1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) chiến lược quốc phòng của trung quốc giai đoạn 2013 đến nay

102 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, các tài liệu trên đều cho thấy những phân tích và khía cạnh nhất định liên quan đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc trong nhiều giai đoạn như vấn đề bối cảnh dẫn tới hìn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY AN

CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC

GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUỐC TẾ HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÚY AN

CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC

GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Giám hiệu, Khoa Quốc tế học, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phạm Quang Minh – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn/Đại học Quốc gia Hà Nội, GS David Arase – Trường Đại học Johns Hopkins/Trung tâm Hopkins-Nam Kinh/Đại học Nam Kinh Trung Quốc, những người thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy An

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

và dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Phạm Quang Minh Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Một số nhận xét, đánh giá của các tác giả và cơ quan tổ chức đề cập trong luận văn này đều được trích dẫn nguồn có độ chính xác cao trong phạm

vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội hay Chương trình giảng dạy Quan hệ quốc tế của Khoa Quốc tế học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thúy An

Trang 5

MỤC LỤC

Mục lục 01

MỞ ĐẦU 03

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHIẾN LỰC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY 10

1.1 Các nhân tố quốc tế 10

1.1.1 Xu thế toàn cầu 10

1.1.2 Nhân tố Mỹ 13

1.2 Nhân tố khu vực 14

1.2.1 Nhân tố Nhật Bản 14

1.2.2 Nhân tố bán đảo Triều Tiên, Đài Loan 17

1.2.3 Nhân tố Biển Đông 19

1.3 Nhân tố trong nước 21

1.3.1 Chính trị 21

1.3.2 Kinh tế 22

1.3.3 Quốc phòng-An ninh 24

1.3.4 Văn hóa-Xã hội 26

1.3.5 Cá nhân Chủ tịch Tập Cận Bình 27

Tiểu kết 29

Chương 2: NỘI DUNG VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY 30

2.1 Mục tiêu của Chiến lược quốc phòng 30

2.2 Nguyên tắc thực hiện Chiến lược quốc phòng 32

2.3 Công cụ thực hiện Chiến lược quốc phòng 36

2.4 Biện pháp thực hiện Chiến lược quốc phòng 38

2.5 Sự triển khai Chiến lược Quốc phòng 46

Trang 6

Trang

Tiểu kết 58

Chương 3: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY VÀ MỘT SỐ DỰ BÁO SẮP TỚI 59

3.1 Kết quả đạt được 59

3.2 Một số hạn chế 73

3.3 Tác động của Chiến lược quốc phòng 78

3.4 Một số đánh giá về cơ chế hoạch định Chiến lược quốc phòng 82

3.5 Một số dự báo của Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc thời gian tới 87

3.6 Một số đề xuất, khuyến nghị đối với Việt Nam 89

Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để tiếp tục công cuộc cải cách và xây dựng đất nước trở thành cường quốc thế giới, Trung Quốc đang đẩy mạnh phát triển đồng bộ trên mọi lĩnh vực, trong đó quốc phòng được xem là một trong những mũi nhọn Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc từng đề cập đến Chiến lược quốc phòng trong nhiều giai đoạn lịch sử và cụ thể hóa trong hàng loạt Sách trắng Quốc phòng những năm gần đây Tuy nhiên, chỉ cho đến thời Chủ tịch Tập Cận Bình nắm quyền (từ 2013 đến nay), chiến lược này mới thực sự được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt nhằm hiện thực hóa “Giấc mơ Trung Hoa” Các nội dung của Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay được đề cập chi tiết trong Sách trắng quốc phòng năm 2013 và 2015

Việc Trung Quốc xây dựng và triển khai Chiến lược quốc phòng thời gian gần đây khiến cho tình hình khu vực trở nên căng thẳng và phức tạp, đặc biệt tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong các tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông và Biển Hoa Đông Trung Quốc được xem là chủ thể chính gây gia tăng căng thẳng khu vực, khi một mặt đẩy nhanh hiện đại hóa quân đội mặt khác chiếm hữu và cải tạo các đảo đá trên Biển Đông thông qua sử dụng

cả lực lượng quân sự lẫn bán quân sự-dân sự trong các hoạt động tại khu vực Đồng thời, Trung Quốc cũng tăng cường hợp tác nhiều mặt với các nước trên thế giới, nhất là tại châu Phi và Mỹ Latinh nhằm gia tăng ảnh hưởng trên trường quốc tế và biến “Giấc mơ Trung Hoa” thành hiện thực

Với các hợp tác đồng minh (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine), đối tác (các nước khu vực) hay dưới hình thức thực hiện các chiến dịch tuần tra bảo

vệ tự do hàng hải (FONOP) nhằm thực thi quyền tự do hàng hải quốc tế, sự hiện diện của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương càng khiến tình hình khu vực trở nên phức tạp, khó lường Mỹ là một cường quốc nên luôn coi

Trang 8

trọng sự hiện diện ở mọi nơi trên thế giới, nhất là tại các khu vực quan trọng như châu Á-Thái Bình Dương Bên cạnh đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và vấn đề bán đảo Triều Tiên hiện nay lại càng khiến Mỹ thêm lo ngại, đẩy mạnh hiện diện tại khu vực Điều này cũng là nguyên nhân khiến Trung Quốc ngày càng quyết đoán, quyết tâm thực hiện Chiến lược quốc phòng nhằm hạn chế ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực và tiến tới hiện thực hóa “Giấc

mơ Trung Hoa”

Trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc hiện nay, các nước khu vực luôn lo ngại Trung Quốc sẽ tiếp tục bành trướng với các hành động quyết đoán hơn hay có khi còn là sự đe dọa, bắt nạt không chỉ trong vấn đề chủ quyền biển đảo mà còn là cả những tác động, ảnh hưởng về chính trị, kinh tế,

an ninh của các nước Phán quyết của Tòa án Quốc tế trong vụ kiện Trung Quốc của Philippin hay những vòng đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc dường như không có nhiều hiệu quả Vì vậy, các nước khu vực càng tỏ ra lo ngại trước sức mạnh quốc phòng của Trung Quốc và quan tâm nhiều hơn đến từng “đường đi nước bước” trong Chiến lược quốc phòng của nước này

Việc nghiên cứu đề tài Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay là cần thiết nhằm tiếp tục đưa ra các đánh giá kịp thời cũng như các toàn diện, hệ thống về tình hình an ninh quốc phòng khu vực, thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng Đề tài sẽ giúp những người nghiên cứu có cái nhìn liên tục, xuyên suốt và toàn diện về các vấn đề liên quan đến mục tiêu của Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay; đồng thời giúp nhận định, đánh giá được các tác động ảnh hưởng tới khu vực, thế giới

cũng như dự báo và khuyến nghị các vấn đề liên quan đối với Việt Nam

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài "Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay" làm luận văn cao học

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu đã được công bố liên quan đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc qua các giai đoạn Cả trong và ngoài nước đều có rất nhiều tài liệu viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau nghiên cứu

về Trung Quốc Tuy nhiên, các tài liệu đã xuất bản chủ yếu đề cập đến các khía cạnh đơn lẻ khác nhau liên quan đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn trước năm 2013

Ở trong nước, chủ đề Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tìm hiểu và đánh giá Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như bộ sách gồm 8 cuốn viết về Sự trỗi dậy của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam-Tổng chủ biên: GS.TS Đỗ Tiến Sâm (2013), Viện nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Bộ sách gồm các cuốn: Sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Xã hội Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Chính trị Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Quan hệ “hai bờ, bốn bên” trong quá trình trỗi dậy của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Ngoại giao Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy

và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc Về tổng thể, nội dung bộ sách gồm các nghiên cứu phân tích

về sự trỗi dậy của Trung Quốc giai đoạn trước năm 2013, đồng thời đề xuất những kiến nghị nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra mà Việt Nam phải đối mặt Nội dung bộ sách phần lớn chỉ đề cập đến cụ thể từng khía cạnh trỗi dậy của Trung Quốc trước năm 2013

Trang 10

TS Trần Việt Thái, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao Việt Nam, cũng có tài liệu quan trọng “Một số đánh giá bước đầu

về cải cách quân đội Trung Quốc thời gian gần đây” (2016) tại Seminar

Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Trung Quốc số 10 Nội dung cơ bản nêu bật được những thay đổi về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành mới của

bộ máy quân sự Trung Quốc; qua đó, đưa ra các nhận xét và đánh giá bước đầu về công cuộc cải cách quân sự này cũng như các vấn đề ảnh hưởng, tác động liên quan Tài liệu tập trung chủ yếu vào lĩnh vực quân sự, đặc biệt về những cải cách thay đổi quân đội của Trung Quốc từ tháng 11/2012 đến nay, trong đó tập trung phân tích và đánh giá từ giai đoạn tháng 9/2015 đến nay

Ngoài ra, nhiều trang mạng chính thống của Việt Nam đăng các bài viết liên quan đến đề tài Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc như vnanet.vn, nghiencuubiendong.vn, vietnamdefence.com, quocphonganninh.edu.vn…

Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu liên quan đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc gồm các học giả Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản…Một số tài liệu nghiên cứu đáng lưu ý như The Chinese Military: Overview and Issue for Congres- Ian E.Rinehart, Congressional Research Service, U.S (2016) Tài liệu đánh giá tổng thể về quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc và từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với việc hoạch định chính sách quốc phòng và đối ngoại của Mỹ Ngoài ra, Institute for National Strategic Studies, National Defense University (INSS) và Center for Strategic and International Studies (CSIS) của Mỹ cũng có rất nhiều bài viết về quốc phòng và quân sự của Trung Quốc như Chinese Strategic and Military Modernization in 2015: A Comparative Analysis - Anthony H Cordesman, Steven Colley, Michael Wang; China Strategic Perspectives 6,7,8,9 - Phillip

