1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quan điểm của đảng cộng sản việt nam về phát triển giáo dục đai học ở việt nam hiện nay

99 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện cho giáo dục đại học phát triển, nhằm đào tạo ngu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*****

NGUYỄN VĂN SƠN

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Xuân Tuất

Hà Nội – 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Xuân Tuất Các số liệu, tài liệu trình bày trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả Luận văn

Nguyễn Văn Sơn

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH Chỉ số phát triển con người HDI

Hiệp Định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific

Strategic Economic Partnership Agreement ) TPP

Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast

Asian Nations)

ASEAN

Khoa học và Công nghệ KH – CN

Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization) WTO

Tổng thu nhập quốc dân GDP

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 13

1.1 Về lý luận 13

1.2 Về thực tiễn 18

1.3 Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản 25

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30

2.1 Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu 30

2.2 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 34

2.3 Phát triển hệ thống giáo dục đại học 41

2.4 Phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học 45

2.5 Xã hội hóa giáo dục đại học và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 49

Chương 3 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 54

3.1 Góp phần vào thành tựu chung về công tác lý luận trong thời kỳ đổi mới 54

3.2 Tạo bước phát triển mới đối với giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 56

3.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân 56

3.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 65

3.3 Một số vấn đề tồn tại của giáo dục đại học Việt Nam cần phải giải quyết gấp rút và có tính lâu dài 71

3.4 Giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020 72

3.4.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục đại học Việt Nam thời gian tới 72

3.4.2 Giải pháp phát triển giáo dục đại học 82

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH – CN) có những bước tiến kỳ diệu Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất lao động ngày càng cao Hội nhập kinh tế quốc tế

và toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, tuy nhiên toàn cầu hóa đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có những mặt tích cực, song vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh

Dưới tác động của cuộc cách mạng KH - CN, đặc biệt là công nghệ thông tin ở vào nửa sau thế kỷ XX đến nay, nền kinh tế thế giới đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, sâu rộng về cơ cấu ngành nghề, về vai trò của các yếu tố trong sản xuất sản xuất Sự thay đổi này không chỉ đơn giản là sự chuyển đổi về lượng mà là sự chuyển đổi về chất hay nói cách khác đó là sự chuyển dịch từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Sự dịch chuyển này kéo theo một loạt sự biến đổi sâu sắc về các mặt của đời sống xã hội

Sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu ngành nghề, đời sống KT - XH trở thành yêu cầu khách quan đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Trong lĩnh vực giáo dục đại học, nhờ có sự hỗ trợ về công nghệ thông tin, giáo dục đại học các nước đang có sự phát triển không ngừng, là nền tảng cho sự phát triển của tri thức nhân loại Bên cạnh đó giáo dục đại học phải tự đổi mới để thích nghi với sự biến đổi mau lẹ của xã hội, đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu hiện nay

Tháng 1- 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đánh dấu mốc quan trọng trong việc hội nhập nền kinh tế thế giới của Việt Nam Trở thành viên của WTO, ngoài những thuận lợi thì nền kinh tế Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức mới trong sân chơi quốc tế đặc biệt là việc cạnh tranh từ các công ty nước ngoài, các hàng rào bảo hộ của nhà nước bị rỡ bỏ Trong khi nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp nhiều vấn đề kinh tế - xã hội (KT – XH) khác còn chậm được giải quyết, gây nhiều bức xúc trong xã hội, nguồn nhân lực có

Trang 6

trình độ và tay nghề vừa thiếu lại vừa yếu đó thực sự là một thách thức đối với Việt Nam

Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế Đảng, Nhà nước Việt Nam đã dành sự quan tâm đặc biệt, tạo điều kiện cho giáo dục đại học phát triển, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước là một vấn đề thức thiết Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo tiền đề, động lực thúc đẩy và hoàn thành CNH, HĐH

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 - 1986) đã khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội nhận định đổi mới giáo dục là vấn đề cấp bách là động lực, là nền tảng cho phát KT - XH Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục đại học với sự phát triển KT - XH, cùng với sự định hình đường lối đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, đường lối phát triển giáo dục - đào tạo (GD – ĐT) cũng từng bước được Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung và phát triển hoàn thiện, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đại học

Thế kỷ XXI được dự đoán là thế kỷ của KH - CN, của nền kinh tế tri thức Do

đó, đổi mới và phát triển giáo dục đại hoc phải đi trước một bước thậm chí là nhiều bước so với những lĩnh vực và ngành nghề khác, để tạo tiền đề cho phát triển KT -

XH Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: phải thực sự coi GD – ĐT là quốc sách hàng đầu phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH hóa đất nước, trong đó chú ý phát huy vai trò tích cực của giáo dục đại học

Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm (2011 – 2020) một lần nữa khẳng định vai trò của lĩnh vực giáo dục đại học với sự phát triển của đất nước, đó là: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng KH - CN

Thực hiện đường lối phát triển GD - ĐT, trong đó phát triển giáo dục đại học

là một khâu then chốt trong đường lối đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, đến nay nền giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Chất lượng, hiệu quả GD - ĐT còn thấp so với yêu cầu phát triển KT -

XH của đất nước; Quản lí GD - ĐT còn nhiều yếu kém; Đội ngũ nhà giáo và cán bộ

Trang 7

quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; Đầu tư cho GD

- ĐT chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho GD - ĐT chưa phù hợp… Do vậy, đổi mới và phát triển giáo dục đại học đáp ứng sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước là một nhu cầu bức thiết

Chính với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quan điểm của

Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” làm

nội dung nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu

Ngày nay cuộc cách mạng KH - CN đang có những bước tiến nhảy vọt trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin Điều đó đang hướng nhân loại bước vào nền văn minh trí tuệ với hai đặc trưng cơ bản là "xã hội thông tin"

và "kinh tế tri thức" Với xã hội thông tin và kinh tế tri thức, những thế mạnh tương đối về nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên đã mất dần ý nghĩa và lợi thế đang dần thuộc về những quốc gia có lực lượng lao động được đào tạo ở trình độ cao đáp ứng được sự đòi hỏi của sự tiến bộ về KH - CN; sản phẩm được tạo ra ngày càng phản ánh sự kết tinh từ "chất xám", từ trí tuệ chứ không phải chủ yếu từ cơ bắp

Những năm gần đây, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu với thế giới, bên cạnh những thuận lợi thì những thách thức luôn song hành Thực hiện đường lối đổi mới đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đổi mới đất nước trên mọi phương diện Trong đó, đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là một khâu quan trọng then chốt GD - ĐT được xem là quốc sách hàng đầu, được ưu tiên, tạo điều kiện phát triển nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Do tầm quan trọng của nó, giáo dục đại học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã

có rất nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách báo, tạp chí với mong muốn chỉ ra những phương hướng và giải pháp nhằm phát triển giáo dục đại học Việt Nam

Liên quan đến vấn đề giáo dục nói chung có thể kể đến các công trình như:

Đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (Ban

Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương

Đông (2012)); Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Trang 8

Nội (Vũ Đình Cự (chủ biên) (1990)); Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ

XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội (Trần Khánh Đức (2010)); Bàn về triết lý giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội (Phạm Minh Hạc – Phan Văn Kha (chủ biên)

(2013)); Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội ( Phạm Minh Hạc (1996)); Nguyễn Thế Long (2006): Đổi mới tư duy, phát triển giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị

trường, Nxb Lao động, Hà Nội…cụ thể như sau:

- Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách:“GD - ĐT trong thời kỳ đổi mới: Chủ trương, thực hiện, đánh giá”, do Ban Khoa giáo Trung ương tổ

chức biên soạn Cuốn sách gồm những văn kiện của Đảng và Nhà nước về GD - ĐT, một

số bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã tập trung đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm của ngành giáo dục trong những năm gần đây, đồng thời chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện trong thời gian tới

- Giáo dục Việt Nam 1945 – 2005 (2004), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, cuốn

sách đã nêu một cách tổng quan về phát triển giáo dục ở Việt Nam, những chặng đường phát triển từ 1945 – 1986 và giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới

- Năm 2007, Nhà xuất bản giáo dục cho ra mắt cuốn “Giáo dục Việt Nam – đổi mới và phát triển hiện đại hóa” Cuốn sách là cái nhìn tổng quát về phương hướng phát

triển của nền giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến 2006 và tầm nhìn đến năm 2020 Phát triển giáo dục Việt Nam là đòi hỏi bức thiết phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời đã nêu những chính sách, chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay và các giải pháp đổi mới hệ thống giáo dục ở Việt Nam Mặt khác, qua đây tác giả cũng nhấn mạnh vai trò to lớn của giáo dục - là nhân tố then chốt của sự phát triển của một quốc gia và Việt Nam cũng không phải một ngoại lệ

