ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ TẠ BÍCH HUỆ ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TẠ BÍCH HUỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TẠ BÍCH HUỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, trung thực của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Khang, chưa được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Nếu có gì không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Tạ Bích Huệ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hồ Khang; quý thầy cô trong Đại học Quốc gia Hà Nội; quý thầy cô đã tham gia giảng dạy các chuyên đề cao học; cán bộ thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội; các cán bộ tại Phòng Lưu trữ- Tỉnh ủy Thái Nguyên, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành công trình này
Tác giả
Tạ Bích Huệ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp mới của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 9 1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Thái Nguyên và công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trước năm 1997 9
1.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên 9
1.1.2 Công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Thái trước năm 1997 14
1.2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2000 27
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 27
1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 42
2.1 Đặc điểm tình hình và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 42
Trang 62.1.1 Đặc điểm tình hình và yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên 42
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2005 47
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 57
2.2.1 Gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 57
2.2.2 Chỉ đạo hoạt động của Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên và Trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện, thị xã 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 74
3.1 Nhận xét tổng quát 74
3.1.1 Một số thành tựu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 74
3.1.2 Về hạn chế và nguyên nhân 84
3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu 89
3.2.1 Bám sát quan điểm của Đảng, yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh và đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 90
3.2.2 Phối kết hợp giữa các ban ngành, đoàn thể để tiến hành công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị một cách thực chất, tránh bệnh hình thức 92
3.2.3 Có giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng hoạt động của Trường Chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã 95
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ, đảng viên là một bộ phận trong công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Lãnh đạo thực hiện công tác ĐT&BDLLCT là khâu quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng Công tác tư tưởng muốn hiệu quả trước hết phải làm tốt công tác ĐT&BDLLCT V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong” [35, tr.30-32]
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, trong mỗi giai đoạn hoạt động của Đảng công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên đều được quan tâm, đặc biệt là nhiệm vụ ĐT&BDLLCT Công tác ĐT&BDLLCT
đã góp phần quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và phát huy tính tích cực chính trị của cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân trong việc kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối, Cương lĩnh chính trị của Đảng Bên cạnh đó, trình độ LLCT của người cán bộ
là yếu tố then chốt cho mọi hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [37, tr 269-273] Trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt là gốc của cái gốc đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước Cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị công tác, sản xuất kinh doanh; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, phân công nhiệm vụ, chỉ đạo cán bộ công chức tại địa phương hoàn thành nhiệm vụ được giao phó Cán bộ chủ chốt giỏi thì
tổ chức đó sẽ mạnh, nâng cao được hiệu quả, chất lượng công tác
Trang 9Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước; xu thế toàn cầu hóa, đa phương hóa, đa dạng hóa; đặc biệt sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, yêu cầu đẩy mạnh công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ, đảng viên trở thành một đòi hỏi bức thiết Bên cạnh đa số cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống cách mạng lành mạnh, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI chỉ rõ:
Một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau vể sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng lãng phí…, chạy theo lợi ích kinh tế,
ít quan tâm đến chính trị, suy thoái về phong cách, lối sống, mắc bệnh độc đoán chuyên quyền, phong cách làm việc thiếu khoa học, thiếu dân chủ [21, tr.22]
Để có thể giữ vững ổn định chính trị và tiếp tục phát triển đất nước, nhất thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ LLCT nhằm đáp ứng và giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ được giao
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, đang đứng trước những cơ hội, cũng như thách thức đối với việc phát triển Bên cạnh những ưu điểm về trình độ lý luận, đội ngũ cán bộ ở Thái Nguyên vẫn còn tồn tại nhiều bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Thái Nguyên được hình thành từ nhiều nguồn, thường trưởng thành từ thực tế; ít được đào tạo LLCT một cách có hệ thống, bài bản nên trình độ tư duy lý luận hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác điều hành lãnh đạo, quản lý cũng như xử lý công việc, tác động không nhỏ đến hoạt động tổ chức thực tiễn ở địa phương
Trang 10Trước tình hình đó, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở,;đúc rút kinh nghiệm từ quá trình và đưa ra những giải pháp cụ thể trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn Đó là những lý do chủ yếu để tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2005” làm đề tài luận văn thạc sĩ
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Công tác ĐT&BDLLCT được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những công tác trọng tâm, đặc biệt công tác này ở các địa phương càng có vị trí, vai trò quan trọng Trong những năm vừa qua, lĩnh vực này đã
có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, cụ thể:
- Các công trình tham khảo, chuyên khảo
“Thế giới quan khoa học và những vấn đề lý luận của việc xây dựng thế
giới quan khoa học trong xã hội xã hội chủ nghĩa" (1975), V.I.Vaxilenco,
Nxb Matxcova
“Một số vấn đề về công tác tư tưởng trong tình hình mới” của tác giả
Hữu Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
“Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin" (2010),
GS,TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
“Đổi mới và phát triển- những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2006), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Tiến Hoàng, Ngô Đình Xây, Mai Yến Nga với cuốn sách “Tài
liệu Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên truyền lĩnh vực nghiên cứu giáo dục