C Saunders…Bên cạnh đó, National Institute for Defense Studies (NIDS) của Nhật Bản cũng thường xuyên xuất bản các báo cáo thường niên về tình

Trang 11

hình an ninh Trung Quốc, mới nhất là The Expanding Scope of PLA Activities and The PLA Strategy (2016) Báo cáo phân tích và nêu bật các vấn

đề về sự tăng cường khả năng hoạt động tại các vùng biển mở của hải quân Trung Quốc, định hướng chiến lược và mở rộng khả năng của không quân Trung Quốc, mở rộng và tăng cường Lực lượng Tên lửa của Pháo binh số 2

và tăng cường khả năng tác chiến liên hợp của quân đội Trung Quốc Tại Trung Quốc, các trang mạng chính thống như mod.gov.cn, china.com.vn, xinhuanet.com…cũng có rất nhiều bài tiếng Trung về các Sách trắng quốc phòng cũng như Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc Ngoài ra, còn rất nhiều tài liệu khác về Chiến lược quốc phòng Trung Quốc được viết bằng tiếng Nga và tiếng Nhật

Nhìn chung, các tài liệu trên đều cho thấy những phân tích và khía cạnh nhất định liên quan đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc trong nhiều giai đoạn như vấn đề bối cảnh dẫn tới hình thành chiến lược, quá trình hoạch định và triển khai chiến lược hay các đánh giá dự báo chiến lược…Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc thực sự là một chủ đề lớn với phạm vi nghiên cứu sâu rộng, đòi hỏi người nghiên cứu cần có sự hiểu biết nhất định, khả năng phân tích và hệ thống vấn đề toàn diện Vì vậy, chủ đề này hiện vẫn tiếp tục trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của không chỉ giới học giả mà cả chính phủ các nước, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài luận văn là phân tích làm rõ nội dung và quá trình triển khai Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn từ 2013 đến nay; từ đó đánh giá tác động của nó đến quan hệ giữa Trung Quốc với các nước và đưa ra một số khuyến nghị, dự báo trong tương lai

Để hoàn thành mục tiêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau đây:

Trang 12

1 Phân tích và xác định các nhân tố tác động đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay

2 Phân tích và làm rõ các nội dung của chiến lược gồm mục tiêu, công

cụ, biện pháp, quá trình hoạch định và triển khai chiến lược

3 Đánh giá tác động, đưa ra các dự báo và khuyến nghị đối với Việt

Nam và các nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc Phạm vi nghiên cứu của đề tài là Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay và sự triển khai chiến lược tại châu Á-Thái Bình Dương, châu Phi và Mỹ Latinh

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích chính sách; bên cạnh

đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác gồm lịch sử, logic, so sánh, các cấp độ phân tích và phương pháp dự báo

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương, cụ thể:

Chương 1 tập trung phân tích và đánh giá về các nhân tố tác động đến Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay Trong đó, nhân tố quốc tế gồm các xu thế toàn cầu và nhân tố Mỹ; nhân tố khu vực gồm nhân tố Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Đài Loan và Biển Đông; nhân tố trong nước gồm các vấn đề về chính trị, kinh tế, quốc phòng-an ninh, văn hóa-xã hội và yếu tố cá nhân Chủ tịch Tập Cận Bình,

Chương 2 gồm những nội dung cơ bản và quá trình triển khai Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay, trong đó phân tích

Trang 13

cụ thể các vấn đề về mục tiêu, nguyên tắc, công cụ, biện pháp và sự triển khai chiến lược quốc phòng

Chương 3 gồm các đánh giá về Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào đánh giá cơ chế hoạch định chiến lược, các kết quả đạt cũng như phân tích các tác động, ảnh hưởng của chiến lược; trên cơ sở đó, đưa ra các dự báo và khuyến nghị, nhất

là đối với Việt Nam

Trang 14

Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2013 ĐẾN NAY

1.1 Nhân tố quốc tế

1.1.1 Các xu thế toàn cầu

Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ có môi trường quốc tế thuận lợi với nhiều cơ hội chiến lược để tăng cường sức mạnh quốc gia, khả năng cạnh tranh và tạo sức ảnh hưởng Hợp tác và phát triển sẽ vẫn là xu thế cơ bản trên thế giới và Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì các cơ hội chiến lược nhằm tập trung vào tăng cường sức mạnh quốc gia và lợi ích cốt lõi

Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu, mang lại nhiều thuận lợi

cho giao lưu văn hóa - xã hội và phát triển kinh tế Toàn cầu hóa diễn ra mạnh

mẽ theo hướng đa cực, đa văn hóa và thông tin hóa Trong đó, toàn cầu hóa kinh tế dần nổi lên và con người có khả năng tiếp cận thông tin nhanh chóng Các quốc gia có chung biên giới sẽ hướng tới xây dựng cộng đồng chung vận mệnh Hòa bình, phát triển và hợp tác vì lợi ích chung sẽ trở thành xu hướng chủ đạo Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng khiến cho các nước rơi vào tình trạng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhiều lợi ích đan xen “Thế giới sẽ thay đổi sâu sắc về cân bằng quyền lực, cấu trúc chính phủ, địa chính trị châu Á-Thái Bình Dương, cạnh tranh kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự”1

Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực có nền kinh tế năng động nhất thế giới với địa chiến lược hết sức quan trọng trong bàn cờ chiến lược thế giới Khu vực này sẽ trở thành “sân chơi ý nghĩa, tác động về mặt chiến lược và phát triển kinh tế thế giới giữa các cường quốc, tạo môi trường cho các nước lớn vừa hợp tác vừa cạnh tranh”2

1 The State Council Information Office of the People’s Republic of China, China’s Military Strategy, 2015

2 The State Council Information Office of the People’s Republic of China, Diversified Employment of China's Armed Forces, 2013

Trang 15

Sự thay đổi về cán cân quân sự quốc tế: Sự cân bằng cán cân quân sự

giữa các lực lượng quốc tế là nhằm duy trì hòa bình thế giới, tuy nhiên thực tế không hẳn như vậy Sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực quân sự quốc tế, hình thức chiến tranh từ cơ giới hóa sang thông tin hóa, các cường quốc ồ ạt phát triển các công nghệ quân sự mới tinh vi hơn nhằm duy trì ưu thế chiến lược về cạnh tranh quốc tế trong các lĩnh vực vũ trụ và không gian mạng Gần đây, các nước lớn gồm Mỹ, Nga, Nhật Bản đều đẩy mạnh cải cách quân đội, tạo nhiều bước đột phá mới trong khả năng phối hợp lực lượng hiệu quả và linh hoạt Xu thế chung là đẩy mạnh sự chuyển đổi của các lực lượng vũ trang nhằm đối phó với chiến tranh quy mô lớn, chiến tranh thông tin và công nghệ cao Vũ khí và thiết bị tầm xa với tính chính xác, thông minh, bí mật và tự động đang trở nên ngày càng phức tạp Vũ trụ và không gian mạng trở thành yêu cầu mới trong cạnh tranh chiến lược Hình thức chiến tranh làm gia tăng

sự tiến bộ về thông tin hóa Các cường quốc thế giới đang điều chỉnh linh hoạt chiến lược an ninh quốc gia và chính sách quốc phòng, nhanh chóng thay đổi quân sự và tái cơ cấu lực lượng Cuộc cách mạng quân sự đang diễn ra trên thế giới đã làm thay đổi các công nghệ quân sự và hình thức chiến tranh, ảnh hưởng đến viễn cảnh quân sự và chính trị quốc tế, đặt ra những thách thức

mới và đầy khó khăn đối với an ninh quân sự của Trung Quốc

Các xu thế quân sự trên đã trở thành thách thức đối với quân đội, quốc phòng và là nhiệm vụ lịch sử của các lực lượng vũ trang Trung Quốc Các lực lượng vũ trang Trung Quốc phải mở rộng tầm nhìn về chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược quân sự nhằm chiến thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong các điều kiện thông tin hóa; phải dựa trên tinh thần sẵn sàng chiến đấu nhằm chiến thắng trong các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện thông tin hóa, tiến hành toàn diện và phối hợp tốt nhằm “nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu trên tất cả các hướng chiến lược, nâng cao sự phối hợp chung giữa

Trang 16

các quân binh chủng, tăng cường các năng lực tác chiến tổng lực dựa trên các hệ thống thông tin”3

