Theo chủ nghĩa tự do, với một nước có nhiều biến động về chính trị như Thái Lan thì việc thay đổi về lợi ích của các tổ chức trong quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng đến các chính sách ngoại gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ NGUYỆT TRANG
QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO
(2006-2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ NGUYỆT TRANG
QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO
(2006-2015)
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam
Hà Nội - 2016
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Nguồn gốc và các luận điểm của chủ nghĩa tự do 5
1.1.1 Chủ nghĩa tự do cổ điển - Chủ nghĩa lý tưởng: từ Kant đến Wilson 5
1.1.2 Chủ nghĩa tự do mới 8
1.1.3 Các luận điểm chính 15
1.2 Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 18
1.2.1 Nhân tố nội tại của Thái Lan 18
1.2.2 Nhân tố nội tại của Việt Nam 27
1.2.3 Nhân tố bên ngoài 33
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LUẬN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LANError! Bookmark not defined 2.1 Nền dân chủ chính trị của hai nước 37
2.2 Phát triển kinh tế thị trường hai nước 41
2.3 Sự tham gia của các chủ thể phi quốc gia 55
2.4 Phát triển hợp tác thay thế cho xung đột 65
2.5 Phát triển sự phụ thuộc lẫn nhau 73
2.6 An ninh chung 77
CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM THÁI LAN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO 79
3.1 Điểm mạnh trong việc phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 79
3.2 Điểm yếu trong việc phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 84
3.3 Cơ hội phát triển mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 86
3.4 Thách thức đối với mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 90
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA: Hiệp định thương mại tự do
GDP: Tổng sản phẩm Quốc nội
QHQT: Quan hệ quốc tế
TNC: Công ty xuyên quốc gia
WB: World Bank (Ngân hàng Thế giới)
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2011 – 2015
Bảng 2.1: So sánh chỉ số phát triển kinh tế 2 nước năm 2014
Bảng 2.2: So sánh chỉ số phát triển 2 nước năm 2010 – 2015
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ
2006 – 2011
Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp của Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực ASEAN năm 2014
Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan từ 2006 – 2014
Biểu 1.2: Tốc độ tăng trưởng Thái Lan qua các năm
Biểu 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam
Biểu 1.4: GDP Nhật Bản từ quý 1/2007 – quý 3/2015
Biểu 1.5: GDP các nước đang phát triển từ quý 1/2007 – quý 3/2015
Biểu 2.1: Diễn biến thương mại Việt Nam – Thái Lan trong các năm 2012,
2013 và 11 tháng 2014
Biểu 2.2: Đầu tư Thái Lan vào Việt Nam giai đoạn 2012 – T2/2016
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có mối quan hệ láng giềng lâu đời, liên tục với các liên hệ phong phú, đa tầng Thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1976, mối quan hệ hai nước bắt đầu khởi sắc từ sau chuyến thăm chính thức Thái Lan của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào năm 1978 Trong giai đoạn 1979 – 1989, trước nguy cơ đe dọa chiến tranh ở cả hai đầu của đất nước, trước sự bạo tàn diệt chủng của Khme Đỏ đối với nhân dân Việt Nam và Campuchia Quan hệ Việt – Thái bước sang giai đoạn mới với sự trở lại của tình trạng đối đầu Quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này chủ yếu xoay quanh và lên xuống theo diễn biến của sự kiện Campuchia Năm 1985 là năm bắt đầu có nhiều thay đổi trong lịch sử quan hệ quốc
tế Đã xuất hiện những cơ hội và điều kiện mới cho việc chấm dứt chiến tranh lạnh Thời gian từ 1985-1989, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các diễn biến này Sự đối đầu giảm bớt, xu thế hòa dịu và tăng cường đối thoại tăng dần, tuy nhiên hòa dịu mới xuất hiện nhưng chưa đủ để tạo ra những thay đổi cơ bản Trong thời kỳ từ 1989 – 2000, mối quan hệ Việt – Thái đã bắt đầu thời kỳ cải thiện quan hệ và phát triển hợp tác; trong đó có dấu mốc quan trọng vào tháng 7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đây cũng chính là nền tảng cho sự phát triển tiếp tục của mối quan hệ này Bước sang thể kỷ XXI, sự hợp tác và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Thái Lan ngày càng bền vững và đóng góp nhiều hơn trên các lĩnh vực an ninh – chính trị và kinh tế Một sự kiện lớn nhất trong lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam Thái Lan là ngày 16/2/2004 Bộ Ngoại giao ra thông cáo chung, sau phiên họp nội các chung giữa hai nước diễn ra tại Đà Nẵng, Việt Nam và Nakhon Phanom, Thái Lan, hai bên đã ký kết được rất nhiều văn bản quan trọng; đây là những văn kiện quan trọng làm nền tảng cho sự hợp tác trên các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật và văn hóa giáo dục giữa hai nước trong tương lai Năm 2013, Việt Nam và Thái Lan chính thức nâng cấp mối quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược”, đánh dấu bước phát triển quan trọng của mối quan hệ hợp tác song phương Đặc biệt gần đây khi diễn biến về xung đột Biển Đông đang trở thành đề tài nóng của an ninh trong
Trang 7khu vực thì việc xây dựng mối quan hệ bền chặt của hai nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Trong các lý thuyết về QHQT chủ nghĩa tự do (liberalism) là một trong hai
lý thuyết có lịch sử lâu đời nhất, theo lý thuyết này thì QHQT chịu tác động đáng kể của nhiều yếu tố đối nội (Domestic Factors) Lợi ích quốc gia (National Interest) là
đa dạng và QHQT là đa lĩnh vực, sự đa dạng lợi ích này được quy định bởi quốc gia được cấu thành từ nhiềm nhóm lợi ích khác nhau và bởi sự đa dạng trong lợi ích con người Chủ nghĩa tự do cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa người với người và từ đó là khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau Một điểm quan trọng nữa đó là chủ nghĩa tự do đề cao vai trò của dân chủ tự do (Liberal Demoracy) như phương cách quan trọng thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT; luận điểm này được hiểu đơn giản là khi nhân dân được hưởng các quyền tự do dân chủ trong nền công hòa, nhân dân sẽ bầu ra được một chính phủ đúng với ý nguyện của mình Nhân dân vốn yêu hòa bình nên chính phủ
đó sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình
Theo chủ nghĩa tự do, với một nước có nhiều biến động về chính trị như Thái Lan thì việc thay đổi về lợi ích của các tổ chức trong quốc gia cũng sẽ ảnh hưởng đến các chính sách ngoại giao và hoạt động QHQT, trong đó có mối quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thái Lan Cuộc khủng hoảng chính trị của Thái Lan có thể nói được bắt đầu từ cuộc đảo chính do giới quân sự tiến hành nhằm lật đổ cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra năm 2006 Quá trình thay đổi và điều chỉnh các chính sách kinh
tế - xã hội của Thái Lan gắn liền với những chương trình, kế hoạch phát triển chung của toàn đất nước Trước tiên phải nói đến các kế hoạch 5 năm phát triển xã hội và quốc gia của Thái Lan Đặc biệt là kế hoạch phát triển xã hội và quốc gia lần thứ 10 (giai đoạn 2006-2011) với chủ trương tiếp tục phát triển nền kinh tế tự chủ, phấn đấu mang lại phúc lợi cho toàn xã hội Kế hoạch này bao gồm năm chiến lược phát triển thuộc các lĩnh vực khác nhau, mà trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực, thiết lập các cộng đồng kinh tế lớn mạnh, và cải tiến các biện pháp sản xuất để có thể cạnh tranh trên toàn cầu Để tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề nêu trên, cũng như minh chứng cho sự tồn tại, tầm ảnh hưởng và phát triển của chủ nghĩa tự do trong
Trang 8môi trường QHQT hiện tại, học viên đã lựa chọn đề tài luận văn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do (2006-2015)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở từng góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, bài viết về mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan
Tại Việt Nam, có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả:
- Hoàng Khắc Nam với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan 1976 – 2000”
xuất bản năm 2007 Từ việc nghiên cứu tiến trình vận động của quan hệ Việt Nam –Thái Lan trong 25 năm quan hệ, tác giả đã chỉ ra những cơ sở lịch sử cũng như bản chất và đặc điểm của mối quan hệ, đồng thời làm sáng tỏ động lực phát triển và những yếu tố tác động tới mối quan hệ này
- Nguyễn Diệu Hùng với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ đầu thập kỉ
90 (thế kỉ XX) tới nay” xuất bản năm 2001
- Nguyễn Quốc Hùng với cuốn “Về mối quan hệ giữa các nước ASEAN với các nước Đông Dương” xuất bản năm 1990
- Nguyễn Tương Lai với cuốn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90” xuất bản năm 2001
- Vũ Dương Ninh với đề tài nghiên cứu khoa học “Quan hệ Việt Nam –Thái Lan trong mối quan hệ khu vực” năm 1992
- Chulacheeb Chinwanno với cuốn Thailand – Vietnam Relations: an
overview, Vietnam-Thailand: Traditional and Modernity, xuất bản năm 1991
- Hoàng Khắc Nam với bài báo “Chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế: những luận điểm chính và sự đóng góp” năm 2013 Trong đó có nói rõ các luận
điểm chính của lý thuyết này