- Phạm Tất Dong – Đào Hoàng Nam (2011): Phát triển giáo dục hướng tới một

xã hội học tập, Nxb Dân trí, cuốn sách đưa ra bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam

những năm 80 của thế kỷ XX, đưa ra quan điểm xác định giáo dục là động lực là mục tiêu cho sự phát triển, đổi mới tư duy về giáo dục, xây dựng xã hội học tập, những thách thức mà nền giáo dục Việt Nam gặp phải trong sự phát triển Đồng thời cuốn sách đưa ra những định hướng phát triển giáo dục Việt Nam

Trang 9

- Năm 2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã xuất bản cuốn sách “Đổi mới căn bản,

toàn diện GD - ĐT Việt Nam”, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia, cuốn sách gồm 3 phần (Phần 1: Đổi mới căn bản, toàn diện, GD - ĐT; Phần 2: Đổi mới và phát triển dạy nghề ở Việt Nam; Phần 3: Đổi mới và phát triển các trường ngoài công lập ở Việt Nam) tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, bàn về những vấn đề căn cốt nhất tại sao phải đổi mới giáo dục và đổi mới như thế nào, những vấn đề gì là trọng tâm

- Nguyễn Văn Lượng: “Đổi mới quản lý – khâu đột phá trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 12 năm 2013 Bài viết đã đưa ra thực

trạng quản lý giáo dục hiện nay những thành tựu, những hạn chế và khẳng định đổi mới quản lý là khâu then chốt cả đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam…

- Trần Ngọc Hiên: “Chất lượng GD - ĐT – Nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, Số 854 tháng 12 năm 2013 Bài viết đã

khẳng định muốn giải quyết vấn đề chất lượng phát triển, như thực tiễn đặt ra chỉ có thể bắt đầu từ chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực Do đó, cần nhận thức được vị trí, vai trò của GD - ĐT trong giai đoạn hiện nay và đưa ra mấy vấn đề quyết định trong chiến lược cải cách giáo dục

- Trần Thị Kiều Nga:“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 3 năm 2014 Bài viết là đưa ra những quan điểm

cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực giai đoạn hiên nay, khẳng định quan điểm: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần tập trung vào đổi mới căn bản toàn diện GD - ĐT và đưa ra những quan điểm về đổi mới giáo GD - ĐT

- Bùi Đình Phong: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD – ĐT trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Đặc sản Hồ Chí Minh (Viện Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh), Số 4 năm 2013 Bài viết đã chỉ ra sự cần thiết của việc đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT, những mục tiêu, phương châm, phương pháp giáo dục trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Mai:“Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp tác GD - ĐT với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010”, luận án tiến sĩ chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm

2013 Luận án đã nêu lên những quan điểm cơ bản, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt

Trang 10

Nam về hợp tác giáo dục với các nước ASEAN từ 1995 đến 2010 và đưa ra một số kinh

nghiệm sau khi đánh giá kế quả thực hiện

Các công trình trên đã đưa ra một cách khái quát các vấn đề về giáo dục Việt Nam như những chặng đường phát triển, cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng chiến lược phát triển GD - ĐT ở Việt Nam hiện nay, với những định hướng, mục tiêu phát triển của giáo dục Nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế trong GD -

ĐT Chỉ ra vai trò của GD - ĐT đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, sự tác động của kinh tế thị trường, vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục…, đào tạo nguồn nhân lực nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước Một số công trình liên quan đến giáo dục đại học như:

- “Giáo dục đại học – quan điểm và giải pháp” của Lê Đức Ngọc, Nhà xuất

bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004 Cuốn sách này bao gồm các bài tham luận tuyển chọn từ các hội thảo quốc gia và quốc tế của tác giả, trình bày các quan điểm và giải pháp về giáo dục đại học cho giai đoạn 1995 – 2010 Các quan điểm và giải pháp về giáo dục đại học trình bày trong cuốn sách này được tác giả đúc rút, từ các học giả trong nước, ngoài nước và kinh nghiệm của tác giả trong quá trình công tác

- Năm 2004, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản cuốn sách: Giáo dục đại học Việt Nam, do Đoàn Duy Lục, Cù Đức Hoà, Nguyễn Đức Chỉnh đồng chủ biên

Các tác giả đã khái lược lịch sử phát triển của giáo dục học nước ta những thập niên đầu thế kỉ XXI Trình bày các chiến lược và chính sách phát triển giáo dục đai học ở Việt Nam cũng như các mục tiêu, nhiệm vụ; thực trạng nền giáo dục việt Nam về đội ngũ giảng viên; quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo

- Vũ Ngọc Hải (2004): Cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam phục vụ sự

nghiệp CNH, HĐH, từng bước xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Phát triển giáo dục, Số 2 – 2004 Tác giả đã chỉ

ra những yêu cầu bức thiết phải đổi mới giáo dục đại học, nhằm đào tạo nhân lực nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Trần Quốc Toản (2005): Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới

giáo dục đại học và hội nhập quốc tế”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách là tập hợp

những bài phát biểu, báo cáo nghiên cứu khoa học của các tác giả cung cấp các

Trang 11

thông tin đa dạng - phong phú, những kinh nghiệm, ý tưởng, đề xuất có tính chất tư vấn cho việc đổi mới và phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam

- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Một số vấn đề về Giáo dục đại học, Nxb Đại

học quốc gia, Hà Nội Tác giả đã chỉ ra những vấn đề chung về giáo dục đại học: vài nét về lịch sử giáo dục đại học thế giới và Việt Nam Hệ thống đảm bảo chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam Chương trình và quy trình đào tạo đại học ; Những vấn đề về tâm lý, sư phạm đại học

- Nguyễn Thị Hồng Hạnh:“Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục đại học”,

Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 6 năm 2013 Bài viết đã nêu ra các quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục, giáo dục đại học và phương châm của nền giáo dục mới đó là: học đi đôi với hành, thực hiện dân chủ trong giáo dục và lấy tự học làm cốt, tự học suốt đời

- Nguyễn Bá Cần: “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị, Trường Đại học

Kinh tế quốc dân, năm 2009, đã nêu ra những vấn đề cơ bản của chính sách phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá chính sách về giáo dục đại học trong những năm qua và đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học trong những năm tiếp theo

- Chu Trí Thắng: “Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo

dục, Trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011, đề cập tới các chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ khi Chính phủ Việt Nam gửi người đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa đến nay, trọng tâm là thời gian gần đây Luận án đã phân tích, đánh giá các chính sách về hợp tác quốc tế về GD - ĐT sau đại học Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách về phát triển nguồn nhân lực sau đại học phục vụ mục tiêu hội nhập của đất nước

Nhìn chung các công trình nghiên cứu công bố đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc giáo dục đại học Việt Nam hiện nay như: thực trạng chất lượng đào tạo giáo dục, cơ chế quản lý, quy mô và cơ cấu đào tạo Đồng thời chỉ ra vai trò quan trọng của giáo dục đại học đối với sự phát triển đất nước, từ đó đưa ra

Trang 12

những quan điểm và giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới

Một số công trình nước ngoài:

Ngày nay, đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một xu thế của nhân loại, đặc biệt là các nước phát triển Do đó, trên thế giới có rất nhiều công trình nhiên cứu về giáo dục về tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia Ngày nay, giáo dục được xem là chìa khóa cho sự phát triển, chìa khóa của tương lai

- WB (1994), Higher Education: The lessons of experience, A WB

publication, Washington, D.C Từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỳ

XX, Ngân hàng thế giới đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục bậc cao và những kinh nghiệm phát triển giáo dục bậc cao ở các nước trên thế giới, đó là là xác định lại vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc thúc đẩy giáo dục bậc cao phát triển đồng thời mở rộng quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích quá trình xã hội hóa GD - ĐT, tăng cường hợp tác quốc tể về giáo dục đào tạo, để các nước đang phát triển và chậm phát triển, tiếp cận được với nền giáo dục tiên tiến, hiện đại trên thế giới, trong

đó có Việt Nam

- Globalization and International Education, Robin Shields, (2013)

Bloomsbury Publishing Plc Tác giả đã chỉ ra một cách khái quát giáo dục về một nền giáo dục và sự tác động của toàn cầu hóa đối với GD - ĐT, chỉ ra những

sự biến đổi trong quan niệm về vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia dưới tác động của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa một mặt tạo ra những thách thức không nhỏ đối với các nước đang phát triển thì nó lại tạo điều kiện cho nền giáo dục của các nước này tiếp cận với nền giáo dục hiện đại, giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với các nền giáo dục tiên tiến

Tóm lại, đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dục đại học, tuy nhiên, còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu sâu về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học như một hệ thống từ quan điểm đến đánh giá quá trình quá trình triển khai thực hiện trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, Luận văn tập trung giải quyết vấn đề trên và đây

Trang 13

được xem là điểm mới của đề tài này Những kết quả của các công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện

đề tài Luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Khái quát quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học và rút ra giá trị của quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ những nhân tố tác động đến đổi mới, phát triển giáo dục đại học ở Việt

Nam hiện nay;

- Các quan điểm cơ bản của Đảng về phát triển giáo dục đại học từ 1996 đến nay;

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, những vấn đề đặt ra;

- Dự báo những yếu tố tác động;

- Đưa ra phương hướng, giải pháp phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến

năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: Khái quát Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về phát triển giáo dục đại học hiện nay

- Về thời gian: Từ năm 1996 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Quan điểm của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác – Lê nin, của

Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về GD - ĐT và giáo dục đại học

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp lôgic và

lịch sử cụ thể; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê… để làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt về phát triển giáo dục đại học từ năm 1996 đến nay

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

Qua nghiên cứu “quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” Luận văn cho thấy bước phát triển trong tư duy,

Trang 14

nhận thức của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và chấn hưng đất nước

Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy có liên quan đến GD - ĐT và giáo dục đại học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, 12 tiết

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG

VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 Về lý luận

Cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền giáo dục dân tộc Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám - Thăng Long, do vua Lý Nhân Tông cho thành lập vào năm 1076 Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con em dòng dõi vua quan, hoàng thân quốc thích, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ở Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy Sau này, triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế Ngày nay, Quốc Tử Giám - Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Sau khi mở mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt động giáo dục ở địa phương Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để lo việc giáo dục “Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ Các phủ, lộ đều có trường công” [21, tr 55] Đồng thời việc thi cử tuyển chọn các quan lại được tiến hành khá chặt chẽ xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏi tham gia bộ máy điều hành quốc gia Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuy hết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầng lớp bình dân Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, triều Trần cũng

đã tính đến điều kiện học tập không đồng đều giữa các địa phương từ đó quy định một

Trang 15

kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng nguyên cho khu vực khó khăn

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người chủ vận mệnh của mình Nước ta từ nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, tự do Bước vào xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương

“mở một chiến dịch chống mù chữ, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai (chống nạn đói) trong nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ Vì người cho rằng dốt cũng là kẻ địch Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm Địch dốt nát cũng như địch tấn công ta về mặt tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thực hiện chiến lược ngu dân Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng”[100, tr 52] Hồ Chí Minh đã khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dốt đồng nghĩa với kém, kém là đồng nghĩa với yếu Ngày 10/10/1945 chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 45 thành lập Đại học Văn Khoa Hà Nội, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm đào tạo và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc

Ph Ăngghen đã từng khẳng định: “ chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phụ trợ thì không đủ Cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng phương tiện đó nữa”[88, tr 474] Năng lực ấy, trong điều kiện hiện nay chính là trí tuệ, bản lĩnh, năng lực sáng tạo của con người Nó không thể là cái

gì khác ngoài sản phẩm của một quá trình giáo dục và tự giáo dục Do đó, đầu tư cho giáo dục “phải đi trước một bước, thậm chí nhiều bước Điều này càng đúng hơn nếu muốn CNH, HĐH đất nước”[24, tr 5]

CNH, HĐH là quá trình tất yếu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định sự thành bại của quá trình CNH, HĐH hóa đất nước Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, bước vào xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin đã chỉ rõ, ''không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội'' và Người đã yêu cầu mọi người phải luôn luôn ''học, học nữa, học mãi"

Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức đang từng bước hình thành, phát triển, trở

thành một xu thế tất yếu chi phối lịch sử phát triển nhân loại Trong cuốn Thăng trầm

quyền lực, Avin Toffler đã khẳng định: “Con đường quyền lực và phát triển kinh tế

Trang 16

của thế kỷ XXI không còn là con đường khai phá phát từ nguyên liệu và gân cốt của con người Mà như chúng ta đã thấy là phải vận dụng con đường Tâm Trí mà thôi” [113, tr 262] Nhận thức sâu sắc về sức mạnh của kinh tế tri thức Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế mạng, một nền kinh tế có đặc trưng là thông tin, tri thức và kỹ năng có thể chuyển đi bất cứ đâu, bất chấp biên giới quốc gia Những phương thức quản lý mới, các hình thức kinh doanh mới, những sản phẩm mới trên thị trường hoàn toàn không có trong nền kinh tế công nghiệp…đã bắt đầu xuất hiện” [41, tr 8] Do đó, phải có nhận thức mới về con đường phát triển quốc gia, việc cấp bách hiện nay là phải phát triển nhanh giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự CNH, HĐH đất nước Nền giáo dục ấy phải đáp ứng được những đòi hỏi gay gắt của xã hội hay nói một cách khác là phải phù hợp với thực tiễn – đào tạo gắn liền với nhu cầu xã hội và bắt kịp bước tiến của nhân loại Đặc trưng rõ rệt nhất của nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng KH - CN so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là các ngành đã đưa ra các yếu tố là thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy những yếu tố cạnh tranh truyền thống như tài nguyên, vốn… xuống hàng thứ yếu, con người trở thành trung tâm của sự phát triển

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo, nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược dài hơi với những mục tiêu dài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại, tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc Việt Đảng Cộng sản Việt Nam xác định để đạt được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đổi mới không chỉ bằng sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải có trình độ tri thức khoa học, huy động mọi tài năng sáng tạo và khẳng định: GD – ĐT là quốc sách hàng đầu Nhân thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước đã ghi nhận một cách cụ thể,

rõ ràng lần lượt qua các bản Hiến pháp

Trong hai bản hiến pháp đầu tiên tuy giáo dục chưa được quy định trong một chế định riêng biệt nhưng đã được đề cập đến trong phần quyền và nghĩa vụ của người công dân

Trang 17

Hiến pháp 1946 vấn đề GD- ĐT đã được đề cập trong điều 15: Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp Trường tư được

song nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật như sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945 đặt ra một bình dân học vụ, sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp bình dân buổi tối, sắc lệnh số 20 ngày 08/9/1945 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền, sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới

Điều 33 Hiến pháp 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền học tập Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường đại học và cơ quan văn hóa phát triển hình thức giáo dục bổ túc văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó

trong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn, thể hiện trong điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục đại học

Đến Hiến pháp năm 1992, những quy định cơ bản về giáo dục đã thể hiện rõ nét tính kế thừa Hiến pháp năm 1980 đồng thời có bước phát triển mới Tuy chỉ thể hiện trong hai điều 35 và 36 nhưng những nội dung trong đó là tương đối đầy đủ, hoàn thiện và sát với yêu cầu thực tế, đó là: Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận “ GD – ĐT là quốc sách hàng đầu”

Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều 61, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu

Trang 18

tư khác cho phát triển giáo dục đại học Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Cùng với đó, từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phát triển Nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Điều đó, được cụ thể hóa trong đường lối chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội, được xem như là nền tảng lý luận sâu sắc về đổi mới phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cá các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có GD - ĐT nói chung, giáo dục đại học nói riêng

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 01/1993) về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD - ĐT” đã khẳng định quan điểm: “GD -

ĐT cùng với KH - CN được xem là quốc sách hàng đầu Coi đầu tư cho GD - ĐT là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển”[41, tr 159]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) Đảng Cộng sản Việt Nam

“chủ trương phát triển mạnh mẽ sự nghiệp GD - ĐT, cùng với khoa học là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả quy mô, chất lượng và hiệu quả GD - ĐT, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH”[20, tr 596]

Vì vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu là khâu đột phá của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay Trong chiến lược phát KT - XH 2001- 2010 và chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn

2011 – 2020 đã xác định rõ vai trò của phát triển nguồn nhân lực và khẳng định:

"Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược"(Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020) Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy CNH, HĐH, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và bền vững” và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển trong quá trình CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, để có nguồn nhân lực chất lượng cao cần có một hệ thống giáo dục phát triển

Trang 19

Đặc biệt là giáo dục đại học là khâu thiết yếu quan trọng có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao

Giáo dục đại học có vị trí đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân là nhân tố nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để thỏa mãn nhu cầu phát triển xã hội, nên hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh

tế phát triển luôn quan tâm đến giáo dục đại học, tạo những điều kiện thuận lợi để giáo dục đại học có điều kiện phát triển tốt nhất Do đó, nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp giáo dục đại học luôn luôn phải thay đổi để cung cấp, cập nhật tri thức mới tiến bộ của nhân loại cho người học, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của xã hội – giáo dục phải gắn liền với nhu cầu của xã hội, giáo dục phải đi sâu, đi sát với thực tế, nắm bắt những đòi hỏi của thực tế, đồng thời có dự báo trong tương lai Đó là một nền giáo dục linh hoạt, một nền giáo dục mở, đảm bảo được yêu cầu trên giáo dục mới giải quyết được bài toán phát triển ở mỗi quốc gia

Tuy nhiên, mỗi nước cần có những bước đi đúng đắn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của mình, đảm bảo rằng quốc gia đó không bị “tụt hậu” trong thế giới đang biến đổi không ngừng Từ những kinh nghiệm rút ra từ các nước đi trước, căn cứ vào xu thế phát triển của nhân loại và thực tiễn Việt Nam, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển, đặc biệt là giáo dục đại học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục trong tình hình mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

1.2 Về thực tiễn

Thế kỷ XXI được đánh dấu với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Sự nhảy vọt của những thành tựu KH - CN đã đưa loài người tiến những bước dài hơn trong tiến trình phát triển lịch sử của mình KH - CN phát triển như vũ bão đã và đang làm cho hàm lượng tri thức trong mỗi sản phẩm chiếm tỷ lệ ngày càng cao, giá trị sản phẩm chủ yếu dựa trên giá trị tri thức tạo ra nó Thực tiễn đó đòi hỏi các quốc gia cần phải đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu tiến tiến của khoa học công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động

Hiện nay, loài người đã bước vào nền văn minh tri thức, kỷ nguyên thông tin Tính trung bình cứ 7 năm tri thức loài người tăng gấp đôi Như vậy, một phép tính đơn giản là sau 4 năm đại học, kiến thức của người học đã lạc hậu tới 50% Sự bùng

Trang 20

nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu của giáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức kỹ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực Điểm chốt này cũng dẫn đến từng người chúng ta không chỉ học khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có cơ hội học tập suốt đời tạo dựng một

xã hội học tập

Những tiến bộ của KH - CN và cuộc cách mạng thông tin đang làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học một cách sâu sắc, thúc đẩy nhanh tốc độ toàn cầu hóa Việc bùng nổ KH - CN đã làm cho công nghệ viễn thông, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ Nano…phát triển với tốc độ cao Điều đó đã làm cho lượng thông tin tăng với cấp số nhân, nhu cầu thông tin của mỗi cá nhân, tổ chức tăng lên với cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng theo cấp lũy thừa Không chỉ vậy, sự phát triển của KH - CN còn làm phong phú các hình thức truyền tin: sách, báo, phát thanh, truyền hình, internet,… Do đó, tri thức nhân loại không ngừng được mở rộng

Minh chứng cho những tiến bộ vượt bậc của KH - CN là sự thành công trong việc ứng năng lượng nguyên tử vào trong sản xuất, làm cho năng suất lao động xã hội được nâng lên rõ rệt Việc xây dựng các nhà máy điện chạy bằng năng lượng hạt nhân, chế tạo những tàu thủy phá băng dùng năng lượng nguyên tử hay việc ứng dụng công nghệ mới vào chữa bệnh, phát triển cây trồng Những thành tựu của công nghệ sinh học đã tạo một bước ngoặt trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, dược học…đã góp phần không nhỏ vào việc đưa nền kinh tế công nghiệp sang giai đoạn mới giai đoạn hậu công nghiệp, giai đoạn văn minh thông tin giai đoạn của nền kinh tế tri thức Ai giữ và nắm được nền kinh tế tri thức sẽ là người thắng cuộc trong sân chơi quốc tế Kinh tế tri thức đã và đang trở thành dòng thác lớn không gì ngăn nổi, là xu hướng tất yếu của thời đại, bất cứ cá nhân, tổ chức, quốc gia nào có đầy đủ tri thức, thông tin sẽ có cơ hội làm giàu và chiến thắng Vì vậy, thông tin, tri thức là cơ sở của quyền lực mới về chính trị và kinh tế thế giới đương đại; là kim chỉ nam cho mỗi quốc gia, dân tộc, cá nhân trên con đường khẳng định mình trong tương lại

Nhìn lại lịch sử nhân loại thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là nước khởi đầu cuộc cách mạng KH - CN hiện đại và đạt được nhiều thành tựu to lớn, điều đó đã góp phần không nhỏ tạo động lực cho nền kinh tế phát triển và kết quả Mỹ

Trang 21

vươn lên trở thành siêu cường số một thế giới về kinh tế, quân sự Mỹ là nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật liệu mới (pôlime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, năng lượng nhiệt hạch), chinh phục vũ trụ, và đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp… Các nước tư bản chủ nghĩa trước hết là Mỹ, đã rất năng động trong việc ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN để phát triển KT - XH Sự tận dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại cùng với tính năng động của nhiều nước tư bản chủ nghĩa kết quả là những nước này đã đạt được những bước đột phá Lý do là họ đã giải quyết thấu đáo bài toán giữa tăng trưởng kinh tế với nâng cao dân trí Một ví dụ khác là, năm 1957, Liên Xô đã làm cả thế giới kinh ngạc khi phóng thành công vệ tinh nhân tạo, đã mở ra một kỷ nguyên công nghệ mới cho loài người Tiếp sau đó, Iu.Gagarin đã bay vòng quanh trái đất trên con tàu

vũ trụ mà con người sáng tạo ra, rồi hai phi hành gia người Mỹ đặt chân lên mặt Trăng Những sự kiện vĩ đại ấy nói lên rằng, con người đã sáng tạo ra được công nghệ mới phục vụ cuộc sống của loài người, con người có thể chinh phục được thế giới và ước mơ đó có thể thực hiện được

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan Đó là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh của các quốc gia trên thế giới để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc Cạnh tranh kinh tế ngày càng diễn ra quyết liệt, vì vậy, các quốc gia cần thường xuyên đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động Điều đó đã và đang tạo ra những áp lực mới, gay gắt hơn đối với GD - ĐT, nhất là giáo dục đại học Giáo dục đại học với tư cách là bậc học cao nhất, nơi tiếp thu ở trình độ cao nhất các thành tựu

KH - CN được đặc biệt đề cao, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia Phát triển giáo dục được xem là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển KT - XH ở mỗi quốc gia, các quốc gia đều ưu tiên đầu tư cho giáo dục, xem đầu

tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển, là chìa khóa để đi tới thành công

Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào đặc biệt là các nước đang phát triển, nếu biết đề cao yếu tố tri thức và thông tin, bỏ qua những bước phát triển tuần tự, mạnh dạn chuyển sang bước phát triển mới, tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ sản xuất mới, dựa vào quần chúng nhân dân để tiến hành công nghiệp hóa thì có

Trang 22

thể rút ngắn thời gian hóa hiện đại hóa của mình Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia đã

“cất cánh” do ứng dụng thành công, có hiệu quả những thành tựu của cuộc cách mạng

KH - CN như Nhật Bản, Hàn Quốc Đó là minh chứng rõ nét nhất cho việc cần thiết phải thay đổi tư duy, cách làm cũ mà thay vào đó là mạnh dạn ứng dụng cái mới, phương thức mới để phát triển đất nước Để làm được điều đó, thiết nghĩ không còn con đường nào khác ngoài con đường phát triển GD - ĐT, trọng tâm là giáo dục đại học

Ngày nay, đổi mới giáo dục đại học đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, đó là một xu thế tất yếu của thời đại Hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển đều tiến hành cải cách hệ thống giáo dục đại học Mặt khác, một xu thế

là hiện nay các trường đại học trên thế giới đang tiến hành quá trình tự biến đổi,

để trở thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ và xuất khẩu tri thức chứ không đơn thuần chỉ là một trung tâm đào tạo như truyền thống

“GD - ĐT đang trở thành yếu tố quyết định là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia Nhật Bản là một trong những nước đi đầu trong hoạt động giáo dục đào tạo Là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển Nhật Bản chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhận thức được điều đó, Chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng đến GD - ĐT, coi đây là quốc sách hàng đầu” [75, tr 478] Xingapo được biết tới như là một con rồng của châu

