1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu sách giáo khoa hán văn địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ hán 1906

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, nghiên cứu sách địa lý Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục 1906, một mặt giúp chúng ta tìm hiểu một loạt các vấn đề liên quan đến giáo dục, văn hóa, xã hội của Việt Na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

VŨ THANH BẰNG

NGHIÊN CỨU SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA

LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN 1906

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 5

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN NĂM 1906 10

1.1 Khái quát về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 10

1.1.1 Nội dung giáo dục các bậc học 11

1.1.2 Cải đổi về chương trình thi 16

1.2 Danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý trong kho sách Hán Nôm qua Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu 23

1.3 Nhận xét về danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý cho chương trình cải lương khoa cử chữ Hán (1906) 31

1.3.1 Sách Hán văn địa lý qua đặc trưng số lượng in / chép tay 31

1.3.2 Sách Hán văn địa lý qua niên đại 32

1.3.3 Về tác giả của sách Hán văn địa lý 32

1.3.4 Tính phân loại của các sách giáo khoa Hán văn địa lý 33

1.3.5 Sự cần thiết của địa lý thế giới 36

1.3.6 Yêu nước mình phải học địa dư nước mình 37

1.3.7 Sách giáo khoa Hán văn địa lý điểm nhấn của giáo dục Hán văn đầu thế kỷ XX 38

Tiểu kết chương 1 41

Trang 3

CHƯƠNG 2

SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ CẢI LƯƠNG (1906) TRƯỜNG HỢP

ĐỊA HỌC NGUYÊN THỦY 地學原始 VÀ NAM QUỐC ĐỊA DƯ 南國地輿 42

2.1 Trường hợp Địa học nguyên thủy 地學原始 42

2.1.1 Văn bản và kết cấu của sách Địa học nguyên thủy 地學原始 42

2.1.2 Niên đại và tác giả của sách Địa học nguyên thủy 地學原始 49

2.1.3 Hệ vấn đề nội dung của Địa học nguyên thủy 地學原始 53

2.1.4 Địa học nguyên thủy 地學原始 - giá trị tư liệu 72

2.2 Trường hợp Nam quốc địa dư 南國地輿 - Hán văn địa lý canh tân yêu nước 76

2.2.1 Tác giả Lương Trúc Đàm (1879 – 1908) 76

2.2.2 Văn bản và kết cấu của Nam quốc địa dư 南國地輿 77

2.2.3 Nam quốc địa dư 南國地輿 - bộ địa lý nước Nam cận đại 83

2.2.4 Nam quốc địa dư 南國地輿 - giá trị lịch sử và tư liệu 91

Tiểu kết chương 2 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 4

Giáo dục khoa cử chữ Hán vào năm 1906 được cải lương theo hướng giáo dục phổ thông Trong sự cải lương đó, chữ Hán được dùng như một công cụ ngôn ngữ văn tự có tính chất quá độ vừa làm công cụ truyền tải các tri thức theo yêu cầu mới với nhiều môn học, môn thi, nội dung thi hoàn toàn khác với khoa cử truyền thống, trong đó có môn Địa lý, vừa để đi đến loại bỏ khoa cử chữ Hán bằng khoa thi Tiến sĩ cuối cùng, khoa Kỷ Mùi,

1919 tại kinh thành Huế

Hán văn địa lý của chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906)

là một trong những điểm tiêu biểu cho sự khác biệt với Hán văn cử nghiệp trước đó Hán văn địa lý là Hán văn trong địa lý Việt Nam, địa lý khu vực, địa lý thế giới Quả là một môn học khác hoàn toàn với khoa cử truyền thống Đó là một môn học cho người học đến những nơi thật xa xôi với người Việt Nam như các nước Thái Tây, châu Âu, châu Mỹ, châu Úc và gần ta hơn cả là châu Á Năm châu bốn biển vốn là những gì xa lạ với sĩ tử hôm qua Trong buổi thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, ưu thắng liệt bại, sự mở tầm mắt cho những người thức tự về thế giới qua những bài học bằng chữ Hán đã làm cho chữ Hán, Hán văn nhiều nét mới Những điểm đó của đời sống chữ Hán và Hán văn trong những ngày cuối của khoa cử cần phải được đề cập đến, cần phải được nghiên cứu đến trong tiến trình Hán văn Việt Nam

Trang 5

Sách Hán văn địa lý giai đoạn này còn có một điểm thú vị nữa là nó cũng là một công cụ cho nhiệm vụ khai dân trí, chấn dân khí, thực dân tài của một lớp nhà Nho duy tân yêu nước Qua sách địa lý nhất là địa lý Việt Nam để tuyên truyền, vận động lòng yêu nước, giáo dục lòng yêu nước của những người “cùng trong một nước”, “cùng con Lạc cháu Hồng”, khơi dậy lòng yêu nước, để “Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn” “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” trong một cuộc tân vận hội [Phan Bội Châu] Sách giáo khoa địa lý Hán văn trong trường tư Đông Kinh Nghĩa Thục do các chí sĩ yêu nước đã được viết ra theo tinh thần đó

Như vậy, nghiên cứu sách địa lý Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục 1906, một mặt giúp chúng ta tìm hiểu một loạt các vấn đề liên quan đến giáo dục, văn hóa, xã hội của Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; mặt khác nó giúp chúng ta hiểu được sự mở rộng chức năng, phong cách của chữ Hán và Hán văn trong giáo dục

Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: Nghiên cứu sách giáo

khoa Hán văn địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906

làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của mình

2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Đề tài có mục đích tìm hiểu hệ thống sách giáo khoa địa lý Hán văn của chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán (1906), lập danh mục, phân loại các sách giáo khoa Địa lý Hán văn trong chương trình giáo dục cải lương hiện còn được lưu trữ ở Thư viện viện Nghiên cứu Hán Nôm

thông qua bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam, Thư mục đề yếu (3 tập), GS Trần

Nghĩa và GS.Francois Gros đồng chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1993, qua đó nhằm làm sáng tỏ đời sống Hán văn ở lĩnh vực các sách địa lý trong phạm vi thời gian của chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906

Sự phân loại đó sẽ là cơ sở để chúng tôi đi sâu nghiên cứu các trường

hợp cụ thể là hai cuốn Địa học nguyên thủy 地學原始 và Nam quốc địa

南國地輿 như là những nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu minh chứng cho cả một xu thế chung

Trang 6

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Sách địa lý ở Việt Nam ra đời từ rất sớm như Dư địa chí 輿地誌

của Nguyễn Trãi, Thiên hạ bản đồ 天下版圖 … do nhiều lý do của lịch

sử nên chúng tuy có tính pháp định, quyền uy nhà nước nhưng không phải

là môn học, môn thi của chương trình giáo dục khoa cử Sang cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chương trình cải lương giáo dục khoa cử mới chính thức đưa môn Địa lý vào trường học trở thành môn học, môn thi bắt buộc

Đó là một trong những biểu hiện đánh dấu bước phát triển của môn Địa lý Việt Nam chuyển từ truyền thống sang hiện đại

Những vấn đề của cải lương giáo dục khoa cử nói chung đã được rất nhiều tác giả đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau [Dương Kinh Quốc, 2006]; [Vũ Ngọc Khánh, 1985, tr.168]; [Phan Trọng Báu, 2008, Tr11 - 28]

và nhiều tác giả khác nữa Tuy vậy, do bị giới hạn trong nhiệm vụ viết lịch

sử giáo dục nên ở các công trình của các tác giả đó hoặc chỉ liệt kê các sách giáo khoa dạy chữ Hán giai đoạn đầu thế kỉ XX cùng vài tên sách giáo khoa chữ Hán của giai đoạn cải lương giáo dục 1906, mà không đề cập đến vấn đề sách dạy học môn Địa lý, càng không thể đi vào vấn đề Hán văn địa

lý của giai đoạn này như lập danh mục Hán văn địa lý, phân tích danh mục hay đi vào những nghiên cứu trường hợp cụ thể

Trong lời tựa cuốn Đồng Khánh dư địa chí 同慶輿地誌, một tác phẩm được coi là “tập đại thành địa lý học Việt Nam cuối thế kỉ XIX” các dịch giả trong lời dẫn đã khái quát hệ thống sách địa lý của Việt Nam và tình hình biên soạn mà không nhắc đến các sách giáo khoa Hán văn địa lý của chương trình cải lương giáo dục 1906

Trong công trình Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh đã khái quát hệ thống sách địa lý học lịch sử Việt Nam như: Đại Việt sử kí

toàn thư 大越史記全書; Khâm Định Việt sử thông giám Cương mục

欽定越史通鑑綱目; Đại Nam nhất thống chí 大南一統誌; Đại Việt

Trang 7

Tân đính Nam quốc địa dư giáo khoa 新訂南國地輿教科 của Lương

Trúc Đàm với đánh giá: “tuồng như là sách tóm tắt cho các thí sinh thi Hương dùng cho tiện (…)” [Đào Duy Anh, 2005, Tr12]