Có thể nói, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan là một đề tài thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Đến nay, các công trình nghiên cứu đã bao quát được mối quan hệ này cả về lĩnh vực hợp tác và lịch sử phát triển Tuy nhiên, việc đặt vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ Việt – Thái dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do vẫn còn
khá mới Vì vậy, học viên hy vọng rằng đề tài luận văn “Quan hệ Việt Nam – Thái Lan theo góc nhìn của chủ nghĩa tự do (2006-2015)” sẽ góp một phần nhỏ bé
Trang 9nhưng mới mẻ về quan hệ ngoại giao giữa hai nước nói riêng và quan hệ trong khu vực nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1) Đối tượng nghiên cứu
- Quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ 2006 – 2015
Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Thái Lan trên tất
cả các lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, an ninh quân sự và kinh tế Thêm vào đó
là những nhận định, đánh giá của học viên đối với triển vọng quan hệ của hai nước, những tác động của mối quan hệ đối với khu vực và thế giới
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
1) Nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do
2) Tìm ra ý nghĩa của chủ nghĩa tự do trong mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan 3) Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác những mặt tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực từ quan hệ Việt - Thái
5 Phương pháp nghiên cứu
Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do cũng là một hiện tượng quan hệ quốc tế Vì vậy, để nghiên cứu đối tượng này, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp trên, học viên đã kết hợp các cách tiếp cận như: các cấp độ phân tích quan hệ quốc tế, lý thuyết về chủ nghĩa tự do, các lý thuyết về hợp tác và hội nhập, lý thuyết về nguyên nhân xung đột quốc tế, quan điểm về hệ thống quốc tế, các quan điểm về chủ thể và lợi ích trong quan hệ quốc tế
Mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan từ xưa đến nay là một hiện tượng xã hội mang tính quá trình Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này được dựa trên các phương
Trang 10pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp lịch đại, đồng đại, logic – lịch sử, so sánh lịch sử, phương pháp hệ thống cấu trúc
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Nguồn gốc và các luận điểm của lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do
1.1.1 Chủ nghĩa tự do cổ điển - Chủ nghĩa lý tưởng: từ Kant đến Wilson
Phong trào khai sáng bắt đầu từ thế kỉ 18 là một cuộc cách mạng tư tưởng quan trọng trong lịch sử văn minh thế giới Trong quá trình cách tân, một nhóm các nhà tư tưởng luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa lý trí (rationalism), họ tiến hành phê phán mạnh mẽ đối với sự suy đồi của “chế độ cũ” ở Châu Âu với đại diện
là chủ nghĩa chuyên chế và tôn giáo thần quyền Chủ nghĩa lý trí và tư tưởng tôn trọng con người mang đến sức mạnh như một dòng nước lũ đã tẩy sạch những tư tưởng cố hữu nằm sâu trong tâm trí con người từ vài trăm năm trước đó Và đến thời đại này con người dường như đã tiến thêm một bước phát triển trí tuệ của bản thân Đúng giống như lời nhà triết học nước Đức Immanuel Kant đã nói, đây chính
là thời đại “mang tới ánh sáng chiếu rọi những góc khuất tối tăm trong tư tưởng con người” [45]
Dù cho trong quá trình khai sáng, đại bộ phận các nhà tư tưởng đều xuất phát
từ góc độ của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa lý trí để nghiên cứu những vấn đề triết học thông thường, nhưng cũng có một vài nhà tư tưởng đã tiến hành nghiên cứu và suy ngẫm sâu sắc hơn đối với thể chế chính trị quốc tế và trật tự thế giới trên
cơ sở triết học cơ bản này Những nghiên cứu này là gốc rễ trực tiếp của lý luận quan hệ quốc tế về Chủ nghĩa lý tưởng và Chủ nghĩa tự do sau này Những nhân vật đại diện khai sáng cho tư tưởng Chủ nghĩa tự do gồm có: John Locke, Jean-Jacques Rousseau và Kant Những nhà tư tưởng này đã thiết lập một số nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa tự do Khác với chủ nghĩa ngu dân và thần quyền ở giữa thế kỷ, họ cho rằng: lý trí là một tư chất bẩm sinh tự nhiên và duy nhất chỉ có ở loài người Lý trí của cá nhân có mục đích là tự mình thực hiện, đây cũng là một loại “trạng thái tự nhiên” của con người Còn quốc gia cũng chỉ là sản phẩm của “khế ước” được thiết lập giữa những cá thể khác nhau trong xã hội, và nó phục vụ mục đích duy nhất là
Trang 11bảo đảm quyền lợi tự nhiên mà con người được xây dựng dựa trên cơ sở hợp tình, hợp lý
Trong những nhà tư tưởng vĩ đại này, Kant là người có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển sau này của lý luận quan hệ quốc tế Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tự do phương Tây, tư tưởng của Kant đóng một vai trò quan trọng trong việc kế thừa những cái có trước và là tiền đề cho những cái ra đời sau Khác với quan niệm tự do cá nhân tiêu cực trong quan điểm tự do tuyệt đối (Perfect freedom) của John Locke; trong quan niệm của Kant, cái mà quan niệm tự do cá nhân nhấn mạnh là sự tham gia tích cực của cá nhân đối với đời sống chính trị Hoặc có thể nói, con người là tự do, họ có thể lập ra những tiêu chuẩn pháp luật riêng cho hành
vi của mình Chính phủ phải bảo vệ cho an toàn và phúc lợi của cá nhân dựa trên nguyên tắc pháp luật và chính nghĩa Trái ngược với Machiavelli, Kant cho rằng cá nhân không phải là “thủ đoạn” mà phải là “mục đích” Quan điểm tích cực của tự
do cá nhân là hạt nhân trong tất cả tư tưởng triết học chính trị của Kant Trên phương diện triết học chính trị quốc tế, Kant cho rằng, chiến tranh giữa các quốc gia mang đến tổn thất vô cùng nặng nề, sự phát triển của xã hội công dân và lý trí loài người, cuối cùng sẽ khiến cho quan hệ giữa các quốc gia từ trạng thái riêng lẻ tự nhiên quá độ đến trạng thái pháp chế, từ đó thực hiện mục tiêu “hòa bình vĩnh cửu”
Tư tưởng hòa bình vĩnh cửu của Kant có ảnh hưởng trực tiếp đến lý luận quan hệ quốc tế sau đó là chủ nghĩa tự do cộng hòa, và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới sự ra đời và phát triển của lý luận hòa bình dân chủ
Và trước khi nổ ra trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tư tưởng quốc tế phát huy sức ảnh hưởng quan trọng nhất trong lĩnh vực chính trị quốc tế lúc đó là lý luận cân bằng quyền lực (The Balance of power theory) Các nhà chính trị học Châu
Âu lấy Metternich và Bismarck làm đại diện đã trở thành những đại sứ duy trì cán cân quyền lực Châu Âu, họ cố gắng thông qua quan hệ liên minh mật thiết phức tạp
để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì hòa bình Châu Âu Nhưng sự bùng nổ tàn bạo của chiến tranh thế giới lần thứ nhất vô tình đã tạo ra một sự mỉa mai lớn đối với những nỗ lực này Vì vậy, một số nhà chính trị và học giả thời đó đã suy nghĩ lại một cách sâu sắc về lý trí của loài người, hi vọng thoát khỏi bi kịch đáng buồn của
Trang 12lý luận cân bằng quyền lực này, điều này trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của tư tưởng quan hệ quốc tế mang ý nghĩa hiện đại hơn là chủ nghĩa lý tưởng
Từ những năm 20, 30 của thế kỷ 20, những đại diện tiêu biểu của lý luận quan hệ quốc tế Chủ nghĩa lý tưởng hiện đại chủ yếu có tổng thống Mỹ kiêm học giả Woodrow Wilson, JohnMurray, Parker TMoon, học giả người Anh Alfred Ezimmern, Philip Noel Baker và David Mitrany …
Chủ nghĩa lý tưởng phủ nhận quan điểm cho rằng bản chất cái ác trong con người là nguồn gốc dẫn đến chiến tranh và xung đột giữa các quốc gia của chủ nghĩa hiện thực Alfred Ezimmern cho rằng bản tính của con người không có cái gì
là thiện hay ác, quan trọng nó được quyết định bởi sự giáo hóa sau này Chiến tranh xảy ra không phải vì con người thiếu quan niệm về cộng đồng quốc tế, mà là vì sự hạn chế về kiến thức khiến họ chưa ý thức được điều này [29] Giống như Wilson
đã nói “thiện ác lẫn lộn, vàng thỏi cũng bị ăn mòn” Cũng có thể nói rằng, dù bản tính của con người tồn tại sự ngu muội và vô tri, những kẻ độc tài có thể lợi dụng điểm yếu này để thực hiện dã tâm của bản thân, nhưng sức mạnh của giáo dục và tuyên truyền có thể khắc phục được điểm cực đoan này Vì vậy, những người theo Chủ nghĩa lý tưởng vô cùng coi trọng sự giáo hóa đối với quần chúng nhân dân Đồng thời, sự giao lưu qua lại giữa nhân dân thế giới cũng giúp cho nhận thức lý trí
và trí tuệ của con người được phát huy một cách toàn diện, qua đó hình thành quan niệm về thể cộng đồng thế giới và tinh thần chủ nghĩa quốc tế, từ đó loại bỏ những nguyên nhân cơ bản của chiến tranh
Trên lĩnh vực chính trị quốc tế, tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa lý tưởng là dựa vào sức mạnh của tổ chức quốc tế và pháp luật quốc tế để theo đuổi công lý và hòa bình lâu dài của xã hội quốc tế Điều này được tập trung thể hiện trong phương
án “Mười bốn điểm” của Wilson về sự sắp xếp sau hậu chiến, và thành quả trực tiếp của phương án này chính là sự thành lập của liên minh quốc tế Với vai trò vừa là nhà chính trị vừa là học giả của mình đã giúp Wilson có thể thực hiện được phương
án hòa bình theo Chủ nghĩa lý tưởng của mình Ngày 08/01/1918 trong quá trình diễn thuyết tại quốc hội Mỹ, Wilson đã lần đầu tiên đưa ra kế hoạch “Mười bốn điểm” để làm cương lĩnh cơ bản tạo nên hòa bình thế giới sau chiến tranh Nhắm