Chủ tịch Tập Cận Bình từng nhấn mạnh, Trung Quốc không thể lặp lại

bi kịch lịch sử sau chiến tranh Nha phiến thế kỷ XIX, khi người Trung Quốc

bị đô hộ bởi các cường quốc phương Tây với trang bị vũ khí tiên tiến hơn Trung Quốc nhận thức rõ nguy cơ tụt hậu so với quân đội các nước và buộc phải tiến hành các biện pháp thúc đẩy cải cách quân đội Trung Quốc coi đây chính là nhiệm vụ chiến lược của xu hướng hiện đại hóa, đảm bảo vững chắc đối với sự phát triển hòa bình của Trung Quốc nhằm xây dựng khả năng phòng thủ quốc gia và các lực lượng vũ trang vững mạnh, tương xứng với vị thế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu về lợi ích an ninh và phát triển Hoạt động của các lực lượng vũ trang là nhằm đáp ứng các yêu cầu mới về chiến lược phát triển và an ninh quốc gia, theo kịp chỉ đạo lý luận về triển vọng khoa học trong phát triển, đẩy nhanh chuyển đổi mô hình tác chiến hiệu quả, xây dựng

hệ thống lực lượng quân sự hiện đại mang bản sắc Trung Quốc, nâng cao chỉ đạo chiến lược quân sự, đa dạng hóa việc sử dụng các lực lượng vũ trang theo yêu cầu Các lực lượng vũ trang “đảm bảo an ninh và hỗ trợ chiến lược cho sự phát triển quốc gia và có những đóng góp xứng đáng trong việc duy trì hòa bình thế giới và ổn định khu vực”4

Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống: Trung

Quốc đang gia tăng ảnh hưởng và cạnh tranh trên toàn cầu nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và đe dọa an ninh Vấn đề sinh tồn và an ninh phát triển, các đe dọa truyền thống và phi truyền thống luôn đan xen lẫn nhau Vì vậy, việc xử lý hài hòa những vấn đề trên là nhiệm vụ hết sức khó khăn trong bảo vệ sự thống nhất quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích phát triển

3 The State Council Information Office of the People’s Republic of China, Diversified Employment of China's Armed Forces, 2013

4 The State Council Information Office of the People’s Republic of China, China’s Military Strategy, 2015

Trang 17

Thiên tai, rủi ro an ninh và vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng vẫn diễn ra

Sự gia tăng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội và các rủi ro an ninh đối với các lợi ích bên ngoài của Trung Quốc Các lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia của Trung Quốc dễ bị tác động bởi sự xáo trộn của quốc tế và

khu vực, chủ nghĩa khủng bố, cướp biển, thiên tai và dịch bệnh

1.1.2 Nhân tố Mỹ

Với tuyên bố về các chiến lược mới vào năm 2012, Mỹ bắt đầu thực hiện chính sách tái cân bằng chuyển từ châu Âu sang châu Á và cũng để nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc Tháng 4/2013 Nhật báo Nhân dân Trung Quốc nói rằng từ khi đề xuất chính sách xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ thường xuyên tổ chức tập trận chung tại khu vực Mục tiêu chiến lược cơ bản trong chính sách của Mỹ là nhằm ngăn chặn Trung Quốc tại đây và để can dự sâu hơn vào khu vực Mỹ sử dụng ba công cụ chính gồm

mở rộng liên minh để vượt trên các nước, triển khai quân sự để thực hiện chiến lược tái cân bằng và tìm cách chiếm vị trí dẫn đầu để luôn giữ thế chủ động Trung Quốc chỉ trích sự gia tăng hiện diện của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương và coi đó là một trong những yếu tố lớn gây phức tạp tình hình khu vực

Trung Quốc ám chỉ Mỹ gia tăng chủ nghĩa bá quyền, chính trị cường quyền và chủ nghĩa can thiệp kiểu mới tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương; điều chỉnh chiến lược an ninh châu Á-Thái Bình Dương và khiến cho khu vực

có những biến đổi sâu sắc; tăng cường liên minh quân sự tại châu Á-Thái Bình Dương nhằm gia tăng hiện diện và thường xuyên tạo ra tình trạng căng thẳng tại khu vực; ồ ạt phát triển những công nghệ quân sự mới, tinh vi hơn nhằm duy trì ưu thế chiến lược cạnh tranh quốc tế Mục tiêu chiến lược của

Mỹ là nhằm duy trì vị thế dẫn đầu tại khu vực, thiết lập một trật tự xuyên Thái Bình Dương xoanh quay Mỹ và duy trì vị thế thống trị Thái Bình Dương Mỹ

Trang 18

tăng cường quan hệ với các đồng minh quân sự cũ; phá hoại nền tảng chính trị

của hòa bình Đông Á; xoáy sâu mâu thuẫn chủ quyền lãnh thổ giữa Trung

Quốc và các nước lân cận; phá vỡ tiến trình hội nhập khu vực và hợp tác giữa

các quốc gia Đông Á Mục tiêu tổng thể của Mỹ là đảm bảo kiểm soát toàn bộ

lục địa Á-Âu và tìm mọi cách khuất phục hoàn toàn Trung Quốc

Trung Quốc cũng ám chỉ Mỹ là nước bên ngoài can thiệp vào Biển

Đông và chưa bao giờ từ bỏ xúi giục “Cách mạng màu” ở Trung Quốc; điều

chỉnh chiến lược an ninh quốc gia và chính sách quốc phòng, làm thay đổi các

công nghệ quân sự và hình thức chiến tranh, tác động nhiều đến viễn cảnh

quân sự và chính trị quốc tế, đặt ra những thách thức mới đối với an ninh

quân sự của Trung Quốc

Trung Quốc cho rằng cần phải từ bỏ chủ nghĩa hòa bình và chủ nghĩa

lãng mạn vì dễ dẫn tới chính sách thỏa hiệp kèm theo đe dọa và áp lực; cần

phải sẵn sàng chiến đấu và thậm chí là cả một cuộc chiến Chỉ như vậy, Trung

Quốc mới có thể duy trì được một thời kỳ hòa bình và phát triển lâu dài

Những lý do liên quan đến Mỹ nêu trên chính là một trong những nguyên

nhân khiến Trung Quốc tiếp tục hoạch định chiến lược quốc phòng hàng năm

1.2 Nhân tố khu vực

1.2.1 Nhân tố Nhật Bản

Tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản gia tăng từ năm

2010 và từng có nhiều khả năng xảy ra đụng độ vũ trang tại quần đảo Điếu

Ngư hay còn gọi là Senkaku Những năm gần đây, va chạm quân sự

Nhật-Trung thể hiện rõ nguy cơ xảy ra sự cố, khiêu khích hoặc va chạm nghiêm

trọng hơn Trung Quốc từng khẳng định rõ “Quần đảo Điếu Ngư là một phần

lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc, là vùng lãnh thổ cố hữu của

Trung Quốc xét cả về mặt lịch sử, địa lý, pháp lý và Trung Quốc khẳng định

Trang 19

chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Điếu Ngư”5 Sách trắng quốc phòng Trung Quốc năm 2011 tuyên bố, Trung Quốc sẽ kiên quyết bảo vệ các lợi ích cốt lõi gồm chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Quần đảo Điếu Ngư là vấn đề liên quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc Với việc coi biển Hoa Đông là lợi ích quốc gia, Trung Quốc đã khẳng định rất rõ vấn đề này cũng giống như Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương

Trung Quốc khẳng định thách thức từ Nhật Bản khi cố gắng né tránh trật tự hậu thế chiến và thử nghiệm các chính sách an ninh-quân sự, khiến gây

ra nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với các nước trong khu vực Trung Quốc cũng ám chỉ Nhật Bản đã có hành động khiêu khích, tăng cường hiện diện quân sự tại các bãi và đảo của Trung Quốc, có những hành động làm phức tạp

và trầm trọng thêm tình hình khu vực Nhật Bản đang gây phức tạp về vấn đề quần đảo Điếu Ngư

Đối với Trung Quốc, Điếu Ngư có một giá trị chiến lược rất quan trọng

Về kinh tế, Điếu Ngư là nguồn cung cấp hải sản dồi dào với tiềm năng dầu khí rất lớn, lại nằm trên tuyến giao thông hàng hải quan yếu chạy từ Trung Đông qua Ấn Độ Dương và Biển Đông về tận vùng Đông Bắc Á; là thủy lộ giao thông huyết mạch mà hàng năm khoảng 50% lưu lượng hàng hóa trao đổi trên thế giới và hơn 80% lượng dầu thô cung ứng cho các nước Đông Bắc

Á đều được chuyển qua tuyến hàng hải này

Về quân sự, khống chế được Điếu Ngư không những giúp Trung Quốc chiếm giữ được nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (dầu khí, hải sản, đất hiếm…), mà còn kiểm soát được vị trí địa dư chiến lược tối quan trọng trong việc quyết định số phận tương lai của Đài Loan Từ Điếu Ngư, quân đội

5 The State Council Information Office of the People’s Republic of China (2011), China’s Foreign Aid, Beijing, The People's Republic of China.

