên tắc xác định thiệt hại (Điều 204) và các căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ (Điều 205) Đây là một điểm mới rất quan trọng của Luật
Sở hữu trí tuệ so với các văn bản trước đây
Theo các quy định này, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể bao gồm:
Trang 38- Thiệt hại vật chất: bao gồm các tổn thất về tài sản (mức độ giảm sút hoặc bị mất giá trị tính được thành tiền của đối tượng được bảo hộ), mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận (so sánh mức thu nhập, lợi nhuận thực tế trước và sau khi xảy ra hành vi xâm phạm, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại như (chi phí cho việc thông báo, cải chính trên phương tiện thông tin đại chúng liên quan đến hành vi xâm phạm quyền, chi phí cho việc thu thập, tạm giữ hàng hóa xâm phạm )
- Thiệt hại về tinh thần: theo Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ chỉ được bồi thường cho tác giả của một số đối tượng sở hữu công nghiệp như: tác phẩm văn học nghệ thuật, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí Như vậy, việc bồi thường tổn thất về tinh thần không được đặt ra đối với việc xâm phạm chỉ dẫn địa lý Theo chúng tôi, quy định như vậy là hợp lý vì quyền đối với chỉ dẫn địa lý về bản chất là một quyền tài sản, nó chủ yếu mang ý nghĩa
về mặt kinh tế chứ không gắn với quyền nhân thân
Chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý có thể yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo những căn cứ được qui định tại khoản 1 Điều 205 Tóm tắt lại, khoản 1 Điều 205 đưa ra 2 cách tính toán thiệt hại cho chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý chọn lựa để yêu cầu bồi thường thiệt hại:
- Cách 1: Mức bồi thường = Thiệt hại vật chất của Nguyên đơn + Lợi nhuận của Bị đơn (nếu chưa tính khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn) Như vậy, nếu xác định được chính xác khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn
do hành vi xâm phạm thì có thể thay thế lợi nhuận của bị đơn bằng lợi nhuận
bị giảm sút của nguyên đơn
- Cách 2: Điểm c, khoản 1 điều 205 quy định “giá chuyển giao quyền sử dụng
đối tượng Sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng Sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện” Tuy nhiên do
Trang 39chỉ dẫn địa lý là đối tượng sở hữu công nghiệp không được chuyển nhượng cũng như không được chuyển giao quyền sử dụng nên căn cứ ở điểm b khoản
1 Điều 205 không được áp dụng để tính toán thiệt hại do xâm phạm chỉ dẫn địa lý
Nếu không xác định được mức bồi thường theo hai căn cứ trên thì mức bồi thường do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng
Có thể nói, quy định về nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại trong Luật Sở hữu trí tuệ là một điểm mới rất quan trọng, lấp đầy khoảng trống về vấn đề này trong Bộ luật dân sự trước đây Việc xác định thiệt hại trên cơ sở lợi nhuận thu được của bên xâm phạm hoặc thu nhập hợp pháp bị giảm sút của bên bị thiệt hại tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng hơn trong việc tính toán thiệt hại Tuy nhiên khi xác định thiệt hại theo những căn cứ này cũng phải lưu ý một số yếu tố như: lợi nhuận thu được là lợi nhuận thu được trước thuế hay sau thuế (vì doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước); Mặt khác doanh nghiệp có thể có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh khác nhau Vì vậy phải có sự phân định rõ giữa lợi nhuận thu được từ hành vi xâm phạm với lợi nhuận thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp khác; Thu nhập bị giảm sút của bên bị xâm phạm cũng có thể
do nhiều nguyên nhân khác ngoài nguyên nhân do hành vi xâm phạm như: thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi; hoạt động quảng cáo, maketing chưa hiệu quả Vì vậy phải xác định chính xác phần thiệt hại nào là do hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý gây ra
(5) Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm Đây
là biện pháp để giải quyết hậu quả của việc vi phạm
Trang 40Biện pháp hành chính
Xuất phát từ chức năng bảo vệ “trật tự công”, luật hành chính bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ bằng việc quy định những hành vi nào bị coi là xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ và các biện pháp xử lý hành chính cần thiết áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm
Biện pháp hành chính được sử dụng để bảo vệ quyền sở đối với chỉ dẫn địa lý là các biện pháp cưỡng chế do cơ quan quản lý hành chính Nhà nước áp dụng đối với những chủ thể xâm quyền Theo Khoản 1 Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ, những hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý sau đây có thể bị
xử phạt hành chính:
- Gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc xã hội Những hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý một cách trái phép có thể dẫn đến làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc và chất lượng của hàng hóa, từ đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải những sản phẩm không đúng xuất xứ, chất lượng như mong muốn Lợi ích xã hội cũng bị ảnh hưởng khi những hành vi xâm phạm chỉ dẫn địa lý dẫn đến làm hỗn loạn thị trường, thật giả lẫn lộn, làm mất đi sự công bằng giữa những người sản xuất, kinh doanh;
- Những hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý mặc dù đã được chủ thể quyền thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng giả mạo về chỉ dẫn địa lý;
- Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ
Theo Điều 214, có hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền áp dụng đối với người xâm phạm chỉ dẫn địa lý Tuỳ theo tính chất, mức
độ xâm phạm, chủ thể bị xâm phạm có thể còn bị áp dụng một trong các hình