Trang 13vào những nguyên nhân cực đoan của chính trị quốc tế đã dẫn đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất, kế hoạch “Mười bốn điểm” chủ trương các quốc gia nên từ bỏ ngoại giao bí mật, loại bỏ rào cản thương mại, thực hiện tự do hàng hải trên biển, cổ
vũ sự tự trị dân tộc, cắt giảm vũ khí ; điểm cốt lõi trong kế hoạch “Mười bốn điểm” là việc Wilson nhấn mạnh sau chiến tranh phải thiết lập một tổ chức quốc tế lấy việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới làm mục tiêu Phương án thành lập tổ chức quốc tế này cùng nguyên tắc an toàn tập thể của Wilson đã thay thế hoàn toàn nguyên tắc cân bằng lực lượng, là một tiên phong vĩ đại trong lịch sử phát triển của
lý luận quan hệ quốc tế Nó cũng tập trung phản ánh được quan niệm về trật tự quốc
tế của Chủ nghĩa lý tưởng Chủ nghĩa lý tưởng cho rằng sự sụp đổ của cán cân quyền lực trước chiến tranh và sự bùng nổ của thế chiến thứ nhất là hậu quả của việc các quốc gia không coi trọng nguyên tắc đạo đức chính nghĩa và pháp luật quốc tế, và việc thiết lập một tổ chức quốc tế mang tính phổ biến là con đường tốt nhất để giải quyết vấn đề này Liên minh quốc tế (Hội Quốc liên) được thành lập sau chiến tranh là một thử nghiệm vĩ đại của quan niệm Chủ nghĩa lý tưởng này [30] Nó mang tới những ý nghĩa vô cùng to lớn về cả mặt lý luận và thực tiễn cho Chủ nghĩa lý tưởng, mang đến cho sự phát triển của lý luận quan hệ quốc tế Chủ nghĩa tự do sau này những kinh nghiệm và bài học vô cùng phong phú
1.1.2 Chủ nghĩa tự do mới
Lý luận quan hệ quốc tế những năm 50 và 60 thế kỉ 20 là lý luận được phát triển trong quá trình biện luận giữa chủ nghĩa khoa học hành vi và chủ nghĩa truyền thống Cuộc tranh luận này dù rất khốc liệt nhưng về cơ bản thì lại là “một cuộc chiến giả tạo” [44], sự tranh luận của hai bên chỉ là sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu Dẫu sao thì nó cũng có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy việc nghiên cứu sâu hơn đối với tư tưởng và quan niệm cơ bản của lý luận quan hệ quốc tế Từ những ý nghĩa này, sau chiến tranh thì tiến bộ lớn nhất của hoạt động nghiên cứu lý luận quan hệ quốc tế đến vào giai đoạn những năm 60 và 70 của thế kỷ 20 là sự xuất hiện của chủ nghĩa tự do mới và chủ nghĩa hiện thực mới, và cả sự đối đầu của hai lý luận này Những nghiên cứu này đã tạo nên trào lưu chủ đạo trong sự phát triển
lý luận quan hệ quốc tế và được duy trì đến ngày nay Cái được gọi là “Chủ nghĩa tự do
Trang 14mới” và “Chủ nghĩa hiện thực mới” là cái dùng để phân biệt với Chủ nghĩa tự do cũ là Chủ nghĩa lý tưởng và Chủ nghĩa hiện thực kinh điển truyền thống
Cái tên “Chủ nghĩa tự do mới” chỉ là một sự ám chỉ, bởi sự khác biệt của quan niệm cụ thể và trọng điểm nghiên cứu nằm trong bản thân nó, trong nó vẫn còn tồn tại những trào lưu khác nhau Tại đây, chúng ta có thể tóm gọn thành 3 trào lưu mang tính tiêu biểu:
a Lý luận phụ thuộc lẫn nhau
Lực sát thương vô cùng lớn của vũ khí hạt nhân đã khiến cho con người đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh nhận ra rằng, hậu quả của chiến tranh hạt nhân không khác gì sự hủy diệt toàn bộ của loài người; sự phát triển toàn cầu hóa của kinh tế và thương mại khiến cho thế giới trở nên ngày càng “nhỏ”, những vấn đề chung mà các quốc gia toàn cầu phải đối mặt như môi trường sinh thái ngày càng nhiều hơn Những điều này giúp các nhà nghiên cứu chính trị quốc tế nhận thức sâu sắc hơn phụ thuộc lẫn nhau trong chính trị thế giới, cũng từ đó mà cuối cùng lí luận phụ thuộc lẫn nhau được ra đời [55, 54, 53]
Những người đại diện cho lí luận phụ thuộc lẫn nhau bao gồm: Robert Keohane, Joseph Nye và Richard Rosecranse… Robert Keohane hiện là giáo sư tại Đại học Duke của Mỹ, Joseph Nye là hiệu trưởng học viện chính phủ Kennedy trường Harvard, hai người đã có sự hợp tác nghiên cứu lâu dài và có những thành quả vô cùng phong phú Tình hữu nghị sâu sắc giữa họ được giới lý luận quan hệ quốc tế học gọi là một giai thoại Lý luận phụ thuộc lẫn nhau chính là lý luận được sáng lập bởi hai người họ, và những kiệt tác của họ cũng là hợp tác hoàn thành Chủ
yếu gồm có Quan hệ xuyên quốc gia và chính trị thế giới, Quyền lực và phụ thuộc lẫn nhau… Tác phẩm thứ hai là tác phẩm xuất sắc nhất của lý luận phụ thuộc lẫn
nhau Ngoài ra còn có Rosecranse, hiện là một giáo sư tại Đại học California, Los Angeles Tác phẩm mang tính tiêu biểu phản ánh tư tưởng phụ thuộc lẫn nhau của
ông là Sự phát triển của mậu dịch quốc gia
Lý luận về phụ thuộc lẫn nhau đã thách thức một số giả định cơ bản của Chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, chính phủ quốc gia là thể hành vi quan trọng duy nhất trong chính trị quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia tạo nên
Trang 15những nội dung cơ bản trong chính trị quốc tế, thể hành vi phi chính phủ dù có tồn tại cũng không thể phát huy tác dụng thiết thực nào, mà chỉ là cái phụ thuộc vào quyền lực chính trị của chính phủ quốc gia [39] Lý luận phụ thuộc lẫn nhau phản đối chủ nghĩa trung tâm quốc gia, nó cho rằng chính phủ quốc gia không phải là thể hành vi duy nhất trong chính trị thế giới, ngày càng có nhiều những tổ chức siêu quốc gia và xuyên quốc gia phát huy tác dụng to lớn trên bình diện quốc tế, ví dụ: tổ chức quốc tế liên hợp quốc, tổ chức phi chính phủ, công ty xuyên quốc gia… Lý luận phụ thuộc lẫn nhau coi trọng việc nghiên cứu quan hệ xuyên quốc gia, chú trọng việc phân tích hậu quả và ảnh hưởng của việc nhất thể hóa Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, mục tiêu đầu tiên của chính phủ quốc gia là theo đuổi sự an toàn trên lĩnh vực quân sự, tiếp đó mới đến kinh tế, môi trường… Lý luận phụ thuộc lẫn nhau cho rằng, sự phát triển của nhất thể hóa không chỉ khiến sự ỷ lại lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc, mà còn làm cho “sự phụ thuộc lẫn nhau phù hợp” (Complex Interdependence) trong các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, môi trường và sinh thái…ngày càng gia tăng Sự sắp xếp cao thấp trong chính trị quốc tế theo chủ nghĩa hiện thực lấy quyền lực và lợi ích quốc gia chủ quyền đặt lên trên sau đó mới đến kinh tế và môi trường đã bị phá vỡ, các sự vụ trên thế giới ngày càng trở nên thành một chỉnh thể Mô hình chính trị quốc tế lấy chính phủ quốc gia
và lợi ích làm hạt nhân đã phải dần nhường chỗ cho những nghiên cứu về các vấn
đề xuyên quốc gia
Sự xuất hiện của lý luận phụ thuộc lẫn nhau đã phá vỡ trạng thái chiếm lĩnh trong lý luận quan hệ quốc tế của chủ nghĩa hiện thực, mở rộng góc nhìn trong nghiên cứu lý luận, mang đến những vấn đề nghị sự và con đường tư duy hoàn toàn mới về sự biến động trong chính trị thế giới, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển nhanh chóng của lý luận quan hệ quốc tế về Chủ nghĩa tự do hiện đại Cũng trên chính cơ sở của lý luận phụ thuộc lẫn nhau hoặc lý luận phụ thuộc phù hợp, thì Chủ nghĩa chế độ tự do mới mới có thể được sinh ra, và tạo nên ảnh hưởng trực tiếp đối với những lý luận chính trị thế giới ra đời sau chiến tranh lạnh như lý luận toàn cầu trị và lý luận chủ nghĩa tự do mới Kiệt tác tiêu biểu của lý luận phụ thuộc lẫn
nhau là cuốn quyền lực và sự phụ thuộc lẫn nhau nó được coi là “tác phẩm cột mốc
Trang 16quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu chính trị kinh tế học quốc tế và quan hệ quốc tế” [55]
b Chủ nghĩa thể chế tự do mới
Trên cơ sở lí luận phụ thuộc lẫn nhau phù hợp, một nhóm các nhà lý luận quan hệ quốc tế học phương Tây trong đó lấy Robert Keohane làm trung tâm, đã tiến thêm một bước nghiên cứu một cách sâu sắc và phong phú hơn lý luận Chủ nghĩa tự do trong quan hệ quốc tế Họ đã đưa ra lý luận chủ nghĩa chế độ tự do mới được gọi là “lý luận thể chế” (institution theory) hoặc “lý luận chế độ” (regime theory) Ngoài Robert Keohane, những đại diện tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu
lí luận chủ nghĩa chế độ tự do mới còn có: Oran Young, Ernst Hass…[36, 64, 57,
58, 51, 42]
Khác với lý luận phụ thuộc lẫn nhau, lý luận Chủ nghĩa chế độ tự do mới đã tiếp nhận một vài giả thiết cơ bản của lý luận chủ nghĩa hiện thực mới, ví dụ như: chính phủ quốc gia là chủ thể quan trọng duy nhất trong chính trị quốc tế hay trạng thái vô chính phủ của xã hội quốc tế…mặc dù cũng có nhiều cách giải thích khác nhau về hậu quả và sự hiểu biết của những khái niệm này Đồng thời, lý luận này còn hấp thu cả lý thuyết trò chơi (Game Theory), lựa chọn lý trí bên cạnh đó là những phương pháp nghiên cứu mới, khiến cho phân tích lý luận của mình càng chặt chẽ và thực tế hơn
Căn cứ vào định nghĩa được đại đa số học giả đồng thuận của Stephen Crasner, cái được gọi là “chế độ” chính là “sự tập hợp của một loạt những cá thể với thứ tự sắp xếp rõ ràng hoặc mơ hồ về các nguyên tắc, qui phạm, qui tắc và quyết sách đối với những vấn đề đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ quốc tế” [65] Dù những học giả khác nhau có những định nghĩa không giống nhau về “thể chế” hay “chế độ”, nhưng khái niệm cơ bản của nó đều được bao hàm trong định nghĩa này, cường điệu thể chế trong hành động quy phạm của các cá thể Đây cũng là điểm xuất phát
và gốc rễ của những nghiên cứu về chủ nghĩa chế độ tự do mới