Trang 20

Trung Quốc có thể dễ dàng phong tỏa Đài Loan bằng không quân-hải quân khi cần thiết, hoặc mở những đợt tấn công trên nhiều tuyến nhằm chiếm đánh nhanh chóng các phi trường quân sự của quân lực Đài Loan để hỗ trợ các lực lượng tiến công chiếm đóng Đài Loan Chỉ cần chiếm đóng những quần đảo này, chưa cần sử dụng tới sức mạnh quân sự, Bắc Kinh cũng đã tạo được áp lực nặng nề về an ninh-chính trị lên Đài Loan để buộc phải chấp nhận những điều kiện đàm phán hòa bình có lợi hoàn toàn cho phía Trung Quốc

Chiếm đóng Điếu Ngư còn phục vụ cho những mưu toan chiến lược kế tiếp nhằm thực hiện giấc mộng bá chủ vùng đại dương mênh mông của Trung Quốc Điếu Ngư nằm ở vị trí chiến lược xung yếu, trong chuỗi đảo trải dài từ phía tây nam Nhật Bản xuống tận phía đông bắc Đài Loan, hình thành một chuỗi mắt xích ngăn chặn mọi hướng từ Biển Đông ra Thái Bình Dương của hải quân Trung Quốc, khóa chặt lực lượng hải quân biển xanh của Trung Quốc trong vùng biển ao tù không lối ra Đó chính là lý do mà Trung Quốc về lâu dài sẽ tìm mọi cách chiếm giữ cho bằng được Điếu Ngư để đảm bảo một hành lang an toàn ra Thái Bình Dương

Đối với Trung Quốc, Điếu Ngư còn có tầm vóc quan trọng trong việc trung hòa những áp lực quân sự của quân đội Mỹ và đồng minh tại các cứ điểm quân sự chiến lược tại Nhật Bản Nếu chiếm giữ được quần đảo này, Trung Quốc sẽ thiết lập những trạm ra-đa do thám và các bãi đáp cho trực thăng nhằm theo dõi và thu thập các tin tức tình báo liên quan đến những hoạt động của các lực lượng quân sự Mỹ-Nhật tại Okinawa Nếu mất Điếu Ngư, tuyến phòng vệ tiền tiêu của lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ bị suy yếu, eo biển Đài Loan thiết yếu cho việc phòng thủ và bảo vệ Đài Loan cũng sẽ bị Trung Quốc khống chế hoàn toàn Tóm lại, việc đổi chủ nếu xảy ra ở quần đảo chiến lược này sẽ nghiêng hẳn cán cân quyền lực về phía Trung Quốc và

Trang 21

đặt Mỹ, Nhật Bản cũng như các quốc gia đồng minh trong khu vực vào tình thế hoàn toàn bất lợi trong việc duy trì sự ổn định và an ninh cho toàn khu vực

1.2.2 Nhân tố bán đảo Triều Tiên, Đài Loan

Bán đảo Triều Tiên: Bán đảo Triều Tiên có vị trí chiến lược đặc biệt

quan trọng do nằm ở trung tâm của khu vực Đông Bắc Á, một trong những khu vực quan trọng nhất về mặt chiến lược của thế giới Sau Chiến tranh thế giới II, do hậu thuẫn của Trung Quốc và Mỹ, hai miền Triều Tiên tuyên bố thành lập hai nhà nước riêng rẽ và luôn trong tình trạng đối đầu

Do vị trí quan trọng trên bàn cờ chiến lược quốc tế, bán đảo Triều Tiên luôn là điểm nóng về cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc Từ cuộc nội chiến 1950-1953, Mỹ đã chính thức hiện diện và trở thành nhân tố góp phần tạo nên sự bất ổn của bán đảo này Trung Quốc là quốc gia thuộc khu vực và ngay sát sườn bán đảo Triều Tiên nên mọi động thái quân sự tại đây đều ảnh hưởng trực tiếp đến biên giới phía đông bắc của Trung Quốc Triều Tiên ổn định sẽ giúp Trung Quốc tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và tập trung cho công cuộc cải cách mở cửa Trường hợp xuất hiện một cuộc chiến thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vấn đề kinh tế, xã hội của Trung Quốc Sau Thế chiến II, tác động của cuộc chiến ý thức hệ đã đưa Trung Quốc và Triều Tiên trở thành đồng minh đặc biệt Trung Quốc thấy phải có trách nhiệm với Triều Tiên, bởi căng thẳng đối đầu giữa Mỹ và Triều Tiên sẽ gây ra nhiều thách thức đối với quan hệ Trung-Mỹ Nếu chính quyền Triều Tiên sụp đổ thì sẽ tạo điều kiện cho Mỹ kiểm soát toàn bộ bán đảo Nếu vậy, Trung Quốc sẽ mất đi vùng đệm quan trọng trong lợi ích chiến lược

Trung Quốc muốn duy trì một nhà nước Triều Tiên ổn định trong tình thế có lợi cho Trung Quốc Nếu hai miền thống nhất, Trung Quốc muốn nước Triều Tiên mới ra đời đi theo đường lối chính trị của Bắc Triều Tiên, không

có sự hiện diện của Mỹ, quan hệ gắn bó với Trung Quốc và tiếp tục là vùng

Trang 22

đệm cho nước này Vì vậy, chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên là tạo dựng môi trường ổn định ở khu vực cho đến khi Trung Quốc nắm giữ vai trò lãnh đạo thế giới

Đài Loan: Trung Quốc luôn cho rằng vấn đề Đài Loan liên quan đến

sự phát triển lâu dài và thống nhất của Trung Quốc Trong giai đoạn phục hưng Trung Hoa, sự thống nhất là xu hướng không thể tránh khỏi Gần đây, quan hệ hai bờ được duy trì ổn định, phát triển hòa bình nhưng nguyên nhân gây bất ổn vẫn tiềm ẩn Các hoạt động của lực lượng ly khai Đài Loan vẫn là

mối đe dọa lớn nhất đối với sự phát triển hòa bình của hai bờ

Trải qua hai thập kỷ, Trung Quốc luôn có kế hoạch tác chiến quân sự nhằm đối phó với khả năng xảy ra xung đột với Đài Loan Trung Quốc từng tuyên bố sử dụng vũ lực để hợp nhất Đài Loan nếu thấy cần thiết và coi Đài Loan là một tỉnh ly khai Trung Quốc có ít nhất 4 lần đưa ra các dấu hiệu cảnh báo trong vấn đề Đài Loan vào các năm 1991, 1995, 1999 và 2003-2004 nhằm ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập Quân đội Trung Quốc được bố trí rất đông tại phía đông nam Trung Quốc giáp với Đài Loan, đặc biệt là các đơn vị tấn công đổ bộ, không kích và tên lửa đạn đạo tầm ngắn Dù lực lượng quân sự ở eo biển Đài Loan nghiêng về phía Trung Quốc nhưng việc xâm lược Đài Loan không đơn giản Sự can thiệp của Mỹ nhằm bảo vệ Đài Loan là thách thức lớn đối với Quân đội Trung Quốc Tuy nhiên, Mỹ từng cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục nâng cao các khả năng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi và thậm chí làm thất bại sự can dự của bên thứ ba trong vấn đề Đài Loan

Trung Quốc từng cảnh báo sử dụng vũ lực đối với các tuyên bố về địa

vị chính trị của Đài Loan và mối quan hệ của Đài Loan với các nước theo

“các giới hạn đỏ” gồm:

- Đài Loan chính thức tuyên bố độc lập

- Các động thái hướng đến việc Đài Loan tuyên bố độc lập

Trang 23

- Nội bộ Đài Loan bất ổn

- Tàng trữ vũ khí hạt nhân

- Trì hoãn khởi động đối thoại thống nhất hai bờ

- Sự can thiệp của nước ngoài vào công việc nội bộ của Đài Loan

- Quân đội nước ngoài đóng quân tại Đài Loan

Luật Chống ly khai của Trung Quốc (3/2005) đề cập nước này có thể

sử dụng các biện pháp phi hòa bình trong trường hợp các lực lượng ly khai tiến hành tách Đài Loan khỏi Trung Quốc hoặc trong các tình huống dẫn đến việc Đài Loan ly khai hoặc sự tái thống nhất hai bờ bị đe dọa

Chiến lược của Trung Quốc đối với Đài Loan là duy trì như phần lãnh thổ không thể tách rời bằng biện pháp quân sự và tạo dựng nền hòa bình Đồng thời, Trung Quốc cũng luôn tìm cách gia tăng quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị với Đài Loan và nhấn mạnh quan điểm thống nhất trong hòa bình

theo nguyên tắc “một nhà nước, hai chế độ”

1.2.3 Nhân tố Biển Đông

Biển Đông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang lại nhiều lợi ích kinh

tế, chính trị, quân sự đối với Trung Quốc Biển Đông không chỉ là khu vực có tiềm năng dầu khí to lớn, mà còn là tuyến hàng hải huyết mạch vận chuyển nguồn năng lượng nhập khẩu chính của Trung Quốc Nếu tuyến hàng hải này

bị phong tỏa và nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, Trung Quốc sẽ rơi vào tình trạng bất ổn Kiểm soát được Biển Đông, Trung Quốc có thể tạo thế bao vây ảnh hưởng đối với tất cả các quốc gia Đông Nam Á Khống chế được Biển Đông là khống chế được Nhật Bản, Hàn Quốc và tác động trực tiếp tới quan hệ chiến lược giữa Mỹ-Nhật Bản-Hàn Quốc, gọng kìm từ lâu đã siết chặt Trung Quốc hướng ra đại dương

Với diện tích rộng, độ sâu lớn, vị trí chiến lược hiểm yếu, Biển Đông

có giá trị hết sức quan trọng về mặt quân sự Với một nước lớn đang trỗi dậy

Trang 24

như Trung Quốc, giá trị quân sự mà Biển Đông mang lại là không gì thay thế được Giá trị chủ yếu thể hiện trên ba phương diện sau:

Thứ nhất, Biển Đông là mặt trận quan trọng đối với tương lai phát triển lực lượng hàng không vũ trụ của Trung Quốc Trung Quốc xây dựng Trung tâm phóng tên lửa hàng không Văn Xương trên đảo Hải Nam, nơi có vĩ độ thấp thuận lợi cho việc phóng tàu vũ trụ Đây sẽ là nơi Trung Quốc tiến hành phóng các loại tên lửa và các thiết bị hàng không phục vụ mục đích chinh phục vũ trụ Việc tiến hành các hoạt động hàng không, trong đó có phóng tên lửa đẩy từ các đảo ngoài khơi có vĩ độ thấp đòi hỏi phải có sự đảm bảo về mặt chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển Hiện nay, các cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệ hàng không vũ trụ và tên lửa đẩy của Trung Quốc hầu hết đặt tại những trung tâm khoa học-kỹ thuật lớn, nằm ven biển phía đông như Thượng Hải và Thiên Tân, trong khi ba căn cứ phóng tên lửa cũ là Tây Xương, Tửu Tuyền và Thái Nguyên đều nằm sâu trong lục địa Điều này khiến cho tên lửa sau khi được chế tạo xong phải vận chuyển một quãng đường khá dài bằng đường bộ tới các căn cứ phóng Nếu so sánh với vận tải bằng đường biển thì vận tải đường bộ gặp nhiều hạn chế hơn Do đó, việc đặt Trung tâm phóng tên lửa Văn Xương trên đảo Hải Nam là đã cân nhắc tới yếu

tố này

Thứ hai, Biển Đông là địa bàn hoạt động cơ động và căn cứ trú ẩn ưu việt cho lực lượng hạt nhân của Trung Quốc Quân đội Mỹ từ thế kỷ trước đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu công nghệ lazer rà quét tàu ngầm, với mục tiêu phát hiện các thiết bị lặn ở độ sâu 150m Trong các vùng biển xung quanh Trung Quốc, Bột Hải có độ sâu trung bình chỉ 18m, Hoàng Hải có độ sâu trung bình là 44m Với độ sâu này, thiết bị thăm dò nói trên hoàn toàn có thể kiểm soát toàn bộ Đông Hải tuy có độ sâu đạt 370m nhưng Mỹ-Nhật đã bố trí tại đây những hệ thống rà quét tiên tiến, khả năng tàu ngầm Trung Quốc bị

Trang 25

phát hiện là rất cao Chỉ có Biển Đông với độ sâu trung bình đạt 1.212m mới

là môi trường và địa điểm ưu việt để xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân Với năng lực hiện nay của hải quân Trung Quốc, Biển Đông là khu vực duy nhất

để lực lượng tàu ngầm hạt nhân có thể tiến hành hoạt động tuần tra chiến lược

Thứ ba, Biển Đông là khu vực lý tưởng nhất để hàng không mẫu hạm

có thể thực hiện các hoạt động huấn luyện và diễn tập Để chủ động nắm ưu thế kiểm soát trên biển thì hàng không mẫu hạm là chỗ dựa đáng tin cậy, đồng thời cũng là phương tiện duy nhất hiện nay mang lại sự đảm bảo trên không cho hạm đội khi tác chiến tại các vùng biển xa Với đặc điểm là loại tàu chiến mặt nước có kích thước và trọng tải lớn, kèm theo là biên đội khoảng 10 tàu các loại, hàng không mẫu hạm cần những vùng biển rộng lớn để tiến hành diễn tập và huấn luyện Điều này khó thực hiện tại những vùng biển nhỏ như Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải, mặt khác lại dễ gây phản ứng từ các nước xung quanh như Nhật Bản, Hàn Quốc Chỉ có Biển Đông là khu vực lý tưởng cho hàng không mẫu hạm Trung Quốc, không chỉ bởi thực lực quân sự của các nước ven Biển Đông khá yếu, mà thế lực của Mỹ tại đây cũng không lớn như tại khu vực Đông Bắc Á

Biển Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình vươn lên trở thành một cường quốc hải dương; là vùng biển chiến lược để Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân biển xa Vì vậy, Trung Quốc coi Biển Đông là

“lợi ích cốt lõi” và “sống còn” đối với chiến lược trở thành cường quốc đại dương của nước này

1.3 Nhân tố trong nước

1.3.1 Chính trị

Trong ba thập kỷ qua, quyền lực chính trị ở Trung Quốc đã được phân cấp đáng kể, chính quyền các tỉnh và thành phố ngày càng có nhiều quyền tự chủ trong việc cải cách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy tăng

Trang 26

trưởng GDP; được cấp quyền trực tiếp kiểm soát các nguồn tài nguyên Tuy nhiên, nó đã dẫn đến sự lãng phí đáng kể, điển hình là các khoản nợ của chính quyền địa phương và cũng là nguyên nhân của tham nhũng trên quy mô lớn Hiện nay, tham nhũng đã vượt tầm kiểm soát, đe dọa đến sự ổn định của Trung Quốc và tính chính danh của Đảng Cộng sản Hơn ba thập niên quản trị lỏng lẻo, một số chính quyền địa phương đã hình thành bè phái chính trị để bảo vệ lợi ích bất hợp pháp của họ về kinh tế và những vấn đề khác Vì vậy, Tập Cận Bình đã phát động một chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng Nhiều quan chức ở các tỉnh của Trung Quốc từ cấp thấp đến cấp cao đều bị giam giữ, đồng thời cũng bắt giữ một số lượng lớn các quan chức và sỹ quan quân đội cấp cao, những người được xem là đối thủ chính trị Nỗ lực của Chủ tịch Tập Cận Bình trong kiểm soát bộ máy quan liêu của Trung Quốc vẫn tiếp tục được duy trì nhằm tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương

1.3.2 Kinh tế

Kể từ cuối những năm 70, Trung Quốc thay đổi mô hình kinh tế từ nhà nước sang định hướng thị trường Sau nhiều năm thực hiện cải cách mở cửa, Trung Quốc trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất thế giới “Giai đoạn 1978-2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc đạt gần 10%”6 Tính chung cho cả giai đoạn, tốc độ tăng trưởng này cao gấp 3 lần tốc độ trung bình của thế giới Sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc diễn ra trong suốt nhiều năm, đặc biệt sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới Một trong những động lực chính thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng là thương mại Vị trí của Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được khẳng định khi vượt Nhật Bản, trở thành nước đứng thứ ba thế giới về ngoại thương và chỉ sau Mỹ, Đức Hàng năm, quy mô và mức độ sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt

6 “Đặng Tiểu Bình và cải cách kinh tế Trung Quốc”, Phân tích/Thế giới/VNExpress (25/8/2014)

Trang 27

khoảng 55 tỷ USD Với mức tăng kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 21,7%, Trung Quốc trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới về nhập khẩu

và thứ nhất về xuất khẩu hàng hóa

Từ năm 1994 đến nay, tài khoản vãng lai của Trung Quốc luôn giữ thặng dư hàng năm Tổng thương mại của Trung Quốc tăng khoảng 100 lần, đạt 4.2 tỷ tỷ USD chỉ trong vòng ba thập kỷ Điện tử, máy móc thiết bị của Trung Quốc chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu, hàng may mặc chiếm 13%, vật liệu xây dựng và trang thiết bị chiếm 7% Sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, “từ 2010-2013 tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Trung Quốc giữ mức 7,8%”7

Năm 2013, Chính phủ Trung Quốc công bố các định hình về cải cách kinh tế với việc tăng cường cải cách kinh tế và vai trò của thị trường; tái khẳng định vai trò chủ đạo của nhà nước đối với kinh tế; nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh cải cách theo hướng thị trường đối với các công ty nhà nước…Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016-2020) tập trung hướng tới mục tiêu giữ mức tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, đẩy nhanh hiện đại hóa nông nghiệp, cải cách thể chế…Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tăng vọt trong các thập kỷ gần đây và chủ yếu là do gia tăng hội nhập kinh tế toàn cầu và sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ đối với hoạt động kinh tế Mô hình kinh tế thành công đã kích thích sự phát triển xã hội và kinh

tế thần kỳ

Hiện nay, Chính phủ Tập Cận Bình đang quyết tâm thực hiện các cải cách khi tập trung vào xây dựng nền kinh tế bền vững dài hạn Theo đó, chiến lược Một vành đai Một con đường (OBOR) đã trở thành một trong nhiều giải pháp chiến lược nhằm dịch chuyển năng lực sản xuất dư thừa, chuyển dịch

7 Nguyễn Thu Hiền (2014), “Kinh tế Trung Quốc năm 2013 và triển vọng năm 2014”, Viện nghiên cứu Trung

Quốc

Trang 28

các ngành nghề, các nguồn vốn, nguồn nhân lực ra nước ngoài; tìm kiếm lối thoát cho mô hình và con đường phát triển mới của Trung Quốc

1.3.3 Quốc phòng-An ninh

Những năm 1950, thế hệ lãnh đạo Mao Trạch Đông đã xác định mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và công nghệ từ mức độ sơ khai lên hiện đại trong quá trình xây dựng lực lượng quân sự của Trung Quốc Những năm

1980, dưới thời thế hệ lãnh đạo Đặng Tiểu Bình, quân đội Trung Quốc tập trung tổ chức biên chế phù hợp với thực tế nước này Sau những năm 1990, các thế hệ lãnh đạo Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào đã nỗ lực đẩy mạnh cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự và tạo ra những bước tiến, nhất là tính thông tin hóa của các lực lượng vũ trang Thực tế cho thấy, cải cách quân đội là vấn đề thường xuyên được các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc quan tâm trong quá trình phát triển các lực lượng vũ trang

Quân đội Trung Quốc gắn với những nhiệm vụ khác nhau kể từ ngày thành lập nước Theo sách trắng quốc phòng Trung Quốc năm 2006, trong thế

kỷ XXI, lực lượng vũ trang phải đáp ứng những nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ mới Đó là “đảm bảo về an ninh để duy trì cơ hội chiến lược cho phát triển quốc gia, trợ giúp chiến lược để bảo vệ lợi ích quốc gia và đóng một vai trò quan trọng để gìn giữ hòa bình thế giới cũng như thúc đẩy sự phát triển chung”8 Những nhiệm vụ mới của lực lượng vũ trang Trung Quốc cũng đặt

ra các yêu cầu mới về sức mạnh quân đội Để thực thi nhiệm vụ, lực lượng quân sự không chỉ phải chiến thắng các cuộc chiến tranh cơ giới mà cả chiến tranh thông tin, không chỉ đảm bảo an ninh trên đất liền mà cả trên biển, trên không và không gian mạng, không chỉ thực thi các nhiệm vụ thường xuyên

mà còn phải thực hiện các hoạt động phi chiến tranh khác Nói chung, lực

8 “Xi’s new model army: Xi Jinping reforms China’s armed forces - to his own advantage”, The Economist

(Jannuary 16, 2016)

Trang 29

lượng vũ trang Trung Quốc phải sở hữu năng lực chống lại những mối đe dọa khác nhau về an ninh và hoàn thành những nhiệm vụ quân sự đa dạng Trong khi đó, khả năng của quân đội Trung Quốc hiện nay chỉ thực sự mạnh trong điều kiện chiến tranh cơ giới, chiến tranh sử dụng bộ binh hay những cuộc chiến trên chiến trường và phòng thủ trên bộ Hệ thống quân sự truyền thống này không đáp ứng được yêu cầu giành phần thắng trong chiến tranh thông tin, cũng như không đủ năng lực làm chủ mặt biển, khoảng không vũ trụ và không gian mạng điện tử Năng lực chống khủng bố, duy trì ổn định, đối phó với những mối đe dọa mới và hoạt động gìn giữ hòa bình cũng có hạn chế nhất định Do đó, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang Trung Quốc là thích nghi

và đáp ứng với yêu cầu lịch sử mới

Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2012) đưa ra nhiệm vụ chiến lược mới xây dựng một nền quốc phòng và lực lượng vũ trang hùng mạnh tương xứng với vị thế quốc tế của Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu an ninh quốc gia cũng như những lợi ích phát triển Lúc này, sức mạnh quân đội Trung Quốc còn nhiều hạn chế, mới ở giai đoạn đầu của cơ giới hóa và đây là thách thức chính trong quá trình phát triển quân đội Nhận thức được điều này, thế hệ lãnh đạo Tập Cận Bình đã thông qua kế hoạch cải cách quân đội như một phương tiện, giải pháp đối phó với những thách thức trên Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII, kế hoạch cải cách tổng thể nêu rõ hoạt động cải cách nền quốc phòng và quân đội chiếm một vị trí quan trọng Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh “cải cách nền quốc phòng và quân đội là một phần quan trọng trong kế hoạch cải cách tổng thể của Trung Quốc”9

Cuối năm 2014, Chủ tịch Tập Cận Bình tới Cổ Điền, Phúc Kiến và nhấn mạnh điều tương tự tại Hội nghị Cổ Điền với sự tham gia của nhiều

9 “Xi leads China’s Military Reform, Stresses Strog Army”, Embassy of The People's Republic of China in the Federal Democratic People of Nepal (March 2014), Beijing, The People's Republic of China

Trang 30

tướng lĩnh và sỹ quan cao cấp rằng “Quân đội vẫn là lực lượng vũ trang của Đảng, phải giữ gìn truyền thống cách mạng và tuyệt đối trung thành với Đảng…cung cấp nguồn lực quan trọng về sức mạnh để củng cố vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc” Phát biểu này là khởi đầu cho những cải cách quân đội của Trung Quốc Chủ tịch Tập Cận Bình muốn một quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, đồng thời có năng lực, có khả năng tác chiến tốt hơn nhiều tới năm 2020-một quân đội tương xứng với vị thế của Trung Quốc như là một cường quốc chủ yếu trên thế giới và có khả năng bảo vệ các lợi ích khu vực và toàn cầu của Trung Quốc

1.3.4 Văn hóa-Xã hội

Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2002) khẳng định mục tiêu chiến lược quan trọng của quốc gia trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI là xây dựng toàn diện xã hội khá giả, theo tiêu chí kinh tế phát triển cao hơn, dân chủ kiện toàn hơn, khoa học giáo dục tiến bộ hơn, văn hóa phồn vinh hơn, xã hội hài hòa hơn, đời sống nhân dân sung túc hơn

Trung Quốc đã trải qua chặng đường gần 15 năm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả với nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng không ít thách thức khó khăn Tỷ lệ thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn quốc khá cao khoảng 80% nhưng vẫn có chênh lệnh lớn giữa các khu vực miền Đông, miền Trung, miền Tây và miền Đông Bắc Trung Quốc cũng làm khá tốt công tác cải cách và từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội Cho đến nay, Trung Quốc đã cơ bản phủ kín chế độ đảm bảo mức sống tối thiểu toàn dân và nỗ lực khắc phục các vấn đề tồn đọng trong các chế độ an sinh xã hội, đặc biệt là bảo hiểm dưỡng lão và bảo hiểm y tế ở nông thôn Trung Quốc cũng làm tốt công tác xóa đói nghèo ở vùng nông thôn, theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng hệ thống hạ tầng, tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm ổn định với hoàn thiện hệ thống an sinh Tuy nhiên, Trung Quốc

Trang 31

cũng gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu quốc gia trên gồm: chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp xã hội; các biện pháp cân bằng lợi ích chưa phát huy hiệu quả đối với mọi giai tầng; kết cấu xã hội chưa đạt đến mô hình lý tưởng; tham nhũng ngày càng nghiêm trọng; yếu kém trong khâu giám sát quyền lực…

1.3.5 Cá nhân Chủ tịch Tập Cận Bình

Ông Tập Cận Bình được bổ nhiệm là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc và tiếp quản vị trí Chủ tịch nước sau cuộc tranh cử kéo dài suốt 5 tháng từ cuối năm 2012 đến đầu năm 2013 Đây là sự khởi đầu cho tiền lệ được thiết lập trong giai đoạn lãnh đạo kéo dài 10 năm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, người đảm nhiệm tất cả

ba chức vụ chỉ trong hơn một năm Trước quá trình chuyển đổi lãnh đạo 2012-2013, ông Tập Cận Bình giữ chức vụ Phó Chủ tịch dân sự của Quân ủy Trung ương

Ông Tập Cận Bình có một cuộc đời cam go hơn ông Hồ Cẩm Đào Ông Tập từng phải theo cha về vùng nông thôn (do cha ông bị kỷ luật) và ông đã phải vượt qua nhiều gian nan, thử thách để phấn đấu trở thành Bí thư tỉnh Phúc Kiến và sau đó ông tới Thượng Hải, Bắc Kinh Những trải nghiệm cuộc sống khiến ông có tính cách cứng rắn, kín đáo, ít bộc lộ cảm xúc “Ông Tập từng được so sánh như Nelson Mandela, không cho phép tình cảm cá nhân làm ảnh hưởng đến quyết định”10

Cha ông Tập Cận Bình từng là quan chức quân sự cao cấp trong cuộc cách mạng Trung Quốc, là phó Thủ tướng có uy tín, thành viên Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và là người có quan điểm ôn hòa Năm 1962, cha ông bị kỷ luật, rồi sau đó phục chức và nắm lại quyền lực Như vậy, ông Tập Cận Bình có thêm tính chính danh là con cháu cách

10 Simon Elegant (November 2007), China’s Nelson Mandela, Time, U.S

Trang 32

mạng Những điều này lý giải một phần cho sự tự tin của ông Tập Tuy nhiên, một yếu tố khác có thể là sự rèn luyện mà ông Tập đã trải qua khi còn là một thiếu niên, phải tự lo cho mình trước những đe dọa của Hồng Vệ Binh và sau

đó lao động ở vùng quê trong 6 năm Lý lịch này giải thích vì sao ông Tập chấp nhận nhiều biện pháp rủi ro sau khi trở thành Tổng Bí thư Đây cũng chính là một lợi thế để ông Tập có thể nắm giữ được quyền kiểm soát cá nhân đối với quân đội Điều này thể hiện ở chỗ ông Tập đã khẳng định vị thế lãnh đạo cốt lõi bằng cách cho phép bản thân can thiệp theo ý muốn nhằm kiềm chế và kiểm soát quân đội; thay thế hệ thống trách nhiệm của Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản bằng một hệ thống trách nhiệm của Chủ tịch mới Hệ thống mới này đem lại cho ông Tập toàn quyền quản lý quân đội và đích thân can thiệp khi thấy cần thiết Từ khi nắm quyền Tổng Bí thư vào năm 2012 và Chủ tịch nước vào năm 2013, ông Tập đã tập trung toàn bộ quyền lực vào tay mình Ông thành lập và lãnh đạo Ủy ban An ninh Quốc gia Trung ương, có thẩm quyền phụ trách quân đội, công an và tất cả các cơ quan an ninh quốc gia, đối ngoại Đồng thời, ông Tập cũng làm Bí thư Quân ủy Trung ương, vị trí gắn liền với chức danh Tổng Bí thư Ông Tập cũng đã thành lập và lãnh đạo một Nhóm lãnh đạo Trung ương về thúc đẩy cải cách toàn diện; nắm quyền lãnh đạo các nhóm lãnh đạo trung ương về ngoại giao, an ninh mạng và công nghệ thông tin