lý luận chính trị” (2013), Nxb Chính trị Quốc gia
Trang 11Lý luận và phương pháp nghiên cứu giáo dục lý luận chính trị” (2010)
do tác giả Phạm Huy Kỳ chủ biên, Nxb Chính trị- Hành chính
- Bài tạp chí
“Xây dựng Đảng về tư tưởng chính trị” của GS Nguyễn Đức Bình, Tạp
chí Cộng sản
“Nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục lý
luận chính trị trong tình hình mới” của Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Thông
tin công tác tư tưởng lý luận, số 1/ 2004
“Tạo bước chuyển biến mới trong việc học tập lý luận chính trị của cán
bộ, đảng viên” của Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 1999
Lê Bỉnh với “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận
chính trị”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3 (2004)
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị” của tác
giả Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 (2006)
Đây là nhóm công trình khá phong phú, cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với công tác giáo dục lý luận chính trị Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã giúp cho tác giả luận văn có cái nhìn toàn diện về công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, hiểu sâu sắc hơn về đặc điểm, vị
trí, vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, từ đó giúp tác giả
xác định các hướng tiếp cận, triển khai các nội dung nghiên cứu của luận văn
- Luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ
“Quá trình đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ,
đảng viên ở cơ sở trong cuộc đấu tranh “Chống diễn biến hòa bình” của Vũ
Ngọc Am, Luận án tiến sĩ triết học, năm 2002
“Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy Mác – Lênin
ở các trường chính trị tỉnh” của Nguyễn Đình Trãi, Luận án tiến sĩ triết học,
năm 2001
Trang 12“Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị
Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ triết học
“Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở miền núi từ năm 1996 đến năm 2006” của
Lê Văn Minh, Luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 2009
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cơ sở như đề tài mà tác giả đã lựa chọn Các công trình nghiên cứu đó là nguồn tư liệu quý để tác giả tham khảo phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về tình hình ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
ở tỉnh Thái Nguyên trước năm 1997;
- Phân tích quan điểm, chủ trương, biện pháp, giải pháp của Đảng bộ
tỉnh Thái Nguyên đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở từ năm 1997 đến năm 2005;
- Làm rõ sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể, các cấp trong việc thực hiện chủ trương của Đảng bộ và chính quyền địa phương đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở;
Trang 13- Phân tích những thành tựu, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở từ năm 1997 đến năm 2005; trên cơ sở đó, đưa những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác ĐT&BDLLCT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2005
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về khoa học: Những chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong lãnh đạo thực hiện công tác ĐT&BDLLCT; quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2005
Ngày 22/12/1996, Bộ Chính trị ra Quyết định số 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh uỷ Bắc Thái; đồng thời thành lập Đảng bộ Thái Nguyên Năm 1997 Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 14/11/1997 tại thành phố Thái Nguyên,
bên cạnh các vấn đề về ổn định kinh tế- chính trị xã hội trong tỉnh, công tác ĐT&BDLLCT được quan tâm nhằm xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong tỉnh
Năm 2005 là thời gian Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên triển khai Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII với những khẳng định quan trọng về nội dung:
“Xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng là nhiệm vụ then chốt” Và cũng là năm tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định 100-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương (khoá VII) về
tổ chức và hoạt động của Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện Từ đó
Trang 14công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ đảng viên ngày càng được chú trọng, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện, đề tài cũng đề cập đến tình hình thực hiện công tác ĐT&BDLLCT trước năm 1997 Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có thể nghiên cứu một số vấn đề về ĐT&BD LLCT ở tỉnh Thái Nguyên trong khung thời gian vượt quá năm 2005 để có những cơ sở thích hợp cho những kết luận của mình
- Không gian: Ở tỉnh Thái Nguyên; tuy nhiên, đề tài cũng có thể liên
hệ với địa phương khác trong khu vực, trong vùng để có cái nhìn đầy đủ hơn
5.2 Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác nguồn tư liệu chủ yếu là các văn kiện Đại hội Đảng, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị và các tác phẩm, các bài nói, bài viết của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về công tác ĐT&BDLLCT từ năm 1997 đến năm 2005; những báo cáo tổng kết thực tiễn công tác ĐT&BDLLCT của Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương và các cơ quan có liên quan
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là kết hợp phương pháp lịch sử
và phương pháp logic để làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Ngoài ra, luận văn còn kết hợp phương pháp khảo sát, phân tích, so sánh để dựng lại bức tranh lịch sử về công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
Trang 15tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn phục vụ hiện tại, luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp logic - lịch
sử, so sánh và hệ thống hóa
6 Đóng góp mới của luận văn
- Trình bày tương đối hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2005;
- Rút ra một số kinh nghiệm lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác ĐT&BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, góp phần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trên trong thời gian tới;
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền
về lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên thời kỳ đổi mới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ
Trang 16Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Thái Nguyên và công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trước năm 1997
1.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên
Đặc điểm tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc, diện tích
tự nhiên 3.531,02 km2 nằm trong hệ tọa độ địa lí từ 21o19’ đến 22o03’ vĩ Bắc
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50
km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt
Trang 17Nam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang
Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội
- Lạng Sơn Đây là điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và trao đổi kinh tế giữa Thái Nguyên và các địa phương trong khu vực