Lý luận lựa chọn lí trí (Rational Choice Theory) được xây dựng trên nền tảng của thuyết trò chơi là công cụ chủ yếu trong việc nghiên cứu chủ nghĩa chế độ tự do mới Lý luận lựa chọn lí trí hay còn gọi là lý luận lựa chọn công cộng, xuất hiện
Trang 17sớm nhất bắt nguồn từ phương pháp phân tích, nghiên cứu kinh tế học; quan điểm
cơ bản của nó bao gồm: coi cá thể trong hành động tập thể là đối tượng hành vi có
lý trí, mục đích của những cá thể này là tìm kiếm lợi ích tối đa cho riêng mình, trong quá trình hành động của bản thân họ có thể lựa chọn những gì có lợi nhất cho mình sau khi đã cân nhắc kĩ càng [31, 60, 61] Từ đó mà tạo nên tính logic thông thường trong hành động của một tập thể Những hành vi lý trí này được thiết lập thông qua sự kết hợp của sự học tập, trò chơi và công năng
Lý luận chủ nghĩa chế độ tự do mới đã tham khảo tiền đề và phương pháp phân tích lý trí của chủ nghĩa hiện thực, nhưng lại rút ra được một kết luận ngược lại Nó cho rằng hợp tác dưới trạng thái vô chính phủ là có thể, từ đó tạo nên một thái độ chủ nghĩa lạc quan trong thế giới quan Nó nắm bắt một cách rõ ràng các xu thế phát triển và vấn đề mới của chính trị thế giới, từ đó đưa ra một cách giải thích hoàn toàn mới Sự vươn lên của chủ nghĩa chế độ tự do mới trong những năm 70,
80 thế kỷ 20 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển lý luận quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong lịch sử phát triển lý luận quan hệ quốc tế Chủ nghĩa tự do Mặc dù bản thân Robert Keohane cũng thừa nhận nó vẫn tồn tại không ít những khuyết điểm, nhưng ý nghĩa mà nó mang lại cho lý luận và thực tiễn của lý luận quan hệ quốc tế đương đại là rõ ràng và chắc chắn Là một trường phái quan trọng trong lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do, tranh luận giữa nó và chủ nghĩa hiện thực mới đã tạo nên những nội dung chủ yếu trong lịch sử phát triển lý luận quan hệ quốc tế trước khi chiến tranh lạnh kết thúc Đương nhiên, chủ nghĩa thể chế không phải là tất cả trong sự phát triển lý luận quan hệ quốc tế chủ nghĩa tự do vào thời gian này, cụ thể là sự “tái phát hiện” của lý luận hòa bình dân chủ (Theory of Democracy Peace) trước khi chiến tranh lạnh kết thúc ở những năm 70 thế kỉ 20 là một minh chứng
c Chủ nghĩa tự do cộng hòa: lý luận hòa bình dân chủ
Mặc dù “lý luận hòa bình dân chủ” được coi là thành quả có ý nghĩa nhất đối với việc nghiên cứu chính trị thế giới sau chiến tranh lạnh [67] Nhưng nó đóng vai trò là tư tưởng của một loại mô hình an toàn thì nó đã sớm tồn tại, vì thế nó được gọi là lý luận “tái khám phá” (Rediscoverd) [35] Người sớm nhất đưa ra lý luận
Trang 18tương tự là Kant, ông đã đề cập và thảo luận đến mô hình an toàn được gọi là “hòa bình vĩnh cửu” (Perpetual Peace) Những thể cộng đồng được mở rộng liên tục của các quốc gia cộng hòa, có tinh thần dân chủ và pháp chế thì cuối cùng sẽ có thể đạt được “hòa bình vĩnh cửu” dưới nguyên tắc pháp luật quốc tế chung Vì cơ chế kiểm soát của thể chế chính trị cộng hòa có thể ngăn chặn các quốc gia cộng hòa mạo hiểm tiến hành chiến tranh, còn các quốc gia phi dân chủ có tiến hành chiến tranh hay không lại hoàn toàn dựa vào quan điểm không chịu bất cứ kiểm soát nào của một kẻ độc tài [41, 40] Tư tưởng của Kant được gọi là “chủ nghĩa quốc tế của chủ nghĩa tự do” [46], và nó được phát triển thêm một bước sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất; trong “Mười bốn điểm” của mình tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đã nói rằng: “dựa vào phương thức sinh hoạt của bản thân để quyết định chế độ riêng của quốc gia”, “yêu hòa bình”, “có thể đạt được sự đảm bảo của chính nghĩa”, và nhận được sự đối đãi công bằng của những dân tộc khác trên thế giới, từ đó tránh được việc nhận tổn thất lợi ích hay phải chịu bạo lực” Năm 1919, Schumpeter đã đưa ra mệnh đề “Chủ nghĩa tư bản của dân chủ có thể dẫn đến hòa bình” [43] Học giả đương đại từ những năm 70 thế kỉ 20 đã bắt đầu nhận thức lại vấn đề hòa bình dân chủ, và từng bước lý luận hóa, hệ thống hóa nó Vào năm 1976 Mekvin Small và David Singer đã lần đầu tiên tiến hành mô tả hiện tượng thực nghiệm hòa bình dân
tộc [48]; Vào năm 1983 Michael Doyle trong Kant, di sản chủ nghĩa tự do và ngoại giao đã chính thức đề cập đến “hòa bình dân tộc” như một lý luận [49]; Sau
khi chiến tranh lạnh kết thúc, “hòa bình dân tộc” đã trở thành một trong những điểm nghiên cứu chính của giới lý luận quan hệ quốc tế phương Tây, ví dụ Bruce Russett
trong tác phẩm của mình nắm vững hòa bình dân chủ: nguyên tắc của thế giới sau chiến tranh lạnh đã nghị luận một cách hệ thống đối với nó [32]
Là một giả thiết có liên quan đến mô hình an ninh quốc tế, quan điểm chủ yếu của “lý luận hòa bình dân chủ” hiện đại bao gồm [47, 32, 46, 66]:
(1) Một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế: giữa các quốc gia dân chủ không hoặc rất
ít khi xảy ra xung đột;
(2) Dù cho giữa các quốc gia có xảy ra xung đột, hai bên cũng không sử dụng vũ lực hoặc lấy vũ lực để uy hiếp, bởi điều này trái với nguyên tắc dân chủ và lý tính;
Trang 19(3) Giữa các quốc gia chuyên chế hoặc giữa các nước dân chủ và chuyên chế rất dễ phát sinh xung đột, hơn nữa càng dễ dàng sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp
Có những học giả còn cho rằng so với các nước dân chủ các quốc gia phi dân chủ càng hiếu chiến hơn [34]
Đóng vai trò là một loại kinh nghiệm pháp chế, một trong những căn cứ quan trọng của “lý luận hòa bình dân chủ” là: “kinh nghiệm thực tế” của “các quốc gia dân chủ ít chiến tranh” Nếu nói “hòa bình vĩnh cửu” của Kant chỉ là một lý tưởng, thì “lý luận hòa bình dân chủ” lại cố gắng thông qua các thống kê và phân tích để chứng minh hiện tượng này tồn tại phổ biến trong những giai đoạn khác nhau Mekvin Small và David Singer và Michael Doyle cho rằng, từ năm 1816 đến nay giữa các quốc gia dân chủ hầu như không xảy ra chiến tranh thực sự [47, 63]
Có hai nguyên nhân dẫn tới “lý luận hòa bình dân chủ”, một là sự ràng buộc chế độ (institutional restraints) trong nội bộ quốc gia dân chủ, hai là qui phạm dân chủ và văn hóa chung (normand culture) trong cộng đồng giữa các quốc gia dân chủ [62]
Một mặt khác, “lý luận hòa bình dân chủ” cho rằng, trong sự phát triển chính trị trong nước thì sẽ có một vài thể chế và qui phạm ảnh hưởng tới mô thức đối ngoại của quốc gia, sự khác biệt về chính trị trong nước giữa các nước dân chủ và phi dân chủ dẫn đến sự khác biệt về chính sách đối ngoại của đôi bên Chính trị dân chủ nhấn mạnh việc thông qua phương thức hòa bình để tiến hành những cạnh tranh chính trị một cách có qui tắc Như vậy, cách giải quyết những mâu thuẫn chính trị trong nước của các nước dân chủ không được thực hiện bằng cách loại bỏ đối thủ, điều này khiến cho xã hội dân chủ bất luận là quốc gia, khu vực hay cá nhân đều rất
ổn định Còn trong cạnh tranh chính trị của các quốc gia phi dân chủ, kẻ thắng sẽ có tất cả, kẻ bại không có cơ hội vực dậy được; sự ổn định của các nước phi dân chủ bắt buộc được tạo nên trên cơ sở không có phe phản đối chính trị nào hiệu quả [67] Nói một cách cụ thể, sự ràng buộc chế độ được thể hiện như sau: Đầu tiên, chế độ bầu cử của các nước dân chủ quyết định chính phủ phải chịu trách nhiệm đối với cử tri Thứ hai, nguyên tắc phân quyền (Power Division) và cân bằng chế độ (Checkand Balance) trong chính trị quốc gia dân chủ khiến cho trách nhiệm quyết
Trang 20sách ngoại giao được đa dạng hóa, từ đó có thể tránh khỏi việc đưa ra những quyết định cực đoan Ngoài ra, do các quốc gia dân chủ muốn tiến hành chiến tranh phải thông qua việc tranh luận công khai và cần nhận được sự đồng thuận của các nhà chính trị dân chủ, thời gian chuẩn bị chiến tranh lâu dài; những điều này mang đến cơ hội hòa hoãn trong thời gian thông qua con đường ngoại giao để giải quyết tranh chấp
Đối với nhân tố văn hóa và qui phạm của dân chủ, lý luận hòa bình dân chủ cho rằng khí chất tinh thần (ethos) mà các quốc gia dân chủ có chung cũng khiến cho giữa các nước dân chủ ít xảy ra chiến tranh, đặc trưng căn bản của tinh thần này nằm ở cạnh tranh hòa bình và thỏa hiệp chính trị Một quốc gia dân chủ sẽ nghĩ rằng các quốc gia dân chủ khác cũng sẽ giải quyết các tranh chấp bằng những biên pháp cạnh tranh hòa bình có nguyên tắc, hơn nữa sẽ vận dụng nó trong cả quan hệ đối ngoại; vì vậy, ấn tượng của quốc gia dân chủ đối với các quốc gia dân chủ khác
là tích cực, họ cho rằng đôi bên là hòa bình, từ đó tạo nên quan hệ tôn trọng lẫn nhau Ngược lại, giữa các quốc gia dân chủ và phi dân chủ lại thiếu tinh thần tôn trọng nhau này [62]
Dù “lý luận hòa bình dân chủ” từ khái niệm, thực tế đến logic đều tồn tại rất nhiều thiếu xót, bị không ít những học giả phê phán, nhưng hàm ý logic của nó lại
là cơ sở ổn định của hòa bình thế giới với chế độ dân chủ đã được phương Tây thừa nhận, cho nên nó có sức ảnh hướng rât lớn đối với giới chính trị và giới lý luận quan
hệ quan hệ quốc tế phương Tây, nó mở ra một con đường khiến mọi người phải coi trọng trong sự phát triển của tư tưởng lý luận quan hệ quốc tế về chủ nghĩa tự do
1.1.3 Các luận điểm chính
Chủ nghĩa Tự do được xây dựng trên một số cơ sở lý luận và thực tiễn Các