“Một mặt, Chủ tịch Tập Cận Bình sử dụng các sách lược theo chủ nghĩa Mao để tạo dựng uy tín Mặt khác, ông cũng được ủy nhiệm để hoàn thành những tham vọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc”11 Ông Tập có vẻ lại áp dụng các tư tưởng và công cụ chủ yếu của Cách mạng Văn hóa làm phương tiện cho mình Ông Tập có lợi thế then chốt là di sản của cố Chủ tịch

11 Peter Mattis (July 2016), Man or machine: Seeking truth in Chinese politics, War on the Rock, Texas

National Security, U.S

Trang 33

Mao Trạch Đông Ông biết rằng chỉ khi củng cố được quyền lực của Đảng và cương vị lãnh đạo Đảng của mình thì mới có được điều mình muốn Do đó, ông Tập tuyên bố rằng nội bộ Trung Quốc đang có một mối đe dọa nghiêm trọng, đó chính là những lãnh đạo tham nhũng, bất trung và đồng thời tuyên

bố sự trung thành với Đảng là yếu tố tối quan trọng Ông Tập tin rằng quyền lực của mình phụ thuộc vào việc làm cho người dân Trung Quốc phải trung thành và phục tùng Để củng cố quyền lực, ông Tập còn cố gắng giành được

sự ủng hộ của dân chúng dựa trên hệ tư tưởng mới giúp thống nhất người dân Trung Hoa, gồm các giá trị và mục tiêu xã hội chủ nghĩa nhằm mang lại sự đại cải hoàn dân tộc Trung Hoa

Trong phần lớn nhiệm kỳ đầu tiên, Chủ tịch Tập Cận Bình tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ gồm chống tham nhũng, tập trung quyền lực chính trị, áp đặt kỷ luật đảng và áp dụng nghiêm các quy tắc ứng xử đối với lãnh đạo Đảng ở tất cả các cấp Chiến dịch chống tham nhũng của ông là trọng tâm để đạt mục tiêu này Nỗ lực tập trung quyền lực của ông là nhằm tìm cách ngăn chặn sự chia rẽ ở tầng lớp lãnh đạo cao nhất và cải thiện thực hiện chính sách Đến cuối năm 2016, ông được coi là lãnh đạo hạt nhân của đảng, là người có quyền ra quyết định cuối cùng đối với các vấn đề của đảng

và nhà nước Cuối cùng, sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình là nhằm mục đích đặt quyền lực trong khuôn khổ hiến pháp Các quan chức phải tuân thủ tuyệt đối các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và giám sát chặt chẽ việc sử dụng quyền lực

Tiểu kết

Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc giai đoạn 2013 đến nay được hoạch định trên cơ sở các yêu cầu đòi hỏi cấp thiết trước điều kiện thuận lợi cho phép của tình hình nội bộ Trung Quốc cũng như trước tình hình phức tạp, khó lường của khu vực và thế giới Các nhân tố trong nước gồm chính trị,

Trang 34

kinh tế, quốc phòng-an ninh…là động lực trực tiếp, trong khi các yếu tố khu vực và quốc tế gồm Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Biển Đông…tác động trực tiếp đến việc định hướng các nội dung trong Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc Mỗi nhân tố trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình hoạch định chiến lược, trong đó các vấn đề liên quan đến khía cạnh chính trị, an ninh được xem là quan trọng và cần thiết

Chương 2: NỘI DUNG VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2013-NAY

2.1 Mục tiêu của Chiến lƣợc quốc phòng

Năm 2013, Trung Quốc đặt ra các nhiệm vụ chiến lược trong xu hướng hiện đại hóa quân đội, gồm xây dựng khả năng phòng thủ quốc gia và xây dựng các lực lượng vũ trang tương xứng với vị thế quốc tế của Trung Quốc; đáp ứng các yêu cầu về các lợi ích an ninh, phát triển và các chiến lược phát triển cũng như an ninh quốc gia, theo kịp sự chỉ đạo lý luận về triển vọng khoa học phát triển; đẩy nhanh chuyển đổi mô hình tác chiến hiệu quả, xây dựng hệ thống lực lượng quân sự hiện đại mang bản sắc Trung Quốc, nâng cao khả năng chỉ đạo chiến lược quân sự, đa dạng hóa việc sử dụng các lực lượng vũ trang theo yêu cầu; đảm bảo an ninh và hỗ trợ chiến lược đối với sự phát triển của quốc gia và tạo được những đóng góp tương xứng trong duy trì hòa bình thế giới và ổn định khu vực

Năm 2015, Trung Quốc tiếp tục đặt ra các nhiệm vụ chiến lược đối với quân đội Trung Quốc, gồm đối phó hiệu quả với các sự kiện đột xuất và những mối đe dọa về quân sự, bảo vệ chủ quyền và an ninh trên không, trên biển và trên bộ, bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh và lợi ích trong những lĩnh vực mới, bảo vệ an toàn lợi ích ở nước ngoài; duy trì khả năng răn đe chiến lược và năng lực tổ chức hành động phản kích hạt nhân; tham gia hợp tác an ninh quốc tế và khu vực, bảo vệ hòa bình thế giới

Trang 35

và khu vực; tăng cường chống thẩm thấu và ly khai, đẩy mạnh cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố, bảo vệ an ninh chính trị quốc gia và ổn định trật tự

xã hội; cứu hộ, cứu nạn thiên tai, bảo vệ quyền lợi, bảo đảm an ninh và hỗ trợ xây dựng kinh tế xã hội quốc gia

Như vậy, các nhiệm vụ đặt ra đối với quân đội Trung Quốc năm 2015

có thêm nhiều điểm mới so với năm 2013, nhất là đề ra mục tiêu toàn diện đối với quân đội trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh trên không, trên biển

và trên bộ; bảo vệ lợi ích trong những lĩnh vực mới và lợi ích ở nước ngoài; sẵn sàng sử dụng năng lực hạt nhân khi cần trong đáp trả chiến lược; chú trọng tăng cường các biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ và an ninh xã hội Năm 2013, mục tiêu quốc phòng của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào xây dựng và nâng cao năng lực toàn diện của quân đội Tuy nhiên đến năm

2015, các mục tiêu phần lớn chuyển sang giai đoạn quân đội thực hiện các nhiệm vụ hành động Điều này cho thấy quân đội Trung Quốc sẵn sàng triển khai các nhiệm vụ chiến lược Các nhiệm vụ này tập trung phản ánh yêu cầu mới của “Năm thích ứng”12, xem xét lợi ích an ninh và phát triển quốc gia, lĩnh vực an ninh truyền thống và lĩnh vực an ninh mới, thể hiện nhu cầu an ninh cốt lõi giai đoạn then chốt trong phát triển quốc gia

Năm 2015, Trung Quốc cũng đặt ra hai mục tiêu mà Đảng Cộng sản cần phấn đấu là đến lúc kỷ niệm 100 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập (2021) thì sẽ xây dựng xong xã hội khá giả, toàn diện; đến lúc kỷ niệm

100 năm nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập (2049) thì sẽ có một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, thịnh vượng, dân chủ, văn minh…và thực hiện giấc mộng Trung Hoa về phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại Giấc mộng Trung Hoa là giấc mộng cường quốc, đối với quân đội là giấc mộng

12 Năm thích ứng: thích ứng với yêu cầu mới về bảo vệ lợi ích phát triển và an ninh quốc gia, phát triển tình

hình an ninh quốc gia, cách mạng quân sự mới trên thế giới, phát triển lợi ích chiến lược quốc gia, cải cách sâu rộng toàn diện quốc gia

Trang 36

quân đội mạnh Quân đội mạnh mới bảo vệ được quốc gia, nước mạnh cần phải có quân mạnh Đây cũng chính là mục tiêu lớn nhất mà quân đội Trung Quốc phải kiên trì và kiên quyết thực hiện trong tương lai

Theo đó, quân đội Trung Quốc xác định lấy mục tiêu xây dựng quân đội mạnh trong tình hình mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc làm tổng cương lĩnh, kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, luôn coi sức chiến đấu là tiêu chuẩn căn bản duy nhất, xây dựng quân đội nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đánh thắng trận và tác phong quy củ

2.2 Nguyên tắc thực hiện Chiến lƣợc Quốc phòng

Các nguyên tắc thực hiện Chiến lược quốc phòng của Trung Quốc năm

2015 so với năm 2013 có nhiều điểm mới Đó là tăng cường chuẩn bị đấu tranh quân sự, kiên trì chính sách quốc phòng mang tính phòng vệ, kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội và phát huy uy lực tổng thể của chiến tranh nhân dân Trong đó, đáng chú ý là phương châm chiến lược phòng

vệ tích cực-điểm cơ bản trong tư tưởng chiến lược quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc Đó là sự kiên trì nguyên tắc phòng vệ, tự vệ và lùi bước tạo lợi thế để chế phục đối phương, phương châm “người không xâm phạm, ta sẽ không xâm phạm người; nếu người xâm phạm ta, tất ta xâm phạm người”13

Để thực thi phương châm chiến lược quân sự phòng vệ tích cực trong tình hình mới, quân đội Trung Quốc kiên trì 9 nguyên tắc, gồm phục tùng, phục vụ mục tiêu chiến lược quốc gia; tạo ra ưu thế chiến lược có lợi cho phát triển hòa bình quốc gia; duy trì cân bằng giữa bảo vệ chủ quyền và bảo vệ ổn định; giành thế chủ động chiến lược trong đấu tranh quân sự; vận dụng linh hoạt cơ động chiến thuật, chiến lược; ứng phó hiệu quả với tình huống khó khăn nhất; phát huy đầy đủ ưu thế chính trị đặc hữu của quân đội; phát huy sức mạnh