Á Cũng giống như nhiều nước khác trên thế giới, Xingapo đang chuyên dần sang chiến lược dựa vào tri thức để phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại hóa tri thức để tạo ra giá trị gia tăng cao Là quốc gia có diện tích nhỏ, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, tuy nhiên, lại được thừa hưởng và phát triển từ hệ thống giáo dục lâu đời của Anh “Xingapo đặt nền giáo dục là yếu tố chủ chốt trong sự lớn mạnh và phát triển xã hội”[75, tr 505]

Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn, với vị thế và diện mạo mới Kinh tế có bước phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp

lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước, “tăng trưởng GDP năm

2011 đạt 6,24%, năm 2012: 5,25%, năm 2013: 5,42%, năm 2014: 5,98% và kế hoạch năm 2015 là 6,5% Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình

Trang 23

quân 5 năm đạt 5,825/năm Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.200

USD”[8, tr 2]

Mới đây ngày 29 tháng 5 năm 2015, tại Kazakhstan, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Thủ tướng các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan đã ký chính thức Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu…Bên cạnh những

cơ hội lớn, là bàn đạp để thúc đẩy phát triển thương mại và đầu tư vào Việt Nam thì cũng còn nhiều khó khăn nhất định mà Việt Nam phải đối mặt trong sân chơi quốc tế khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới là sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là từ các quốc gia

có trình độ phát triển cao

Đặc biệt năm 2015 khi Hiệp định thương mại tự do khu vực ASEAN được hoàn tất thì áp lực cạnh tranh lại càng lớn Để giải quyết bài toán phát triển đất nước, không còn con đường nào khác là phải đầu tư cho phát triển giáo dục bậc cao, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đủ sức để cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới

Những năm tới là giai đoạn kinh tế Việt Nam phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy thoái, việc cấu trúc lại nền kinh tế để phát triển nhanh, bền vững là rất quan trọng Sau đổi mới năm 1986, diện mạo Việt Nam có nhiều thay đổi, thế và lực vững mạnh hơn nhiều Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, đã và đang tạo

ra những tiền đề quan trọng thúc đẩy hội nhập quốc tế, đẩy nhanh CNH, HĐH và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân Năm năm tới là thời kỳ Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự

do, hội nhập quốc tế ở mức sâu rộng hơn giai đoạn trước, đòi hỏi, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực rất cao để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được là chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại, bẫy nghèo đói vẫn luôn rình rập Các lĩnh vực văn hóa xã hội, có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về GD - ĐT và y tế…Trong khi đó, chuyển dịch

Trang 24

cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong Tổng thu nhập quốc dân (GDP) còn thấp, tỷ trọng nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao Quản lý nhà nước của nhà nước đối với nhiều lĩnh vực KT - XH còn chưa hiệu quả, trong đó có quản lý về giáo dục đại học

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) Giáo dục đại học đã trở thành một ngành sản xuất đặc biệt – sản xuất nguồn nhân lực và cũng tuân theo quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường tạo nên một môi trường cạnh tranh đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực có số lượng, chất lượng và hiệu quả cao

Tri thức ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu, trực tiếp tham gia vào tất cả các khâu trong mọi hoạt động đời sống xã hội Cuộc cách mạng công nghệ ngày càng phát triển, những thế mạnh tương đối về nguồn lao động đơn giản hoặc tay nghề thấp sẽ dần mất đi ý nghĩa của nó và lợi thế sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực trí tuệ cao, có kỹ năng vững vàng, có khả năng sáng tạo theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại Nên giáo dục đại học cần phải gắn bó chặt chẽ hơn nữa với thực tế sản xuất và đời sống Thực hiện phương châm học đi đối với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội Vì đầu tư vào giáo dục là đầu tư thông minh nhất, đem lại hiệu quả cao nhất

Đánh giá đúng vị trí, vai trò của GD - ĐT trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu trong quá trình đổi mới và hội nhập thế giới Do đó, tiến hành sự nghiệp đổi mới từ năm

1986 đến nay, Việt Nam luôn có sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Toàn cầu hóa là xu thế phát triển khách quan đã và đang lôi cuốn nhiều nước tham gia vào sân quốc tế này, mở

ra những vận hội và thách thức mới cho các quốc gia dân tộc Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội nhập, hiện đại hóa, vươn lên đạt chuẩn mực so với các nước trong khu vực và trên

Trang 25

thế giới, chỉ có GD - ĐT mới biến gánh nặng dân số của Việt Nam trở thành lợi thế so sánh của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Vì trong nền kinh tế mới nguồn nhân lực chất lượng cao là cơ sở căn bản, nguồn lực quyết định sự phát triển, đồng thời rút ngắn khoảng cách với các nước, khai thác được những tiềm năng của toàn cầu hóa mang lại

Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam, đó là giải quyết bài toán phát triển đất nước đi đôi với giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, hội nhập quốc tế cũng nảy sinh những tiêu cực mới do chủ nghĩa thực dụng, làm xói mòn truyền thống đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Hơn lúc nào hết, cần có những giải pháp phát huy truyền thống quý báu của cha ông, giữ gìn bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Trong đó nhấn mạnh vai trò của ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học là chìa khóa để giải quyết vấn đề - giáo dục đại học có vị trí, vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Sau nhiều năm phát triển, giáo dục đại học Việt Nam đã có bước tiến nhất định và đạt được những thành tựu bước đầu Quy mô giáo dục đại học tăng nhanh, các loại hình đào tạo được phát triển, bao gồm các đại học quốc gia, đại học khu vực đa ngành, đa lĩnh vực, các trường đại học và cao đẳng dân lập Cơ cấu đào tạo đại học với ba cấp chính là

cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ được xác lập, phù hợp với sự phát triển KT - XH nước ta và hội nhập khu vực, thế giới Mục tiêu chương trình đào tạo đại học được cải tiến dần dần

Cơ sở vật chất các trường đại học bước đầu được tăng cường

Mặc dù đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhưng giáo dục đại học Việt Nam vẫn đang tồn tại nhiều nhiều yếu kém, bất cập Điểm nổi bật là chất lượng đào tạo còn rất yếu, việc đào tạo đại học còn ít gắn với sản xuất và đời sống, với nghiên cứu khoa học Phương pháp dạy học còn lạc hậu, chưa phát huy tính chủ động, tư duy sáng tạo của người học Giáo dục trí lực chưa kết hợp nhuần nhuyễn với trau dồi đạo đức Đội ngũ nhà giáo đại học vừa thiếu lại vừa yếu Hệ thống thi cử còn nặng nề, kém khoa học, đặc biệt là thi tuyển đại học Những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, trong quản lý văn bằng còn phổ biến gây bức xúc trong xã hội, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn những nếp nghĩ, cách làm giống vài chục năm trước đây, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phát triển chung của toàn ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Những yếu

Trang 26

kém trên đã kìm hãm sự phát triển của giáo dục đại học ở Việt Nam Như vậy, đổi mới giáo dục đại học là tất yếu không chỉ phù hợp với kỳ vọng của xã hội đối với giáo dục đại học mà còn phù hợp với bối cảnh của thời đại Điều đó dẫn tới việc tất yếu phải đổi mới để phát triển giáo dục đại học

Phát triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục đại học nói riêng là nhiệm vụ quan trọng, then chốt của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Điều này được Đảng khẳng định trong các văn kiện, các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương, đó là: GD - ĐT tạo cùng với KH - CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển bền vững “Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, đất nước nào không có chính sách giáo dục đúng đắn, đất nước nào bất lực trong việc phát triển kiến thức và tay nghề cho nhân dân mình và không sử dụng cái đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốc dân, thì sẽ không phát triển được bất kỳ một thứ gì Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều

có sự thay đổi trong chiến lược phát triển của mình theo hướng chú trọng nhiều hơn đến

GD - ĐT Nhiều quốc gia coi GD – ĐT là nguồn lực hàng đầu cho phát triển kinh tế”[44,

tr 156] Giáo dục đại học là chìa khóa cho sự thành công của các quốc gia trên thế giới

1.3 Phát triển giáo dục đại học - những khái niệm cơ bản

* Giáo dục:

Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng của mỗi quốc gia, là hình thức học tập theo

đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học “Giáo dục như là hoạt động gây ảnh hưởng, đào tạo, uốn nắn – tức là quá trình hình thành dạng thức hoạt động xã hội được thừa nhận”[25, tr 27]

Có nhiều quan điểm về giáo dục như: “Giáo dục là một ngành sản xuất đặc biệt – sản xuất nguồn nhân lực và tri thức”[93, tr 48] Nó đặc biệt là vì: sản phẩm của giáo dục không cố định luôn biến đổi và phát triển tùy theo động cơ và môi trường phát triển; hiệu quả của giáo dục được chia đều cho các nhà đầu tư (Nhà nước, doanh nghiệp, phụ huynh ), cho người thực hiện (giảng viên, nhà quản lý ) và cho người

Trang 27

học Đầu tư cho giáo dục mang lại hiệu quả cao, vì lẽ đó, giáo dục trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia Ở Việt Nam giáo dục được coi quốc sách hàng đầu

“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”[128, tr 379]

Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người (Dẫn theo báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27/7/2009) Như vậy, có thể thấy: Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, mang tính lịch sử và xã hội, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội những tri thức của các thế hệ loài người, để con người hiểu hơn về cội nguồn dân tộc và những chặng đường phát triển của xã hội loài người Đồng thời kiến tạo và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn Ở đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có cơ hội phát triển

toàn diện

Tuy nhiên, dù quan niệm giáo dục như thế nào thì: Giáo dục phải trang bị tri thức,

kỹ năng cần thiết cho cuộc sống, đem lại cho con người những hiểu biết cần thiết về xã hội cùng những tri thức của nhân loại Một nền giáo dục hiệu quả sẽ giúp quốc gia có nhiều công dân có khả năng, kiến thức, trình độ đồng thời có cả ý thức trách nhiệm và ý thức dân tộc để áp dụng sở học vào việc xây dựng, đóng góp, phục vụ tổ quốc, phục vụ đồng bào của mình Vì lẽ đó, giáo dục phải giúp phát triển con người toàn diện, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nền giáo dục ấy phải đào tạo nên những con người “vừa hồng vừa chuyên” để phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân

* Giáo dục đại học:

Gần đây, cụm từ giáo dục đại học đã trở thành một khái niệm được nhắc khá nhiều trên các diễn đàn lớn nhỏ ở Việt Nam thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân cũng như các học giả, chuyên gia, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Điều đó cho thấy, phát triển giáo dục đại học là một vấn đề bức thiết Giáo dục đại học có vị trí, vai trò to lớn trong đời sống xã hội Luật giáo dục đại học năm 2012 quy định rõ: Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học Nhằm đào tạo nhân lực, nâng cao

Trang 28

dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế Đồng thời đào tạo cho người học có những phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng KH -

CN tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Như vây, phát triển giáo dục là vấn đề trọng tâm của một quốc gia

Giáo dục đại học là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục Vì đại học là nơi tiếp cận tri thức ở mức cao nhất, là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao nhất cho đất nước, cũng là nơi đào tạo các nhà giáo cho các bậc học thấp hơn Do đó, trong sự nghiệp giáo dục, giáo dục đại học giữ vai trò đi đầu, hướng dẫn, nên giáo dục đại học có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của xã hội

Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng Thực ra, khi phân tích kỹ những quan điểm khác nhau

về giáo dục đại học, có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của giáo dục đại học trong

xã hội Giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản

lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu

Một quốc gia muốn phát triển về KH - CN và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và lực lượng lao động có số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng cao Giáo dục đại học còn tạo ra cơ hội cho học tập cho tất cả mọi người, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội nhằm: tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức, niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới

và khám phá mới Giáo dục đại học có vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trước đây, chúng ta vẫn thường quan niệm nguyên nhân làm chậm tốc độ phát triển KT - XH chủ yếu là do sự yếu kém và nghèo nàn của cơ sở vật chất, quan niệm này

đã tồn lại rất lâu quan niệm của nhân loại, nhưng trong giai đoạn hiện nay, thực tế đã chứng minh đóng góp chủ yếu vào tộc độ phát triển KT - XH đất nước gắn liền với chất

Trang 29

lượng lao động hay nói cách khác chính là dựa trên sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc gia Trong đó, giáo dục đại học giữ vai trò then chốt Một khoảng thời gian dài trước đây, nền kinh tế của mỗi quốc gia chủ yếu dựa vào lao động tự nhiên, thì ngày nay chủ yếu dựa vào thông tin và lao động trí tuệ, bất cứ ai nắm được thông tin và làm chủ được tri thức sẽ thành công Kỷ nguyên mới coi đầu tư phát triển nguồn nhân lực là quan trọng hơn các loại đầu tư khác Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao thì đòi hỏi hệ thống giáo dục phải phát triển mạnh mẽ, trực tiếp ở đây là hệ thống giáo dục đại học

Tuy nhiên, để đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn cần quan tâm tới một số khái niệm liên quan khác như đổi mới, phát triển

Đổi mới theo Từ điển tiếng Việt là “thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”[128, tr 236]

Phát triển theo Từ điển tiếng Việt “là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến

nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[128, tr 743] Theo từ điển

Triết học, Phát triển là: “quá trình vận động từ thấp (đơn giản) lên cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời […] Đối với sự phát triển, nét đặc trưng là hình thức xoắn trôn ốc Mọi quá trình phát triển riêng rẽ đều có sự khởi đầu và kết thúc Vả lại, ngay từ đầu, trong khuynh hướng đã chứa đựng sự kết thúc của phát triển, còn việc hoàn thành chu kỳ phát triển đó thì lại đặt cơ sở cho một chu kỳ phát triển mới, trong đó không thể tránh khỏi sự lặp lại một số đặc điểm của chu kỳ đầu tiên Phát triển là một quá trình nội tại, bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì ở trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn tới cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Đồng thời chỉ ở một mức phát triển khá cao thì những mầm mống của cái cao chứa đựng trong cái thấp mới bộc lộ ra”[129, tr 432]

Phát triển giáo dục đại học được xem là một vấn đề cấp bách hiện nay, nhằm xây dựng một nền giáo dục đại học phát triển hiện đại, phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của nhân loại Nền giáo dục ấy phải đào tạo ra những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Phát triển giáo dục đại học từ nội dung, chương trình đến phương pháp, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục phát triển, quy mô và cơ cấu đào tạo gắn đào tạo với nhu cầu phát triển của xã hội, đến việc hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật tạo điều kiện cho giáo dục đại học phát triển Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao chất lượng

Trang 30

nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Nhưng đổi mới và phát triển giáo dục đại học hiện nay không phải là phủ định sạch trơn những thành tựu của giai đoạn trước mà phải trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu đạt được, khắc phục sớm những hạn chế, khiếm khuyết của nền giáo dục hiện nay, nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Tóm lại, chương 1 đã đưa ra những nhân tố tác động kể trên là nền tảng vững chắc cho việc hoạch định những đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện trong giai đoạn hiện nay Việc đổi mới tư duy về giáo dục đại học để có cách nhìn hệ thống, nhằm xây dựng một hướng chiến lược cho phát triển giáo dục đại học có tính đột phá: Lấy giáo dục đại học làm đòn bẩy để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế tri thức ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 31

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 – 1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam

là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cá các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ khi đổi mới đến nay, đi đối với sự phát triển của đất nước là sự định hình càng rõ nét hơn đường lối đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước như kinh tế, chính trị, văn hóa –

xã hội , đường lối phát triển GD - ĐT cũng từng bước được bổ sung và dần dần hoàn thiện nhằm phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam và xu thế vận động, phát triển của các nước trên thế giới

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo, nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược với những mục tiêu dài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại, tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc Việt Đảng Cộng sản Việt Nam xác định để đạt được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đổi mới không chỉ bằng

sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải có trình độ tri thức khoa học, huy động mọi tài năng sáng tạo và khẳng định: GD - ĐT là quốc sách hàng đầu

Sau đây là một số nội cơ bản quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay:

2.1 Xác định giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu

Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển nhanh chóng của KH - CN, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ tới nền giáo dục đại học nước nhà Nhiệm vụ bao quát hàng đầu của sự nghiệp GD - ĐT ở Việt Nam là xây dựng con người với tư cách vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng, thuấn nhuần những giá trị và chuẩn mực tri thức khoa học phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:

“Phát triển KH - CN cùng với phát triển GD - ĐT là quốc sách hàng đầu, là nền tảng

và động lực để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”[28, tr 57]

Trang 32

“Phát triển GD - ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và vững bền” [28, tr 53] Và được cụ thể

ở điều 35 của Hiến pháp 1992: giáo dục là quốc sách hàng đầu, việc thể chế hóa quan điểm của Đảng vào Hiến pháp cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn nhận vai trò

to lớn của giáo dục nói chung giáo dục đại học nói riêng đối với sự phát triển đất nước Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu

Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng quan điểm về phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với những tư tưởng chỉ đạo: thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu; phát triển GD - ĐT gắn với nhu cầu phát triển KT - XH, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với việc

đa dạng hóa các loại hình GD - ĐT, trên cơ sở nhà nước thống nhất quản lý “Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học[ ] tập trung xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia, ngang tầm khu vự, tiến tới đạt trình độ quốc tê”[32, tr 528] Nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài cho đất nước

Tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đại hội X của

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phá

triển kinh tế tri thức Một trong những đặc điểm nổi bật của đất nước ta trong quá

trình đi lên chủ nghĩa xã hội là đặc điểm xuất phát thấp, kinh tế kém phát triển Bởi vậy, tiến hành CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức với những bước đi, hình

thức phù hợp là một quá trình mang tính tất yếu khách quan

Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như: Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn; Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của KH - CN, đặc biệt là công nghệ cao;

Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như lao động tri thức chiếm

tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người Ở đỉnh cao của

nó, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập; Trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng Mọi hoạt động của kinh tế tri

Trang 33

thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa Do đó, phát triển giáo dục bậc cao – giáo

dục đại học là một khâu quan trọng trong chiến lược pháp triển đất nước Giáo dục phải đi trước một bước, thậm chí là nhiều bước, tạo tiền đề nền tảng thúc đẩy các lĩnh vực xã hội phát triển

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển GD - ĐT cùng với phát triển KH - CN là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển

Do đó, cần tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của đất nước để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức Vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển GD - ĐT đặc biệt là giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội Là quốc gia đi sau Việt Nam có thể không cần qua các bước tuần tự từ kinh tế nông nghiệp đến kinh tế công nghiệp rồi mới đến phát triển kinh tế tri thức mà Việt Nam có thể tiến hành CNH, HĐH đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức ngay Đó là lợi thế của các nước như Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là nóng vội chủ quan, duy ý chí về con đường xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: trong thế kỷ

XXI: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian ,vừa

có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu về KH - CN, từng bước phát triển kinh tế tri thức”[28, tr 25]

Do đó, phải thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển bền vững Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với ngành giáo dục – giáo dục đại học, đặc biệt là chính

Trang 34

sách đầu tư và chính sách tiền lương để cán giảng dạy yên tâm công tác Phát triển giáo dục đại học tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội có cơ hội như nhau tiếp cận với nền giáo dục mới, có cơ hội phát triển toàn diện Đồng thời đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Đảng khẳng định:“ Ở Việt Nam hiện nay, đã và đang chín muồi yêu cầu khách

quan, bức xúc của một cuộc cải cách giáo dục Nó đòi hỏi phải đặt vấn đề và giải quyết vấn đề theo một cách mới, khác về nguyên tắc và phương pháp so với các cuộc cải cách giáo dục trước đây – đó là cải cách giáo dục trên tinh thần cách mạng hóa lĩnh vực GD - ĐT, nhằm phát triển con người và xã hội Việt Nam trong bối cảnh đổi mới để phát triển, trong điều kiện xuất hiện kinh tế tri thức và toàn cầu hóa trên thế giới mà ta không thể không lảnh tránh, không thể không chuẩn bị những hành trang

để chuẩn bị hội nhập”[94, tr 181]

Sự nghiệp GD - ĐT có vị trí quan trọng trong chiến lược con người, chiến lược phát triển KT - XH của đất nước “Nguồn tài nguyên và sự giàu có của một quốc gia không phải nằm trong lòng đất mà chính là nằm trong bản thân con người, trí tuệ con người” Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải đẩy mạnh phát triển giáo dục đại học vì giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong lĩnh vực sản xuất vật chất xã hội cũng như xây dựng nền văn hoá

Trong thời đại KH – CN phát triển như vũ bão hiện nay, hàm lượng trí tuệ khoa học kết tinh trong sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng; tài năng trí tuệ, năng lực

và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người, không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát, mà phải trải qua quá trình đào luyện công phu có hệ thống Vì vậy giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng hiện nay được nhìn nhận không phải là yếu tố phi sản xuất mà là yếu tố bên trong cấu thành của nền sản xuất xã hội Thực tiễn cho thấy rằng không có quốc gia nào muốn phát triển mà ít đầu tư cho giáo dục Công cuộc chạy đua phát triển kinh tế của thế giới hiện nay là cuộc chạy đua về

KH - CN, chạy đua về phát triển GD - ĐT Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã nhấn mạnh: Thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục đại học là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư phát triển, đầu tư cho tương lai

Giáo dục đại học không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hoá tinh thần của chủ nghĩa xã hội

Trang 35

Giáo dục có tác động vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo đức, xây dựng nền văn hoá, văn học nghệ thuật, góp phần cơ bản vào việc hình thành lối sống mới, nhân cách mới của toàn bộ xã hội Đảng ta đã chỉ rõ: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc…là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa

xã hội…Như vậy giáo dục đại học có tác dụng to lớn đến toàn bộ đời sống vật chất

và đời sống tinh thần của xã hội Phát triển giáo dục đại học là cơ sở để thực hiện chiến lược phát triển KT - XH, chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta

Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển đất nước hiện nay, thì giáo dục đại học phải được ưu tiên trước nhất trong sự nghiệp phát triển giáo dục đất nước vì giáo dục đại học là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục, nơi tiếp cận nền tri thức cao nhất, mới nhất do đó, phát triển giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Phát triển giáo dục đại học sẽ tạo động lực, nền tảng cho các ngành nghề khác phát triển là yếu tố quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước

2.2 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao

Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu to lớn,

có ý nghĩa lịch sử sâu sắc Việt Nam thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để Việt Nam tiếp tục phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục đại học Việt Nam đã có một số thành tựu đáng kể thông qua việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Mặc dù, trong những năm qua mặc dù giáo dục Việt Nam đã đạt

Trang 36

được những bước tiến dài, chất lượng được nâng lên, nhưng nền giáo dục đại học Việt Nam vẫn chưa thoát hết sự ảnh hưởng của lối học cũ theo kiểu khoa bảng, bằng cấp Hơn nữa giáo dục đại học chưa thật sự là giáo dục của dân, do dân và vì dân, chưa có quan hệ hữu cơ với quá trình phát triển KT - XH, chưa gắn với nhu cầu phát triển của xã hội, đào tạo chưa gắn với sử dụng Mục tiêu, nội dung, phương pháp còn lạc hậu so với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nên giáo dục Việt Nam còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chất lượng lao động Việt Nam còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập phát triển

Trước thực trạng nêu trên, kế thừa phát triển quan điểm chỉ đạo từ các kỳ đại hội trước, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa

ra quan điểm chỉ đạo: đổi mới toàn diện GD - ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao Định hướng bao trùm là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới

cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam

Tiếp nối quan điểm đó của Đại hội X, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản GD - ĐT,… Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”[30, tr 217], và Cương lĩnh năm 2011 tiếp tục khẳng định quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục nói chung và nói riêng, bên cạnh đó Cương lĩnh 2011 đã có

bước phát triển mới: Đổi mới căn bản và toàn diện GD - ĐT theo nhu cầu phát triển

của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời

Do đó, trong những năm trước mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc

đó là sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá" giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp văn bằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trường học cả công lập và ngoài công lập Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên Cải tiến việc giảng dạy và học tập các bộ

Trang 37

môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đại học, tạo điều kiện cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội học tập Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn sinh viên giỏi, đặc biệt chú ý trong con em công nhân và nông dân, để đào tạo ở bậc đại học

Chương trình đào tạo đại học phải thiết thực, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển KT - XH của đất nước, vừa tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Quan tâm thích đáng đến đội ngũ giảng viên, đẩy mạnh đào tạo, lựa chọn đội ngũ nhà giáo cho các trường đại học, cao đẳng, cả trường công lập và ngoài công lập, cải tiến chế độ lương cho giáo viên Đảm bảo đủ số lượng, nâng cáo chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học

Định hướng là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn

hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; đổi mới chương trình, nội dung phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [30, tr 41–42] Đối với giáo dục đại học: “Thực

hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, bảo đảm cơ chế

tự chủ gắn với nâng cao trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo Tập trung đầu tư xây dựng một số trường, khoa, chuyên ngành mũi nhọn, chất lượng cao”

[30, tr 131]

Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW)

về đổi mới căn bản, toàn diện GD - ĐT Nghị quyết đã nêu bật những thành công, hạn

chế của nền giáo dục Việt Nam sau nhiều năm đổi mới đồng thời đưa ra quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và giải pháp thực hiện Đó là tiếp tục khẳng định quan điểm: giáo dục là quốc sách hàng đầu, đồng thời tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước

Trang 38

Nghị quyết nhấn mạnh: đổi mới giáo dục là đổi mới ở tất cả bậc học và ngành học; Chuyển mạnh quá trình giáo dục đại học từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Phát triển giáo dục đại học phải gắn với nhu cầu phát triển KT - XH và bảo vệ Tổ quốc; Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa và dân chủ trong GD - ĐT; Hoàn thiện cơ chế quản lý dục (giáo dục công lập, giáo dục ngoài công lập, và các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài), tăng cường tính tự chủ cho các cơ sở đào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đối với các nước trong khu vực và trên thế giới…Thiết kế cơ cấu hệ thống giáo dục đại học hoàn chỉnh, đồng bộ với giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, nhằm vừa đào tạo đỉnh cao, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển ở các trình độ khác nhau và nâng cao dân trí Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển đồng thời cả quy

mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Cải tiến công tác tuyển sinh để giảm nhẹ công tác tuyển chọn đầu vào Giữ gìn kỷ cương, nề nếp trong học tập, giảng dạy, thi

cử, đánh giá, đẩy lùi tiêu cực, gian lận trong giảng dạy, học, thi, để đảm bảo chất lượng đầu ra, chất lượng đào tạo

Mục tiêu của đổi mới giáo dục là tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất

lượng, hiệu quả GD - ĐT; Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt,

học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề

và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế

Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện là: đổi mới chương trình, phương thức dạy và học Đối với giáo dục đại học: Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của

hệ thống giáo dục đại học Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển KT - XH, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; đa dạng hóa các loại hình đào tạo, khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo; hoàn thiện cơ chế quản

Trang 39

lý giáo dục (giáo dục công lập, giáo dục ngoài công lập, và các cơ sở giáo dục có yếu

tố nước ngoài); Đồng thời tiến hành điều chỉnh chương trình giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội Hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường tính tự chủ cho các cơ sở đào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đối

với các nước trong khu vực và trên thế giới…“Phát triển hệ thống kiểm định và công

cố công khai kết quả kiểm định chất lượng GD - ĐT; tổ chức xếp hạng các cơ sở GD

- ĐT Tăng cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực

trong GD - ĐT Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa GD - ĐT trên cả ba

phương diện: động viên các nguồn lực xã hội (xã hội hóa GD - ĐT); phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo”[32, tr 818]

Tuy nhiên, cần lưu ý đổi mới căn bản, toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, làm lại từ đầu, phủ định sạch trơn những thành tựu trong đổi mới giáo dục ở giai đoạn trước, những quan điểm chỉ đạo đúng đắn, đồng thời tiếp tục thực hiện những bước đi cụ thể chưa hoàn thành của giai đoạn trước (phù hợp) Yêu cầu đặt ra trong đổi mới là cần cân nhắc xem xét, kế thừa những gì và phải thay đổi những gì cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, không được nóng vội chủ quan, duy ý chí

Về chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa: đó là chuẩn hoá về mọi mặt, từ chương trình, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy… đến trường lớp, bàn ghế, thiết

bị dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục; Hiện đại hóa trong giáo dục được hiểu là hiện đại hóa các thành tố của giáo dục, trước hết phải hiện đại hóa nội dung, phương pháp giáo dục và cùng với nó là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Nội dung giáo dục phải phản ánh những thành tựu mới nhất của các khoa học và thành tựu phát triển KT - XH của đất nước, của thế giới phù hợp với điều kiện thực tiễn và xu hướng đi lên của nhân loại Phương pháp giáo dục đổi mới theo hướng thức tỉnh tối đa tiềm năng của người học, hình thành và phát triển ở người học những năng lực chung và năng lực chuyên biệt, khả năng thích nghi tốt nhất, nhanh nhất, tinh thần phê phán khách quan, khoa học, tư duy sáng tạo và có phương pháp tự học suốt đời, nhằm phát triển toàn diện năng lực của

Trang 40

người học Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học; thực hiện công khai, minh bạch, công bằng các chính sách, chế độ đối với cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý và người học Dân chủ hóa nhà trường phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ trong mọi quan hệ trong nhà trường; Xã hội hóa giáo dục thể hiện sự nghiệp giáo dục là của toàn dân, của toàn xã hội, đồng thời mọi người có quyền được hưởng nền giáo dục mới, hướng tới một xã hội học tập Người học có điều kiện được học tập suốt đời

Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện đại; hoàn hiện chính sách, cơ chế tài chính và xã hội hóa trong GD - ĐT; chủ động hội nhập quốc tế (kêu gọi đầu tư trực tiếp vào giáo dục, tăng quy mô đào tạo tại nước ngoài bằng ngân sách nhà nước…)

Đồng thời tiến hành điều chỉnh chương trình giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn

xã hội theo hướng tăng cường năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội Hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường tính tự chủ cho các cơ sở đào tạo; có bước đi, lộ trình cụ thể về hợp tác phát triển giáo dục đối với các nước trong khu vực và trên thế giới…

Về đổi mới cơ chế quản lý giáo dục: Chuyển các cơ sở giáo dục đại học

công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển; chỉ đạo triển khai hệ thống bảo đảm chất lượng và kiểm định giáo dục đại học; hoàn thiện môi trường pháp lý; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước trong từng thời kỳ; Xây dựng Luật Giáo dục đại học; Đổi mới toàn diện công tác quản lý nhà nước về giáo dục theo hướng phân công, phân cấp rõ trách nhiệm, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở giáo dục,lấy việc quản lý chất lượng làm nhiệm vụ trọng tâm; củng cố, tổ chức thanh tra và đẩy mạnh công tác thanh tra giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục hàng năm, đổi mới thi đua trong giáo dục, khắc phục bệnh thành tích chủ nghĩa

Ngày đăng: 09/12/2020, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2006), Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Ban Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương Đông (2012), Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương - Tổng cục dạy nghề - Viện nghiên cứu phát triển phương Đông
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
8. Báo Nhân Dân (2015), Những nội dung cốt lõi trong dự thảo các văn kiện…, Phụ trương đặc biệt Báo Nhân Dân, Số 21920, ngày 02 – 10 – 2015, tr2 Số: 21920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cốt lõi trong dự thảo các văn kiện…, Phụ trương đặc biệt Báo Nhân Dân, Số 21920, ng"ày
Tác giả: Báo Nhân Dân
Năm: 2015
10. Đặng Quốc Bảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
11. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
12. Nguyễn Trần Bạt (2011), Cải cách và sự phát triển, Nxb. Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách và sự phát triển
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: Nxb. Hội Nhà Văn
Năm: 2011
13. Phan Trọng Báu (2015), Nền giáo dục Pháp – Việt (1861 – 1945), Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền giáo dục Pháp – Việt (1861 –
Tác giả: Phan Trọng Báu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2015
14. Lê Khánh Bằng (chủ biên) (1980), Hồ chủ tịch với việc giáo dục con người mới Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ chủ tịch với việc giáo dục con người mới Việt Nam
Tác giả: Lê Khánh Bằng (chủ biên)
Năm: 1980
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Chương trình ch nh sách phát triển giáo dục đại học (giai đoạn 2), bản dự thảo, ngày 15 tháng 4 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình ch nh sách phát triển giáo dục đại học (giai đoạn 2)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư Số 47/2017/TT-BGDĐT, Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên, ngày 1 tháng 12 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Số 47/2017/TT-BGDĐT, Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 45/2014/TT-BGDĐT, Quy định về việc chuyển đổi loại hình trường đại học dân lập sang loại hình trường đại học tư thục, ngày 17 tháng 12 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 45/2014/TT-BGDĐT, Quy định về việc chuyển đổi loại hình trường đại học dân lập sang loại hình trường đại học tư thục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
18. Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội, HDI Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia, ngày 15-09-2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: HDI Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia
19. Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh (2004), Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
20. Các Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006)(2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006)(2006)
Tác giả: Các Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2006)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
21. Nguyễn Tiến Cường (1998), Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến
Tác giả: Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
22. Vũ Đình Cự (chủ biên) (1990), Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI
Tác giả: Vũ Đình Cự (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1990
23. Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia (2002), Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia (2002)
Tác giả: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
24. Nguyễn Trọng Chuẩn (1994), “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học, Số 3, năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học, Số 3
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w