cơ sở này bao gồm quan niệm về mối quan hệ giữa môi trường vô chính phủ và xung đột trong QHQT, tính đa nguyên về chủ thể QHQT, bản chất của con người, chủ nghĩa duy vật kết hợp duy tâm chủ quan, quan điểm về sự vận động của thực tiễn lịch sử, quan niệm về tự do Chủ nghĩa Tự do có những luận điểm cơ bản về QHQT như sau [16]:
Trang 21- Chủ nghĩa Tự do cho rằng trong QHQT, bên cạnh quốc gia còn các chủ thể phi quốc gia như các tổ chức quốc tế, công ty xuyên quốc gia… Các chủ thể phi quốc gia đang tham gia ngày càng nhiều vào QHQT với vai trò ngày càng tăng
- QHQT chịu tác động đáng kể của nhiều yếu tố đối nội Vì quốc gia không phải là nhất thể, nên bên trong quốc gia có nhiều lực lượng cùng tham gia xác định lợi ích quốc gia và hoạch định chính sách đối ngoại Lợi ích quốc gia và chính sách đối ngoại nhiều khi là kết quả của sự đấu tranh, thỏa hiệp, liên minh giữa các nhóm chứ không phải lúc nào cũng phản ánh trung thành lợi ích quốc gia Chính trị đối nội trở thành một phần của QHQT và các nhóm trong nước trở thành một trong những đơn vị phân tích trong nghiên cứu QHQT Các yếu tố đối nội mà Chủ nghĩa
Tự do nhấn mạnh có thể tác động tới chính sách đối ngoại và QHQT chính là tự do, dân chủ, nhân quyền…thông qua kênh phổ biến nhất là công luận
- Lợi ích quốc gia là đa dạng và QHQT là đa lĩnh vực Sự đa dạng lợi ích này được cấu thành từ nhiều nhóm lợi ích khác nhau và bởi sự đa dạng trong lợi ích con người Cũng giống như con người, lợi ích của quốc gia không phải chỉ có mỗi an ninh và quyền lực mà còn cả sự thịnh vượng kinh tế và những lợi ích khác Chủ nghĩa Tự do coi QHQT là sự hỗn hợp của nhiều lĩnh vực và vấn đề tương tác với nhau Cũng theo Chủ nghĩa Tự do, những lợi ích quốc gia quan trọng nhất là hòa bình (chính trị) và thịnh vượng (kinh tế) nên chính trị và kinh tế cũng là hai lĩnh vực
cơ bản nhất trong QHQT Những người theo Chủ nghĩa Tự do luôn cho rằng kinh tế
và chính trị luôn gắn bó mật thiết với nhau, có tác động qua lại Bởi vậy, Chủ nghĩa
Tự do rất quan tâm tới mối tương tác giữa hai lĩnh vực này trong đời sống quốc tế
và coi các vấn đề này đều quan trọng như nhau Chính sự quan tâm này khiến Chủ nghĩa Tự do còn được gọi là “lý thuyết kinh tế chính trị quốc tế”
- Chủ nghĩa Tự do cho rằng hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa người với người và từ đó là khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau Chính sự tự do cá nhân sẽ làm bộc lộ nhiều lợi ích và ý tưởng khác nhau của con người và ý tưởng khác nhau của con người và nhận thức lý trí sẽ giúp con người nhận thức được đâu là lợi ích chung bên cạnh lợi ích riêng và những ý tưởng tốt nhất
Trang 22- An ninh tập thể là một phương thức ngăn chặn chiến tranh, duy trì hòa bình của Chủ nghĩa Tự do An ninh tập thể có nghĩa là an ninh được nhận thức là vấn đề
có tính tập thể và bảo vệ an ninh là trách nhiệm của tập thể hơn là của cá nhân quốc gia nào đó Đây chính là cách thức “mọi người chống lại một người” nhằm đảm bảo
an ninh, loại trừ chiến tranh ra khỏi đời sống
- Chủ nghĩa Tự do cũng coi phát triển kinh tế thị trường như phương cách quan trọng khác để thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT Kinh tế thị trường được xây dựng trên cơ sở tự do kinh tế và một phần tự do chính trị Kinh tế thị trường giúp đem lại lợi ích kinh tế và thịnh vượng mà tất cả đều cần; đòi hỏi phải thúc đẩy hợp tác bởi đây là phương thức quan hệ chủ yếu trong kinh tế thị trường; yêu cầu phải duy trì môi trường an ninh để phát triển Bên cạnh đó, kinh tế thị trường phát triển còn đem lại một thực tế khác nữa rất có ý nghĩa đối với hòa bình và hợp tác trong QHQT Đó là sự phụ thuộc lẫn nhau Kinh
tế thị trường là phương tiện, còn sự phụ thuộc lẫn nhau là kết quả và kết quả này mới tác động mạnh mẽ đến QHQT
- Chủ nghĩa Tự do Mới đặc biệt đề cao vai trò của thể chế quốc tế như phương án chủ yếu để xây dựng và sắp xếp lại QHQT theo tinh thần của lý thuyết này Thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác và hội nhập
- Theo Chủ nghĩa Tự do, xung đột không phải là hình thái QHQT duy nhất trong môi trường vô chính phủ, mà bên cạnh đó vẫn có chỗ cho sự hợp tác trong môi trường vô chính phủ Hợp tác có thể được thực hiện trên cơ sở tương đồng nhất định chứ không nhất thiết phải có sự hài hòa hay thống nhất Hợp tác có thể diễn ra trong vấn đề cụ thể nào đó mà không nhất thiết phải là trên tất cả các lĩnh vực Xung đột và hợp tác có tác động qua lại với nhau nên phải tính đến cả hai hình thái này mới đánh giá đúng bản chất và sự vận động của các mối QHQT
- Hợp tác sẽ ngày càng tăng, và dần thay thế cho xung đột, trở thành xu thế chính trong QHQT Đó là do mong muốn hòa bình, nhu cầu thịnh vượng kinh tế, phát huy dân chủ tự do, phát triển kinh tế thị trường, thúc đẩy luật pháp quốc tế và
mở rộng thể chế quốc tế
Trang 23- Chủ nghĩa Tự do cho rằng hợp tác chính là xu hướng phát triển của lịch sử QHQT thế giới Xu thế hợp tác phát triển không chỉ về bề rộng mà còn về bề sâu với sự phát triển của hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế tuy xuất hiện muộn hơn hợp tác từ nửa cuối thế kỳ XIX nhưng phát triển khá mạnh mẽ trong thời kỳ hiện đại Hiện nay, hội nhập quốc tế tuy chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực kinh tế nhưng đã lôi cuốn mọi quốc gia tham gia với nhiều hình thức (khu vực thương mại tự do, liên hiệp thuế quan, thị trường chung…) và cấp độ khác nhau (song phương, khu vực, toàn cầu…)
- Chủ nghĩa Tự do Mới cũng thừa nhận sự tồn tại của hệ thống quốc tế, nhưng đó đơn giản chỉ là một trong những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến QHQT Chủ nghĩa Tự do chủ yếu quan tâm đến sự tương tác giữa các chủ thể QHQT trong việc hình thành hệ thống và ảnh hưởng đến nhau bên trong hệ thống Trong hệ thống phụ thuộc lẫn nhau này, các chủ thể rất dễ chịu tác động cũng như
dễ bị tổn thương bởi hành vi của chủ thể khác
- Chủ nghĩa Tự do cũng đề cập đến vai trò của luật pháp quốc tế như một phương thức khác dù không quá đề cao như dân chủ tự do, kinh tế thị trường hay thể chế quốc tế Luật pháp giúp điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng ngăn chặn xung đột và hợp tác thực hiện các vấn đề chung
- Chủ nghĩa Tự do đề cao vai trò của dân chủ tự do, là yếu tố quan trọng thúc đẩy hợp tác, đảm bảo an ninh và duy trì hòa bình trong QHQT Khi nhân dân thế giới đều được hưởng quyền tự do cộng hòa, chính phủ các nước trên thế giới đều sẽ thi hành chính sách đối ngoại hòa bình
Nhìn từ những luận điểm của lý thuyết chủ nghĩa tự do, mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan có nhiều lý do để trở nên gắn bó với nhau hơn Không chỉ đơn thuần là sự hợp tác trên góc độ vì lợi ích của hai quốc gia, mà nó còn là điều kiện bắt buộc để cả hai nước xây dựng nền kinh tế, chính trị ổn định trong nước, an ninh của quốc gia cũng như khu vực
1.2 Cơ sở thực tiễn về mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan
1.2.1 Nhân tố nội tại của Thái Lan
Bối cảnh chính trị - xã hội bất ổn
Trang 24Trước năm 1932, Thái Lan theo chế độ Quân chủ chuyên chế Ngày 10/12/1932 Vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên và Thái Lan theo chế độ quân chủ lập hiến Hơn 60 năm qua Thái Lan đã thay đổi 16 hiến pháp, nhưng chủ yếu vẫn dựa trên cơ sở Hiến pháp 1932 Sau sự kiện 19/9/2006, Thái Lan lập chính phủ mới do Thủ tướng Su-ra-dút Chu-la-nôn đứng đầu Sau đó Thái Lan đã tiến hành soạn thảo hiến pháp mới và tổ chức thực hiện Tổng tuyển cử vào tháng 11/2007
Cuộc đảo chính ngày 19-9-2006 bùng nổ vào đúng thời điểm Thaksin đang ở New York (Mỹ) tham dự kỳ họp thường niên của Đại hội đồng Liên hợp quốc Toàn bộ diễn biến của cuộc đảo chính đều hiện hữu ở thủ đô Bangkok, trung tâm chính trị, quyền lực của Thailand Phạm vi của cuộc đảo chính thậm chí còn mở rộng tận sang Mỹ qua mạng lưới truyền thông, vào thời điểm mà Thaksin đang chuẩn bị phát biểu về “Tương lai dân chủ ở châu Á” Lý do của cuộc đảo chính này bắt nguồn từ “phong cách Thaksin” tạo ra những lực lượng đối lập mạnh mẽ cho Thaksin, trong đó tầng lớp trung lưu với thượng lưu thành thị và phần đông giới quân sự giữ vị trí chủ chốt Lực lượng thứ nhất phát động các cuộc biểu tình chống chính phủ trên đường phố trong suốt những tháng đầu năm 2006, dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị ngày càng trầm trọng Lực lượng thứ hai đưa cuộc khủng hoảng đó lên đỉnh điểm, đồng thời chấm dứt nó bằng hành động đảo chính “Phong cách Thaksin” trở thành nguồn gốc quyết định sự kiện ngày 19-9-2006 Ngoài ra phải kể đến một số lí do quan trọng mang tính chủ quan mà chính phủ Thaksin không may gặp phải Đó là nạn tham nhũng trong bộ máy quan liêu di căn từ các thời kỳ trước, cùng với đó là sự gia tăng những tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn lậu
vũ khí, buôn bán và sử dụng ma túy… sản phẩm của nền văn hóa “mở” thời hiện đại, và nhất là tình trạng tái phát bạo loạn ở miền Nam từ đầu năm 2004
Sau cuộc đảo chính này, tình hình chính trị của Thái Lan rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên, người dân Thái Lan bị cuốn vào vòng xoáy các cuộc biểu tình, hết của phe Áo Đỏ ủng hộ Thaksin đến phe Áo Vàng bảo hoàng và chống đến cùng hệ thống của Thaksin Bên cạnh đó là những phong trào ly khai của người Hồi giáo gốc Malay ở miền Nam Thái Lan chống đối chính quyền tại Bangkok từ hơn