Thái Nguyên có tám dân tộc sinh sống là Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’mông, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa Theo thống kê năm 2013, dân số của tỉnh đạt sấp xỉ: 1,16 triệu, Thái Nguyên đang trong giai đoạn cơ cấu dân số
“vàng”, đây cũng là cơ hội thuận lợi cho phát triển nguồn lực phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước Cư dân các dân tộc ít người chiếm 24,49% dân số toàn tỉnh Mặc dù mỗi thành phần dân tộc ở Thái Nguyên mang những đặc điểm riêng về tiếng nói, trình độ sản xuất, bản sắc văn hoá, song tất cả đều có những nét tương đồng, hoà nhập trong một cộng đồng và chung sống trên một lãnh thổ
Đặc điểm kinh tế- xã hội
Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích tự nhiên là 353.101,67ha (số liệu năm 2010) Cơ cấu đất đai gồm các loại: Đất nông nghiệp (gồm đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp có rừng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất nông nghiệp khác) chiếm 83,44%; Đất phi nông nghiệp (gồm đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng) chiếm 12,09%; Đất chưa sử dụng (gồm đất bằng; đất đồi núi; Núi đá không có rừng cây) chiếm 4,46% Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là 180.639,32ha, chiếm 51,16% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, được chia ra thành ba loại: Rừng sản xuất chiếm 31,39%; rừng phòng hộ chiếm 9,87% và rừng đặc dụng chiếm 9,90% Thực vật, động vật khá đa dạng, đặc biệt có nhiều loại cây, con làm được dược liệu quí, có thể phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn Với những thuận lợi trên, Thái Nguyên có điều
kiện để đầu tư và phát triển nông- lâm nghiệp trong toàn tỉnh
Trang 18Nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú (34 loại hình khoáng sản); trong đó có những khoáng sản có giá trị cao về phát triển kinh tế trong cả nước như sắt, than (đặc biệt là than mỡ) đã tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng Đây là thế mạnh đưa Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp luyện kim lớn của cả nước
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần Song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiên tai; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy
đã cải thiện nhưng vẫn thiếu và xuống cấp; các vấn đề xã hội còn gây nhiều bức xúc Với sự chỉ đạo quyết tâm của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cùng nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh
tế xã hội đã thu được kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực Để đạt được những thành quả trong công cuộc xây dựng CNH, HĐH phát triển công nghiệp địa phương, thực tiễn đòi hỏi tỉnh Thái Nguyên cần xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng
có đủ trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực, phẩm chất Như vậy, mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh trong những năm tiếp theo
Truyền thống lịch sử
Các cứ liệu khoa học thu được cho thấy con người xuất hiện ở vùng đất Thái Nguyên ngay từ thời tiền sử (cách ngày nay 40.000 năm đến 23.000
năm trước Công nguyên) Thời các vua Hùng, nước Văn Lang chia thành 15
bộ, Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định Thời An Dương Vương, Thái Nguyên
Trang 19thuộc đất Âu Lạc Vùng đất Thái Nguyên biến đổi qua bao thăng trầm của lịch sử từ thời thuộc Hán, thuộc Đường đến thời Lí, Trần, Lê, cho đến thời Nguyễn: Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) xứ Thái Nguyên được đổi thành trấn Thái Nguyên Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn thành tỉnh Thái Nguyên gồm cả vùng đất Bắc Kạn Địa danh Thái Nguyên vẫn trường tồn cùng đất nước [10, tr.23] Năm 1900, chính quyền bảo hộ Pháp chia Thái Nguyên thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Ngày 21/4/1965, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định sáp nhập 2 tỉnh Thái Nguyên
và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái Từ ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái được chia tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên có địa giới như trước khi hợp
nhất và hoạt động theo địa giới hành chính mới
Qua các thời kì phát triển của lịch sử, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã trải qua nhiều chặng đường đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ, đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang và hun đúc nên truyền thống lịch sử tốt đẹp như truyền thống yêu nước, đoàn kết bất khuất kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hóa của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc
Là một tỉnh trung du, miền núi nhưng sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở Thái Nguyên khá phát triển, nơi đây có truyền thống hiếu học Từ những thế kỷ trước ở Thái Nguyên đã có hàng chục vị đại khoa, tiến sĩ dưới thời phong kiến, góp phần vào nền văn minh và sự hưng thịnh của quốc gia Đặc biệt có ông Đỗ Cận (quê ở Minh Đức, Phổ Yên), đỗ tiến sĩ năm 45 tuổi (1478) dưới thời nhà Trần đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần ham học Ông đã từng giữ chức Tham nghị xứ Quảng Nam; Phó sứ trong Đoàn sứ bộ Đại Việt sang nhà Minh (Trung Quốc); chức Thượng thư (đứng đầu một bộ trong triều)… Tác phẩm
của ông khá phong phú như Kim Lăng ký, Xuân yến, Thái Thạch vãn bạc…
Trang 20Hiện nay, Thái Nguyên là trung tâm giáo dục miền núi phía Bắc Ngoài bảy trường đại học thuộc Đại học Thái Nguyên, còn có các trường cao đẳng, các trường công nhân kỹ thuật và trường vùng cao của trung ương được xây dựng ở địa phương Đây là điều kiện thuận lợi góp phần nào nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo trong tỉnh nói chung và mang lại hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở nói riêng
Ngày 6/11/1996, tại kì họp lần thứ 10, Quốc hội (khóa IX) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tách và điều chỉnh địa giới một số tỉnh trong cả nước Tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên, có địa giới như trước khi hợp nhất (7/1965) và hoạt động theo đơn vị hành chính mới kể từ ngày 1/1/1997 Từ đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Thái Nguyên, nhân dân các dân tộc trong tỉnh bước vào thời kì mới: thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Thái Nguyên cũng còn nhiều tồn tại khó khăn: xuất phát điểm thấp; cơ sở hạ tầng còn hạn chế; mặc dù chú trọng vào phát triển công nghiệp nhưng do những tác động của tình hình thế giới và trong nước nên hiệu quả mang lại còn hạn chế; đời sống nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; trình độ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức còn chưa đáp ứng được những yêu cầu của tỉnh trong giai đoạn phát triển mới; một bộ phận cán bộ, đảng viên còn rơi vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái đạo đức, không nhận được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân Việc chia, tách tỉnh cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm và đời sống của toàn thể cán bộ, nhân dân trong tỉnh Chính vì vậy, làm tốt công tác tư tưởng giúp cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong tỉnh nhận thức đúng đắn chủ trương chia, tách tỉnh, từ đó tăng cường đoàn kết, khắc phục mọi khó khăn ở cơ