13 The State Council Information Office of the People’s Republic of China (2015), China’s Military Strategy,

Beijing, China

Trang 37

tổng thể của chiến tranh nhân dân; tích cực mở rộng không gian hợp tác an ninh quân sự

Năm 2013, Trung Quốc xây dựng 5 nguyên tắc thực hiện Chiến lược quốc phòng đối với các lực lượng vũ trang:

(1) Bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển hòa bình của Trung Quốc Đây là mục tiêu nhằm tăng cường phòng thủ quốc gia, là chiến lược quân sự phòng thủ chủ động, đề phòng và chống xâm lược; kiềm chế các lực lượng ly khai; bảo vệ an ninh không phận, hải phận và biên giới đất liền, bảo vệ các quyền và lợi ích hàng hải, các lợi ích an ninh quốc gia trong vũ trụ và không gian mạng “Trung Quốc sẽ không tấn công trừ khi bị tấn công nhưng chắc chắn sẽ phản công nếu bị tấn công”14

(2) Chiến thắng trong các cuộc chiến tranh cục bộ với điều kiện thông tin hóa, mở rộng và tăng cường trạng thái sẵn sàng chiến đấu Đó là mục tiêu đạt tới sự phối hợp hiệu quả giữa các quân binh chủng trên mọi hướng chiến lược, tăng cường các khả năng tác chiến tổng lực dựa trên các hệ thống thông tin; thúc đẩy sự sáng tạo về chiến lược và chiến thuật, phát triển đan xen quân-dân sự, nâng cao huy động phòng thủ quốc gia và xây dựng lực lượng

dự bị; đa dạng hóa năng lực sẵn sàng chiến đấu, nâng cao công tác huấn luyện

và tập trận, kiểm soát và tuần tra không phận, hải phận và biên giới đất liền;

xử lý tốt các tình huống khẩn cấp

(3) Xây dựng nhận thức về an ninh toàn diện và thực hiện hiệu quả việc ngăn chặn chiến tranh, giải quyết xung đột, thúc đẩy hòa bình và hỗ trợ các chính quyền (MOOTW) Đó là việc các lực lượng vũ trang Trung Quốc có khả năng giải quyết tốt các đe dọa an ninh và tập trung thực hiện nhiệm vụ trong thời bình; hỗ trợ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện các

14 The State Council Information Office of the People’s Republic of China (2013), Diversified Employment of

China's Armed Forces, Beijing, China

Trang 38

nhiệm vụ trong giảm nhẹ thiên tai và cứu trợ khẩn cấp; thực hiện các nhiệm

vụ duy trì ổn định và an ninh quốc gia, hoàn thành các nhiệm vụ bảo vệ và phòng thủ an ninh; tăng cường các năng lực bên ngoài

(4) Hợp tác an ninh sâu rộng và thực hiện các nghĩa vụ quốc tế Các lực lượng vũ trang Trung Quốc hỗ trợ và tham gia vào các hợp tác an ninh quốc

tế trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, thực hiện các trao đổi quân

sự, phát triển hợp tác quân sự; thúc đẩy thành lập các cơ chế an ninh tập thể phù hợp, hiệu quả và các cơ chế xây dựng lòng tin quân sự; tăng cường phối hợp và hợp tác với các lực lượng vũ trang khác, nâng cao hợp tác nhằm hạn chế các hành động đe dọa sử dụng vũ lực (CBMs) tại các khu vực biên giới; thúc đẩy đối thoại và hợp tác an ninh hàng hải; tham gia vào các sứ mệnh gìn giữ hòa bình, hợp tác chống khủng bố quốc tế, bảo vệ tàu buôn quốc tế và giảm nhẹ thiên tai; huấn luyện và tập trận chung với các đối tác nước ngoài; thực hiện các nghĩa vụ quốc tế thích hợp; duy trì ổn định, an ninh và hòa bình thế giới

(5) Hoạt động theo luật pháp, chính sách và kỷ luật Các lực lượng vũ trang Trung Quốc thực hiện nhiệm vụ dựa theo Hiến pháp quốc gia và các luật liên quan, tôn trọng các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, duy trì cam kết trong triển khai quân và hành động theo luật; tôn trọng các luật, quy tắc, chính sách và kỷ cương trong quan hệ quân-dân sự; thực hiện các nhiệm vụ như hỗ trợ khẩn cấp, giảm nhẹ thiên tai, duy trì ổn định, phản ứng nhanh và phòng thủ an ninh; hoạt động trong khuôn khổ hợp pháp theo các hiệp định, hiệp ước song phương và đa phương

Năm 2015, Trung Quốc đề ra 9 nguyên tắc chỉ đạo chiến lược đối với quân đội Đây cũng chính là bộ phận cấu thành quan trọng của phương châm chiến lược quân sự:

Trang 39

(1) Phục vụ cho mục tiêu chiến lược quốc gia, quán triệt quan điểm an ninh quốc gia tổng thể, tăng cường chuẩn bị đấu tranh quân sự, dự báo khủng hoảng, ngăn chặn chiến tranh, đánh thắng chiến tranh

(2) Tạo ra được tình thế có lợi cho phát triển hòa bình của quốc gia, kiên trì chính sách quốc phòng mang tính phòng vệ, phối hợp chặt chẽ trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, tích cực đối phó trước những đe dọa an ninh tổng hợp mà quốc gia có thể phải đối mặt

(3) Duy trì cân bằng giữa bảo vệ chủ quyền và giữ gìn ổn định, trù hoạch hai cục diện lớn bao gồm bảo vệ quyền lợi và giữ gìn ổn định, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và lợi ích biển của quốc gia, bảo vệ ổn định an ninh ở xung quanh

(4) Tranh thủ thế chủ động chiến lược trong đấu tranh quân sự, tích cực hoạch định sách lược quân sự theo các hướng và lĩnh vực, đẩy nhanh xây dựng, cải cách và phát triển quân đội

(5) Vận dụng chiến thuật, chiến lược cơ động linh hoạt, phát huy hiệu quả tác chiến liên hợp, tập trung lực lượng chủ lực, vận dụng tổng hợp sách lược và phương pháp tác chiến

(6) Luôn giả định tới tình huống khó khăn phức tạp nhất để làm tốt các công việc chuẩn bị nhằm đảm bảo các biện pháp ứng phó tốt nhất

(7) Phát huy ưu thế chính trị của quân đội, kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội, coi trọng bồi dưỡng tinh thần chiến đấu, nghiêm khắc về tổ chức kỷ luật, tạo dựng quan hệ mật thiết giữa quân đội và chính quyền, quân-dân

(8) Phát huy tổng lực chiến tranh nhân dân, mở rộng nội dung và phương thức chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh huy động nhân lực, lấy huy động khoa học công nghệ tạo chuyển biến

Trang 40

(9) Mở rộng không gian hợp tác an ninh quân sự, làm sâu sắc quan hệ với các nước lớn, các nước láng giềng và các nước đang phát triển, xây dựng cấu trúc hợp tác an ninh giữa các khu vực

Như vậy, các nguyên tắc thực hiện chiến lược quốc phòng của Trung Quốc có thêm nhiều điểm mới về cả nội hàm và ngoại hàm Điều này cho thấy trước tình hình mới của khu vực và thế giới, nhất là với nội lực đất nước

có nhiều biến đổi, Trung Quốc ngày càng đặt ra nhiệm vụ nặng nề hơn, khó khăn hơn đối với các lực lượng vũ trang trong thực hiện chiến lược quốc phòng Việc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc không chỉ nhằm đảm bảo các vấn đề an ninh quốc gia cốt lõi, mà còn nhằm phục vụ các mục đích “bành trướng” lợi ích của Trung Quốc bên ngoài lãnh thổ

2.3 Công cụ sử dụng để thực hiện Chiến lƣợc Quốc phòng

Lực lượng vũ trang Trung Quốc (lục quân, không quân, hải quân, pháo binh 2, cảnh sát và dân binh) đóng vai trò quan trọng trong chiến lược bảo vệ

an ninh quốc gia Các lực lượng này luôn đòi hỏi phải nắm chắc phương châm chiến lược quân sự trong tình hình mới, bám sát thực hiện mục tiêu xây dựng quân đội mạnh, với định hướng an ninh cốt lõi quốc gia, xây dựng quân đội thông tin hóa, đánh thắng chiến tranh thông tin hóa, thực hiện cải cách quốc phòng và quân đội, xây dựng hệ thống lực lượng quân sự hiện đại mang đặc sắc Trung Quốc, nâng cao năng lực đối phó với các loại đe dọa an ninh

Một bộ phận cấu thành quan trọng của các Sách trắng quốc phòng Trung Quốc là xây dựng và phát triển lực lượng quân sự Đó là những yêu cầu chiến lược trong xây dựng lực lượng của các quân, binh chủng và lực lượng cảnh sát vũ trang Các lực lượng này được xem là các công cụ mà Trung Quốc sử dụng để thực hiện chiến lược quốc phòng qua các thời kỳ

Các lực lượng trọng yếu và chủ lực gồm lục quân, không quân, hải quân, pháo binh 2, cụ thể:

Ngày đăng: 09/12/2020, 16:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w