Trang 2510 năm qua và gia tăng cường độ kể từ năm 2004.Trong khi đó, ở miền Nam Thái Lan, chiến dịch đòi ly khai vẫn diễn ra, tập trung ở vùng Pattani và liên tục lan sang các tỉnh lân cận, đe dọa lan đến thủ đô Bangkok Một loạt xung đột dẫn khiến 1.200 người thiệt mạng trong một thập kỷ, với hơn 1.000 người chết kể từ khi bạo loạn nổ
ra tháng 1/2004 [69] Vùng bạo loạn là nơi đa số cư dân lại là thiểu số Hồi giáo trên một đất nước Phật giáo Sau cuộc đảo chính năm 2006, những cuộc đụng độ giữa phe chống đối và ủng hộ Thaksin diễn ra liên tục; tới năm 2008 tưởng như việc đồng minh chính trị của ông Thaksin – Abhisit Vejjajiva, lãnh tụ đảng dân chủ được dân bầu lên để giữ chức vụ thủ tướng sẽ có thể bình ổn tình trạng chính trị bất ổn này sau khi chính phủ mới đã vượt qua được cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vào ngày
20 tháng 3 năm 2009; đúng lúc này lại có hơn 20000 người biểu tình bao vây văn phòng thủ tưởng, đòi chính phủ phải từ chức, mặc dù chính phủ của thủ tướng Vejjajiva đã phát chi phiếu cho người dân nhưng cũng không mang lại hiệu quả, thậm chí thời gian sau đó người biểu tình còn bao vây và tấn công xe của thủ tướng, dù cuối cùng cuộc biểu tình cũng được dẹp yên với sự giam cầm những nhà lãnh đạo biểu tình, nhưng tình trạng bạo động cũng đã mang đến những thiệt hại không nhỏ
Liên tục hai năm sau đó các cuộc bạo lực phe phái không lúc nào có dấu hiệu dừng lại, tới năm 2011 khi em gái của Thaksin là bà Yingluck Shinawatra lên cầm quyền, sau chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử quốc hội năm đó, thì sóng gió trên chính trường Thái Lan đã tạm lắng lại, dù mâu thuẫn lợi ích phe phái vẫn còn
âm ỉ
Tới năm 2013, bất ổn chính trị lại được đẩy lên cao trào khi bà Thủ tướng Yingluck Shinawatra tìm cách thông qua dự luật ân xá gây tranh cãi Bước vào những tháng đầu tiên của năm 2014, làn sóng biểu tình vẫn rầm rộ tại Thái Lan với chiến dịch đóng cửa Bangkok bắt đầu từ ngày 13/1/2014 Người biểu tình vẫn tiếp tục bày tỏ sự phản đối đối với Dự luật ân xá của Thủ tướng Yingluck Shinawatra;
họ cho rằng, mục đích chính của Dự luật ân xá là nhằm "xóa tội" cho cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra – anh trai của bà Yingluck thông qua điều khoản xóa tội cho các cá nhân có hành vi sai trái và mở đường cho ông trở về nước mà không phải chịu án tù sau thời gian dài sống lưu vong như: sát hại người biểu tình không có vũ
Trang 26trang Ông Thaksin đã bị tòa án Thái Lan kết tội tham nhũng và kết án vắng mặt 2 năm tù.Trong một nỗ lực hạ nhiệt cuộc khủng hoảng chính trị do làn sóng biểu tình phản đối chính phủ gây ra, bà Yingluck trước đó đã ra lệnh giải tán Quốc hội và kêu gọi tiến hành bầu cử vào ngày 2/2/2014 Tuy nhiên, người biểu tình tuyên bố, họ không muốn tiến hành bầu cử vì họ biết rõ rằng, đảng Vì nước Thái (Puea Thai) của
bà Yingluck gần như chắc chắn sẽ tiếp tục giành phần thắng nhờ sự ủng hộ của đông đảo người dân khu vực nông thôn ở đất nước 66 triệu dân này Họ cho biết, sẽ ngăn cản bầu cử Và đây chính là nguyên nhân khiến cho cuộc tổng tuyển cử tháng
2 tại đất nước chùa Vàng này thất bại
Hàng loạt xung đột giữa phe Áo Đỏ (ủng hộ chính phủ của Thủ tướng Yingluck) và phe Áo Vàng thuộc lực lượng Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD)
đã nổ ra trong 5 năm qua Tháng 5/2014, Tư lệnh lục quân Thái Lan, Tướng Prayut Chan-ocha đảo chính quân sự và cầm quyền thay cho đảng Pheu Thai (Vì nước Thái) của bà Yingluck Tháng 8/2015, phe cánh ủng hộ ông Thaksin đã phản đối chính quyền quân sự cấm một số nhà chính trị thuộc phe này hoạt động chính trị Bên cạnh đó đó là vụ đánh bom gần đền Erawan ở thủ đô Bangkok khiến 20 người thiệt mạng và hơn 120 nạn nhân khác bị thương vào tối 17/8/2015 xảy ra vào thời điểm căng thẳng gia tăng tại quốc gia bị chia rẽ sâu sắc về mặt chính trị [76]
Theo như lộ trình đã vạch ra, chính quyền quân sự Thái Lan ngày 23/7/2015,
đã công bố chi tiết bản Hiến pháp tạm thời, theo đó, cho phép Tướng Prayuth Chan O-cha trở thành Thủ tướng lâm thời của nước này Điều này có nghĩa, chính quyền quân sự Thái Lan khẳng định, sẽ vẫn nắm giữ quyền kiểm soát đất nước cho đến khi cuộc bầu cử được tổ chức vào thời gian tới theo Hiến pháp mới Theo lộ trình mà Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-o-cha đưa ra, bản dự thảo hiến pháp sẽ được đưa
ra trưng cầu dân ý vào tháng 11/2016 Sau đó, một cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào năm 2017 [109] Tuyên bố mới nhất này của Thủ tướng Prayuth là sự khẳng định công khai của người đứng đầu chính quyền Thái Lan hiện nay cho thấy,
lộ trình cải cách Thái Lan gồm 3 giai đoạn, dự kiến kết thúc vào cuối năm 2016 nhưng bị kéo dài sang năm 2017 Hiện Thái Lan đang trong giai đoạn 3 của cuộc cải cách với nội dung là tổ chức một cuộc tổng tuyển cử để thành lập một chính phủ
Trang 27dân cử Và theo chủ nghĩa tự do thì tình hình chính trị bất ổn có ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách ngoại giao của một quốc gia
Kinh tế trong vòng xoáy bất ổn của chính trị
Cũng như chính trị nền kinh tế Thái Lan cũng bị ảnh hưởng nặng nề do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tình hình chính trị bất ổn trong nước Cứ sau mỗi
lần đảo chính kinh tế Thái Lan lại phải vật lộn để đi lên
Sau cuộc đảo chính năm 2006, tình hình đầu tư có mức độ tăng trung bình 2,7% một năm, nhưng chủ yếu đến từ các nhà đầu tư Thái Lan Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 thì tình hình đầu tư vào Thái Lan còn ảm đạm hơn, tỷ lệ đầu tư công so với GDP trung bình chỉ ở mức 5,7% so với 10% trước cuộc khủng hoảng năm 1998; bên cạnh đo con số này đã giảm xuống chỉ còn 5% trong năm
2008 do những bất ổn chính trị đã trì hoãn các quyết định đầu tư Năm 2009, chính phủ Thái Lan có công bố chương trình kích thích kinh tế với tổng giá trị khoảng 1,6 nghìn tỷ baht (tương đương 45 tỷ USD) Gói kích thích kinh tế này tập trung vào đầu tư công trong các dự án cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới chỉ ra đầu tư Thái Lan bị hạn chế không phải do kinh phí mà còn do những ràng buộc về chính trị và thể chế [86] Một phần quan trọng của kinh tế Thái Lan là sự sụt giảm của thu nhập trong ngành du lịch, do những cuộc biểu tình và đấu tranh chính trị diễn ra thường xuyên, điều này đã làm khủng hoảng lòng tin của người tiêu dùng và khiến du khách lo ngại Người tiêu dùng Thái Lan đã phải thắt chặt chi tiêu do ngày càng lo ngại về tình hình chính trị trong nước
Biểu 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan từ 2006 – 2014
(đơn vị: tỷ USD)
Trang 28
1http://search.worldbank.org/all?qterm=GDP+Thailand#
2 http://www.indexmundi.com/g/g.aspx?c=th&v=66
0.00 50.00 100.00 150.00 200.00 250.00 300.00 350.00 400.00 450.00
Trang 29tháng 4/2014 sản lượng ô tô Thái Lan đã giảm ¼ so với cùng kỳ còn 126.730 xe; số lượng xe bán ra cũng giảm 1/3 còn 73.242 xe [87]
Năm 2015, nền kinh tế Thái Lan lại càng hồi phục chậm hơn do cả những nguyên nhân xuất phát từ bối cảnh kinh tế toàn cầu hồi phục chậm, những ưu đãi thuế quan phổ cập mà Liên minh Châu Âu dành cho Thái Lan cũng hết hiện lực làm cản trở tới hàng hóa Thái Lan nhập khẩu vào thị trường này Kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 5/2014, Thủ tướng Prayut Chan-O-Cha đã thực hiện chính sách cải cách kinh tế thông qua các biện pháp cải tổ trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Nổi bật trong số những chính sách được thực hiện là những thay đổi về ưu đãi, thu hút đầu tư nước ngoài, cải tổ hệ thống doanh nghiệp Nhà nước và phát triển sản xuất hướng vào thị trường nội địa thay vì hướng về xuất khẩu
Với những nỗ lực của Chính quyền quân sự, trong 9 tháng đầu năm 2015 kinh tế đã tăng trưởng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu đạt kim ngạch 161,56 tỉ USD Dự kiến cả năm 2015, kinh tế Thái Lan sẽ tăng trưởng khả quan ở mức 2,7% Một trong những điểm tối của bức tranh kinh tế 2015 là đầu tư nước ngoài giảm mạnh, trong 9 tháng đầu năm 2015 đã giảm 33% so với cùng kỳ năm
2014 Tuy nhiên, du lịch là ngành giúp nền kinh tế Thái Lan khởi sắc Trong đó, số lượng khách du lịch tăng 9% so với cùng thời điểm của năm 2014 Nhìn chung, cả năm 2015, nền kinh tế Thái Lan sẽ phục hồi lại đà tăng trưởng và tạo tiền đề cho bước phát triển tốt hơn trong năm 2016 [70]
Chính phủ Thái Lan đã thông qua Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới giai đoạn 2015-2021 Chiến lược mới đã chính thức có hiệu lực từ tháng 01/2015 So với chiến lược được thông qua vào năm 2013, sự khác biệt nổi bật bao gồm: thay đổi về
cơ chế ưu tiên các nhà đầu tư nước ngoài; mở rộng phạm vi hỗ trợ thông qua các hoạt động tăng cường tính cạnh tranh Trước đây, mức độ ưu tiên các nhà đầu tư nước ngoài được phân loại dựa trên yếu tố địa lý (geography) tại 03 khu vực chính: Bangkok, Nakhon Pathom, Nonthaburi, Pathoum Thani, Samut Prakan, và Samut Sakhon; Ang Thong, Ayutthaya, Chachoengsao, Chon Buri, Kanchanaburi, Nakorn Nayok, Ratchaburi, Samut Songkhram, Saraburi, Supanburi, Phuket và Rayong; và
59 tỉnh thành còn lại Tuy nhiên, Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới giai đoạn