sở, quyết tâm xây dựng tỉnh phát triển nhanh và giàu mạnh
Trang 21Trong giai đoạn mới, với sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ
và nhân dân tỉnh Thái Nguyên (Bắc Thái trước đây) đã phát huy những thuận lợi, khắc phục những tồn tại, khó khăn và có những bước xây dựng, trưởng thành và phát triển góp phần cùng đất nước đi lên xây dựng CNXH; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH đất nước Ngày nay, cùng xu thế hội nhập, mở cửa trong cả nước, Thái Nguyên đã và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, an ninh- quốc phòng nâng cao vai trò tại khu vực kinh tế Đông Bắc bộ Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh đã tăng cường công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nhằm đảm bảo sự vững mạnh của hệ thống chính trị bằng những hoạt động
cụ thể trong công tác ĐT&BDLLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt
Trang 22Thực hiện Chỉ thị số 08 - /TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nhận
rõ sự cần thiết của việc đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở của Đảng bộ trong giai đoạn mới, căn cứ vào khả năng, nguồn lực cán bộ có thể đảm nhiệm công tác huấn luyện cán bộ, ngày 4/7/1957, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Thái
đã ra Nghị quyết số 344 - NQ/TN về “Thành lập Trường Đảng” Theo Nghị
quyết, Trường Đảng tỉnh Bắc Thái có chức năng, nhiệm vụ: “đào tạo, bồi dưỡng về lý luận và chính trị cho cán bộ cơ sở của Đảng” trên địa bàn tỉnh [58, tr.2] Sự ra đời của Trường Đảng tỉnh Bắc Thái là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của Trường Đảng tỉnh, sau này là Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên Đó cũng là sự kiện đánh dấu bước phát triển mới, mang tính tổ chức,
hệ thống, nề nếp, chính quy trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái
Năm 1986 là năm có nhiều sự kiện chính trị lớn của đất nước Đặc biệt, trong toàn quốc đã diễn ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng thực hiện Chỉ thị số
79 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiến hành đợt sinh hoạt chính trị trong toàn Đảng và đấu tranh tự phê bình, tiến tới Đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI Tháng 10/1986, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ V Trong phương hướng chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảng viên trong tỉnh những năm 1986 - 1990, Đại hội Đảng
bộ chỉ rõ: “Phải thường xuyên trang bị cho các cán bộ đảng viên có quan điểm, lập trường đúng đắn và vững vàng về chính trị tư tưởng, phải làm cho mỗi cán bộ đảng viên quán triệt kịp thời và đầy đủ, sâu sắc đường lối chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước” [45, tr.1]
Để làm tốt vấn đề đó, một trong những biện pháp quan trọng được Đảng bộ chú trọng là phải: Cải tiến các hình thức giáo dục của hệ thống trường Đảng… bảo đảm nhanh nhạy, kịp thời và nâng cao chất lượng sát thực tiễn địa phương; phải chăm lo xây dựng quy hoạch cán bộ ở mỗi cấp, mỗi
Trang 23ngành, thực hiện các bước đào tạo và kiểm nghiệm một cách chặt chẽ, từng bước nghiên cứu giải quyết chính sách cho đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường Phải đào tạo theo yêu cầu của các ngành kinh tế tránh sự chắp vá như hiện nay Tiếp tục các khoá bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ chủ chốt cơ sở tại trường Đảng tỉnh, nghiên cứu để mở lớp tại huyện [45, tr.1]
Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tổ chức tại Thủ đô Hà Nội Đại hội nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài và chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó: “Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân” [19, tr.360] Đại hội quyết định đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới đội ngũ cán bộ có tầm quan trọng đặc biệt: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng Luồng gió đổi mới của Đại hội VI, tinh thần: “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ
sự thật”, “đổi mới là tất yếu”, “đổi mới để tiến lên”, đã làm chuyển biến mạnh
mẽ, sâu sắc mọi hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, cũng như của mỗi ngành, mỗi địa phương
Năm 1987, toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI Vận dụng tinh thần đổi mới do Đảng khởi xướng, căn cứ vào thực trạng tình hình của tỉnh, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái đã xác định rõ: phải làm cho cán
bộ, giảng viên, công nhân viên quán triệt nội dung các nghị quyết của Đảng Công tác tổ chức cán bộ cần mạnh dạn đổi mới theo tinh thần đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc, đề cao dân chủ trong mọi hoạt động…
Trang 24Năm 1989 - 1990, trước những diễn biến phức tạp của tình hình cải tổ, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, tháng 8/1989, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã họp Hội nghị và ra Nghị quyết “Về một số vấn đề cấp bách về
công tác tư tưởng trước tình hình quốc tế và trong nước” Hội nghị đã xác định
năm nhiệm vụ và nội dung chủ yếu mà các cấp, các ngành phải tập trung thực hiện Trước những chỉ đạo kịp thời của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái đã nhanh chóng quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết tới trường Đảng Bắc Thái và vào trong từng bài giảng, trong các hệ lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ những năm 1989 - 1990, cũng như trong các hoạt động của nhà trường, góp phần tích cực nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở địa phương; góp phần ổn định, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên vào đường lối đổi mới của Đảng
Suốt những năm 1980 - 1990, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách, nhất là những tác động không thuận lợi về kinh tế - xã hội, Tỉnh uỷ Bắc Thái đã quan tâm, chỉ đạo trường Đảng hoàn thành những chỉ tiêu và nhiệm vụ đặt ra
Thực hiện chủ trương của Trung ương về việc tổ chức lại các trường đoàn thể ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, ngày 22/5/1990, Ban Thường
vụ Tỉnh uỷ Bắc Thái ra Quyết định số 68/QĐ.TU: “Về việc thành lập
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bắc Thái trên cơ sở sáp nhập ba trường đào tạo cán bộ của tỉnh là Trường Đảng, Trường Hành chính, Trường Đoàn Thanh niên” nhằm tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong
tình hình mới cho địa phương Chức năng của nhà trường là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở cơ sở, bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật và nghiệp vụ công tác đoàn thể quần chúng để nâng cao năng lực công tác cho cán bộ làm công tác Đảng, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ đoàn thể quần chúng
Trang 25Mặc dù điều kiện tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Thái còn nhiều khó khăn, song với tinh thần đổi mới, quyết tâm tạo sự chuyển biến mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái đã chỉ đạo: Mở năm lớp trung cấp lý luận tập trung cho 302 học viên và một lớp bồi dưỡng ngắn hạn ba tháng cho 56 học viên Tỉ lệ các lớp đã thi tốt nghiệp và được cấp bằng đạt 93,7% Nếu tính từ năm 1980 đến 1986, tỉnh