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống về sách giáo khoa Hán văn địa lý trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán 1906 Điều này thiết nghĩ có nhiều nguyên nhân: địa lý một khoa học cũ nhưng lại là môn học vô cùng mới mẻ trong trường học cải lương nên chưa được quan tâm thích đáng, số lượng sách đã mất mát nhiều Vì thế, đây là một hướng nghiên cứu mới ngỏ cho chúng tôi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là:

- Hệ thống sách địa lý Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán (1906) hiện lưu trữ ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm

thông qua cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, Nxb

Khoa học Xã hội, H, 1993

- Văn bản Địa học nguyên thủy 地學原始 kí hiệu VHv.165

- Văn bản Nam quốc địa dư 南國地輿 kí hiệu VHv.173

Trong luận văn của mình, chúng tôi có sử dụng một số cuốn sách ghi về cương vực biển đảo khẳng định chủ quyền trên biển Đông của Việt Nam Tuy nhiên do giới hạn của một luận văn Thạc sĩ nên vấn đề cương vực biển đảo sẽ là hướng mở cho chúng tôi vào dịp khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dưới góc nhìn của các phương pháp và thao tác Ngữ văn Hán Nôm, Văn bản học Hán Nôm và chủ nghĩa duy vật lịch sử

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, Luận văn của chúng tôi

gồm có hai chương:

Chương 1, với tiêu đề “Tổng quan về sách giáo khoa Hán

văn Địa lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán năm 1906” trên cơ sở cái nhìn toàn cảnh về cuộc cải lương giáo dục

Trang 8

khoa cử của Pháp năm 1906, chúng tôi sẽ lập danh mục các sách địa lý trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử hiện

đ a n g c ò n đ ư ợ c l ư u t r ữ t ạ i k h o s á c h H á n N ô m , t ừ đ ó p h â n loại chúng, rút ra nhận xét về sách giáo khoa Hán văn địa lý được sử dụng trong cuộc cải lương giáo dục năm 1906

Chương 2, với tiêu đề “Sách giáo khoa Hán văn địa lý trong cải

và Nam quốc địa dư 南國地輿 nhằm đi sâu nghiên cứu nội dung của

cuốn Địa học nguyên thủy 地學原始 - đại diện cho hệ thống sách phụ

thuộc Pháp và cuốn Nam quốc địa dư 南國地輿 của trường Đông Kinh Nghĩa - đại diện cho sách Hán văn địa lý yêu nước Qua đó làm rõ sự khác biệt và ý nghĩa lịch sử xã hội của hai khuynh hướng giáo dục trong cùng giai đoạn cải lương giáo dục 1906

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SÁCH GIÁO KHOA HÁN VĂN ĐỊA LÝ

TRONG CHƯƠNG TRÌNH CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC CHỮ HÁN NĂM 1906

Địa lý là môn học hoàn toàn mới trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán 1906 Để có cái nhìn tổng quan về sách giáo khoa Hán văn địa

lý trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán (1906) cũng như qua đó

có thể thấy được môn Địa lý được giảng dạy và học như thế nào, trước tiên

chúng ta phải có cái nhìn chung về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906

1.1 Khái quát về cải lương giáo dục khoa cử năm 1906

Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp về cơ bản đã đặt xong nền đô hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Tuy vậy ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ vẫn tồn tại ba chế độ giáo dục khác nhau, gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp trong quản lí và chỉ đạo Âm mưu xác lập nền giáo dục thực dân ở Việt Nam, loại bỏ chữ Nho và văn hóa Hán học ra khỏi nhân dân ta, đào tạo đội ngũ tay sai phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp vẫn gặp nhiều trở ngại Trước tình hình đó, Pháp buộc phải cải cách giáo dục nhằm hòa nhập nền giáo dục phong kiến cũ và giáo dục tư sản thực dân

Những năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp thi hành một loạt các chính sách trong giáo dục: thiết lập Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản

xứ (Consiel de Perfectionnement de I‟Enseigement indigène), thành lập Cải lương học vụ hội đồng, thiết lập chương trình giáo dục Pháp – Việt ở Trung Kỳ… trong đó đặc biệt phải kể đến chương trình cải lương giáo dục khoa

cử của Pháp (lần 1 năm 1906 và lần 2 năm 1917)

Khái niệm cải lương giáo dục chữ Hán chỉ thực sự được hình thành trên cơ sở của Đạo dụ ngày 31/05/1906 giữa Nam triều và chính quyền thực dân Pháp Đạo dụ cho phép thành lập Cải lương học vụ Hội đồng ấn định về phép học chữ Hán Cùng ngày, Đạo dụ về việc cải cách thi Hương, thi Hội, đưa chữ Pháp vào chương trình thi do vua Thành Thái ban ra thay

Trang 11

đổi phép thi Như vậy, Cải lương giáo dục khoa cử gắn với một loạt các thay đổi trong giáo dục như: hệ thống trường học, cấp học, môn học, môn thi, kỳ thi, đề thi, bằng cấp… nhằm vào mục tiêu đào tạo con người của thực dân Pháp Khi đó, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại hai hệ thống giáo dục

cơ bản Đó là hệ thống giáo dục khoa cử cải lương và hệ thống giáo dục Pháp – Việt

So với nền giáo dục Pháp – Việt thì hệ thống giáo dục khoa cử cải lương khác nhau về mục tiêu, đối tượng, phương pháp, chương trình, bằng cấp và xu hướng phát triển

Hệ thống giáo dục Pháp – Việt áp dụng nền giáo dục hiện đại, lấy khoa học thường thức làm hệ kiến thức, dạy bằng Quốc ngữ và tiếng Pháp Nền giáo dục ấy chia làm 2 loại: giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp Hệ thống trường chữ Hán được cải lương từ giáo dục khoa cử, nền tảng là hệ thống trường thiên thành trước đó thành hệ thống trường chính quy dưới sự quản lý của thực dân Pháp, kết hợp giữa kiến thức khoa học phổ thông với kinh điển; dạy bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, trong đó chữ Hán là trọng tâm [Đoàn Huy Oánh, 2004, tr.444]

Chương trình cải lương giáo dục khoa cử hướng đến giáo dục phổ thông, trong đó, chủ yếu dùng chữ Hán là ngôn ngữ truyền tải các tri thức phổ thông hiện đại thể hiện ở một loạt các phương diện: cấp học, phép thi

và hệ thống sách giáo khoa

1.1.1 Nội dung giáo dục các bậc học

Chương trình cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 chia trường học chữ Nho và gộp những người đang theo học chữ Nho của giáo dục khoa cử thành 3 bậc: Ấu học (Sơ cấp), Tiểu học (Đệ nhị cấp) và Trung học (Đệ tam cấp) với nội dung như sau:

1.1.1.1 Bậc Ấu học

Bậc Ấu học do xã thôn thiết lập dạy trẻ em, bao gồm cả nam và nữ

có độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi

Trang 12

- Các xã thôn được phép tuyển chọn thầy giáo cho trường nhưng phải được sự phê chuẩn của chính quyền

- Việc kiểm sát trường Ấu học ở hương thôn do các giáo thụ, huấn đạo ở phủ huyện đảm nhiệm

- Ở tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường Ấu học theo đúng quy thức chuẩn Kinh phí do tỉnh chu cấp

- Giáo quy của trường Ấu học gồm có 2 loại: giáo quy Hán tự và

giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự chuyên dạy các môn chữ Hán về các lĩnh vực chính trị, luân lý, địa lý Giáo quy Nam âm dạy chữ Quốc ngữ với các độc bản thuộc phạm trù: phong tục, chính trị, luân lý, thiên văn, địa lý

Chương trình thi Tuyển sinh gồm có: Thi viết và thi vấn đáp Thi viết: chính tả kiêm tập viết (bằng Quốc ngữ), toán: 4 phép toán và đo lường, bài thi tự chọn: dịch Hán – Quốc ngữ Thi vấn đáp: tập đọc về phong tục, luân lý hoặc cách trí, toán, đọc và dich Hán – Việt, đọc tiếng Pháp (tự chọn) [Phan Trọng Báu, 2004, Tr.13]

1.1.1.2 Bậc Tiểu học

Trường Tiểu học được mở ở các phủ, huyện (còn có tên gọi là trường Giáo thụ, Huấn đạo), thu nhận những người dưới 27 tuổi

Giáo quy của trường Tiểu học thường có hai loại: một là giáo quy

Hán tự, hai là giáo quy Nam âm Giáo quy Hán tự dạy chữ Hán thuộc các môn: Luân lý, Văn chương, Bắc sử, Nam sử, Địa lý Giáo quy Nam âm

dạy các bài độc bản về: lịch sử thế giới trong đó học kĩ về lịch sử Pháp,

công cuộc bảo hộ của Pháp ở Đông Dương, Địa lý, Cách trí, Toán học và

Trang 13

dạy thêm cả Tiếng Pháp Trong trường hợp giáo quy Nam âm không kiêm nhiệm được môn Tiếng Pháp thì sẽ nhờ sự giúp đỡ của các giáo quy trường Pháp – Việt

Quan đốc học chịu trách nhiệm quản lý các trường Tiểu học, tiến hành tố chức thi tốt nghiệp Tiểu học, thí sinh thi đỗ được cấp bằng Khóa sinh

Như vậy, chương trình dạy của bậc Tiểu học bao gồm các môn của 3

thứ chữ Chữ Quốc ngữ chiếm nhiều giờ hơn 15 giờ 30 mỗi tuần Chữ Hán

chiếm vị trí quan trọng sau chữ Quốc ngữ với 10 giờ, ngoài các môn học

mới như: địa dƣ, chính trị, luật lệ … chương trình Hán học còn khá nặng vì

vẫn tiếp tục học Tứ Thư (đã san định lại) Chữ Pháp tuy ở vị trí sau cùng nhưng thực chất cũng chiếm đến gần 10 giờ mỗi tuần, chủ yếu tập trung vào hai môn chính: tập đọc, tập làm văn (5 giờ 45) tập đối thoại (3 giờ 35)

Thi Khóa sinh thí sinh trải qua 2 vòng thi: thi viết và thi vấn đáp Thi viết quốc ngữ: một bài luận và 2 bài toán; chữ Hán: 1 bài dịch Pháp văn –

Hán văn, 1 bài dịch Hán văn – Pháp văn và 1 bài chính tả Thi vấn đáp

quốc ngữ: trả lời câu hỏi về các môn cách trí hoặc vệ sinh, địa lý, lịch sử,

hành chính; chữ Hán đọc dịch một bài Hán văn ra Pháp văn; Chữ Pháp: đọc

và trả lời những câu hỏi của thầy giáo về các nhân vật hoặc các mối quan

Giáo quy trường Trung học chia thành 2 loại: giáo quy Hán tự và

giáo quy Nam âm kiêm Pháp văn Giáo quy Hán tự dạy văn bản chữ Hán

tương đối cao hơn, và các thể thức văn bản Giáo quy Quốc ngữ dạy lịch

sử, địa lý, cách trí, toán pháp, làm văn Môn tiếng Pháp dạy Pháp văn tự

thoại sơ đẳng Học xong bậc Trung học, học sinh trải qua kỳ thi tốt nghiệp

Trang 14

với môn viết và môn vấn đáp nhưng yêu cầu cao hơn Thi đỗ lấy bằng Thí sinh, được miễn sưu dịch 1 năm và được tiếp tục đi thi Hương Năm 1906

cả nước mới có 26 trường trung học [GS Phan Ngọc Liên, 2006]

Như vậy, thực dân Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục nhằm dần hòa nhập giáo dục phong kiến khoa cử và giáo dục tư sản, dần dà đưa tiếng Pháp chính thức vào các trường Hán học cải lương

Khái quát chương trình ở các cấp học chúng tôi rút gọn trong bảng sau:

Trang 15

Cấp học Ấu học Tiểu học Trung học

Đơn vị Quản lí Xã, thôn Phủ, huyện (do giáo thụ, huấn đạo chịu

trách nhiệm)

Tỉnh lỵ (do đốc học phụ trách)

Pháp văn - Độc bản (không bắt buộc học)

Bảng 1.1 Bảng các cấp học trong chương trình cải lương giáo dục năm 1906

Trang 16

Từ bảng trên cho thấy, chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906) có sự khác biệt rất nhiều so với chương trình khoa cử trước đấy Cụ thể đã có giới hạn độ tuổi học ở mỗi cấp (quy định người học từ 6 đến 12 tuổi đối với Ấu học, dưới 27 tuối đối với Tiểu học và dưới 30 tuổi đối với Trung học); có nhiều môn học, môn thi hoàn toàn mới như Vệ sinh, Luân

lí, Cách trí… và đặc biệt phải kể đến là môn Địa lý – Thiên văn

Vấn đề học môn Địa lý được quy định

- Về cấp học: môn Địa lý được học ở cả 3 cấp học Ấu học, Tiểu học

để truyền đạt tri thức địa lý sẽ giúp người học dễ tiếp thu hơn, lại thêm sự

bổ trợ của chữ Hán sẽ mang lại hiệu quả cao hơn

1.1.2 Cải đổi về chương trình thi

Trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử, thực dân Pháp đã tiến hành các cải đổi về phép thi Hương, thi Hội, thi Đình với các nội dung quy định độ tuổi người thi, môn thi, nội dung thi, ngôn ngữ văn tự, cách chấm và tính điểm

1.1.2.1 Cải đổi phép thi Hương

Đồng thời với cải lương giáo dục ở hệ thống bậc học, thực dân Pháp tiến hành cải đổi phép thi Ở kỳ thi Hương, Đạo dụ về việc cải đổi phép thi Hương, thi Hội được ban hành ngày 31 tháng 5 năm Thành Thái thứ 18

Trang 17

(1906) những thay đổi ở nội dung thi, môn thi được đặc biệt chú ý Ta có thể thấy qua bảng sau:

1 Kỳ thứ nhất - Thi văn sách: (chữ Hán) gồm 5 đầu bài, liên quan đến các

vấn đề: ngũ kinh, truyện, Bắc sử, Nam sử

2 Kỳ thứ hai - Thi luận (Quốc ngữ)

3 Kỳ thứ 3

- Thi dịch:

+ 1 bài tiếng Pháp sang Quốc ngữ

+ 1 bài chữ Hán sang tiếng Pháp

4 Kỳ phúc hạch

- Thi luận:

+ 1 bài luận chữ Hán

+ 1 bài luận Quốc ngữ

- Thi dịch: 1 bài dịch Pháp văn sang Hán ngữ

Bảng 1.2 Bảng Chương trình thi Hương năm 1906

2 Kỳ thứ hai - Thi luận (chữ Nho): 2 đề

3 Kỳ thứ ba - Thi luận (Quốc ngữ): 2 đề

4 Kỳ thi phúc hạch

- Thi luận:

+ chữ Nho: 1 đề + Quốc ngữ: 1 đề

Bảng 1.3 Bảng chương trình thi Hương trường thi Hà Nam năm 1906

Trang 18

Các trường thi quy định các thí sinh dưới 50 tuổi mới có quyền ứng thí Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt như: tú tài, tôn ấm, những người được miễn khảo hạch theo lệ

Có thể nhìn thấy sự thay đổi nội dung thi của giáo dục cải lương

1906 qua nội dung thi Hương ở trường thi Hà Nam qua các khoa thi như sau:

Trang 19

Khoa thi Khoa Kỷ Dậu (Duy Tân thứ

Thi văn sách 3 đề chữ Nho:

- Thi văn chương

- Luân lý

- Chính trị / luật lệ Thi 1 đề dịch chữ Hán ra Quốc ngữ

Kỳ thứ hai - Thi 2 đề luận chữ Nho

- 1 đề luận chữ Quốc ngữ - Thi 1 bài luận chữ Nho

Bảng 1.4 Bảng chương trình thi Hương trường Hà Nam năm 1909, 1912, 1915

Trang 20

Qua bảng trên, chúng ta thấy rằng nội dung thi đã được chuyển dịch

từ kinh nghĩa dần sang các môn khoa học thường thức; tiếng Pháp được chính thức đưa vào chương trình thi Thí sinh phải học tốt cả: Hán văn, Quốc ngữ và Pháp văn mới có khả năng thi đỗ

Địa lý cũng trở thành môn thi chính thức ở cả 3 năm 1909, 1912, 1915: năm 1909 Địa lý được xếp thi ở trường thứ nhất, sau đó được chuyển

sang trường thứ hai vào các năm 1912 và 1915

Ngoài ra, việc cải đổi phép thi còn liên quan đến vấn đề chấm thi, cách cộng điểm ưu tiên; các quy định về giám sát phòng thi, chi phí quan trường

1.1.2.2 Cải đổi phép thi Hội và thi Đình

Năm Duy Tân năm thứ 14, khoa thi Hội năm Canh Tuất (1910) Mọi việc chuyển từ Bộ Lễ sang cho Bộ Học cai quản, lo liệu Các bài thi chữ Nho đều bắt buộc dùng kim văn Các môn: Toán pháp, Sử Thái Tây, Cách

trí, Địa lý, Nhân vật, môn dịch Quốc ngữ, dịch Pháp văn, dịch chữ Hán …

trở thành tất yếu Điều này yêu cầu các sĩ tử bên cạnh kiến thức về: kinh truyện, Nam Bắc sử, nắm vững các thể loại văn bản; từ, trát, chiếu biểu … còn phải bổ sung các kiến thức khoa học phổ thông