Trang 302015-2021 sẽ phân loại mức độ ưu tiên đối với các nhà đầu tư theo từng nhóm ngành công nghiệp Ngoài ra, chiến Chiến lược Xúc tiến Đầu tư mới của Chính phủ Thái Lan sẽ dành nhiều ưu đãi đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, thiết kế sản phẩm và bao bì, đào tạo công nghệ và phát triển các nhà phân phối nội địa Điều này giúp Chính phủ Thái Lan gián tiếp điều tiết sự phát triển của các ngành công nghiệp là trọng tâm phát triển trong chiến lược kinh tế tổng thể
Song song với việc thực hiện các chính sách ở trên, Chính phủ Thái Lan cũng đang rất tích cực phát triển các mối quan hệ về thương mại, đầu tư và du lịch với nước ngoài, trong đó, ưu tiên kết nối với các nền kinh tế trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Đồng thời, Chính phủ cũng bày tỏ rõ quan điểm xúc tiến đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và coi đây là trọng tâm quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại của Thái Lan thời gian tới Thái Lan hiện có tổng cộng 12 FTA với các nước và khu vực và đang xem xét xúc tiến đàm phán tiếp với Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ Hiện nay, một trong những mối quan tâm lớn nhất của Chính phủ là cân nhắc việc tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong bối cảnh một số nền kinh tế trong khu vực là thành viên của TPP đang bắt đầu cho thấy hiệu quả mà TPP mang lại, đặc biệt là trong việc thu hút đầu tư nước ngoài dù nó chưa chính thức được thực hiện Phía cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước tại Thái Lan cũng tỏ ra hết sức sốt sắng và mong muốn Chính phủ sớm tham gia đàm phán để gia nhập trong thời gian tới Bên cạnh đó, Thái Lan cũng đang tham gia tích cực vào đàm phán các hiệp định thương mại đa phương khác như APEC, RCEP, Tất cả những động thái này cho thấy Chính phủ Thái Lan đang tăng cường hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế thế giới Những mục tiêu kinh tế nhằm thúc đẩy sự hồi phục nền kinh tế nhiều biến động có ảnh hưởng rất lớn tới chính sách đối ngoại của quốc gia này
Chính sách ngoại giao của Thái Lan
Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực chưa từng bị đô hộ Các nhà học giả luôn chỉ trích về sự bất ổn phân hóa chính trị đã cản trở sự linh hoạt của chính sách ngoại giao Thái Lan Thực tế, nhìn vào lịch sử, Thái Lan luôn phải đối mặt với những bất ổn và mâu thuẫn trong nước Dù Thái Lan có làm gì đi nữa, trên phương
Trang 31diện cá nhân hay thay mặt ASEAN, thì vẫn bị cho là hành vi chịu sự tác động từ các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ Trong ý nghĩ của người Thái, chính sách này cũng đồng nghĩa với việc không có quyết định nào được thực hiện cho đến khi có người chiến thắng Nếu có thể và mọi sự thuận lợi, Thái Lan sẽ nhảy sang “con tàu chiến thắng” [68]
Tuy nhiên, sau cuộc đảo chính quân sự hồi tháng 5/2014, các tướng lĩnh thuộc Hội đồng vì Hòa bình và Trật tự Quốc gia cầm quyền ở Thái Lan cảm thấy tức giận với những chỉ trích gay gắt từ Mỹ, và đang có xu hướng áp dụng chiến lược ngoại giao mềm dẻo để ngả sang Bắc Kinh.Kể từ sau vụ đảo chính, số lượng các chuyến viếng thăm cấp cao giữa các lãnh đạo Thái Lan và Trung Quốc đã tăng mạnh Tháng 12/2014, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Bangkok vài ngày trước khi tướng Prayuth Chan-ocha, người đứng đầu chính quyền quân sự Thái Lan, có chuyến thăm đáp lễ Tháng 2/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn tới Thái Lan và tới tháng 4, đến lượt Phó chủ tịch Quân ủy trung ương Trung Quốc Hứa Kỳ Lượng công du tới quốc gia Đông Nam Á này
Vào mùa hè 2015, trước khi tới Bắc Kinh, Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan Prawit Wongsuwan tuyên bố đang thương thảo với Trung Quốc để mua ba tàu ngầm tấn công trị giá một tỷ euro Dù thỏa thuận này không được cụ thể hóa do những quan ngại từ phía Mỹ, nó cho thấy sự cạnh tranh ảnh hưởng ở Thái Lan ngày càng gay gắt giữa hai cường quốc Trong lĩnh vực kinh tế, sự năng động của cộng đồng người Hoa ở Thái Lan với nhiều doanh nhân thành đạt và có vị trí trong xã hội
sở tại cũng giúp tạo nên mối liên kết thương mại giữa Bangkok và Bắc Kinh sau khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa vào cuối những năm 1970 Hai bên đã đa dạng hóa lĩnh vực thương mại song phương Trung Quốc và Thái Lan đang thảo luận để thực hiện một dự án đường sắt cao tốc tham vọng nối biên giới Lào với vịnh Thái Lan trị giá 11,8 tỷ USD Trung Quốc cũng đã hứa hẹn sẽ mua hai triệu tấn gạo
và 200.000 tấn cao su của Thái Lan [81]
Với những chuyển biến này thì chính sách đối ngoại của Thái Lan cũng sẽ còn rất nhiều thay đổi, bởi tranh chấp biển đông giữa ASEAN và Trung Quốc đang
là vấn đề nóng trong giai đoạn này Giữ nhiệm vụ hàn gắn quan hệ ASEAN – Trung
Trang 32Quốc, Thái Lan có một vai kép trong vòng 03 năm gần đây (từ 2013 – 2015) Ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Thái Lan thời điểm này là phải bảo đảm sự tiến triển trong các nỗ lực chung nhằm dự thảo Quy tắc ứng xử trên biển Đông Sự tin tưởng lẫn nhau cần phải được phục hồi càng sớm càng tốt
1.2.2 Nhân tố nội tại của Việt Nam
Bối cảnh chính trị
So với Thái Lan thì nền chính trị Việt Nam ổn định hơn Chế độ chính trị Việt Nam là thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng
Xã hội Tuy nhiên, hai đảng này được tổ chức và hoạt động như những đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị ở Việt Nam là thế chế nhất nguyên chính trị, không tồn tại các đảng chính trị đối lập.Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập, vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước),
tổ chức tập hợp, đoàn kết quần chúng, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội), vừa là tổ chức mà qua
đó Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị đối với xã hội
Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể thống nhất Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú về tổ chức, phương thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện để phát hiện sức mạnh tổng hợp và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Do vậy, hệ thống chính trị nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc
Trang 33Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân
Theo tinh thần nội dung Hiến pháp năm 2013, liên quan đến dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: Thể chế hoá và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền
và nghĩa vụ công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 06-4-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát"
Trên thực tế, có thể chỉ ra sự tương phản giữa thứ hạng thấp mà Việt Nam bị xếp theo điều tra của các tổ chức quốc tế về dân chủ, tự do với sự đánh giá cao mà chính các công dân Việt Nam dành cho hệ thống chính trị ở Việt Nam Trong các cuộc điều tra dư luận xã hội của các tổ chức khác nhau tại Việt Nam, kể cả điều tra của một số tổ chức nước ngoài, kết quả cho thấy người dân tỏ ra tin tưởng cao đối với Nhà nước Hơn 90% số người được thăm dò trả lời tin tưởng vào Chính phủ, Quốc hội và Đảng Các nhà điều tra của cuộc Điều tra về giá trị thế giới cho biết: mức độ tin tưởng vào thể chế chính trị của Việt Nam là rất cao khi so sánh với đa số các nước khác ở vùng Đông Á Một điểm cần nhấn mạnh hơn khi 96% số người Việt Nam được hỏi trả lời tích cực về hệ thống quản lý nhà nước [82]
Thực tế xây dựng và thực hành dân chủ trực tiếp ở cơ sở tại Việt Nam cũng tương đồng với nhiều nước trên thế giới Nhìn chung, mục tiêu đề ra của nhiều nước
là khuyến khích sự tham gia của người dân, trước tiên ở cấp hành chính thấp nhất, nơi mà người dân gần gũi nhất với các thể chế có tác động đến cuộc sống của họ Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, sự tham gia của người dân vào công tác quản
Trang 34lý ở địa phương diễn ra từ mức độ tham vấn hạn chế cho tới sự tham gia và kiểm soát tích cực
Kinh tế
Nhìn lại lịch sử dân tộc cho thấy, trước những khó khăn, chính nhờ có sự đồng thuận của nhân dân “triệu người như một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích có ý nghĩa thời đại Truyền thống dân tộc, lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là sức mạnh vô địch để dân tộc Việt Nam tiến lên phía trước Điều này càng được khẳng định thông qua đánh giá về tăng trưởng kinh tế của nước ta trong những năm gần đây
Văn kiện Đại hội XII Đảng CSVN đánh giá Việt Nam đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển
có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam hiện phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực được huy động Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội
và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, phát triển thiếu bền vững
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 [97] ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, mức tăng trưởng năm 2015 cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét Trong mức tăng 6,68% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 7,69%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp ở mức 2,03% do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, nhưng quy mô trong khu vực lớn nhất (chiếm khoảng 75%) nên đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành
Trang 35thủy sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm, là mức tăng trưởng thấp nhất của ngành này trong 5 năm qua do đối mặt với nhiều khó khăn về thời tiết, dịch bệnh, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong khu vực công nghiệp và xâydựng, ngành công nghiệp tăng 9,39% so với năm trước, trong đó côngnghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%, cao hơn nhiều mức tăng của một số năm trước, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng của khu vực II
và góp phần quan trọng trong mức tăng trưởng chung Ngành khai khoáng tăng 6,50% Ngành xây dựng đạt mức tăng 10,82% so với năm trước, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 9,06% so với năm 2014, đóng góp 0,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 2,96%, cao hơn mức tăng 2,80% của năm trước và chủ yếu tập trung vào mua nhà ở, đóng góp 0,16 điểm phần trăm
Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương
2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014 Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục có
sự chuyển dịch nhưng tốc độ chậm, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,00%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,25%; khu vực dịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 10,02%) Cơ cấu tương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%; 39,04% (thuế là 10,05%) Xét về góc
độ sử dụng GDP năm 2015, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12% so với năm 2014, đóng góp 10,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 9,04%, đóng góp 4,64 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 8,62 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
Trang 36Biểu 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam (%)
Trang 37Chính sách ngoại giao
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” Báo cáo Chính trị xác định: “Nhiệm
vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” [88]
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị hội nhập sâu rộng, đường lối đối ngoại của Đại hội XI đã có một số phát triển mới, quan trọng để phù hợp với nhiệm vụ mới và tình hình mới, cụ thể là:
- Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại Lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích tối cao của gần 90 triệu nhân dân Việt Nam và hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài
- Hội nhập quốc tế trở thành định hướng đối ngoại lớn, lấy hội nhập kinh tế
là trọng tâm và mở rộng sang các lĩnh vực khác: chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội và ở mọi cấp độ song phương, khu vực, đa phương và toàn cầu
- Từ chủ trương “là bạn và đối tác tin cậy” của Đại hội IX, Đại hội XI bổ sung thêm Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế
- Xây dựng cộng đồng ASEAN trở thành một trọng tâm đối ngoại Đại hội
XI khẳng định Việt Nam là thành viên ASEAN, cam kết phấn đấu cùng các nước xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN
Các hoạt động đối ngoại sẽ được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cơ sở phát huy tiềm lực của mọi lực lượng và thực thi trên mọi kênh, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trên mặt trận đối ngoại
4
http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/kehoachphattrienkinhtexahoi?categoryId=865&articleId=10 052433
Trang 38Tuy nhiên, việc Trung Quốc gần đây triển khai giàn khoan HD-981 và hối hả hoàn tất xây dựng đường bay trên các đảo nhân tạo (tại Trường Sa) cho thấy Việt Nam, cũng như một số nước Đông Nam Á khác, sẽ phải đối mặt với một thời kỳ khó khăn trong quan hệ với Trung Quốc, vốn luôn chủ trương hành động đơn phương thay vì hợp tác
1.2.3 Nhân tố bên ngoài
Tình hình chính trị trên thế giới từ năm 2006 đến 2015 luôn tồn tại những nguy cơ, thách thức, mối đe doạ nhiều loại, nhiều mặt, từ nhiều phía Chúng tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến hoà bình, ổn định của thế giới cũng như an ninh của các quốc gia, dân tộc và cuộc sống của tất cả mọi người Tiêu biểu nhất là các hoạt động khủng bố nguy hiểm, là hiểm hoạ mang tính toàn cầu Quy mô và cường độ hoạt động của khủng bố có giảm vào giai đoạn từ 2006 đến 2009, nhưng lại tăng đột biến trong giai đoạn từ 2013 đến 2015; Các tổ chức khủng bố đang tích cực củng cố
về mặt tổ chức, bổ sung lực lượng, phát triển các phương tiện khủng bố kĩ thuật cao, trong đó số người tham gia lực lượng khủng bố trong các nước thuộc ASEAN, đặc biệt là Indonesia không ngừng gia tăng
Chủ nghĩa bá quyền cũng thực sự là một thách thức, mối đe doạ với hoà bình, ổn định thế giới, an ninh của các quốc gia, dân tộc, Trung Quốc cũng không ngừng gia tăng sức mạnh của mình trên biển Đông, tạo ra nhiều mâu thuẫn và có cả nguy cơ xung đột vũ trang với các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Việt Nam
Chiến tranh và xung đột vũ trang là mối đe doạ, thách thức mang tính truyền thống, bên cạnh đó là sự tồn tại của các mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, tôn giáo, tiêu biểu nhất là sự bất ổn tại khu vực Trung Đông từ năm 2006 đến nay vẫn chưa
có dấu hiệu giảm nhiệt, biểu hiện bằng cả chiến tranh, xung đột vũ trang, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng nhân đạo…, những cuộc nội chiến giữa người Hồi giáo dòng Si-ai và Săn-ni gây nên bất ổn ở những nước như Irắc hay Siri Trong khi
đó tại khu vực châu Á, Triều Tiên đang trở thành một điểm nóng trong những năm gần đây với sự bất đồng và mâu thuẫn về chính trị và an ninh với Hàn Quốc và các nước đồng minh, trong đó có Mĩ và Nhật Bản
Trang 39Trong khi các nước lớn hợp tác và đấu tranh, cạnh tranh nhau để thiết lập trật
tự thế giới đơn cực hay đa cực, thì tuyệt đại đa số các quốc gia, dân tộc trên thế giới vẫn kiên trì hợp tác và đấu tranh cho một trật tự thế giới công bằng, tốt đẹp, cho mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Kinh tế toàn cầu năm 2015 [91] nhìn chung phát triển chậm và không ổn định, dù đã xuất hiện một số tín hiệu lạc quan Có thể thấy, sau hơn 7 năm diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), kinh tế thế giới vẫn chưa lấy lại được đà tăng trưởng như trước đó Bức tranh chung về tình hình kinh tế thế giới trong năm 2015 tuy chưa thực sự khởi sắc nhưng cũng đã bớt ảm đạm hơn Nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới vẫn chưa được như mức dự báo Theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB), tốc độ tăng trưởng toàn cầu năm 2015
là 2,4%, nhưng về cơ bản có thể thấy, những tác động của khủng hoảng tài chính và
nợ công đã không còn trầm trọng, kinh tế toàn cầu bắt đầu thích nghi dần với những biến động về chính trị, an ninh
Năng suất của cả nền kinh tế phát triển và đang phát triển đều giảm thấp hơn
so với trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong khi đó, mức tăng trưởng giữa các nước và nhóm nước không đồng đều Kinh tế các nước phát triển tiếp tục phục hồi nhưng chậm hơn kỳ vọng Mỹ là nước có nền kinh tế phục hồi tích cực nhất trong nhóm nước phát triển Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã giảm còn 5%, tiêu dùng
và thị trường bất động sản bắt đầu phục hồi Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) phục hồi yếu, tăng trưởng chậm với tốc độ là 1,5%, do phải xử lý cuộc khủng hoảng “kép” gồm vấn đề nợ công và di cư, cùng tình trạng giảm phát và thất nghiệp cao Một cột trụ kinh tế khác của thế giới là Nhật Bản, cho dù tỷ giá đồng Yên đã giảm giá đến 60% so với USD kể từ đạt mức đỉnh 73,35 Yên/USD (tháng 10-2011), tạo lợi thế cho hoạt động xuất khẩu nhưng đà phục hồi của kinh tế Nhật Bản còn rất bấp bênh Tổng nợ công vẫn cao gấp đôi so với GDP
Các nền kinh tế đang phát triển vẫn tiếp tục giảm tốc năm thứ 5 liên tiếp với mức tăng trưởng 4,3% trong năm 2015 Năm 2015, tăng trưởng của khối 5 nước thuộc nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) không như kỳ vọng Nền kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn nhất kể từ khi bắt đầu cải cách, mở cửa Mặc dù đã áp
Trang 40dụng nhiều biện pháp chặn đà tăng trưởng nhưng sản xuất công nghiệp Trung Quốc vẫn suy giảm, xuất nhập khẩu vẫn trì trệ, thị trường nhà đất đóng băng, thị trường chứng khoán biến động mạnh, đồng Nhân dân tệ phá giá, dự trữ ngoại hối giảm mạnh… Mức tăng trưởng của Trung Quốc năm 2015 chỉ đạt 6,9% và lần đầu tiên trong 25 năm qua tăng trưởng dưới mức 7%
Biểu 1.5: GDP các nước đang phát triển từ quý 1/2007 – quý 3/2015
Tới năm 2015, lại một lần nữa thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế biến động mạnh và phức tạp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 Những diễn biến xấu của nền kinh tế Trung Quốc đã tác động mạnh đến tâm lý thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, khiến nhiều thị trường chao đảo trong quý III/2015 Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã gây sốc trên thị trường tài chính thế giới khi liên tiếp phá giá đồng Nhân dân tệ vào tháng 8-2015
Năm 2015, thế giới đã chứng kiến việc giá nguyên liệu và dầu thô tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua Chỉ số giá của 22 mặt hàng nguyên liệu (chỉ số Bloomberg) đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1999 Trong khi giá dầu thế giới tháng 12 -2015 đã giảm xuống mức thấp nhất trong 11 năm qua, chạm mức 35 USD/thùng Việc dầu thô giảm giá kéo dài đã tác động hết sức tiêu