đã mở được tám lớp trung cấp lý luận tập trung tại trường Đảng tỉnh Bắc Thái với tổng số học viên được cấp bằng là 415 người; đã mở sáu lớp trung cấp lý luận tại chức với 493 học viên được cấp bằng tốt nghiệp; phối hợp tổ chức bảy lớp trung cấp lý luận tại chức ở ngoài trường với 472 học viên được cấp bằng tốt nghiệp [63, tr.126-127]
Trong bối cảnh chung khó khăn của tình hình thế giới và trong nước vào những năm đầu của thập kỷ 90 (XX), nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Thái cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Riêng về kinh tế, hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp ở Bắc Thái đều do Liên Xô và các nước XHCN trước đây giúp đỡ; thiết
bị, kỹ thuật và nhiều vật tư quan trọng còn phụ thuộc vào các nước bạn Liên
Xô và các nước Đông Âu cũng là thị trường truyền thống của hàng thủ công
mỹ nghệ của tỉnh Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông
Âu đã gây nên những khó khăn đối với một số ngành kinh tế trong tỉnh
Tháng 6/1991, Đảng tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức VII
Đại hội Đảng thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” với mục tiêu tổng quát là kiên định con đường xây dựng CNXH;
vượt qua khó khăn, thử thách để ổn định và phát triển, đưa Việt Nam cơ bản
ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Đại
Trang 26hội thông qua Nghị quyết nêu rõ: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, tháng 9/1991, Đại hội đại biểu lần thứ VI (vòng 2) Đảng bộ tỉnh Bắc Thái đã khai mạc Đại hội đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc giáo dục và học tập lý luận Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ sở có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở địa phương, góp phần đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
Quán triệt những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII; Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh Bắc Thái đã quan tâm đến việc cải tiến nội dung chương trình Các bài giảng phải gắn với nhiệm vụ chính trị của đất nước, của địa phương, trước hết phải thể hiện được sự đổi mới nhận thức
về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ Trường đã mở các lớp học chiêu sinh với nhiều hình thức: dài hạn, bồi dưỡng, tập huấn Nghị quyết Đại hội VII, mở các lớp theo từng đối tượng cho miền núi, cho các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, phân phối lưu thông… Quan điểm chỉ đạo cho các lớp học là khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Quan điểm đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Đại hội VII chính là vận dụng đúng đắn và sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào hoàn cảnh đất nước Cần nhận thức đầy đủ, khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước Nội dung học tập của các lớp đều tập trung giải quyết các vấn đề đổi mới quản lý kinh tế, cải cách hành chính, xây dựng
và chỉnh đốn Đảng, công tác vận động quần chúng trong giai đoạn mới
Trang 27Nhiệm vụ chính trị của nhà trường là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ trong năm 1992 tiếp tục có những chuyển biến tích cực:
Năm 1992 đã mở một lớp trung cấp lý luận chính trị tập trung tại trường cho cán bộ xã gồm có 42 người; một lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ văn phòng của các ban ngành ở tỉnh và huyện gồm 14 học viên; một lớp bồi dưỡng kiến thức xây dựng Đảng cho các đảng uỷ cơ sở
xã, thị trấn tại huyện Phú Lương có 81 học viên tham dự Mở hai lớp bồi dưỡng công tác Hội Phụ nữ cho hội trưởng, phó hội trưởng Hội Phụ nữ xã, phường có 144 học viên; bốn lớp bồi dưỡng cán bộ Đoàn Thanh niên gồm có
223 học viên tham dự [63, tr 130]
Như vậy, 1992 nhà trường đã mở được 13 lớp, so với kế hoạch vượt chỉ tiêu bốn lớp là hai lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, một lớp cán bộ Đoàn Thanh niên và một lớp cán bộ Hội Phụ nữ Năm 1992 là năm bắt đầu thực hiện chương trình học tập mới do Học viện Nguyễn Ái Quốc biên soạn Các lớp bồi dưỡng vận dụng chương trình học tập của Học viện Hành chính quốc gia và các trường ngành Các chương trình được nghiên cứu, quán triệt và thực hiện hầu hết ở các khoa giảng dạy Chương trình lý luận trung cấp lý luận chính trị mới đã được thực hiện thể nghiệm ở một lớp đào tạo tập trung tại trường
Lớp đào tạo chương trình trung cấp lý luận cho cán bộ cơ sở từ năm
1992 chuyển sang kết thúc tháng 6/1993 gồm có 40 học viên Tháng 8/1993, khai giảng khoá mới, đối tượng chiêu sinh là cán bộ thoát ly có 33 học viên Nhà trường kết hợp với Thành uỷ Thái Nguyên mở lớp tại chức tại trường có
58 học viên [63, tr.130-131]
Các lớp bồi dưỡng kiến thức xây dựng Đảng với sáu lớp với 360 học viên Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước có sáu lớp, tổng số học viên là 316 người; bồi dưỡng công tác Đoàn Thanh niên: 11 lớp, tổng số học viên là 730
Trang 28người; bồi dưỡng công tác Hội Phụ nữ: sáu lớp, 379 người; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh mở một lớp bồi dưỡng cán bộ làm công tác Mặt trận Tổ quốc cho 56 học viên Tổng số lớp mở được trong năm 1993 là 32 lớp; tổng số học viên là 1.917 người, trong đó còn hai lớp đào tạo sẽ chuyển sang năm 1994 có
91 học viên So với kế hoạch được duyệt thì vượt bốn lớp, nhưng số học viên chỉ đạt 1.917/ 2.050 người, bằng 93,5% chỉ tiêu kế hoạch [63, tr.132]
Với công tác chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và những hoạt động của Trường Chính trị tỉnh đã cho thấy nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng vô cùng thiết thực, bổ ích cho người học Tinh thần thái độ của học viên các lớp đào tạo, các lớp bồi dưỡng tốt, nhu cầu học tập và động cơ, thái độ học tập đúng đắn Tỉ lệ học viên tốt nghiệp các lớp học tập trung tại trường là 100% Đối với các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, qua thu hoạch cá nhân, nhận thức của học viên được nâng lên Những học viên này sau khi về địa phương công tác đều phát huy được năng lực hoạt động thực tiễn, phong trào quần chúng ở các địa phương có cán bộ đã học qua các lớp bồi dưỡng đều phát triển
Tháng 3/1994, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái (khoá VI) cũng khai mạc tại thành phố Thái Nguyên Về công tác giáo dục lý luận, Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh chỉ rõ: Tích cực bồi dưỡng cho cán bộ đảng viên về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối chính sách của Đảng Vận dụng đúng đắn và sáng tạo những quan điểm, đường lối, chính sách của Trung ương đề ra những chủ trương và giải pháp thích hợp với địa phương về phát triển kinh tế - xã hội Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức, xây dựng tinh thần kiên định vì mục tiêu CNXH trong cán bộ, đảng viên và nhân dân [47, tr.2] Hội nghị đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, đó là: Công tác cán bộ phải thực sự đổi mới từ khâu nhận xét, đánh giá đến bồi
Trang 29dưỡng, sử dụng và đề bạt Thực hiện quy hoạch cán bộ đối với tất cả các cấp, ngành Thực hiện tiêu chuẩn hoá từng bước các chức danh cán bộ Đảng, Nhà nước và đoàn thể
Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh và của các cơ quan trung ương, quyết tâm của Đảng ủy và Ban Giám hiệu nhà trường, của tập thể cán bộ giảng dạy và công nhân viên, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Bắc Thái hoàn thành cơ bản chỉ tiêu mở lớp năm 1994 Chỉ tiêu được giao là tổ chức đào tạo bồi dưỡng cho 2.200 học viên Kết quả thực hiện được 2002 học viên, đạt 91% chỉ tiêu kế hoạch Số lớp mở là 27 lớp trong đó có ba lớp đào tạo lý luận chính trị chương trình trung cấp, một lớp bồi dưỡng chương trình cao cấp, bốn lớp bồi dưỡng cán bộ làm công tác Đảng [63, tr.135] Tổng cộng có tám lớp đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác Đảng, gồm 571 học viên; chín lớp bồi dưỡng cán bộ Đoàn Thanh niên gồm có 758 học viên; bốn lớp bồi dưỡng cán bộ Hội Phụ nữ gồm có 389 học viên; bốn lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, trong đó có một lớp bồi dưỡng chuyên viên chính, số học viên là 128 người; một lớp cho Hội Nông dân gồm có 74 học viên và một lớp cán bộ làm công tác Mặt trận Tổ quốc: 82 học viên [63, tr.135-136]
Trong hai năm 1993 và 1994 có những sự kiện quan trọng và là mốc đáng ghi nhớ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của các tỉnh, thành phố trong
cả nước Ngày 10/3/1993, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Quyết định số 61 –
QĐ/TW Về việc sắp xếp lại các trường Đảng trung ương chuyển thành Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Thực hiện Quyết định của Bộ Chính trị Trung
ương Đảng, ngày 5/9/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quyết định
số 88 - QĐ/TW “Về việc thành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương” Thành lập Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở thống nhất trường Đảng và trường Hành chính hoặc trường quản lý Nhà nước của tỉnh, thành phố, gọi là trường
Trang 30Chính trị tỉnh, thành phố Trường Chính trị tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh, thành uỷ và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; có vị trí như một ban, ngành cấp tỉnh; có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp trưởng, phó phòng huyện, quận; trưởng, phó phòng của các ban, ngành cấp tỉnh và cán bộ dự nguồn các chức danh trên Bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng trên về lý luận chính trị, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về quản lý hành chính nhà nước và về công tác vận động quần chúng Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương
Với sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái đã quyết định đổi tên Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thành Trường Chính trị tỉnh Bắc Thái; bộ máy trường đã được kiện toàn, trường đã tổ chức năm lớp đào tạo chương trình trung cấp lý luận chính trị, đã kết thúc được hai lớp: lớp tổ chức
ở huyện Phú Bình có 71 học viên; lớp tại chức trong trường có 43 học viên
Ba lớp chuyển sang năm 1996 ở Phổ Yên: 80 học viên; ở Phú Lương: 98 học viên và lớp cho cán bộ viện kiểm sát thành phố Thái Nguyên: 80 học viên Tổng số học viên là 372 người Học chương trình bồi dưỡng ngắn hạn có 14 lớp gồm ba lớp cán bộ Đoàn Thanh niên có 201 học viên; ba lớp cán bộ Hội Phụ nữ có 239 học viên; một lớp cán bộ Mặt trận Tổ quốc có 52 học viên; một lớp cán bộ Hội Nông dân với 66 học viên; năm lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ chủ chốt cơ sở có 352 học viên; một lớp bồi dưỡng chuyên viên có 40 học viên Tổng số học viên đã học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn là 950 người [63, tr.135] Tổng cộng trong năm 1995 nhà trường đào tạo, bồi dưỡng và phục vụ cho 2.147 học viên tham gia học tập
Với yêu cầu về ĐT&BDLLCT cho cán bộ, đảng viên ngày càng tăng,
bên cạnh Quyết định số 88- QĐ/TW về việc “Thành lập Trường Chính trị
Trang 31cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, ngày 3/6/1995, Ban Bí thư
Trung ương ra Quyết định số 100- QĐ/TW “Về việc tổ chức trung tâm bồi
dưỡng chính trị ở cấp huyện” Theo Quyết định này, TTBDCT huyện (quận,
thị xã, thành phố) có nhiệm vụ và tổ chức như sau:
Về nhiệm vụ:
- Tổ chức, bồi dưỡng về LLCT, nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ trên địa bàn huyện (quận, thị xã, thành phố) không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường tỉnh, trước hết là bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng bản, cac đối tượng phát triển đảng viên, đảng viên mới
- Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở để thông qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện
- Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực
tế của địa phương do cấp ủy quy định
Về mặt tổ chức:
- Bộ máy TTBDCT có giám đốc (có thể bố trí trưởng Ban Tuyên giáo kiêm giám đốc trung tâm), giáo vụ, hành chính với biên chế gọn nhẹ không quá 5 người, điều chỉnh trong số cán bộ hiện có trong biên chế của cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị (không tăng thêm tổng số biên chế) Các Trung tâm có đội ngũ giảng viên kiêm chức và có chế độ với cộng tác viên
- TTBDCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc huyện, thị ủy có vị trí tương đương các phòng ban của huyện, thị, có tài khoản và con dấu riêng Kinh phí hoạt động của Trung tâm thuộc ngân sáng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hàng năm và dài hạn của Nhà nước [14, tr.1]
Với Quyết định số 100-QĐ/TW về tổ chức Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện của Ban Bí thư Trung ương (khoá VII) ngày 03/6/1995 Nhận thức được tầm quan trọng của việc thành lập các TTBDCT cấp huyện, đặc
Trang 32biệt là trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; trên cơ sở hướng dẫn của Ban Tổ chức, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ra Quyết định số 1042-QĐ/TU ngày 01/11/1995 về việc thành lập TTBDCT của các huyện, thành, thị trong tỉnh và tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt cấp tỉnh quán triệt và triển khai thực hiện Ngay sau khi có Quyết định số 1042-QĐ/TU của tỉnh ủy Thái Nguyên về việc thành lập TTBDCT, Ban Thường vụ các huyện, thành, thị uỷ đã tiến hành thành lập các TTBDCT
Ngày 5/5/1996, Đại hội đại biểu lần thứ VII Đảng bộ tỉnh Bắc Thái khai mạc Đại hội đánh giá cao những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đạt được trong công cuộc đổi mới, tạo nên sự chuyển biến toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, củng
cố, xây dựng hệ thống chính trị Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch mà Đại hội lần thứ VI Đảng bộ tỉnh đề ra đều hoàn thành vượt mức
Đại hội cũng kiểm điểm những thiếu sót về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ở địa phương: Công tác cán bộ từ quy hoạch, kế hoạch đào tạo chưa đáp ứng kịp với yêu cầu phát triển của tình hình, khâu quan trọng nhất và cũng là khâu đang có nhiều tồn tại nhất là đội ngũ cán bộ
cơ sở Chưa có một chiến lược cơ bản giải quyết vấn đề tổ chức cơ sở cả về Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, từ việc thực hiện tiêu chuẩn hoá từng chức danh đến quy chế làm việc và chính sách chế độ, nhiều nơi hiện nay đội ngũ cán bộ còn thiếu cả về số lượng và trình độ chưa đáp ứng được đòi hỏi cử thời kỳ mới [46, tr12]
