1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ quản lý thông tin khoa học và công nghệ

106 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những kết quả nghiên cứu đó là Nhà nước ban hành Quyết định số 349/CT ngày 14/12/1983 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ về bổ sung 14 nhóm chỉ tiêu thố

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THÀNH

CHUẨN HOÁ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHỤC VỤ QUẢN LÝ

THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN THÀNH

CHUẨN HOÁ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHỤC VỤ QUẢN LÝ

THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 3

1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Lê Xuân Định

đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập tài liệu, đây là những căn cứ quan trọng để tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Sau Đại học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tôi cũng gặp những khó khăn nhất định về năng lực, sự hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả trân trọng và mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thành

Trang 4

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Tên đề tài 7

2 Lý do nghiên cứu 7

3 Lịch sử nghiên cứu 8

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Phạm vi nghiên cứu 13

6 Mẫu khảo sát 13

7 Câu hỏi nghiên cứu 14

8 Giả thuyết nghiên cứu 14

9 Phương pháp nghiên cứu 14

10 Kết cấu luận văn 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 15

1.1 Khái niệm thông tin KH&CN 15

1.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN 17

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về KH&CN 17

1.2.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN 18

1.3 Khái niệm thống kê KH&CN 18

1.3.1 Khái niệm, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của thống kê 18

1.3.2 Khái niệm về KH&CN 19

1.3.3 Khái niệm về thống kê KH&CN 22

1.4 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê 22

1.5 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê 26

1.5.1 Khái niệm hệ thống 26

1.5.2 Khái niệm chuẩn hóa 26

1.6 Yêu cầu chính xác và hiệu quả trong thống kê 27

1.6.1 Yêu cầu chính xác trong thống kê 27

1.6.2 Yêu cầu hiệu quả trong thống kê 28

1.7 Mối quan hệ giữa chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê với quản lý thông tin KH&CN 29

Trang 5

3

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ TRONG

QUẢN LÝ THÔNG TIN KH&CN Ở VIỆT NAM 31

2.1 Cơ bản về thực trạng quản lý thông tin KH&CN ở Việt Nam 31

2.2 Thực trạng thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam 32

2.2.1 Hiện trạng công tác thống kê KH&CN 32

2.2.2 Hiện trạng thu thập và cung cấp các chỉ tiêu thống kê về KH&CN 33 2.3 Những hạn chế trong công tác thống kê KH&CN và sự thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN hiện nay 43

2.4 Nguyên nhân thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê 46

2.5 Kết quả khảo sát 47

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ CHUẨN HÓA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ 55

3.1 Yêu cầu và nguyên tắc chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê KH&CN 55

3.1.1 Các vấn đề về chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê 55

3.1.2 Nguyên tắc và yêu cầu chuẩn hóa 56

3.1.3 Phương pháp tính toán 58

3.1.4 Nội dung hoàn thiện 58

3.2 Bộ chỉ tiêu chuẩn hóa phục vụ thống kê 59

3.2.1 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về nguồn lực thông tin KH&CN 59

3.2.2 Chuẩn hóa chỉ tiêu về tài chính thông tin KH&CN 65

3.2.3 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về hạ tầng thông tin KH&CN 67

3.2.4 Chuẩn hóa nhóm chỉ tiêu về chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) 75 3.3 Giải pháp để áp dụng bộ chỉ tiêu chuẩn hóa phục vụ thống kê thông tin KH&CN 80

3.3.1 Giải pháp đảm bảo độ chính xác và hiệu quả của chế độ báo cáo thống kê 80

3.3.2 Giải pháp tin học hóa hoạt động thống kê KH&CN phục vụ quản lý thông tin KH&CN 84

KẾT LUẬN 89

Trang 6

4

KHUYẾN NGHỊ 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Danh mục các chỉ tiêu thống kê KH&CN trong Hệ thống chỉ tiêu

thống kê Quốc gia 35 Bảng 2: Tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ thống kê KH&CN các tổ

chức TT-TV KH&CN 49 Bảng 3: Chuyên môn đƣợc đào tạo của nhân lực cơ quan TT-TV 50 Bảng 4: Thống kê tỷ lệ trung bình chế độ báo cáo thống kê cơ sở về KH&CN

của một tỉnh 52 Bảng 5: Thống kê chế độ báo cáo thống kê tổng hợp về KH&CN với các Sở

KH&CN ……….………53

Trang 8

6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hoá

KH&CN Khoa học và công nghệ

NC&PT Nghiên cứu và phát triển

Trang 9

bộ Chất lượng thông tin thống kê khoa học và công nghệ còn hạn chế, chưa phục

vụ một cách thiết thực, hiệu quả cho hoạt động quản lý, chỉ đạo và điều hành của ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) nói riêng và quá trình phát triển kinh tế -

xã hội nói chung Hiện nay, việc hoạch định nhiệm vụ, tổ chức, kinh phí cho công tác thống kê khoa học và công nghệ cả ở Trung ương và địa phương còn chưa được quan tâm đúng mức

Nhiều tỉnh, thành trong cả nước gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai công tác thống kê KH&CN Mặc dù Thông tư số 05/2010/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ban hành ngày 02/7/2010 quy định chế độ báo cáo thống kê cơ sở về KH&CN, nhưng trên thực tế các đối tượng phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê

cơ sở về KH&CN hàng năm chưa nghiêm túc báo cáo hoặc báo cáo chưa đầy đủ theo đúng yêu cầu Bên cạnh đó, công tác thống kê này đòi hỏi phải có một bộ máy chuyên trách, được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ bài bản và đầu tư ban đầu tương xứng với nhiệm vụ để có thể xúc tiến một cách có hiệu quả Một điểm khá quan trọng đó là, hiện nay, các văn bản quy phạm Pháp luật về thống kê KH&CN còn mới, chưa đồng bộ nên việc thực thi công tác thống kê gặp nhiều khó khăn, bất cập như: Các cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm báo cáo thống kê cơ sở chưa phân công người chịu trách nhiệm, chưa chủ động tải phần mềm thống kê cơ

sở để nhập dữ liệu; cán bộ thực hiện báo cáo thống kê tổng hợp hiện nay còn ít,

Trang 10

3 Lịch sử nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu ở Viêt Nam:

Từ đầu những năm 1980 cho đến nay, Việt Nam đã có một số nghiên cứu về thống kê KH&CN và chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu về tiềm lực và hoạt động KH&CN

Hàn Ngọc Lương (1985) đã có nghiên cứu về “Xây dựng kiến nghị và lập hệ thống chỉ tiêu, phương pháp và biểu mẫu báo cáo các thống kê tại các cơ sở nghiên cứu, thiết kế, các trường đại học, các cơ sở điều tra khảo sát” Mục tiêu là xây dựng cơ sở khoa học cho việc tổ chức chế độ thống kê KH&CN phù hợp với chế

độ thống kê kinh tế quốc dân, đáp ứng được yêu cầu của công tác kế hoạch hoá và quản lý KH&CN Một trong những kết quả nghiên cứu đó là Nhà nước ban hành Quyết định số 349/CT ngày 14/12/1983 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về bổ sung 14 nhóm chỉ tiêu thống kê hoạt động KH&CN vào hệ thống chỉ tiêu thống kê chính thức Tuy nhiên, do cách tiếp cận và bối cảnh kinh tế đặc trưng kế hoạch hoá tập trung của thời kỳ này nên các kết quả không thể được tiếp tục áp dụng trong điều kiện hiện nay [21, 22]

Trang 11

9

Tăng Văn Khiên (1995) đã đưa ra phương pháp luận về thống kê tiềm lực KH&CN và các phương án điều tra tiềm lực KH&CN trong "Nghiên cứu xây dựng phương án điều tra tiềm lực KH&CN" Các kết quả nghiên cứu này tập trung phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về KH&CN tại thời điểm này [16, 18]

Trần Văn Sinh (1997) cũng trình bày một số vấn đề lý luận và phương pháp xây dựng mô hình thông tin thống kê tiềm lực khoa học công nghệ Xây dựng hệ thống báo cáo thống kê định kỳ cho các đơn vị KH&CN chuyên nghiệp của Trung ương và địa phương trong đề tài "Xây dựng mô hình tổ chức thông tin thống kê tiềm lực KH&CN" [32]

Trần Văn Sinh (1998) đã đưa ra các chỉ tiêu thống kê KH&CN và mô hình tổ chức thống kê phục vụ điều tra và báo cáo định kỳ trong "Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và mô hình tổ chức thống kê tiềm lực KH&CN" Các nhóm chỉ tiêu chính về KH&CN bao gồm đơn vị KH&CN, lao động, tổng thu chi của đơn vị KH&CN, giá trị TSCĐ và máy móc, kết quả hoạt động KH&CN, hoạt động thông tin và quan hệ quốc tế Các chỉ tiêu thống kê này mới chỉ tập trung vào tiềm lực KH&CN

và thiếu tính tương hợp quốc tế [31]

Nguyễn Võ Hưng (2000) trong "Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống

kê và tổ chức thông tin KH&CN của Việt Nam" đã đưa ra những yêu cầu đối với thống kê KH&CN và những vấn đề liên quan tới đo lường KH&CN [13] Đề tài này chủ yếu cung cấp thông tin về phương pháp luận thống kê KH&CN của OECD và UNESCO, 89 chỉ tiêu thống kê về KH&CN của OECD mà đề tài khuyến nghị sử dụng cho Việt Nam cần được chọn lọc và bổ sung cho phù hợp hoàn cảnh Việt Nam

"Nghiên cứu khai thác, xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu cán bộ KH&CN từ phiếu điều tra dân số và nhà ở 01/4/1999" (Nguyễn Văn Tiến, 2001) đã tiến hành trích ngang danh sách cán bộ KH&CN 61 tỉnh, thành phố, tiến hành xác minh lại, tổng hợp và phân tích đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ theo ngành nghề đào tạo, vùng kinh tế, thành phần kinh tế, dân tộc

Trang 12

10

Ngoài ra, để bước đầu tìm hiểu khả năng thu thập số liệu thống kê KH&CN phù hợp cung cấp cho hệ thống thống kê KH&CN của ASEAN theo những cam kết của Việt Nam, Bộ KH&CN đã giao cho Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia tiến hành đề án "Nghiên cứu khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) tiêu chí thống kê KH&CN theo yêu cầu ASEAN" (2000-2001)

Tăng Văn Khiên (2003) trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin thống kê khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế mới” đã đánh giá thực trạng về thông tin thống kê KH&CN ở nước ta những năm qua, đưa

ra hệ thống chỉ tiêu thống kê tổng hợp về KH&CN, hình thành lược đồ tổng quan

về hệ thống thông tin trong việc thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu thống kê KH&CN [19]

Trần Văn Sinh (2003) trong “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ khoa học công nghệ ở Việt Nam” đã đề cập xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê tổng hợp về KH&CN, hình thành lược đồ tổng quan về hệ thống thông tin trong việc thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu thống kê KH&CN Tuy nhiên cách phân chia loại hình hoạt động KH&CN và lĩnh vực hoạt động KH&CN ở đây lại chưa hoàn toàn tương thích quốc tế, đối tượng thống kê lại bao hàm nhiều chỉ tiêu thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo [30]

Cao Minh Kiểm (2004) trong “Báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ quốc gia năm 2002” đã đưa ra những chỉ tiêu thống kê về chi phí và nhân lực [14, 15] Tuy nhiên, kết quả thống kê này chỉ cho lĩnh vực nghiên cứu và phát triển mà không phải toàn hệ thống KH&CN

Năm 2005, Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia, trong đó có 9 chỉ tiêu thống

kê quốc gia về KH&CN đã được ban hành (Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu quốc gia) Tuy nhiên, việc làm này cũng mới chỉ dừng ở chỗ nêu tên chỉ tiêu, phân tổ chủ yếu, kỳ công bố và cơ quan chính chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp

Đào Ngọc Lâm (2005) trong đề tài “Khái niệm, nội dung, phương pháp tính một số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia” đã hoàn thiện khái niệm,

Trang 13

11

nội dung, phương pháp tính 10 nhóm chỉ tiêu trong số 24 nhóm của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia bao gồm: Dân số; lao động, việc làm; cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp; nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại trong nước; thương mại quốc tế; giá cả; y tế và chăm sóc sức khoẻ và tiến bộ phụ nữ [20] Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chi tiết nhằm chuẩn hoá các chỉ tiêu thống kê Tuy nhiên, trong đề tài này các tác giả cũng chưa đưa ra khái niệm/định nghĩa, nội dung, phương pháp tính đối với 9 chỉ tiêu thống kê quốc gia trong nhóm khoa học và công nghệ

Phan Huy Quế (2008) trong đề tài cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để triển khai hoạt động thống kê khoa học và công nghệ theo nghị định số 30/2006/NĐ-CP” đã nghiên cứu đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN chủ yếu, nghiên cứu chuẩn hóa khái niệm, định nghĩa và phương pháp tính một số chỉ tiêu song cần hoàn thiện và chuẩn hoá thêm [28, 29]

Năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ và bảng phân loại mục tiêu kinh tế xã hội của hoạt động khoa học và công nghệ (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 4/9/2008 và Quyết định 37/QĐ-BKHCN) [2]

Năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN (theo Thông tư số 05/2009/TT-BKHCN về việc quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN ban hành ngày 30/03/2009), tuy nhiên chưa có nghiên cứu về chuẩn hóa chỉ tiêu thống kê KH&CN để triển khai Thông

tư này

Lê Xuân Định và cộng sự (2009) trong đề tài “Nghiên cứu chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê khoa học và công nghệ chủ yếu của Việt Nam” đã tổng quan về hoạt động thống kê KH&CN, trình bày kết quả nghiên cứu chuẩn hóa các chỉ tiêu thống

kê KH&CN chủ yếu của Việt Nam và đề xuất mô hình tổ chức hoạt động thống kê KH&CN [10, 11] Tuy nhiên, nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức đề xuất chuẩn hoá một vài chỉ tiêu thống kê KH&CN, chưa nghiên cứu chuẩn hoá nhóm chỉ tiêu về thông tin KH&CN

Trang 14

12

Mặt khác, trong thời gian gần đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia mới (Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia), Chế độ báo cáo thống kê áp dụng cho Bộ, ngành mới (Quyết định số 15/2014/QĐ-TTg ngày 17/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với Bộ, ngành), Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh mới (Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ban hành ngày 10/01/2011 về quy định nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; danh mục và nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, huyện, xã ) Tất cả những điều chỉnh quan trọng này cần phải được cập nhật và chuẩn hóa trong hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN

Như vậy, tuy đã đạt một số kết quả nhất định, nhưng về cơ bản cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có nghiên cứu toàn diện đối với các chỉ tiêu thống kê phục

vụ quản lý thông tin KH&CN của Việt Nam, chưa có một nghiên cứu để tạo ra sự thống nhất trong nhận thức về các chỉ tiêu này Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu

đề tài này là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay cũng như ngành học và yêu cầu thực tiễn ở nước ta Tác giả luận văn hy vọng rằng các kết quả đạt được trong nghiên cứu này sẽ là những đóng góp thiết thực về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ quản lý thông tin KH&CN

Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

Trong hoạt động quản lý KH&CN, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành các hoạt động thống kê KH&CN bằng điều tra nghiên cứu và phát triển (NC&PT) Hàng năm, các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đều công bố báo cáo hiện trạng NC&PT của mình thông qua phân tích số liệu điều tra NC&PT Những nước này đã chuẩn hóa khái niệm, định nghĩa và phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê NC&PT Hướng dẫn về thống kê KH&CN của các tổ chức quốc tế như OECD và UNESCO thường chỉ tập trung vào các chỉ tiêu về NC&PT và đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo

Trang 15

13

Nhìn chung những chỉ tiêu thống kê KH&CN của nước ngoài và các tổ chức quốc tế đều tập trung vào lĩnh vực NC&PT Do đặc thù về thể chế hành chính, quản lý nhà nước của Việt Nam, không thể áp dụng trực tiếp và máy móc các chỉ tiêu quốc tế về KH&CN mà cần có quá trình phân tích, so sánh và nghiên cứu áp dụng

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng thiếu đồng bộ của

hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam, luận văn sẽ từ đó

đề xuất một hệ thống chỉ tiêu thống kê thông tin KH&CN, đảm bảo được tính chính xác và hiệu quả về thời gian

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Luận văn sẽ tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN, mối quan hệ giữa chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê với quản lý thông tin KH&CN

- Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực tế, luận văn sẽ khái quát về hiện trạng

hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý thông tin KH&CN ở nước ta Thông qua việc phân tích thực trạng, nguyên nhân, luận văn sẽ khái quát hóa sự thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam

- Từ việc nghiên cứu lý luận và hiện trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý thông tin KH&CN, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp để chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong một số đơn vị thuộc mạng lưới các tổ chức thông tin-thư viện KH&CN Bộ/ngành và một số viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam

Thời gian nghiên cứu: Khảo sát hiện trạng sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống

kê KH&CN trong thời gian 5 năm trở lại đây (từ 2009 đến 2013)

6 Mẫu khảo sát

Trang 16

14

Luận văn đã tiến hành điều tra, khảo sát, trao đổi đối với các nhóm đối tượng dùng tin chính sau: Cán bộ lãnh đạo - quản lý, cán bộ nghiên cứu giảng dạy, nghiên cứu sinh, sinh viên

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê như thế nào để phục vụ hiệu quả quản lý thông tin KH&CN ?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê là một điều kiện cơ bản để đảm bảo căn cứ khoa học cho quá trình tin học hoá công tác quản lý thông tin KH&CN một cách hiệu quả

9 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận và thu thập, phân tích,

xử lý, tổng hợp thông tin, tài liệu

- Phương pháp điều tra thăm dò ý kiến để đánh giá tính thống nhất của khái niệm và tính khả thi của của việc thu thập số liệu thống kê

10 Kết cấu luận văn

Mở đầu

Chương 1 Cơ sở lý luận

Chương 2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê trong quản lý thông tin

KH&CN ở Việt Nam Chương 3 Giải pháp chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê

Kết luận

Khuyến nghị

Trang 17

Tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm

thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sử dụng [3]

Số hóa tài liệu là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật để chuyển tài

liệu từ sách, báo, tạp chí in, vật ghi âm, ghi hình sang tài liệu điện tử/tài liệu số để lưu giữ, sử dụng bằng các phương tiện tin học [35]

Tài liệu điện tử (tài liệu số) là tài liệu đã được số hóa để lưu giữ, sử dụng

trên mạng thông tin máy tính [35]

Thông tin là dữ liệu, tin tức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận

động trong không gian và thời gian [23]

Nguồn tin khoa học và công nghệ là các thông tin khoa học và công nghệ

được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học; kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học; thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ; tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; catalô công nghiệp; luận án khoa học; tài liệu thiết kế, kỹ thuật; cơ sở dữ liệu; trang thông tin điện tử; tài liệu thống kê khoa học và công nghệ; tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác [3]

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ là hoạt động dịch vụ khoa học

và công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin khoa học và công nghệ, các hoạt động khác có liên quan [3]

Tổ chức thực hiện chức năng thông tin khoa học và công nghệ là tổ chức

triển khai thực hiện các hoạt động thông tin khoa học và công nghệ; xây dựng, phát triển, vận hành và khai thác hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu về khoa học và công nghệ [3]

Trang 18

16

Thư viện là nơi thu thập, lưu giữ, xử lý, bảo quản tài liệu để đáp ứng nhu

cầu thông tin của người đọc [26].

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ,

bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng [27]

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng

tạo ra hoặc sở hữu [27]

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,

kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh [27]

Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ

chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ [27]

Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa

học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào [27]

Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi

âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử [27]

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm

giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên [27]

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức,

cá nhân khác nhau [27]

Văn bằng bảo hộ là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ

chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng [27]

Thông tin khoa học và công nghệ là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được

tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo [3]

Trang 19

17

Các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN nói trên là kết quả của hoạt động KH&CN, được hình thành trong các quá trình của hoạt động này Theo cách tiếp cận của thị trường, thông tin KH&CN cũng giống như một loại nguyên liệu hàng hóa bất kỳ, có thể sử dụng ngay ở dạng nguyên liệu thô, hoặc có thể gia công dưới hình thức các sản phẩm, dịch vụ để trao đổi trên thị trường

Theo tác giả luận văn, định nghĩa thông tin KH&CN như sau:

Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo

1.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về KH&CN

Hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân và là dạng quản lý xã hội đặc biệt Đó là sự chỉ huy điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể và thể chế, pháp luật, quy tắc, về

tổ chức cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước - lập pháp, hành pháp và tư pháp - có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao trong quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân

Tuy nhiên, ở đây khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp hơn,

và đồng nghĩa với quản lý hành chính nhà nước Đó là sự thực thi quyền hành pháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành

Như vậy, Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ là dạng quản lý mà

trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà nước Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà

Trang 20

18

nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ [25]

1.2.2 Khái niệm quản lý thông tin KH&CN

Thông tin hiện nay được coi là một trong những loại tài sản quan trọng nhất đối với bất kỳ tổ chức nào

Theo tác giả, quản lý thông tin KH&CN là việc một tổ chức KH&CN sử dụng các phương thức để lập kế hoạch, tập hợp, tổ chức, tạo mới, sử dụng, kiểm soát, phổ biến và loại bỏ một cách hiệu quả các thông tin của tổ chức đó Các thông tin này bao gồm cả các bản ghi đã được cấu trúc lẫn các thông tin chưa được cấu trúc

Thông qua quản lý thông tin, tổ chức có thể đảm bảo rằng giá trị của các thông tin đó được xác lập và sử dụng tối đa để hỗ trợ cho các hoạt động trong nội

bộ tổ chức cũng như góp phần nâng cao hiệu quả của bộ phận cung cấp thông tin

1.3 Khái niệm thống kê KH&CN

1.3.1 Khái niệm, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của thống kê

1.3.1.1 Khái niệm thống kê

Thống kê là một môn khoa học xã hội nghiên cứu mặt lượng trong mối liên

hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng (tự nhiên, kinh tế - xã hội) số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định [24]

Tại sao phải nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất ?

- Lượng và chất là 02 mặt của một sự vật không thể tách rời nhau Chất giúp ta phân biệt hiện tượng này với hiện tượng khác, chất bộc lộ những khía cạnh sâu kín của hiện tượng Nhưng chất không tồn tại độc lập mà được biểu hiện qua lượng Sở dĩ cần phải xử lý mặt lượng mới tìm hiểu được mặt chất là vì chất thường bị che khuất bởi các yếu tố ngẫu nhiên

- Nghiên cứu số lớn: để triệt tiêu các yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tượng

cá biệt, rời rạc thường mang tính ngẫu nhiên

1.3.1.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê

Trang 21

19

Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội trong điều kiện thời gian

và địa điểm cụ thể

1.3.1.3 Nhiệm vụ của thống kê

- Phục vụ cho việc lập kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân

- Phục vụ cho việc theo dõi và xây dựng các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

- Tổng kết những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước

1.3.2 Khái niệm về KH&CN

1.3.2.1 Khái niệm khoa học

Khoa học được hiểu là ”hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và

phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” (theo Luật KH&CN

số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18/6/2013)

Hệ thống tri thức được nói đến ở đây là hệ thống các tri thức khoa học,

khác với tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích

lũy một cách ngẫu nhiên từ trong cuộc sống hàng ngày Nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng

trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội Còn tri thức khoa học là

những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học

1.3.2.2 Khái niệm công nghệ

Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc

không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

(theo Luật KH&CN số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18/6/2013)

1.3.2.3 Khái niệm nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất,

quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm

ứng dụng vào thực tiễn.[25]

Trang 22

20

1.3.2.4 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ

Ở Việt Nam, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [25];

UNESCO đưa ra một hệ thống các khái niệm cơ bản phục vụ cho công tác thống kê KH&CN Các khái niệm này được đề cập rõ ràng trong tài liệu cẩm nang của UNESCO về thống kê KH&CN

UNESCO định nghĩa "Hoạt động KH&CN 1 là tất cả những hoạt động có tính

hệ thống, liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, phổ biến và áp dụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực KH&CN như các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học y dược và khoa học nông nghiệp, cũng như khoa học xã hội và nhân văn."

Hoạt động KH&CN được chia thành 3 loại hoạt động chính:

- Nghiên cứu khoa học và phát triển thực nghiệm (gọi tắt là NC&PT, tiếng

Anh là Research and Development hoặc R&D): là mọi hoạt động mang tính hệ

thống và sáng tạo thực hiện nhằm tăng cường khối lượng tri thức, bao gồm tri thức của con người, văn hoá và xã hội, và sử dụng những tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới [9]

- Giáo dục và đào tạo KH&CN 2 ở bậc thứ 3 theo nghĩa rộng: gồm tất cả

các hoạt động giáo dục và đào tạo ở bậc chuyên ngành chưa phải cấp đại học, giáo dục và đào tạo ở bậc đại học để có bằng đại học, đào tạo sau đại học và cao hơn, đào tạo suốt đời có tổ chức được thực hiện đối với các nhà khoa học và kỹ

sư Những người này chủ yếu tương đương với phân loại chuẩn quốc tế về giáo

dục (ISCED3) ở cấp 5,6 và 7

1 STA - Scientific and Technological Activities

2 STET - Scientific and Tecnological Education and Training

3 ISCED - International Standard Classification of Education

Trang 23

21

- Dịch vụ KH&CN 4: được định nghĩa là mọi hoạt động liên quan đến hoạt

động nghiên cứu khoa học và phát triển thực nghiệm và đóng góp cho việc tạo ra, phổ biến và áp dụng tri thức KH&CN

UNESCO chú trọng phân biệt hoạt động NC&PT và những hoạt động KH&CN nhưng không thuộc phạm trù NC&PT Trên thực tế, việc phân biệt này nhiều khi không đơn giản vì ranh giới giữa NC&PT và các hoạt động ứng dụng KH&CN hoặc dịch vụ KH&CN không rõ ràng Theo UNESCO, những dạng hoạt động KH&CN sau không coi là thuộc hoạt động NC&PT:

- Thu thập dữ liệu thường ngày của các hoạt động quan trắc (như khí tượng, thuỷ văn) Tuy nhiên nếu là thu thập dữ liệu cho một hoạt động nghiên cứu KH lại được coi là thuộc hoạt động NC&PT;

- Ứng dụng thuần tuý kết quả KH&CN

- Nghiên cứu khả thi, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu chính sách

UNESCO phân biệt rõ ràng giữa ý nghĩa của hai thuật ngữ "research" và

"studies"5 Nếu việc nghiên cứu của cơ quan quản lý chỉ nhằm đưa ra căn cứ cho việc hoạch định chính sách, hoặc chỉ là để chuẩn bị cho việc triển khai một dự án (nghiên cứu khả thi), hoặc điều tra xã hội học người tiêu dùng, nghiên cứu tiếp thị đều không coi là NC&PT

- Hoạt động KH&CN và sản xuất công nghiệp: Nếu việc nghiên cứu đưa ra những mẫu sản phẩm và quy trình mới, thì chúng được coi là hoạt động NC&PT, trong khi những hoạt động mở rộng quy mô sản xuất với sản phẩm mới, nghiên cứu thị trường, tiếp thị cho sản phẩm mới lại không được coi là NC&PT

Theo quan niệm của tác giả, hoạt động thống kê KH&CN cần đảm bảo tính tương hợp quốc tế Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong thống kê

Vì vậy, định nghĩa tác giả đưa ra về hoạt động thống kê KH&CN như sau:

4 STS - Scientific and Technological Services

5 Ở Việt Nam, hai thuật ngữ này đều được dịch là "nghiên cứu" Vì vậy dễ dẫn đến nhầm lẫn

Trang 24

22

Hoạt động KH&CN 6 là tất cả những hoạt động có tính hệ thống, liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, phổ biến và áp dụng tri thức khoa học và kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực KH&CN như các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học y dược và khoa học nông nghiệp, cũng như khoa học xã hội và nhân văn

1.3.3 Khái niệm về thống kê KH&CN

Thống kê KH&CN là một lĩnh vực của thống kê học đề cập đến thông tin

liên quan đến nội dung, cơ cấu của hoạt động KH&CN, cung cấp các khái niệm

cơ bản để tổ chức hệ thống chỉ tiêu nhằm đo lường, phân tích và đánh giá các thông tin có liên quan đến các nguồn lực KH&CN (nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật, tài chính, nguồn lực thông tin), các hoạt động KH&CN và các kết quả của các hoạt động KH&CN [4]

1.4 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê

1.4.1 Tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là một tập hợp hay toàn bộ các nhận biết của hiện tượng

cụ thể Tổng thể thống kê là số lượng lớn, gồm những phần tử cấu thành hiện tượng, cần được quan sát, phân tích về mặt lượng của chúng [34] Các phần tử này

gọi là đơn vị tổng thể (hay cá thể) Đơn vị tổng thể gồm có: Tổng thể bộc lộ (như: nhân khẩu, sản phẩm, …), tổng thể tiềm ẩn (như: người đam mê nghiên cứu khoa

học, người thích bóng đá, …)

1.4.2 Tiêu thức thống kê

Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng trong nghiên cứu thống kê người ta chỉ chọn ra một số đặc điểm để nghiên cứu Các đặc

điểm được chọn này được gọi là tiêu thức thống kê Như vậy, tiêu thức thống kê là

một khái niệm chỉ đặc điểm của các đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu

[34] Nếu phân chia theo cách biểu hiện thì tiêu thức thống kê bao gồm hai loại: Tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng:

6 STA - Scientific and Technological Activities

Trang 25

23

(1)Tiêu thức thuộc tính, là loại tiêu thức không biểu hiện trực tiếp bằng con số, mà

các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh loại hoặc tính chất của các đơn vị

tổng thể Ví dụ: Giới tính, dân tộc, thành phần kinh tế là những tiêu thức thuộc

tính

(2)Tiêu thức số lượng, là loại tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số Đây là

những con số phản ánh đặc trưng có thể cân, đong, đo, đếm được của từng đơn vị

tổng thể Ví dụ: Số nhân khẩu trong một gia đình; tiền lương hàng tháng của người lao động; chiều dài của quãng đường

1.4.3 Chỉ tiêu thống kê

Một trong những khái niệm quan trọng của thống kê là chỉ tiêu thống kê Theo Uỷ ban Thống kê của Liên Hiệp Quốc và Uỷ ban Kinh tế của châu Âu, và

OECD, "chỉ tiêu thống kê là một yếu tố dữ liệu phản ánh dữ liệu thống kê và

những đặc trưng khác ở một thời điểm, địa điểm xác định" [39]

Để biểu hiện rõ bản chất và quy luật của hiện tượng, thống kê phải tổng hợp các đặc điểm về lượng thành những con số của một số lớn hiện tượng trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể, người ta gọi đó là chỉ tiêu thống kê Khoản 3,

Điều 3 Luật Thống kê đã quy định: Chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng

số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng

kinh tế-xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể [24]

Theo nội dung phản ánh, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành:

- Chỉ tiêu khối lượng: phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu;

- Chỉ tiêu chất lượng: phản ánh đặc điểm về chất của hiện tượng nghiên cứu

Theo vai trò của hiện tượng nghiên cứu, chỉ tiêu thống kê có thể chia thành:

- Chỉ tiêu thống kê đầu vào (input indicator);

- Chỉ tiêu thống kê đầu ra (output indicator);

- Chỉ tiêu thống kê kết quả (outcome indicator);

- Chỉ tiêu thống kê tác động (impact indicator)

Trang 26

1.4.4 Điều tra chọn mẫu

Thống kê là nghiên cứu hiện tượng số lớn Tuy nhiên việc thu thập thông tin thường được tiến hành trên nhiều cá thể của tổng thể, phương pháp thu thông tin là thông qua mẫu số liệu: Điều tra chọn mẫu

Điều tra chọn mẫu là loại điều tra không toàn bộ, trong đó người ta chỉ chọn ra một số đơn vị nhất định trong toàn bộ các đơn vị của tổng thể để tiến hành điều tra thực tế, rồi dùng kết quả thu thập được để tính toán, suy luận thành các đặc điểm của toàn bộ tổng thể [24]

Ví dụ: Trong điều tra năng suất, sản lượng lúa, chỉ tiến hành thu thập số liệu trên một đơn vị diện tích hay hộ gia đình, sau đó dùng kết quả thu thập được suy luận cho năng suất và sản lượng toàn địa bàn điều tra

- Ưu điểm của điều tra chọn mẫu:

+ Tiến hành nhanh, gọn, đảm bảo tính kịp thời của số liệu

+ Giảm được chi phí và nhân lực cần thiết để thực hiện điều tra

+ Có điều kiện để mở rộng nội dung điều tra, tài liệu thu thập, phản ánh được nhiều mặt của hiện tượng nghiên cứu

+ Làm giảm sai số khi chọn mẫu (sai số do ghi chép, cân đong, đo đếm, khai báo, …) Vì điều tra chọn mẫu cần ít nhân viên điều tra nên có thể lựa chọn những người am hiểu chuyên môn và có kinh nghiệm điều tra hơn, có điều kiện để tập huấn nghiệp vụ được tốt hơn; có thời gian để tiếp cận, thu thập thong tin trên một đơn vị điều tra đầy đủ và cụ thể hơn, có thể kiểm tra được số liệu chặt chẽ hơn, … Như vậy, số liệu có được từ các đơn vị điều tra sẽ có độ tin cậy cao hơn

+ Điều tra chọn mẫu áp dụng thay cho điều tra toàn bộ trong những trường hợp điều tra phức tạp, quy mô lớn mà trong thực tế không thể tiến hành điều tra

Trang 27

- Nhược điểm:

+ Do chỉ tiến hành trên một số đơn vị điều tra rồi dung kết quả để suy rộng cho toàn bộ tổng thể nên kết quả của điều tra chọn mẫu luôn tồn tại “sai số chọn mẫu”

+ Kết quả điều tra chọn mẫu không thể tiến hành phân nhỏ theo mọi phạm

vi và tiêu thức nghiên cứu như điều tra toàn bộ, mà chỉ có thể thực hiện được ở mức độ nhất định tùy thuộc vào quy mô, cách rải mẫu, tính chất đồng đều của các chỉ tiêu điều tra

Với nội dung cơ bản phân tích ở trên, có thể thấy rằng điều tra chọn mẫu là một phương pháp khoa học, được sử dụng linh hoạt trong công tác nghiên cứu thống kê các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội

1.4.5 Hệ thống chỉ tiêu thống kê

Khoản 4 Điều 3 Luật Thống kê quy định: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập

hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [24]

Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm nhiều loại, như hệ thống chỉ tiêu thống

kê quốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ/ngành và địa phương; hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế; hệ thống chỉ tiêu thống kê xã hội Các hệ thống chỉ tiêu thống kê này hợp thành tổng thể hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất, trong đó hệ thống chỉ tiêu quốc gia là hệ thống chỉ tiêu bao trùm nhất và có tính khái quát nhất

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 quy định: Hệ

thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế-xã hội chủ yếu của đất nước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

Trang 28

26

trong từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác

Theo tác giả luận văn, định nghĩa hệ thống chỉ tiêu thống kê như sau:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

1.5 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê

1.5.1 Khái niệm hệ thống

Hệ thống là một tập hợp nhiều phần tử (đơn vị, bộ phận ) và các phần tử

đó phải có liên kết , tương tác lẫn nhau [5]

Điều kiện cần có ít nhất hai phần tử trở lên

Điều kiện đủ các phần tử này có quan hệ tương tác lẫn nhau

Muốn có hệ thống tốt thì cần nâng cao các mối quan hệ tương tác, người quản lý cần tổ chức cho hệ thống với các bộ phận gắn kết với nhau, điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý

Trong quá trình quản lý, bất cứ lĩnh vực nào cũng đều phải xử lý Một hệ thống có tính phức tạp, tính phức tạp của hệ thống ở chỗ trong hệ thống có nhiều đơn vị , nhiều bộ phận và mối quan hệ giữa các phần tử đó phải tương tác với nhau thông qua các quan hệ về kinh tế, hành chính, luật pháp và các quan hệ tâm lý – xã hội khác

1.5.2 Khái niệm chuẩn hóa

Chuẩn hóa là quá trình nghiên cứu, quy định và đưa vào áp dụng một cách thống nhất, khoa học và hợp lý các tiêu chí đặc trưng, thông số, của một hay nhiều lĩnh vực nhất định nào đó trong cùng một ngành, một địa phương, một nước, một khu vực hay trên toàn thế giới.7

Có 4 loại chuẩn hóa chính, bao gồm:

- Chuẩn hóa quốc tế và khu vực: do quốc tế và khu vực quy định, để các

quốc gia dựa vào đó xây dựng chuẩn riêng cho mình

7 Định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO)

Trang 29

27

- Chuẩn hóa quốc gia: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của từng

nước nhưng phù hợp với các chuẩn quốc tế Ví dụ; chuẩn phần mềm, phông tiếng Việt, giao thức trao đổi thông tin, mã hành chính,

- Chuẩn hóa ngành: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của từng

ngành nhưng phải thống nhất với chuẩn quốc gia chung Ví dụ chuẩn về các loại thông tin, cấp độ thông tin của ngành đó

- Chuẩn hóa địa phương: được xây dựng trên cơ sở những đặc trưng của

từng địa phương nhưng phải thống nhất với chuẩn quốc gia và ngành Ví dụ: mã hành chính, loại thông tin, cấp độ quản lý,

1.5.3 Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê

Chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê là hoạt động đổi mới và áp dụng đồng

bộ hệ thống chỉ tiêu thống kê, hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia thống nhất, thông suốt và hiệu quả phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế nhằm cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời các thông tin thống kê đáp ứng nhu cầu phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Đảng, Nhà nước; công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các Bộ, ngành và địa phương và của các tổ chức, cá nhân [24]

1.6 Yêu cầu chính xác và hiệu quả trong thống kê

1.6.1 Yêu cầu chính xác trong thống kê

Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong việc điều tra, báo cáo, tổng hợp, công bố thông tin thông kê [24]

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong thống kê Bởi vì nó liên quan đến hai đối tượng chủ yếu nhất của Luật Thống kê là tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin hoặc làm công tác thống kê Đồng thời nó cũng liên quan đến

cả 3 yêu cầu cơ bản của thông tin thống kê: nếu không đầy đủ sẽ không đánh giá được toàn diện tình hình, quyết định sẽ không đồng bộ, bị sai lệch; nếu không chính xác thì quyết định sẽ sai, chẳng những không đạt kết quả như mong muốn

mà còn ngược lại; nếu không kịp thời sẽ lỡ thời cơ, vì nó bao quát tất cả các khâu

Trang 30

28

của hoạt động thống kê từ điều tra, báo cáo, tổng hợp đến công bố thông tin Nguyên tắc này có liên quan đến nhiều quy định khác ở trong luật, từ nghĩa vụ quyền hạn của tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin phải trung thực;

tổ chức, cá nhân làm công tác thống kê phải khách quan

Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị

đo lường, niên độ thống kê và bảo đảm so sánh quốc tế [24]

Nguyên tắc này là một trong những điều kiện bảo đảm tính chính xác và sự

so sánh của thông tin thống kê theo thời gian và theo không gian ở trong nước cũng như quốc tế Nếu không bảo đảm tính thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại thống kê, đơn vị đo lường, niên độ thống kê thì số liệu sẽ không thống nhất, không chính xác, không so sánh được Vì số liệu thống kê chỉ có ý nghĩa khi thông qua so sánh về thời gian và không gian Nguyên tắc thống nhất này còn được cụ thể trong các điều của Luật như: giải thích từ ngữ,

hệ thống chỉ tiêu thống kê, bảng phân loại thống kê, chương trình điều tra thống kê quốc gia, chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, thẩm quyền quyết định, công bố của hệ thống thống kê tập trung, cũng như quyền nghĩa

vụ của tổ chức, cá nhân được điều tra, báo cáo, công bố, sử dụng thông tin

1.6.2 Yêu cầu hiệu quả trong thống kê

Không trùng lắp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra, báo cáo [24]

Việc thu thập thông tin dù bằng hình thức điều tra hay báo cáo đều rất tốn kém về thời gian, công sức, tiền của cho các nhu cầu in ấn tài liệu, biểu mẫu báo cáo; thuê điều tra viên; huấn luyện nghiệp vụ; thời gian ghi chép hoặc trả lời phỏng vấn, thu thập, kiểm ta, xử lý, tổng hợp, công bố thông tin Vì vậy, nếu trùng lắp giữa các cuộc điều tra với báo cáo sẽ làm tăng gánh nặng cho người trả lời, tăng chi phí, giảm hiệu quả hoạt động thống kê Nguyên tắc này cũng đã được thể hiện ở một số điều trong Luật như: nghiêm cấm quyết định điều tra, ban hành chế

độ báo cáo thống kê trái với quy định của pháp luật; chỉ có một số người có thẩm quyền mới được ban hành chế độ báo cáo hay quyết định điều tra; các chế độ báo

Trang 31

Thống kê đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu về KH&CN Hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN là bộ công cụ rất quan trọng giúp cho việc quan sát toàn bộ hoạt động KH&CN quốc gia, tạo điều kiện để các nhà phân tích, dự báo, các nhà quản lý nhận biết chính xác về thông tin của từng lĩnh vực KH&CN, đánh giá được phần nào hiệu quả của hệ thống KH&CN, đóng góp của KH&CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội Đây là vai trò quan trọng hàng đầu đối với công tác quản lý thông tin KH&CN

Thống kê cung cấp cơ sở dữ liệu về thông tin KH&CN, góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về KH&CN Có rất nhiều dạng số liệu, thông tin mà thống kê KH&CN có thể cung cấp cho công tác quản lý thông tin KH&CN Đối với số liệu định kỳ, thường xuyên mà hệ thống quản lý cần có để nhận dạng, phân tích, đánh giá thông tin KH&CN, thì việc tổ chức thu thập số liệu được tiến hành theo kiểu báo cáo định kỳ [17] Ngoài ra, để định kỳ tổ chức, đánh giá, phân tích cùng một lúc tổng thể các hoạt động KH&CN, thì việc thu thập số liệu được tiến hành thông qua các cuộc điều tra Hiện nay, việc thu thập thông tin đang được xúc tiến theo Chế độ báo cáo thống kê cơ sở và Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp cũng như các cuộc điều tra thống kê quốc gia, điều tra thống kê ngành về KH&CN

Ngày càng gia tăng nhu cầu thông tin thực tế phục vụ công tác quản lý Nhà nước về KH&CN nhằm hỗ trợ các nhà lãnh đạo, quản lý trong việc ra quyết định phù hợp, hiệu quả, góp phần nâng cao sự đóng góp quan trọng của KH&CN cho

Trang 32

30

phát triển kinh tế - xã hội Việc chuẩn hóa thống kê KH&CN sẽ góp phần rất quan trọng trong việc đưa ra những thông tin KH&CN chính xác, đầy đủ Từ đó giúp cho việc quản lý thông tin KH&CN được thực hiện một cách dễ dàng và hiệu quả

Ngày nay, thống kê KH&CN có vai trò quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý Nhà nước về KH&CN phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của các cấp quản

lý, xây dựng chiến lược và chính sách phát triển KH&CN Thống kê KH&CN là công cụ rất quan trọng, cung cấp các số liệu giúp các nhà phân tích, dự báo, các nhà quản lý có được những nhận biết chính xác về từng lĩnh vực KH&CN, góp phần quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động KH&CN cũng như việc quản

lý thông tin KH&CN

* Kết luận chương 1

Trong chương 1, đã cung cấp những nội dung lý thuyết về thống kê KH&CN, làm cơ sở cho những phân tích về thực trạng thống kê KH&CN ở chương 2 Sau khi lý giải chi tiết các khái niệm về thông tin KH&CN, phân tích các hướng tiếp cận khái niệm thống kê, thống kê KH&CN, chương 1 đã đưa ra các đặc điểm, vai trò của công tác thống kê KH&CN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Chương 1 cũng đã đi sâu phân tích các yêu cầu về chính xác và hiệu quả trong thống kê KH&CN, về tính chính xác đó là yêu cầu về bảo đảm tính khách quan trong các hoạt động thông tin thông kê cũng như thống nhất về phương pháp luận thống kê, về tính hiệu quả đó là không chồng chéo giữa các cuộc điều tra, báo

cáo Ngoài ra, chương 1 cũng đã nêu ra các khái niệm về quản lý thông tin

KH&CN, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN và mối quan hệ giữa việc

chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN với quản lý thông tin KH&CN

Trang 33

31

THỐNG KÊ TRONG QUẢN LÝ THÔNG TIN KH&CN Ở

VIỆT NAM

2.1 Cơ bản về thực trạng quản lý thông tin KH&CN ở Việt Nam

Hiện nay, nhất là sau khi ban hành Nghị định 11/2014/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN đã đánh dấu giai đoạn nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước đối với hoạt động thông tin KH&CN và tăng cường năng lực của các tổ chức thông tin KH&CN (nâng cao chất lượng các dịch vụ, sản phẩm thông tin, khả năng đáp ứng nhu cầu tin) theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức thông tin KH&CN

Mạng lưới thông tin KH&CN đã được triển khai rộng khắp bao gồm các cơ quan thông tin KH&CN, thuộc các Bộ, ngành, các tổng công ty và các địa phương Nguồn thông tin KH&CN, bao gồm cả các tài liệu sáng chế và tiêu chuẩn, không ngừng được bổ sung, cập nhật Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hoạt động thông tin- thư viện được đẩy mạnh Hàng loạt các cơ sở dữ liệu và các mạng thông tin KH&CN đa ngành như VISTA, CESTI hoặc các mạng chuyên ngành về nông nghiệp, y tế, công thương được đầu tư và phát huy hiệu quả Các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN từng bước được đa dạng hóa và đáp ứng ngày càng hiệu quả nhu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, kinh doanh của xã hội Nhiều văn bản pháp quy quan trọng đã dược xây dựng tạo cơ sở pháp lý phục vụ quản lý nhà nước về thông tin, thư viện, thống

kê KH&CN [36]

Tuy nhiên, công tác quản lý thông tin, thống kê KH&CN vẫn còn tồn tại một

số bất cập như: Nguồn thông tin KH&CN còn hạn chế, tản mạn, chưa được khai thác một cách rộng rãi và hiệu quả, nhất là nguồn tin KH&CN nội sinh Hạ tầng cơ

sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn, nhiều nơi còn lạc hậu Sự liên kết, phối hợp giữa các tổ chức thông tin KH&CN trong mạng lưới còn lỏng lẻo Việc ứng dụng CNTT và các thành tựu KH&CN tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN còn nhiều bất cập Đội ngũ cán bộ thông tin KH&CN và cộng tác viên mỏng, trình độ

Trang 34

32

chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ còn hạn chế, một số cán bộ chưa thực sự gắn

bó với nghề nghiệp Văn hóa sử dụng thông tin KH&CN trong giới nghiên cứu và đào tạo cũng như trong xã hội còn thấp so với nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế Đặc biệt là cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN còn mới, vừa mới được đưa vào Nghị định 11/2014/NĐ-CP nên còn sơ khai, ở bước khởi đầu, các cơ sở dữ liệu thông tin KH&CN còn độc lập, chưa liên kết thành

mạng lưới với nhau để phục vụ tốt cho công tác quản lý thông tin KH&CN

2.2 Thực trạng thiếu đồng bộ của hệ thống chỉ tiêu thống kê trong thông tin KH&CN ở Việt Nam

2.2.1 Hiện trạng công tác thống kê KH&CN

Thống kê KH&CN là việc vô cùng quan trọng nên được tất cả các quốc gia phát triển, đang phát triển cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm Hầu hết các nước phát triển, và một số nước khu vực ASEAN, hằng năm đều xuất bản sách trắng/các chỉ tiêu cơ bản về KH&CN Mới đây, việc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc quyết định chọn 20 tháng 10 hằng năm làm ngày Thống kê Thế giới đã khẳng định tầm quan trọng của công tác thống kê đối với quá trình phát triển của các quốc gia nói chung và của từng ngành, từng lĩnh vực nói riêng

Thống kê KH&CN có tầm quan trọng đặc biệt, là cơ sở cho việc đánh giá, hoạch định chính sách chiến lược KH&CN của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Ở Việt Nam, ngoài hệ thống thống kê tập trung, việc xây dựng hệ thống thống kê chuyên ngành KH&CN đã được xác định là nhiệm vụ cấp thiết Nghị định 30/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thống kê KH&CN đã được ban hành Do vậy, tăng cường công tác thống kê KH&CN hiện là một trong những nhiệm vụ cấp thiết không chỉ cho ngành KH&CN mà còn cho tất cả các cấp, các ngành Hiện nay, công tác thống kê KH&CN hầu như mới bắt đầu được phát triển, vì vậy phải

nỗ lực lớn về mọi mặt: xây dựng cơ chế, vận động nguồn lực, tổ chức thực hiện và

kiểm tra hiệu quả [7]

Đối với Bộ KH&CN, tuy là cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN trên phạm vi cả nước nhưng những thông tin thống kê về KH&CN mà hàng năm Bộ

Trang 35

33

KH&CN thu thập được là rất hạn hẹp về nội dung và nhỏ bé về phạm vi bao quát (số liệu chứng minh điều này xem ở 2.4 Kết quả khảo sát).Với thực trạng này chúng ta không thể nói thống kê KH&CN đã phục vụ được cho nhu cầu quản lý và phát triển nền KH&CN của nước nhà

Thông tin thống kê KH&CN trong những năm qua và hiện nay, tuy có những cố gắng đáng trân trọng để thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển và quản lý nền KH&CN nước nhà, nhưng những thông tin thu thập được còn manh mún, tản mạn, sơ sài, không đồng bộ đặc biệt là không có tính liên tục và hệ thống (số liệu chứng minh điều này xem ở 2.4 Kết quả khảo sát) Vì thế mà không thể có cơ sở đáng tin cậy để phân tích và đánh giá trình độ KH&CN của đất nước

2.2.2 Hiện trạng thu thập và cung cấp các chỉ tiêu thống kê về KH&CN 2.2.2.1 Hiện trạng xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê KH&CN

Nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan thống kê nói chung

và thống kê KH&CN nói riêng đã quy định về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu

thống kê KH&CN Điều 74 Luật KH&CN năm 2013 quy định "Xây dựng hệ thống

thống kê khoa học và công nghệ và tiêu chí thống kê thống nhất trong cả nước"

Điều 8 Luật Thống kê (Luật số 04/2003/QH11, thông qua tại Kỳ họp thứ III, Quốc hội khoá XI) cũng quy định về Hệ thống chỉ tiêu thống kê như sau:

1 Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là căn cứ để phân công, phối hợp trong hoạt động thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở

2 Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia ban hành các chỉ tiêu thống kê phục vụ yêu cầu quản lý, sử dụng thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách."

Trang 36

34

Điều 4 của Nghị định 30/2006/NĐ-CP về thống kê KH&CN đã quy định "Bộ

KH&CN chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thống kê xây dựng, ban hành chi tiết Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN, các phân tổ chính, hình thức thu thập, kỳ thu thập, phương pháp tính các chỉ tiêu"

Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê (HTCTTK) quốc gia (Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005), trong

đó giao Bộ KH&CN chủ trì thu thập và tổng hợp 9 chỉ tiêu thống kê về KH&CN

để báo cáo Chính phủ Đây là một căn cứ quan trọng để Bộ KH&CN triển khai các hoạt động liên quan đến chỉ tiêu thống kê KH&CN

Ngày 2/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg (thay thế QĐ 305/2005/QĐ-TTg) trong đó có 11 chỉ tiêu thống kê về KH&CN (Bảng 1)

Trang 37

K công

bố

Lộ trình thực hiện

Cơ quan chịu trách nhiệm thu thập

Năm A Bộ KH&CN

224 1502

Số người trong các tổ chức khoa học và công nghệ

iới tính, dân tộc, loại hình tổ chức, lĩnh vực khoa học, loại hình kinh tế, lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực đào tạo, trình

độ chuyên môn, chức danh

2 năm A Bộ KH&CN

225 1503

Số đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu khoa học và phát

Cấp đề tài, dự

án, chương trình; lĩnh vực nghiên cứu,

Năm A Bộ KH&CN

Trang 38

36

triển công nghệ

tình trạng tiến hành, nguồn và mức kinh phí thực hiện

226 1504 Số sáng chế được cấp

bằng bảo hộ

Lĩnh vực khoa học, quốc tịch

và giới tính của chủ văn bằng

Năm A Bộ KH&CN

227 1505

Số giải thưởng khoa học và công nghệ được trao tặng

thưởng, lĩnh vực khoa học,

cá nhân (giới tính)/tập thể, quốc gia/quốc

Nguồn, khoản chi, lĩnh vực hoạt động

- Chủ trì: Bộ KH&CN

- Phối hợp:

Bộ Tài chính, TCTK

229 1507

Chi cho đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp

Ngành kinh tế, loại hình kinh

tế, nguồn cấp kinh phí

tế, nước và

Năm

B

- Chủ trì: Bộ KH&CN

- Phối hợp:

Trang 39

37

vùng lãnh thổ, trong nước/

ngoài nước

Bộ TC

231 1509

iá trị mua, bán quyền sử dụng sáng chế

Lĩnh vực sáng chế, nước và vùng lãnh thổ

Năm B Bộ KH&CN

232 1510

Số tiêu chuẩn quốc gia được công bố (TCVN)

Loại/lĩnh vực

233 1511

Số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được ban hành (QCVN)

 1 Nhân lực cho KH&CN: 4 chỉ tiêu;

 2 Tài chính cho hoạt động KH&CN: 4 chỉ tiêu;

 3 Cơ sở hạ tầng cho KH&CN: 3 chỉ tiêu;

 4 Hợp tác quốc tế trong KH&CN: 6 chỉ tiêu

 5 Hoạt động NC&PT: 3 chỉ tiêu;

Trang 40

38

 6 Công bố KH&CN: 3 chỉ tiêu;

 7 Sở hữu công nghiệp: 4 chỉ tiêu;

 8 Năng lực và hoạt động đổi mới công nghệ: 7 chỉ tiêu;

 9 Đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ: 3 chỉ tiêu;

 10 Tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng: 14 chỉ tiêu;

 11 An toàn bức xạ và hạt nhân: 6 chỉ tiêu;

 12 Thanh tra KH&CN: 3 chỉ tiêu

HTCTTK ngành KH&CN khi được triển khai sẽ đáp ứng việc cung cấp chỉ tiêu thống kê KH&CN thuộc HTCTTK quốc gia, phục vụ công tác quản lý nhà nước về KH&CN, đáp ứng và tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế liên quan đến thống kê KH&CN

2.2.2.2 Hiện trạng về thu thập và cung cấp các chỉ tiêu thống kê về

KH&CN

Cho đến nay, hoạt động thống kê KH&CN của Bộ KH&CN đã được triển khai ở những khía cạnh quản lý khác nhau và đã cung cấp những số liệu thống kê

cơ bản phục vụ công tác quản lý hoạt động KH&CN

a Các chỉ tiêu thống kê KH&CN trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Chỉ tiêu - Số đơn vị KH&CN

Hiện tại, số liệu về số đơn vị KH&CN chưa được thu thập một cách thường xuyên theo chế độ báo cáo thống kê Năm 2008, Vụ Tổ chức cán bộ đã tiến hành điều tra về nhân lực KH&CN, trong đó xác định số tổ chức KH&CN Một đơn vị khác của Bộ KH&CN, Văn phòng Đăng ký hoạt động KH&CN, có thể cung cấp

số liệu về số tổ chức đăng ký hoạt động KH&CN song chưa có cơ chế xác định biến động số lượng (do giải thể, sáp nhập, chia tách, )

Chỉ tiêu - Số người làm KH&CN, số người có học vị, chức danh

Bộ KH&CN mới thực hiện một cuộc điều tra tổ chức NC&PT nhưng chưa triển khai toàn diện chế độ báo cáo thống kê KH&CN Vì thế chỉ tiêu số người làm KH&CN cũng chưa có tính hệ thống Chỉ tiêu về nhân lực NC&PT tới năm 2013

Ngày đăng: 09/12/2020, 18:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w