Có thể thấy sự cải lương chương trình thi Hội và thi Đình trong giai đoạn cải lương giáo dục lần thứ nhất của thực dân Pháp từ năm 1906 đến năm 1916, như dưới bảng sau:

Trang 21

Bảng 1.5 Chương trình thi Hội và thi Đình các năm 1910, 1913, 1916

Trường thứ nhất Trường thứ hai Trường thứ ba Trường thứ tư Khoa Canh Tuất

(1910) Chấm hệ

20 điểm, 10 điểm

trúng cách

Văn sách: 10 đạo +Kinh: 5

+Truyện:2 +Bắc sử: 2 +Nam sử:1 (dùng kim văn)

- Chiếu/dụ: 1 -Tấu, sớ: 1 -Biểu văn: 1 (dùng kim văn)

-Luận: 3 đề +Luận chữ nho: 1 +Luận quốc ngữ: 2

- Văn sách: 10 đạo +sử Thái Tây: 2 +cách trí: 2

+Bản quốc địa dư: 2

+bản quốc nhân vật: 2 + Thời vụ: 2

(dùng kim văn, làm 6 đề mới hợp lệ)

Văn sách đình đối

Khoa Quý Sửu

(1913)

- Văn sách: 5 đạo Như trên - Luận 3 đề quốc ngữ -Văn sách: 5 đạo Văn sách đình

đối Khoa Bính Thìn

(1916)

đối

Trang 22

Cách phê duyệt theo: ưu, bình, thứ, liệt được cải đổi bằng chấm theo thang điểm từ 0 đến 20 Đỗ 10 điểm ở mỗi trường là trúng cách được sang trường tiếp theo Xếp bảng đỗ sẽ căn cứ vào điểm từ cao xuống

Việc thay đổi môn thi và cách tính điểm gây ra nhiều khó khăn Số người đi thi đông, mà số đỗ đạt lại rất ít do đó tạo áp lực chán chường cho

sĩ tử

Như vậy, Khoa cử cải lương giai đoạn từ năm 1906 vẫn giữ được mục đích tối thượng của mình là chọn người ra làm quan; các định chế: trường thi, khoa thi, các vấn đề kinh luận vẫn dùng chữ Hán Chữ Hán vẫn

là ngôn ngữ quan trọng của khoa cử thời này Môn Địa lý đã trở thành môn

thi bắt buộc ở kỳ thi Hội Thí sinh trải qua 3 kỳ đầu với: kinh, truyện, các thể loại văn bản hành chính (chế, chiếu, tấu, sớ…) sẽ tiếp tục được thử

thách qua đề văn sách của các môn Cách trí, Nhân vật và môn Địa lý Nội

dung thi Hội hướng vào bản quốc địa dư buộc các sĩ tử phải có một kiến

thức địa lý vững vàng, sâu sắc Đây vừa là rào cản cho bước tiến thân của các sĩ tử bằng con đường khoa cử vừa là sự „khác biệt” của giáo dục khoa

cử cải lương so với khoa cử truyền thống

Chính sự đổi phép học, phép thi trong đó có môn địa lý đã trở thành nhân tố chủ yếu cho sự xuất hiện của các sách giáo khoa Hán văn địa lý phục vụ cho giáo dục khoa cử cải lương Tất nhiên, do nhiều lý do của lịch

sử, không phải tất cả các sách giáo khoa Hán văn địa lý của chương trình cải lương giáo dục khoa cử năm 1906 vẫn còn được lưu lại Cho đến giờ, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm vẫn là nơi lưu giữ được nhiều nhất

Do vậy, danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý của chương trình cải

lương giáo dục khoa cử năm 1906 dưới đây sẽ được phân xuất từ bộ Di sản

Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà

Nội, 2003, gồm 3 tập

Trang 23

1.2 Danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý trong kho sách

Hán Nôm qua Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu

Trong các sách phục vụ hệ thống giáo dục cải lương, chúng tôi đặc

biệt quan tâm đến các tài liệu Hán văn địa lý Trước ngưỡng cửa của hội nhập và trước những chính sách nô dịch về mặt giáo dục, việc biên soạn sách địa lý đều chịu sự chi phối của chính quyền thực dân Đi vào khảo sát tài liệu Hán văn địa lý phục vụ giáo dục cải lương sẽ giúp chúng ta làm rõ

Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng đề cập đến sách giáo khoa Hán Nôm người ta chủ yếu quan tâm đến sách dạy chữ Hán và sách dạy lịch sử

mà chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu sắc đến hệ tài liệu Hán văn địa lý phục vụ giảng dạy Tiến hành khảo sát chúng tôi nhận thấy sách Hán văn địa lý phục vụ giáo dục cải lương (1906) là sách dạy địa lý dành cho các cấp học: Ấu học, Tiểu học, Trung học và những tài liệu địa lý mang tính chất tham khảo cung cấp tri thức địa lý cho người học Những sách này chủ yếu được biên soạn, in, chép tay vào đầu thế kỉ XX Có những sách ghi rõ niên đại in, chép, có sách không đề cập đến niên đại Có sách còn giữ được đề tựa, phàm lệ; có cuốn không có nhưng căn cứ vào nội dung sách chúng tôi có thể xác định được khoảng thời gian (đầu thế kỉ XX) Về nội dung, các sách địa lý này, bao gồm kiến thức về địa lý thế giới, địa lý Việt Nam, địa lý khu vực Đông Dương, địa lý Pháp… Ngoài

ra, Một số sách có chép thêm các kiến thức về chính trị, thuế má của Đông Dương hoặc của Việt Nam Bên cạnh đó, không thể không kể đến các sách

có nội dung tổng hợp nhiều lĩnh vực, trong đó có chứa kiến thức địa lý (chủ yếu là sách lịch sử) Các sách này có số lượng tương đối nhiều, cũng là một mảng quan trọng của việc học và dạy địa lý

Vấn đề văn bản và nội dung của các sách Hán văn địa lý được sử dụng cho việc giảng dạy, học tập trong chương trình cải lương giáo dục chữ Hán năm 1906 hiện đang còn được lưu giữ ở Thư viện Viện nghiên cứu

Hán Nôm qua bộ thư mục Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu

được chúng tôi tóm lược lại trong bảng sau

Trang 24

TT Tên sách Cấp

học Tình trạng văn bản Tác giả

Niên đại Nội dung địa lý

幼學漢字新書

(gồm 4Q – Q3 Ấu học địa

dư giáo khoa thư)

ấu học

2 bản in, 2 bản viết Dương Lâm, Đoàn

Triển, Bùi Hướng Thành biên tập

Đỗ Văn Tâm hiệu đính Đông Dương Nghị học hội đồng kiểm duyệt

Soạn năm

1908

Q3: 幼學地輿教科書

Ấu học địa dư giáo khoa thư: dạy về

địa lý và chính trị Việt Nam

VHv.1485 546 tr, 15 x 21

(thừa Q2), bản

in VHv.1507 72 tr, 16x22

A.3168, 26 tr, 23,5x15,5, in Bùi Hướng Thành

phụng thảo

Không ghi

Các mục: bờ cõi, tên địa phương, núi cao, sông lớn, thổ sản…

ước

幼學普通說約

ấu học

3 bản in, 1 bản viết Ngạc Đình Phạm

Quang Xán biên soạn

Trang 25

4 Nam quốc địa dư Ấu học

giáo khoa thư

VHv.1589, 38 tr, 28x16, viết tay Không rõ Không

Học kiến thức về địa lý Việt Nam

北史新刊全編

Tiểu học

6 bản in Liễu Giang cư sĩ

biên tập

In năm

1909

Phần tổng luận bàn về diện tích, dân

số, phong tục, núi sông, hồ đảo, khí hậu, địa chất, sản vật, diên cách, địa lý

… của Trung Quốc

A.239, 248 tr, 29x15, bản viết Phạm Huy Hổ

biên tập, Đỗ Văn Tâm hiệu đính

Trang 26

8 Việt môn địa sử

越門地史

Tiểu học

A.1775 250 tr, 30x22, viết tay Trần Doãn Đông

soạn

Không ghi

Khảo về địa lý lịch sử Việt Nam từ Hùng Vương đến triều Nguyễn 1.những vấn đề bao quát (tổng tự): tên nước, đô thành các đời, đất đai hộ khẩu, các cửa ải…2.các đơn vị hành chính cụ thể (phân chú): kinh đô, phủ, tỉnh, huyện về các mặt cương giới núi sông, nghề nghiệp …

瀛寰全志

Tiểu học

A.893, 248tr, 27x15, 1 mục lục, 1 bản in

Không ghi In năm

1910

Địa lý toàn cầu gồm các phần: tổng luận nói về vị trí của địa cầu trong không gian, sự phân bố động thực vật trên địa cầu Hình thế, núi, sông, đại dương trên địa cầu Thiên tượng nói về hoạt động của một số vì tinh tú trong hệ mặt trời Địa lý của 6 khu vực trên Thế giới: Châu Á, châu Âu, châu Phi, Bắc Mĩ, Nam Mĩ, châu Đại Dương Địa lý các nước ghi rõ: vị trí, giới hạn, diện tích, dân số, sản vật, sông ngòi, giao thông…

10 Doanh hoàn toàn chí

lược biên (q Thượng)

瀛寰全志略編

Tiểu học

1 bản in, 1 bản viết, 1 mục lục Không ghi In năm

1910

Địa lý tự nhiên và địa lý thế giới, gồm: thiên văn, sao chổi, định tinh, sao băng, ngân hà, mặt trời, mặt trăng, vĩ tuyến, 5 vòng đai trên quả đất, gió, mưa, núi, non, sông ngòi, động vật và thực vật, chính thể, tôn giáo, Châu Á

và các nước châu Á

VHv.2948 110 tr, 27x15, in VHv.966 88 tr, 29x16, viết

tay

Trang 27

11 Đông Dương địa dư chí

tập

東洋地輿志集

Tiểu học

A.1652, 110 tr, 30x17, 1 bản viết tay

Trần Doãn Đông soạn

Gồm 1 Đông Dương địa dư chí (64 tr): địa lý, đường sông, đường núi, địa

lý miền Trung, miền Bắc, miền Nam của Việt Nam… 2 Tạp lục: viết về kinh thành, khảo về tên nước…

12 Đông Dương địa dư chí

tổng thuyết

東洋地輿志總說

Tiểu học

A.488, 66tr, 29x16, 1 bản viết tay Bài tổng luận về Địa lý Đông Dương

Mức thuế ở các tỉnh và 10 điều cai trị

ở Đương Dương (Xem Đông Dương cai trị thập điều kí A 3167)

13 Đông Dương hoàn danh

địa dư chí

東洋寰名地輿志

Tiểu học

A.2868, 160 tr, 1 tựa, 1 bản viết tay

Cn Nguyễn Xuân

Hi soạn

Gồm: 1 tình hình cai trị ở Đông Dương (xem Đông Dương cai trị thập điều lược kí A.3167); 2 Địa lý Đông Dương (6 cõi); 3 Địa lý 5 châu: diện tích, dân số, phong tục …

14 Đại Pháp, Đông Pháp

hành chính nhất miệt

大法東法行政一蔑

Tiểu học

VHv.20, 194tr,26x15, có hình vẽ,

có chữ Pháp, bản viết

Hoàng Tạ Ngọc biên soạn

1905 Gồm có: 1 Pháp chính tu tri (50tr): sơ

lược lịch sử Pháp và chế độ cai trị của Pháp ở Đông Dương 2 Đại Pháp Đông Dương địa dư toàn đồ (16tr), giới thiệu địa lý Đông Dương.3 Bắc kỳ địa sư toàn đồ (38tr): giới thiệu địa lý miền Bắc Việt Nam, 4 Ngũ châu các quốc đô chí (40tr) giới thiệu Địa lý các nước thuộc 5 châu trên Thế giới, Tự Hà Nội chí Ba lê trình đồ lược chí (8 tr): hành

trình từ Hà Nội đến Paris, Đại Nam

Trang 28

quận quốc chí lược (42tr) chép sách Đại Nam quận quốc chí lược A.1840

15 Thái Tây tạp kí trích lục

太西雜記摘錄

Tiểu học

VHv.967, 302 tr, 29x17, 1 bản chép tay

Sách ghi về tôn giáo, đất đai , dân số, phong tục, kĩ nghệ, ngân hàng, xuất nhập khẩu, thuế má, thiên văn, chính thể …các nước Châu Âu

16 Vạn quốc địa dư chí

萬國地輿志

Tiểu học

2 bản chép tay Cát Hiên soạn,

Trương Cẩn đề tựa, Trịnh Xuân Nhiếp sao chép

Soạn

và viết tựa năm

1887

Địa lý Thế giới: châu biển, đường giao thông lớn, các nhân chủng, … Địa lý các nước: tên nước, ranh giới, thủ đô, núi, sông, khí hậu, dân số, kinh tế, xã hội…

A.990 158 tr, 29x19, 1

tựa, 1 phàm lệ A.1735 48tr, 29x14, bản

sơ lược

17 Địa học nguyên thủy

地學原始

VHv.165, 98 tr, 28x14, 1 bản viết tay

Không ghi Không

ghi

Sách giáo khoa về địa lí, gồm: thiên văn (thái dương, hành tinh, địa cầu ); địa lí (biển và lục địa, núi sông); luật

lệ cai trị của các nước; đường sá, thổ sản, kĩ nghệ; cõi Đông Dương; Chính sách thuộc địa của Pháp; các công sở trong cõi Đông Dương …

18 Trung học Việt sử toát

yếu

中學越史撮要

Trung học

22 bản in, 5 bản viết (bộ 5Q Thủ, Xuân, Hạ, Thu, Đông), 1 bản lưu trữ tại Pháp

Ngô Giáp Đậu soạn Phạm Văn Thụ duyệt, Đoàn Triển, Phạm Văn Thụ, Cao Xuân

In tại nhà in

số 22 Hàng

Bè, Hà

Lịch sử Việt Nam:

1 Địa lý Việt Nam: cương giới, tên nước, Kinh đô của các triều đại, núi sông, diện tích, dân số, các tỉnh ở 3 miền đất nước, sự phân bố các dân tộc

ít người…

2 Lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương

Trang 29

Mỗi đời vua: tên húy, niên hiệu, thế

hệ, năm lên ngôi, số năm ở ngôi, tuổi thọ, tên lăng tẩm và tình hình nội trị, ngoại trị, binh bị…

Đặc biệt về triều Nguyễn, có chép các sự kiện liên quan đến các nước Vạn Tượng, Nam Chưởng, Cao Miên, Xiêm La; và việc Nguyễn Công Trứ tổ chức khai hoang lập ấp, việc giao thiệp với Pháp và các nước khác ở Châu Âu

19 Nam quốc địa dư

南國地輿

3 bản in, 1 bản viết, 1 tựa, 1 phàm

lệ, 1 mục lục

Lương Trúc Đàm soạn

In năm

1908

Sách giáo khoa địa lý Việt Nam Gồm: hình thể, vị trí, giới hạn, sông ngòi, đê đập, cửa biển, đường sá, khí hậu, dân

cư, chính thể, quân sự, tài chính, giáo dục, thuế khóa, sản vật, công nghệ, số phủ, huyện, tổng, xã, thôn ở các tỉnh trong nước và phong tục, sinh hoạt của các dân tộc ít người

- Riêng VHv.2102 tóm tắt về các nước trên thế giới: chép bảng tra thủ đô, diện tích, dân số, hình thể từng nước

VHv.173 158tr, 26,5x15, in VHv.1725 154tr, 26,5x15,

in A.75 160tr,

27,5x15,5, in VHv.2102 182tr, 29,5x17

(chép VHv.173) MF.44 A.75

Trang 30

20 Tân đính Nam quốc địa

dư giáo khoa thư

新訂南國地輿教科書

VHv.2080, 1 bản viết, 76tr, 26x16, 1 tựa, 1 phàm lệ, 1 mục lục

Lương Trúc Đàm soạn

Sách dạy địa lý Việt Nam loại mới Gồm: cương vực, địa thế, hành chính, dân số, sản vật, tài chính, giáo dục

21 Nam quốc địa dư chí

南國地輿誌

4 bản in, 1 bản viết, 1 tựa, có chữ Nôm

Lương Trúc Đàm soạn

In năm

1908

Địa lý Việt Nam gồm: vị trí, giới hạn, địa thế, sự phân chia giữa các miền, các tỉnh, số tỉnh, phủ, huyện, xã, thôn, núi, sông, đê, đập, đường sá, cửa biển, khí hậu, nhân vật, tài chính, quân sự, công nông nghiệp, thuế khóa … Trang phục và phong tục sinh hoạt của 37 dân tộc ít người ở Việt Nam Bài thơ Nôm Tứ sát tứ hại

VHv.1946 170tr, 26x15,5,

in VHv.1552 168tr,

26,5x15,5, in VHv.1474 170tr, 24,5x15,

in VHv.1722 170tr,26x15,5,

in VHv.979 68tr, 27x14,

chép theo VHv.1946

Bảng 1.6 Hệ thống tài liệu địa lý Hán văn phục vụ cải lương giáo dục 1906

Trang 31

1.3 Nhận xét về danh mục sách giáo khoa Hán văn địa lý cho chương trình cải lương khoa cử chữ Hán (1906)

Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy rằng: có 21 đầu sách được coi là sách giáo khoa dùng trong việc dạy và học môn Địa lý của chương trình cải lương giáo dục chữ Hán Tuy không phải tất cả 21 đầu sách (với tổng cộng

64 cuốn) đều được biên soạn để phục vụ trực tiếp giảng dạy nhưng có thể chắc chắn rằng người học của chương trình cải lương đều cần phải nghiên cứu các tri thức ở các tài liệu trên phục vụ việc học và thi môn địa lý

Tất nhiên, đối với người đi học thì toàn bộ những sách Hán văn địa lý trước đó cũng được sử dụng cho mục đích học và thi cũng như học mà để biết của họ Nhưng ở đây, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đưa vào danh mục trên những sách có niên đại được biên soạn vào cuối thế kỉ XIX và 2 thập niên đầu thế kỷ XX mà thôi

Từ danh mục trên, có thể nêu ra một vài nhận xét về sách giáo khoa Hán văn địa lý trong chương trình cải lương khoa cử chữ Hán 1906 như sau:

1.3.1 Sách Hán văn địa lý qua đặc trưng số lượng in / chép tay

Đặc trưng số lượng của sách giáo khoa Hán văn địa lý được xác lập qua một số tiêu chí như sách in hay chép tay

Qua bảng trên cho ta thấy tỷ lệ sách in và chép tay như sau: 3/21 sách in; 12/21 sách chép tay; 6/21 sách gồm cả bản in và chép tay Số lượng các sách có bản in chỉ chiếm 9/21 sách nhưng mỗi đầu sách lại được in với số lượng lớn hơn chép tay nên tổng số sách in là 43 cuốn Trong khi đó, sách chép tay chiếm hơn tới 12/21 đầu sách nhưng chỉ còn lại có 24 cuốn Sở dĩ có

điều này bởi sách được in có số lượng lớn hơn, đặc biệt là cuốn Trung học

Việt sử toát yếu 中學越史撮要 của Ngô Giáp Đậu còn tới 22 bản in, Bắc sử tân san toàn biên 北史新刪全編 của Liễu Giang cư sĩ còn tới 6 bản Những

sách in thường mang tính phổ thông hơn, dễ cập nhật hơn bởi có số lượng sách lớn, số người đọc đông Trong khi đó, các sách chép tay số lượng ít hơn,

Trang 32

còn có những sai sót về chữ viết, ít phổ biến hơn, hoặc chỉ được học trong một trường, một thầy nên mang tính chủ quan của người viết sách rất rõ Như vậy,

in và lượng in lớn có thể được xem là điểm nhấn của sách giáo khoa Hán văn địa lý phục vụ cho chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906

1.3.2 Sách Hán văn địa lý qua niên đại

Trong tổng số 21 đầu sách, có 13 đầu sách còn ghi rõ niên đại là năm

soạn, năm in hoặc năm hiệu đính, năm chép tay Ngoại trừ trường hợp Vạn

quốc địa dư chí 萬國地輿志, tuy là cuốn sách viết về địa lý thế giới khá sớm (được soạn và viết tựa năm 1887), nhưng rất cần cho thời đại khải mông, nên chúng tôi vẫn đưa vào danh mục, số còn lại đều có niên đại biên soạn, in hay chép lại vào giai đoạn cải lương giáo dục khoa cử Sách được in muộn

nhất là Trung học Việt sử toát yếu 中學越史撮要 của Ngô Giáp Đậu được

in năm 1911 tại nhà in số 22 Hàng Bè – Hà Nội Nếu lấy năm 1906 làm mốc,

thì chỉ có Đại Pháp Đông Pháp hành chính nhất miệt 大法東法行政一蔑

và Vạn quốc địa dư 萬國地輿 được viết trước năm 1906 (chiếm 2/13 đầu sách); còn lại là 11/13 đầu sách có niên đại vào các năm 1907, 1908 1909,

1910, 1911 Điều này chứng tỏ, chỉ sau khi có Nghị định cải lương học vụ năm 1906 thì việc biên soạn tài liệu phục vụ dạy và học chương trình cải lương mới trở nên ồ ạt hơn

1.3.3 Về tác giả của sách Hán văn địa lý

Thống kê cho thấy có 15/21 đầu sách còn ghi tên tác giả, hoặc tên người

viết tựa Các sách có ghi tên người biên soạn là: Ấu học Hán tự tân thư 幼學 漢字新書 có ghi rõ nhóm Dương Lâm, Đoàn Triển, Bùi Hướng Thành biên tập, Đỗ Văn Tâm hiệu đính, Đông Dương Nghị học Hội đồng biên soạn năm

1908; Nam quốc địa dư Ấu học giáo khoa 南國地輿幼學教科 do Bùi

Hướng Thành phụng thảo (địa lý Việt Nam); Ấu học phổ thông thuyết ước 幼 學普通說約 do Ngạc đình Phạm Quang Xán biên soạn, in năm 1908 (sách

tổng hợp các kiến thức phổ thông trong đó có địa lý và thiên văn); Bắc sử tân

san toàn biên 北史新刪全編 do Liễu Giang cư sĩ biên tập, in năm 1909

Trang 33

(sách lịch sử có chứa kiến thức về địa lý Trung Quốc); Tiểu học quốc sử lược

Phạm Huy Hổ biên soạn năm 1907 (hai cuốn này có nội dung tương đương nhau, tuy vậy tên gọi lại khác nhau đồ rằng là do 2 người chép Trong đó bản

Quốc sử tiểu học lược biên 國史小學略編 A.1327 chép kĩ hơn Tiểu học

quốc sử lược biên 小學國史略編 A.239) nội dung chép về lịch sử Việt

Nam, có xen phần địa lý Việt Nam; Việt môn địa sử 越門地史 do Trần Doãn Đông soạn không ghi niên đại (là sách lịch sử có thêm phần địa lý sử của Việt

Nam); Đại Pháp Đông Dương hành chính nhất miệt 大法東法行政一蔑 do Hoàng Tạ Ngọc biên soạn năm 1905 (sách ghi về địa lý của Pháp và địa lý chính trị khu vực Đông Dương, hành trình đến Paris)… Có thể thấy, tác giả của các tài liệu này đều là người có trình độ Nho học cao, sống trong buổi giao thông Á – Âu, thông hiểu văn mình phương Tây, lại đảm đương trọng trách trong các trường cải lương giáo dục của Pháp Có thể kể tên như Ngô Giáp Đậu - từng giữ chức giáo thụ rồi đốc học thời vua Thành Thái Ngạc Đình Phạm Quang Xán xuất thân trong gia đình Nho học, trong dòng họ có tới 9 tiến sĩ, cũng giữ chức huấn đạo ở Thái Bình đời vua Thành Thái Ở phía trường tư, Lương Trúc Đàm – là con của cụ cử Lương Văn Can, đỗ cử nhân, giữ chức hậu bổ tỉnh Hà Đông tham gia trường Đông Kinh Nghĩa Thục cổ động tân học, mở mang trí thức, duy tân tự cường

1.3.4 Tính phân loại của các sách giáo khoa Hán văn địa lý

Các sách địa lý giai đoạn này đều đề cập đến sự phân loại địa lý, trình bày các tri thức về địa lý theo những tiêu chí nhất định Mục đích là để hướng người học vào một hệ thống đối tượng địa lý cụ thế, tiện cho việc học và nghiên cứu Có thể coi đó là một trong những dấu hiệu của địa lý học hiện đại

địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế - xã hội và địa lý chính trị như sau: “地輿 分為三條目一條論海陸山川之類, 一條論萬國該治律例之類, 一條 論道路土產及技 藝之類 - địa dư phân vi tam điều mục: nhất điều luận

Trang 34

hải lục sơn xuyên chi loại; nhất điều luận vạn quốc cai trị luật lệ cho loại; nhất điều luận đạo lộ thổ sản cập kĩ nghệ chi loại - Địa dư phân ra ba loại

Loại thứ nhất luận về lục địa, biển, núi sông nói chung; loại thứ 2 luận về luật

lệ cai trị của các nước trên Thế giới; loại thứ 3 bàn về đường sá, thổ sản và kĩ nghệ” [ĐHNT, Tr 11]

Cũng tương tự như vậy, Doanh hoàn toàn chí lược biên 瀛寰全誌

略編 kí hiệu A.893 phân loại địa lý theo các tiêu chí: địa lý tự nhiên (toán thuật và văn thuật) và địa lý chính trị: “地理學者研究大地一切之 學 問

也 約分三類一曰算術地理, 論地之形體大小; 二曰地文地理, 論水 陸山川之位置, 氣候生物之殊異, 及一切天然之事; 三曰政治 地理 則詳郡國人民土英, 冒易戶口, 風俗等事 - Địa lý học giả nghiên cứu

đại địa nhất thiết chi học vấn dã Ước phân tam loại: nhất viết toán thuật địa

lý luận địa chi hình thể đại tiểu; nhị viết địa văn địa lý luận thủy lục sơn xuyên chi vị trí khí hậu sinh vật chi thù dị cập nhất thiết thiên nhiên chi sự; tam viết chính trị địa lý tắc tường quận quốc nhân dân thổ anh mạo dịch hộ khẩu phong tục đẳng sự - Địa lý học nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về địa lý Có

thể chia thành 3 loại sau: Thứ nhất đó là địa lý toán thuật, luận về diện tích lớn nhỏ, địa hình cao thấp; Thứ hai đó là địa lý văn thuật, luận vị trí, khí hậu, thổ nhưỡng, thổ sản và các vấn đề tự nhiên khác; Thứ 3 là địa lý chính trị bàn các

vấn đề về hành chính, dân số, hộ khẩu, phong tục” [Doanh hoàn toàn chí lược

biên, Tr.6]

Phần Tổng luận 北史新編總論 của Bắc sử tân san toàn biên 北史新

刪 全編, kí hiệu A.498 giới thiệu khái quát địa lý Trung Quốc cũng phân loại địa lý Trung Quốc trên cơ sở: “區畫及民數風俗 - khu hoach cập dân số

phong tục - Bờ cõi đến dân số và phong tục” với các phần: địa lý tự nhiên (vị

trí, giới hạn, núi sông, hồ đảo, bờ biển, khí hậu, khoảng sản, thổ sản, diên cách các tỉnh trong lịch sử), địa lý dân cư (số dân, phong tục) giúp người học có cái nhìn khái quát về đất nước và con người Trung Quốc, trước khi tìm hiểu lịch

Trang 35

sử Trung Quốc từ thời Tam Hoàng Ngũ đế [Bắc sử tân san toàn biên A.498,

Tr 9-22]

Cuốn Ấu học phổ thông thuyết ước 幼學普通說約 – sách dạy trẻ em

các kiến thức phổ thông bao gồm tri thức thiên văn, địa lý, phần Phổ thông

thiên văn, địa lý và địa dư Cụ thể: “天文: 地圓, 地轉, 經偉度, 方向,

hồ phách, thủy khí, lục địa, tiểu đảo, cao nguyên, đê nguyên, sơn nhạc, hỏa sơn, địa chất Địa dư: ngũ dương, nhân loại, dân tục, tôn giáo, Á châu, Âu châu, Phi châu, Mĩ châu, Úc châu, bản quốc – Thiên văn: hình thể, sự chuyển

động của trái đất, kinh độ, vĩ độ, phương hướng, bốn mùa, 5 đới, mặt trời, mặt trăng, nhật thực, nguyệt thực, hành tinh, định tinh, tuệ tinh Địa lý: nguyên nhân hình thành: đất đá, đại dương, biển hồ, sông ngòi, hồ đầm, lục địa, tiểu đảo, cao nguyên, thung lũng, núi, núi lửa, địa chất Địa dư: 5 đại dương, nhân loại, dân số, phong tục, tôn giáo, châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, châu

Úc, các nước” [Ấu học phổ thông thuyết ước, Tr.2]

Như vậy, Ấu học phổ thông thuyết ước 幼學普通說約 phân loại địa lý học trên cơ sở những yếu tố bên ngoài trái đất (thiên văn), những yếu tố thuộc trái đất như: tự nhiên và nhân loại (địa lý), những yếu tố thuộc về cương giới,

đời sống của con người (địa dư) Với cách phân loại như trên thì khái niệm địa

lý và địa dư có sự phân biệt với nhau: địa lý được hiểu như một khoa học về tất cả các vấn đề liên quan đến trái đất, vũ trụ, con người; còn địa dư chủ yếu nhấn mạnh đến vấn đề cương vực, nhân văn: chính thể, tôn giáo, phong tục mỗi vùng

Trang 36

Tiếp cận với địa lý Thế giới, các sách địa lý Hán văn đều lần lượt đề cập đến 5 châu: châu Á, châu Âu, châu Mĩ, châu Phi, châu Úc Sau khi khái quát chung toàn châu lục sẽ đi vào trường hợp các nước tiêu biểu Chủ yếu là lựa chọn các nước lớn trên cơ sở diện tích, dân số tình hình phát triển

Đối với việc phân loại địa lý hành chính Việt Nam, sách Ấu học địa dư

mục - danh mục các địa phương” phân loại địa lý giống như Địa học nguyên thủy 地學原始: chia nước ta thành 3 miền (Bắc Kỳ 24 tỉnh, 2 đạo; Nam Kỳ

trước đây có 6 tỉnh, nay chia thành 20 tỉnh; Trung Kỳ 11 tỉnh, 2 đạo [Ấu học

địa dư giáo khoa, Tr.2]

1.3.5 Sự cần thiết của địa lý thế giới

Thời đại giao thông Á – Âu đã làm cho người ta đã dần ý thức được tầm

quan trọng của khoa học địa lý Hãy xem trong lời tựa sách Doanh hoàn toàn

đại nhi trị bình, tiểu nhi cách trí Hữu tâm nhân nghi vô giảng cầu, giảng cầu nhược hà?Tất tự địa lý học thủy Địa lý học nãi quan hệ nhất thiết sự vụ, vô luận hà nhân giai vi chí yếu chi học vấn Như y sư, như thương nhân, như binh

sĩ, như hàng hải giả vưu bất khả bất tri kỳ tha Nghiên cứu lịch sử, khảo sát chính trị diệc tất dĩ địa lý học vi cơ lang Xã hội học, kinh tế học, hà nhất bất đương tịch thải ư địa lý hồ? Nhiên tắc địa lý chi yếu tòng khả tri dã – Vũ trụ

rộng lớn, to mà vẫn trật tự, nhỏ mà vẫn rõ ràng Con người có suy nghĩ nên không có gì lại không tìm hiểu, vậy tìm hiểu như thế nào? Ắt phải bắt đầu từ khoa học Địa lý Khoa học Địa lý có mối quan hệ với mọi sự vật Bất kể là ai đều phải coi trọng khoa học này Như: thầy thuốc, thương nhân, binh sĩ, người

Trang 37

làm hàng hải không thể không biết địa lý Người nghiên cứu lịch sử, khảo sát chính trị cũng lấy khoa học Địa lý làm nền tảng Xã hội học, kinh tế học có thể không vay mượn kiến thức địa lý sao? Như vậy, có thể biết được tầm quan trọng của địa lý ra sao” [DHTCLB, Tr.5]

Địa lý học tựa như công cụ cần thiết để sống và làm việc Vậy thì sao có thể không học Địa lý, cũng trong tâm trạng ấy, Lương Trúc Đàm đã viết: “今 日之日, 五洲比鄰, 六類雜踏, 競争愈烈則交通愈繁 無論為士為農 為工為商皆不欲蜷伏鄉里 此地輿之學所以當急講也 東西各國首 重地輿學, 自本國地輿至外國地輿, 無不蒸讀 - Kim nhật chi nhật, ngũ châu tỉ lân, lục loại tạp đạp, cạnh tranh dũ liệt, tắc giao thông dũ phồn, vô luận vi sĩ vi nông, vi công vi thương, giai bất dục quyền phục hương lý Thử địa dư chi học sở dĩ đương cấp giảng dã Đông tây các quốc, thủ trọng địa dư học Tự bản quốc địa dư, chí ngoại quốc địa dư, vô bất chưng độc Ngày nay

năm châu gần nhau, muôn loài giao thoa, cạnh tranh càng khốc liệt thì sự giao thông càng nhộn nhịp Không kể tri thức, nông dân, công nhân, người buôn bán đều không thể ngồi yên một chỗ Do vậy tri thức địa dư cần được giảng dạy kịp thời Các nước đông tây coi trọng địa dư hàng đầu, từ địa dư trong nước đến địa dư nước ngoài không thể không đọc kĩ” [NQĐD, Tr1]

1.3.6 Yêu nước mình phải học địa dư nước mình

Yêu nước mình nên phải học địa lý nước mình là phương châm của các tác gia mang tinh thần duy tân yêu nước đầu thế kỷ XX Lương Trúc Đàm đã

nói thay lời những người Việt Nam yêu nước qua lời tựa sách Nam quốc địa

南國地輿: “吾有一言敬告諸同胞曰: 人不可不自愛其國, 欲自愛 其國則 不可不知其國之疆域, 形勢, 區畫, 風俗, 政治, 氣候, 土宜,

則請 自讀本 國地輿始 – ngô hữu nhất ngôn kính cáo chư đồng bào viết:

nhân bất khả bất tự ái kỳ quốc, dục tự ái kỳ quốc tắc bất khả bất tri kỳ quốc chi cương vực, hình thế, khu trú, phong tục, chính trị, khí hậu, thổ nghi, tắc thỉnh tự độc bản quốc địa dư thủy - Xin có lời kính thưa đồng bào rằng: người

nước ta không thể không yêu nước mình Yêu nước mình thì không thể không

Trang 38

biết cương vực, hình thể, khu trú, phong tục, chính trị, khí hậu, thổ nghi của nước mình Muốn thế trước tiên xin hãy đọc địa dư nước mình” [NQĐD, Tr2]

Không chỉ có vậy, học tập địa lý còn trở thành một điều vô cùng thiên liêng đối với tầng lớp chí sĩ Việt Nam không chỉ trong trường học Đông Kinh Nghĩa Thục mà cả ở bên ngoài: “Lại có một giáo viên hoàn thành được tấm bản đồ Việt Nam to tướng, thu hút cả khách hiếu kì ở ngoài trường tới xem Khách cũng như chủ, thầy giáo cũng như học trò chắc hẳn vô cùng cảm động, bởi đây có thể là lần đầu họ được cùng nhau chiêm ngưỡng một cách công khai dung nhan Tổ quốc trên một kích thước quy mô rộng lớn của một bản đồ treo ngay hội quán của trường” [Chương Thâu, 1982, tr.50]

Câu hỏi đặt ra: người học học địa lý từ ai? người dạy dạy địa lý ở nguồn nào? Những sách địa lý trước đây có còn phù hợp hay cần phải biên soạn sách mới khoa học hơn? Và những người làm công tác giáo dục đã ý thức được rằng: cần có một hệ thống tài liệu địa lý Hán văn mới phục vụ mục tiêu giáo dục thời đại mới

Bên cạnh đó cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, việc cải cách học quy và

mở cửa giao thông Á – Âu, cũng là tiền đề cho một số lượng lớn các sách Địa

lý được chép theo phương pháp mới, phổ biến các tri thức địa lý phổ thông về

địa lý thế giới, địa lý khu vực và địa lý nước ta ra đời

1.3.7 Sách giáo khoa Hán văn địa lý điểm nhấn của giáo dục Hán văn đầu thế kỷ XX

Sách giáo khoa Hán văn địa lý điểm nhấn của giáo dục Hán văn đầu thế

kỷ XX bởi lẽ Hán văn địa lý là Hán văn mang tính kỷ thuật Tính kỷ thuật, cú pháp giản lược, sử dụng nhiều mẫu câu vị ngữ danh từ, câu kể và sự phong phú về vốn từ mang tính thuật ngữ đã cho phép chúng ta nhìn Hán văn địa lý như một dạng của văn phong khoa học Hán văn

Như chúng ta đã biết, việc biên soạn sách địa dư, địa lý vốn có truyền

thống ở Việt Nam trong quá khứ Quả vây, trong Di sản Hán Nôm Việt Nam –

Trang 39

Thư mục đề yếu, toàn bộ kho sách Hán Nôm với khoảng 10.000 đơn vị tư liệu

được phân thành 42 chủ đề Trong đó có nhiều tài liệu liên quan đến địa dư địa chí Có thể thống kê như sau: bản đồ (93 đơn vị), giao bang (114 đơn vị), công

cụ tra cứu (130 đơn vị), địa lý (216 đơn vị), địa lý địa phương (119 đơn vị), sử học (399 đơn vị), sử liệu (781 đơn vị), sách Nôm (830 đơn vị) … đã chứng tỏ trong kho tư liệu Hán Nôm, số lượng sách địa lý bao gồm địa lý, địa phương chí và bản đồ chiếm con số đáng kể

Ở Việt Nam sách địa chí cũng xuất hiện từ rất sớm Theo ghi chép trong

Đại Việt sử kí toàn thư 大越史記全書 thì năm 1172 vua Lý Anh Tông (1138 – 1175) sau chuyến đi tuần phiên giới đã sai người vẽ bản đồ và ghi

chép phong vật của từng địa phương thành bộ Nam Bắc phiên giới địa đồ

南北藩界地圖 (ghi hình thế sông núi phong vật) tuy nhiên sách này đến nay

đã thất truyền Sang đến đời nhà Trần, những nhà nghiên cứu đầu thế kỉ XX có

nhắc tới tác phẩm An Nam chí lược 安南誌略 của Lê Trắc viết về lịch sử nước ta bao gồm 19 quyển Giới nghiên cứu nước ta có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này Họ cho rằng đây là cuốn lịch sử Đại Việt mà Lê Trắc đứng trên

quan điểm của nhà Nguyên để soạn Theo Vũ Ngọc Khánh thì: “An Nam chí

lược được nhắc tới trong danh mục các sách sử đời trước, song vấn đề sử dụng

các thông tin trong cuốn sách làm cứ liệu thì thường dè dặt” [Vũ Ngọc Khánh,

2007, Tr 45]

Đời Lê, vua Lê Thái Tông đã giao cho Nguyễn Trãi (1380 – 1442) soạn

bộ Dư địa chí 輿地誌 hay còn gọi là An Nam Vũ cống 安南禹貢 vào năm

1435, đây được coi là cuốn sách địa lý quy mô đầu tiên của nước ta Dư địa

chí 輿地誌 xác định duyên cách, bờ cõi lãnh thổ nước ta trải qua các thời kỳ lịch sử, khẳng định chủ quyền đất nước Đến đời Lê Thánh Tông có cuốn

Thiên hạ bản đồ 天下版圖 Đến đời nhà Mạc, tuy không có cuốn dư địa chí

toàn quốc nào nhưng đặc biệt chúng ta phải kể đến cuốn Ô Châu cận lục 烏 州近錄 của Dương Văn An là cuốn địa phương chí cung cấp cho chúng ta một hệ thống địa danh của các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,

Trang 40

và phủ Điện Toàn thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay Cuối thời Lê Trung Hưng

có cuốn Lê triều cống pháp 黎朝貢法 của Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Nghiễm,

Nguyễn Tông Khuê tái ghi cuốn Dư địa chí 輿地誌 của Nguyễn Trãi thêm

phần chú giải và bổ sung; cuốn Phủ biên tạp lục 府邊雜錄 của Lê Quý Đôn

chép địa phương chí của xứ Thuận Hóa và Quảng Nam; cuốn Kiến văn tiểu lục

見聞小錄 cũng có chép kèm phong vực các xứ Hưng Hóa, Tuyên Quang…

Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX có các tác phẩm địa phương chí như:

閒談 của Đàm Nghĩa Am (1810); Gia Định thành thông chí 嘉定城通誌

của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An chí 乂安誌 của Bùi Dương Lịch, Các trấn

Thời nhà Nguyễn số lượng sách địa lý quốc chí tăng lên rất nhiều: Hoàng

Việt nhất thống dư địa chí 黃越一統輿地誌 (1806) của Lê Quang Định; Hoàng

Việt địa dư chí 黃越地輿誌 (1833) của Phan Huy Chú là bộ sách địa lý được

khắc in đầu tiên vào đời Minh Mệnh; Đại Việt địa dư toàn biên 大越地輿全編

(1882) của Nguyễn Văn Siêu; Đại Nam nhất thống chí 大南一 統誌 (1882) của

Quốc Sử quán triều Nguyễn; và cuốn Đồng Khánh địa dư chí 同慶地輿誌 (1886 – 1888) có thể được xem là thư tịch địa lý cổ có quy mô lớn cuối cùng của Việt Nam [Ngô Đức Thọ (đồng chủ biên), H, 2003]

Thế nhưng các bộ địa dư chí ấy được nhìn như những biểu trưng mang tính thống nhất quốc gia hay khu vực là chủ yếu Ít khi chúng được mang vào dạy ở trường như một môn học Sự xuất hiện của môn địa lý trong chương trình giáo dục khoa cử chữ Hán cải lương là điểm nhấn cho Hán văn giáo dục đầu thế kỷ XX Chữ Hán của môn địa lý đã tham gia vào giáo dục phổ thông,

mở mang tân học

Các sách địa lý Hán văn cải lương đều đề cao vai trò của vấn đề “tân học” khi học môn địa lý Phần giới thiệu về dân số, phong tục của Trung Quốc

trong Bắc sử tân san toàn biên 北史新刪全編 có dẫn rằng: trước đây dân

(Trung Quốc) sống lạc hậu, những người biết chữ không quá hai đến ba phầm

Ngày đăng: 09/12/2020, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w