Đại hội đề ra những yêu cầu cụ thể về công tác xây dựng Đảng, về công tác nghiên cứu, học tập lý luận: Để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo trong thời kỳ mới, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt, coi đây là nhiệm vụ then chốt có ý nghĩa quyết định vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội
Trang 33Về chính trị tư tưởng: Xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng theo định hướng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo của Đảng Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Trung ương để đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương…” [46, tr.18]
Đại hội chỉ rõ nhiệm vụ của công tác cán bộ và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ: Làm tốt công tác tuyển chọn, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, ngành, không ngừng nâng cao kiến thức, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt Đổi mới về đánh giá, nhận xét, đề bạt và giải quyết chính sách cán bộ Mạnh dạn bổ nhiệm những cán bộ trẻ có phẩm chất, trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới Thực hiện tốt nguyên tắc Đảng trực tiếp và thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ Để đạt được những mục tiêu đó, trước hết các tổ chức Đảng
và cấp uỷ Đảng trong toàn Đảng bộ phải thực sự chăm lo tới công tác tổ chức xây dựng Đảng Tăng cường công tác bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức ở các cấp các ngành [47, tr.20]
Năm 1996, tỉnh Bắc Thái đã chỉ đạo mở năm lớp đào tạo chương trình trung cấp lý luận, gồm 382 học viên, trong đó có một lớp 80 học viên đã tốt nghiệp Các lớp đào tạo còn lại chuyển sang năm 1997 Các lớp bồi dưỡng
mở được năm lớp, trong đó hai lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho chủ tịch xã, phường gồm 203 học viên; ba lớp cán bộ Đoàn Thanh niên gồm
112 học viên; đăng cai mở một lớp bồi dưỡng chương trình trung cao cấp cho chuyên viên và chuyên viên chính do giảng viên của Học viện Hành chính quốc gia đảm nhiệm nội dung, gồm 164 học viên; hoàn thành chương trình
Trang 34một lớp cao cấp lý luận chính trị do giảng viên của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh giảng dạy [63, tr.136]
Ngày 1/1/1997, tỉnh Thái Nguyên chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới Từ đây, công tác ĐT&BD LLCT của tỉnh ngày càng được quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình mới của địa phương khi chia tách
về hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, sự chủ động, sáng tạo của các cấp ủy, Ban Giám đốc trường Chính trị tỉnh và Ban Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị công tác ĐT& BDLLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Thái trước năm 1997 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và nổi bật: mở được 27 lớp đào tạo trung cấp LLCT;
01 lớp đào tạo cao cấp lý luận chính trị; 63 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn cho các đối tượng cán bộ thuộc: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên; Hội Cựu chiến binh với hàng nghìn học viên được tham gia học tập và trao đổi kinh nghiệm, góp phần rất lớn vào nâng cao năng lực phẩm chất, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ cơ sở trên địa bản tỉnh Những kết quả đó, mặc dù còn nhiều hạn chế do điều kiện chủ quan, khách quan tác động song đã góp phần quan trọng thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra
1.2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm
1997 đến năm 2000
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Nửa sau những năm 90 của thế kỷ XX là thời gian có nhiều biến động đối với tình hình thế giới, tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế- văn hóa- chính trị- xã hội trong nước CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc và sụp đổ khiến CNXH lâm vào thoái trào Tình
Trang 35hình đó đã tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên
và nhân dân trong các nước Cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế
và đời sống xã hội Các nước đều đứng trước những cơ hội để phát triển nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước TBCN phát triển và các công ty đa quốc gia nên các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước nguy cơ tụt hậu, thách thứ to lớn Chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng Cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học- công nghệ diễn ra gay gắt
Ở trong nước, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới đã tác động sâu sắc vào Việt Nam, trong khi khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn chưa chấm dứt, nguồn cân đối về vật chất, tài chính chưa đáp ứng được mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế, lạm phát vẫn còn ở mức cao Về cơ bản, nền kinh tế chưa có tích luỹ từ thu nhập quốc dân, sản xuất và đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn; tình trạng thất nghiệp ở mức cao; trật tự, kỷ cương còn lỏng lẻo; năng lực quản lý nhà nước, tổ chức
bộ máy và đội ngũ cán bộ nhiều mặt chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình
Trong giai đoạn này, vấn đề cán bộ ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có tính lý luận sâu sắc lại vừa là yêu cầu của thực tiễn, vừa có tính
cơ bản lâu dài và là đòi hỏi bức thiết của tình hình hiện tại Nhận thức rõ vị trí đặc biệt quan trọng của công tác cán bộ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều Nghị quyết quan trọng đề cập đến công tác cán bộ Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tổ chức cán bộ đã được các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện nghiêm túc, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng vào việc củng cố phát triển đội ngũ cán bộ, ổn định
Trang 36tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân Trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người trực tiếp tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, tạo nên nền tảng gắn bỏ giữa Đảng với dân
Vì vậy, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyên môn và phẩm chất đạo đức vô cùng cần thiết, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở tại các địa phương Thời gian này Đảng và Nhà nước đã có thêm những văn bản hướng dẫn về tổ chức và thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức
Từ ngày 9 đến ngày 18 /6 /1997, Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII họp tại Thủ đô Hà Nội Hội nghị đã tiến hành
thảo luận và thông qua Nghị quyết “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Hội nghị nhận xét tổng quát về đội
ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo nói riêng từ trung ương đến cơ sở:
có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, sáng tạo, hăng hái thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; có trình độ, kiến thức và năng lực quản lý xã hội; đại bộ phận cán bộ có đạo đức, phẩm chất cách mạng, có lối sống lành mạnh, quan hệ gắn bó với nhân dân Nhưng trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới: “Đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [20, tr.68-69]
Mục tiêu của công tác cán bộ được Hội nghị Trung ương xác định là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt
là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm
Trang 37thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững độc lập
tự chủ, đi lên XHCN
Ngày 12/05/1999, Ban Bí thư ban hành Quy định số 54-QĐ/TW về
“Chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng”, xác định học tập là nghĩa vụ,
trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn
Thực tế đã chứng minh, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự
ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của phong trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ này Họ giữ vai trò quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, năng lực lãnh đạo và quản lý của chính quyền cơ sở Mọi đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có thể thành hiện thực hay không nhất thiết phải thông qua phong trào cách mạng của quần chúng Hiệu lực của bộ máy quyền lực ở cơ sở cũng tùy thuộc trước hết vào năng lực của đội ngũ cán bộ này
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ cơ sở, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công tác cán bộ Đảng luôn quan tâm đến đội ngũ cán bộ của mình, trong đó
có đội ngũ cán bộ cơ sở Sự nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ sở, mà sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc rất quan trọng ở chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt cấp cơ sở Vì thế, công tác ĐT&BDLLCT thống nhất về
Trang 38quan điểm, lý tưởng chính trị, củng cố niềm tin, lập trường cho cán bộ cơ sở
là hết sức cần thiết nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thái độ đúng đắn, tạo tâm lý sẵn sàng vượt khó khăn nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó
Sau khi chính thức hoạt động theo đơn vị hành chính mới, Thái Nguyên vẫn là một tỉnh nghèo Cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư ban đầu nhưng chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới Các cơ sở công nghiệp của trung ương, chủ yếu là công nghiệp nặng, được xây dựng từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, thiết bị, công nghệ
đã lạc hậu, chậm đổi mới đầu tư, cho nên hiệu quả kinh tế thấp, sức cạnh tranh trên thị trường yếu Mặt bằng dân trí tỉnh Thái Nguyên tuy cao hơn so với một số tỉnh trung du, miền núi, nhưng phân bố không đều Một bộ phận trong cán bộ, đảng viên và phần lớn nông dân ở các vùng nông thôn, miền núi
dù đã trải qua 10 năm đổi mới, nhưng vẫn còn mang nặng nếp nghĩ, cách làm thời bao cấp cùng với tập quán canh tác lạc hậu… Đó chính là những khó khăn đối với một tỉnh mới được chia tách, lại phải san sẻ một bộ phận cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành với tỉnh bạn
Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã biết khai thác thế mạnh của tỉnh, phát huy mọi nội lực, từng bước khắc phục khó khăn Nhờ
đó, trong gần một năm kể từ ngày mới được thành lập, nhịp độ phát triển kinh
tế trong tỉnh vẫn bảo đảm tốt; an ninh chính trị được giữ vững; văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao có những tiến bộ khá không những về số lượng mà
cả về chất lượng; hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch năm 1997 đều được thực hiện
và đều cao hơn năm 1996…
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá
VIII) “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước” và những văn bản quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Trang 39Chí Minh là sự chỉ đạo trực tiếp cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Thường trực
Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên… xây dựng những định hướng quan trọng đi sâu vào công tác quản lý trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tỉnh Tỉnh uỷ Thái Nguyên cho tiến hành điều tra tổng hợp chất lượng đội ngũ cán
bộ toàn tỉnh Trên cơ sở đó, xây dựng Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Quyết định về phân cấp quản lý cán bộ và một số quy định trong công tác cán bộ; Quy định về quy trình đề bạt cán bộ; Quy định tuyển chọn cán bộ, nhân viên vào khối các cơ quan Đảng, đoàn thể; Quy định tuyển chọn cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng
Trong bối cảnh lịch sử của đất nước, theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ quyết định tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ ngày 11 đến ngày 14/11/1997 Đại hội lần này vừa có ý nghĩa kế thừa bảy nhiệm kỳ của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trước đây và 31 năm xây dựng, trưởng thành của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, vừa là đại hội mở đầu thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Đại hội đã rất chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên tất
cả các lĩnh vực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập và hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế:
“Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nâng cao năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và trình độ ngoại ngữ để tham gia vào các chương trình dự án hợp tác đầu tư với nước ngoài Có cơ chế chính sách thích hợp đối với các vùng nguyên liệu làm hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức làm tư vấn dịch vụ gọi vốn đầu tư từ nước ngoài” [11, tr.2]
Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nghiên cứu, học tập lý luận, Đại hội nêu rõ: “Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Trang 40Chí Minh nhằm nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ nhận thức đúng đắn và phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới” [11, tr.3-4]
Đại hội đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các ngành, các cấp:
“Các cấp, các ngành cần phải thường xuyên xây dựng quy hoạch cán
bộ và có quy trình tuyển chọn, tạo nguồn đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ một cách toàn diện Thực hiện đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo quy trình đảm bảo tiêu chuẩn, khách quan, dân chủ Quan tâm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ trẻ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, tạo sự đổi mới trong đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành và chuẩn bị một bước cho đội ngũ cán bộ sau năm 2000 Thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ theo nhiệm kỳ Đại hội Đảng, nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân các cấp Hàng năm, các cấp, các ngành cần dành một phần kinh phí thích đáng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [11, tr.6]
Để làm tròn trọng trách của mình, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới,
tự chỉnh đốn để nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ
sở và tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhằm xây dựng Đảng
bộ vững mạnh về mọi mặt, coi đây là nhiệm vụ then chốt trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh Báo cáo chính trị nêu rõ: “Trọng tâm của công tác xây dựng Đảng là công tác xây dựng tổ chức Đảng, rèn luyện đảng viên và xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khoá VIII)” [11, tr.6]
Đại hội đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thái Nguyên là một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị, tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Nghị quyết Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm