1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đảng bộ huyện thường tín (hà tây) lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống từ năm 1991 đến năm 2008

109 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy tiềm năng to lớn đó của địa phương, trong định hướng phát triển KT - XH của địa phương, Đảng bộ huyện Thường Tín qua các kỳ Đại hội đều xác định: khôi phục và phát triển cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Bố cục của luận văn 11

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN VỚI VIỆC KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1999 12

1.1 Khái quát về làng nghề truyền thống 12

1.2 Huyện Thường Tín và thực trạng làng nghề truyền thống trước năm 1991 18

1.3 Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 1999 25

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2008 42

2.1 Chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hà Tây về khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống 42

2.2 Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo phát triển làng nghề truyền thống từ năm 2000 đến năm 2008 47

Tiểu kết chương 2 65

Trang 4

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 66

3.1 Nhận xét 66

3.2 Một số kinh nghiệm 81

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

CÁC TRANG WEBSITE 101

PHỤ LỤC 102

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hoá

BCH : Ban Chấp hành

EU : Liên minh Châu Âu

HĐH : Hiện đại hoá

HTX : Hợp tác xã

KT - XH : Kinh tế – xã hội

LNTT : Làng nghề truyền thống

TCN : Thủ công nghiệp

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

UBND : Uỷ ban nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Làng nghề truyền thống đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch

sử nước ta Làng nghề - tên gọi quen thuộc và gắn liền với nông thôn Việt Nam Làng nghề tồn tại và phát triển với tư cách là một thực thể vật chất và tinh thần phong phú, sinh động của làng quê Việt Thực tiễn cho thấy, phát triển của các LNTT đã làm tăng thu nhập của các địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH HĐH; tăng tổng sản phẩm cho kinh tế địa phương, thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị hóa nông thôn Bên cạnh đó,làng nghề truyền thống còn là một

bộ phận của nền văn hóa Việt Nam, có vai trò rất quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động Văn hóa Việt Nam

Kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, sự đổi mới cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đưa ra từ Đại hội VI của Đảng (12/1986) đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nói chung và các ngành nghề truyền thống nói riêng Tiếp sau đó là chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn - một trong những nội dung lớn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, được Đại hội VIII (9/1996) thông qua đã mang lại một số yếu tố thuận lợi mới, góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt các làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam Thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, những năm qua, Đảng đã đưa ra nhiều chủ trương, trong đó có chủ trương khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Chủ trương đó đã được đảng bộ các cấp quán triệt

và vận dụng sáng tạo, có hiệu quả, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình

Là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ, nay là thành phố Hà Nội; nằm ngay cửa ngõ phía Nam của Thủ đô, huyện Thường Tín có lợi thế để phát triển KT - XH: vị trí địa

Trang 7

phương có truyền thống lịch sử, văn hóa đặc sắc, vốn được mệnh danh là “đất trăm nghề” với 126 làng nghề truyền thống rải rác khắp huyện, trong đó có 43 làng được công nhận làng nghề cấp tỉnh như các làng thêu ở Thắng Lợi, Quất Động, làng sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái), làng tiện Nhị Khê, làng mây tre đan Ninh Sở (xã Ninh Sở), làng đá Hiền Giang (xã Hiền Giang) Các làng nghề kể trên đều có tuổi đời hàng trăm năm và được truyền qua nhiều đời Nhận thấy tiềm năng to lớn đó của địa phương, trong định hướng phát triển KT - XH của địa phương, Đảng bộ huyện Thường Tín qua các kỳ Đại hội đều xác định: khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống là một trong những ưu tiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của huyện Thường Tín nói chung và phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nói riêng Trong những năm đổi mới, đặc biệt là

từ khi tỉnh Hà Tây được tái lập (1/10/1991), Đảng bộ huyện Thường Tín đã luôn quan tâm và đưa ra nhiều chủ trương để bảo tồn và phát huy vai trò của các làng nghề truyền thống Cùng với sự phát triển của các làng nghề truyền thống của tỉnh, các làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín cũng đã có những bước phát triển mới mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội Tuy nhiên, thực trạng phát triển của các làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện Quá trình khôi phục và phát triển làng nghề trong những năm qua vẫn bộc lộ một số bất cập, hạn chế cần được tổng kết rút kinh nghiệm Mặt khác, từ ngày 1/8/2008 Hà Tây được sát nhập vào Thành phố Hà Nội, huyện Thường Tín sẽ có nhiều cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển thế mạnh về làng nghề truyền thống nói riêng Cùng với đó thì tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới đang ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế đất nước nói chung; ảnh hưởng tới sự phát triển của các làng nghề truyền thống nói riêng Thực trạng đó đòi hỏi Đảng bộ huyện Thường Tín cần phải đánh giá đúng thực chất những thành tựu đã đạt được và những hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển các làng nghề truyền thống trong những năm qua, phân tích tìm ra nguyên nhân của những hạn chế để có những giải pháp thích hợp nhằm phát triển

Trang 8

vững chắc các làng nghề truyền thống cho xứng với tiềm năng của huyện trong giai đoạn hiện nay

Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Đảng bộ huyện Thường Tín

(Hà Tây) lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 2008” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phát triển làng nghề truyền thống là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Chính vì vậy mà làng nghề truyền thống lâu nay đã là đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Đã có khá nhiều công trình, đề tài, nhiều cuộc hội thảo nghiên cứu về làng nghề truyền thống từ nhiều cách tiếp cận và với nhiều góc độ khác nhau Trong số đó có thể kể ra một số công trình khoa học tiêu biểu theo các nhóm sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu về làng nghề truyền thống nói chung:

Làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam (1998) của Bùi Văn Vượng, Nxb Văn

hoá đã giới thiệu một cách khái quát về lịch sử ra đời, cách thức làm nghề của một

số nghề thủ công truyền thống của Việt Nam trên khắp cả nước như các nghề: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, chạm khắc đá, thêu ren, mây tre đan,…trong đó có giới

thiệu qua về một số làng nghề thủ công truyền thống của huyện Thường Tín; Bảo

tồn và phát triển làng nghề trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

(2009) của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, khẳng định vai trò có ý

nghĩa to lớn của làng nghề đối với sự phát triển của đất nước Đồng thời nêu lên thực trạng phát triển của làng nghề hiện nay với những cơ hội và cả thách thức Từ đó đưa ra những hướng bảo tồn và giải pháp thực hiện

Nhóm đề cập đến các làng nghề truyền thống Hà Tây, trong đó có Thường Tín:

Những biện pháp nhằm khai thác tiềm năng ở một số làng nghề thủ công truyền thống để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Tây (2002)của Nguyễn Đức

Trọng, đã làm nổi bật vai trò của làng nghề thủ công truyền thống với việc phát

Trang 9

triển kinh tế - xã hội nói chung, đối với ngành du lịch nói riêng; phân tích thực trạng khai thác tiềm năng du lịch tại các làng nghề thủ công truyền thống ở Hà Tây, đồng

thời đưa ra các giải pháp để khai thác tiềm năng đó; Bảo tồn giá trị nghề thủ công

truyền thống (2006) của Đặng Văn Bài tại Hội thảo “Bảo tồn bền vững làng nghề

Hà Tây thực trạng và giải pháp” đã nhìn nhận vai trò của làng nghề từ góc độ văn hóa Qua đó khẳng định, ngày nay, để bảo tồn nghề thủ công truyền thống, trước tiên cần phải giải quyết vấn đề nhận thức từ cấp vĩ mô là Chính phủ và các Bộ, ngành ở trung ương tới vi mô là các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng cư dân ở cơ sở và đưa ra một số mô hình tham khảo nhằm bảo tồn nghề thủ công

truyền thống; Xây dựng mô hình liên kết giữa công ty lữ hành với đặc điểm du lịch

làng nghề truyền thống Hà Tây (2008) tác giả Phạm Thị Hồng Phượng, Nxb

ĐHKHXH & NV, Hà Nội đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa các công ty lữ hành với các điểm du lịch làng nghề trên địa bàn Đưa ra một số biện pháp hỗ trợ phát triển du lịch làng nghề Hà Tây một cách thiết thực, hiệu quả

Nhóm các cuộc Hội thảo quốc tế và trong nước:

Các cuộc Hội thảo này được tổ chức để đánh giá tình hình phát triển của các làng nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung, của tỉnh Hà Tây nói riêng Từ đó đề

ra những giải pháp nhằm phát triển bền vững các làng nghề trong bối cảnh hiện nay

Có thể kể đến các Hội thảo như: Hội thảo Quốc tế Bảo tồn và phát triển làng nghề

thủ công truyền thống, Hà Nội, 8/1996; Hội thảo Phát triển bền vững làng nghề truyền thống Hà Tây: Thực trạng và giải pháp, Hà Đông, 2/11/2006; Diễn đàn Làng nghề năm 2007, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức ngày 17/11/2007

tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội

Nhóm các bài viết về làng nghề truyền thống được đăng tải trên các báo và tạp chí:

“Một số vấn đề các ngành nghề – làng nghề truyền thống Việt Nam” của Phạm

Viết Muôn in trên Tạp chí Công nghiệp, Số 11/1996; “Hình thức tổ chức sản xuất,

kinh doanh trong các làng nghề ở nông thôn ở nước ta hiện nay” của Trần Minh

Yến in trên Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 6 năm 2002; “Phát triển làng nghề truyền

Trang 10

thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của

TS Mai Thế Hởn trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Môi trường, Số 5 năm 1999;

“Làng nghề ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” của Đỗ Quang Dũng trên Tạp chí công nghiệp, Kỳ 1 năm 2005;

“Thường Tín: trăn trở giữ nghề truyền thống” của Bảo Ngọc đăng trên trang thông

tin điện tử của Bộ Công thương, http//www.aip.gov.vn, 6/11/2009

Các công trình này đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn phát triển làng nghề Việt Nam nói chung và một số địa phương nói riêng, trong đó có các làng nghề huyện Thường Tín như: đặc điểm, vai trò của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển của đất nước cũng như của địa phương; đưa ra các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống gắn với phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch,…Tuy nhiên các công trình đó nghiên cứu trên một địa bàn lớn, đề xuất những vấn đề ở tầm vĩ

mô, không mang đặc thù của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhóm luận án, luận văn nghiên cứu về làng nghề truyền thống:

Vũ Thị Thu, Khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Việt

Nam, Luận văn Thạc sĩ khoa học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1998;

Đỗ Quang Dũng (2006), Phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Bạch Thị Lan Anh (2009), Phát triển làng

nghề truyền thống ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội;

Nguyễn Thị Thọ, Phát triển làng nghề ở huyện Từ Liêm trong tiến trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Kiều Mai Hương (2011), Phát triển làng nghề ở huyện

Thạch Thất thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội,

Hà Nội Các tác giả đều khẳng định vai trò của làng nghề thủ công truyền thống và yêu cầu cần thiết phải khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam nói chung, ở các địa phương nói riêng; đưa ra một số kinh nghiệm phát

Trang 11

triển làng nghề của các nước, các địa phương khác, từ đó đề ra một số giải pháp để phát triển làng nghề phù hợp với thực tiễn đất nước, địa phương

Trên địa bàn huyện Thường Tín trong những năm qua cũng đã có những tổng kết, báo cáo đánh giá kết quả phát triển làng nghề của các đoàn thể như Phòng Công thương, Ban Kinh tế huyện,…

Những công trình nghiên cứu, những tổng kết nêu trên là nguồn tư liệu quý báu, là cơ sở để tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống những chủ trương và sự chỉ đạo khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng bộ huyện Thường Tín, dưới góc độ lịch sử Đảng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Làm sáng rõ sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín

trong việc khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống trong những năm

1991 – 2008 Qua đó đúc rút một số kinh nghiệm để vận dụng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển các làng nghề thủ công truyền thống của địa phương trong tình hình mới

Nhiệm vụ:

+ Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội của huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và bức tranh tổng thể về làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín trước năm 1991

+ Phân tích làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Thường TÍn nhằm khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống

+ Đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế trong quá trình thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng bộ huyện Thường Tín

+ Rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng bộ huyện Thường Tín; trên cơ sở đó vận dụng vào việc phát triển làng nghề của địa phương khi Thường Tín đã trở thành một huyện của Thành phố Hà Nội

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thường Tín trong việc khôi phục

và phát triển làng nghề truyền thống

Phạm vi:

- Về không gian: Nghiên cứu làng nghề của huyện Thường Tín, trong đó tập trung chủ yếu vào một số làng nghề: làng thêu Quất Động, làng sơn khảm Hạ Thái, làng mỹ nghệ sừng Thụy Ứng, làng tiện gỗ Nhị Khê, làng bông len Trát Cầu (Tiền Phong)

- Về thời gian: Từ năm 1991 đến khi huyện Thường Tín được sát nhập vào Hà Nội (8/ 2008)

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu

Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về nghề truyền thống và làng nghề truyền thống

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả chọn phương pháp lịch sử và phương pháp logic

là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng kết hợp một số phương pháp như: Điền giã, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh

Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận văn này tôi đã sử dụng nguồn tài liệu chủ yếu trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội X (2006), các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Hà Tây (cũ), các Nghị quyết của Đảng bộ huyện Thường Tín, các báo cáo tổng kết kết quả công tác phát triển làng nghề truyền thống, các tài liệu lưu trữ của tỉnh, của huyện có liên quan,… Đây là nguồn tài liệu cơ bản để thực hiện đề tại này và những tài liệu đó được khai thác bằng nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Phòng lưu trữ của Huyện ủy, UBND huyện Thường Tín, Thư viện huyện

Trang 13

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học, các chuyên luận, chuyên khảo, các luận văn, luận án

6 Đóng góp của luận văn

- Tái hiện lại quá trình Đảng bộ huyện Thường Tín vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Hà Tây về việc khôi phục và phát triển các LNTT của địa phương trong những năm 1991 – 2008 Đánh giá một cách khách quan kết quả thực hiện chủ trương khôi phục và phát triển LNTT của Đảng bộ huyện Thường Tín

- Đúc kết được một số kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống mà những kinh nghiệm đó có thể vận dụng trong tình hình mới hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền về chủ trương phát triển kinh tế – xã hội của huyện Thường Tín, Hà Nội; bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết và Kết luận

Chương 1: Đảng bộ huyện Thường Tín với việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 1999

Chương 2: Chủ trương phát triển làng nghề truyền thống của Đảng bộ huyện Thường Tín từ năm 2000 đến năm 2008

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm chủ yếu

Trang 14

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN THƯỜNG TÍN VỚI VIỆC KHÔI PHỤC

Có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ nghề truyền thống ở nước ta như: nghề cổ truyền, nghề thủ công, nghề thủ công truyền thống, nghề tiểu thủ công nghiệp,…

Đối với mỗi nghề, để được xếp vào “nghề thủ công truyền thống” cần thoả mãn được những tiêu chí sau:

1 Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta;

2 Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề;

3 Có nhiều nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề;

4 Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam;

5 Sử dụng hoàn toàn hoặc chủ yếu là nguyên liệu tại chỗ hoặc trong nước;

6 Sản phẩm độc đáo và tiêu biểu của Việt Nam, có giá trị và chất lượng cao, vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam;

7 Là nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng [15, tr.3]

Ngày nay, do có sự hỗ trợ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ vào sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống nên khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu mở rộng hơn Có thể hiểu là: Nghề truyền thống xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện được những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc

Trang 15

Làng nghề truyền thống:

Sản phẩm của các nghề truyền thống được sản xuất tập trung tại một hay một làng nào đó sẽ hình thành các làng nghề, xã nghề

Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng:

Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng hoá thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất làng nghề truyền thống ngay trên quê hương mình, hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác [72, tr.13]

LNTT là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm và phải có các yếu tố sau: hình thành và phát triển lâu đời; có nhiều nghệ nhân và đội ngũ lành nghề đông đảo;

sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước là chủ yếu; sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo Việt Nam, có giá trị, chất lượng cao, vừa là hàng hóa tiêu dùng, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân tộc, mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam; làng nghề nuôi sống phần lớn bộ phận dân cư làng Thông tư 116/2006/TT- BNN quy định: làng nghề truyền thống có nghề đã xuất hiện hơn 50 năm, tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, những thành tựu của khoa học kỹ thuật hiện đại đã được áp dụng và đưa vào sản xuất tại các làng nghề làm cho các sản phẩm vừa mang yếu tố truyền thống vừa phù hợp với yêu cầu của

xã hội hiện đại

1.1.2 Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống

Một là, các làng nghề gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

Các làng nghề cùng xuất hiện và tồn tại trong từng làng, xã ở nông thôn Các ngành thủ công nghiệp không tách rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản

Trang 16

xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Những người thợ thủ công trước hết và đồng thời cũng là nông dân Các gia đình hộ nông dân vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm thủ công nghiệp Hầu hết các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp, đó là đặc trưng phổ biến của các làng nghề Bắc Bộ Chính vì vậy mà phát triển các nghành nghề cũng tức là góp phần phát triển nông nghiệp – nông thôn

Hai là, công nghệ và kỹ thuật trong các làng nghề thường rất thô sơ, lạc hậu,

sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu

Công cụ sản xuất chủ yếu trong các làng nghề truyền thống đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm phẩm của các làng nghề chứa đựng nhiều chi tiết, công đoạn mà máy móc dù hiện đại cũng không thể thay thế được mà hoàn toàn phải dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ

là chủ yếu Vì vậy, đây chính là đặc điểm làm cho các làng nghề có thể tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử khác nhau

Ba là, đại bộ phận các nguyên liệu của các làng nghề thường có sẵn ở địa

phương

Hầu hết các làng nghề truyền thống đều được hình thành ở những nơi có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương Đặc biệt những nghề truyền thống sản xuất những sản phẩm tiêu dùng như: đan lát, mây tre (mũ, rổ, rá,…), sản vật liệu xây dựng… thì lại càng gắn chặt với những vùng có nguồn nguyên liệu tại chỗ dồi dào Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan một số làng nghề đã phải nhập khẩu nguyên liệu (chỉ thêu, ốc - khảm trai, thuốc nhuộm, sừng trâu bò…)

Bốn là, dạy nghề trong các làng nghề chủ yếu được thực hiện theo phương

thức truyền nghề Sự hình thành và phát triển các làng nghề gắn chặt với vai trò của các nghệ nhân với tư cách là những người thầy hướng dẫn tay nghề từ thấp lên cao Mỗi làng nghề đều có một tổ nghề Ổng tổ nghề chính là người thầy đầu tiên dạy nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp nơi khác về truyền lại cho làng mình Trong các làng nghề truyền thống, các nghệ nhân là lực lượng nòng cốt và là

Trang 17

một bộ phận quan trọng để duy trì và phát triển làng nghề Chính tài năng và đôi bàn tay vàng của nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm độc đáo, tinh xảo vừa mang giá trị vật chất, vừa mang giá trị nghệ thuật, góp phần làm vẻ vang cho làng nghề, cho dân tộc

Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng nghề, thậm chí có những bí quyết nghề nghiệp còn không được phổ biến rộng rãi trong từng gia đình, dòng tộc Ngày nay, các nghệ nhân, thợ giỏi đã không ngại dạy nghề của làng mình cho nhân dân địa phương khác Trong các cơ sở đào tạo nghề nói chung thì phương thức dạy nghề theo lối vừa học vừa làm vẫn là chủ yếu Cho nên phương thức đào tạo theo lối truyền thống vẫn mang tính chủ đạo

Năm là, sản phẩm của các làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc, tính

mỹ thuật cao, mang bản sắc văn hoá dân tộc

Mỗi một sản phẩm của làng nghề là một tác phẩm nghệ thuật, là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sáng tạo nghệ thuật độc đáo Nó vừa có giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống còn mang những giá trị văn hoá độc đáo, thậm chí trở thành các di sản mang bản sắc của vùng, của dân tộc, mang những vóc dáng của dân tộc, quê hương, chứa đựng những ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm nhân văn và tín ngưỡng tôn giáo dân tộc…

Sáu là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô gia

đình Một số nơi đã có sự phát triển các tổ chức hợp tác xã và các doanh nghiệp tư

nhân nhưng vẫn còn manh mún

Theo phương thức truyền nghề, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô gia đình Các thế hệ khác nhau trong gia đình đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh Người chủ

hộ trong gia đình thường đồng thời là người thợ cả mà trong số đó không ít người là nghệ nhân Đáng chú ý là người lao động có tuổi ở các làng nghề truyền thống lại có thể là nguồn nhân lực quý cần khai thác về kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất

Trang 18

Đây là hình thức được áp dụng từ lâu đời của lịch sử làng nghề và vẫn được duy trì đến nay, giúp cho một số gia đình vẫn giữ được bí quyết nghề nghiệp

Ngoài ra còn có các hình thức khác như: tổ sản xuất (các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được phát triển từ một số hộ gia đình sản xuất kinh doanh khá giả Một số địa phương đã mạnh dạn xây dựng các khu, cụm công nghiệp làng nghề nhằm quy hoạch sản xuất tập trung đồng thời hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống ở Việt Nam Một số đặc điểm có thể có một số yếu tố không còn phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay nhưng một số đặc điểm lại chính là cơ sở cho các làng nghề có sức sống mạnh mẽ và trường tồn cùng lịch sử dân tộc Đây là những điểm đáng chú ý để nghiên cứu và tạo ra những biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đối với làng nghề

1.1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề truyền thống

Phát triển làng nghề truyền thống trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Trong đó có một số nhân tố chủ yếu sau:

Một là, nhóm nhân tố tự nhiên: bao gồm vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên

như khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, đất đai,…Trong đó, vị trí địa lý có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của làng nghề Nếu một làng nghề có vị trí địa lý gần nguồn nguyên liệu, gần nơi tiêu thụ sản phẩm hay có những yếu tố thuận lợi tự nhiên về thông thương thì đó là những lợi thế cần biết khai thác Điều này đã được chứng minh là ở lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cầu, sông Thương đều là những nơi quần tụ của nhiều làng nghề, tạo thành các trung tâm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Điều kiện tự nhiên của mỗi vùng như khí hậu, thời tiết cũng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của làng nghề trong việc tạo ra những nguồn nguyên liệu đặc trưng cho các làng nghề Đây là nhóm nhân tố tác động đầu tiên ảnh hưởng đến sự hình thành và đảm bảo sự tồn tại, phát triển lâu dài đối với bất kỳ

làng nghề truyền thống nào

Trang 19

Hai là, nhóm nhân tố kinh tế: bao gồm các yếu tố thị trường, sản phẩm, vốn,

cơ sở hạ tầng, trình độ lao động,…

Nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề truyền thống là sản phẩm Muốn tồn tại, các sản phẩm của LNTT phải đáp ứng yêu cầu của thị trường; đáp ứng được thị hiếu và tâm lý của người tiêu dùng Đó là: phải tiện dụng, hình thức mẫu mã đẹp, bền và giá cả phải chăng

Nhu cầu thị trường là nhân tố chủ yếu tác động đến sự hình thành, tồn tại và phát triển làng nghề truyền thống Bởi suy cho cùng sản phẩm làng nghề truyền thống cũng là hàng hoá, do đó phải được thị trường chấp nhận thì mới tiêu thụ được Nhu cầu thị trường càng lớn, càng bền vững thì việc sản xuất của các làng nghề càng ổn định và bền vững

Nhân tố thứ ba là vốn và cơ sở hạ tầng Vốn và cơ sở hạ tầng là yếu tố quyết định để phát huy các tiềm năng khác về lao động, ngành nghề, các nguồn lực khác,

là yếu tố quan trọng, là cơ sở để giải quyết các yếu tố đầu vào cho các làng nghề Nhân tố thứ tư ảnh hưởng tới sự phát triển của làng nghề là lao động và kỹ thuật Đối với làng nghề truyền thống thì người già, người ngoài độ tuổi lao động lại chính là nguồn nhân lực quý giá bởi chính những kinh nghiệm và thời gian làm nghề của họ Đây là điểm đáng lưu ý trong việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực ở làng nghề so với các ngành khác Về kỹ thuật sản xuất, hầu hết các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật sản xuất truyền thống lâu đời Mỗi nghề có một kỹ thuật sản xuất riêng mang tính bí quyết Do đó, kỹ thuật sản xuất nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Vì thế, để phát triển kinh tế làng nghề, việc nâng cao trình độ lao động làng nghề là điều hết sức cần thiết

Ba là, nhóm nhân tố văn hoá – xã hội: như mật độ dân số, trình độ dân trí, tay

nghề người lao động, các chủ trương, chính sách của Nhà nước,… Trong đó, đường lối chính sách của Nhà nước cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự hưng thịnh của các làng nghề Hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã rất quan tâm đến nghề và làng nghề thủ công truyền thống, coi đó là bộ phận cấu thành nền kinh tế,

Trang 20

văn hoá – xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn

1.2 Huyện Thường Tín và thực trạng làng nghề truyền thống trước năm

1991

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Thường Tín là huyện phía Nam tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội, cách Hà Đông và trung tâm Hà Nội 18km, phía Bắc giáp với huyện Thanh Trì, phía Đông giáp với sông Hồng, phía Nam giáp huyện Thanh Oai Thường Tín là đầu mối giao thông quan trọng không chỉ của Hà Nội mà còn là của cả nước với quốc lộ 1A, đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình và tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy dọc theo chiều dài của huyện Việc giao lưu hàng hóa từ các tỉnh phía Nam đến Hà Nội và các tỉnh phía Bắc hầu hết đều đi qua địa phận của huyện Thường Tín Đây chính là thế mạnh để Thường Tín phát huy trong chiến lược phát triển KT - XH của địa phương

Diện tích của huyện Thường Tín là 127,59 km2 với dân số là 211.667 người (năm 2007) Đơn vị hành chính của huyện gồm 28 xã và một thị trấn

Về điều kiện tự nhiên, Thường Tín là huyện đồng bằng, nằm giữa hai con sông: Sông Hồng phía Đông và sông Nhuệ phía Tây; phía Bắc sông Tô Lịch Trải qua hàng vạn năm, những con sông ấy đã bồi đắp nên mảnh đất Thường Tín có địa hình tương đối bằng phẳng, cao ráo tương đối đồng đều giữa các xã trong huyện, có những bãi bồi, bãi nổi trên sông như bãi Tự Nhiên

Về đất đai, loại đất chủ đạo của Thường Tín là đất phù sa không được bồi, còn lại số ít là loại phù sa glây phân bố ở một số xã phía tây bắc của huyện như Khánh

Hà, Nhị Khê, Hiền Giang và đất phù sa bồi đắp phí ngoài sông Hồng là Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhất, Vạn Điểm

Tổng diện tích đất tự nhiên là 12.738,64 ha (thời điểm tính 01/01/2003 – Phòng Địa chính huyện) Trong đó, diện tích đất đã đưa vào sử dụng là 11.714,04

ha, chiếm tỷ lệ 91,96% diện tích đất tự nhiên và số diện tích đất chưa sử dụng và sông là 1.024,60 ha chiếm tỷ lệ 8,04% Các loại đất được hình thành còn rất trẻ,

Trang 21

thành phần cơ giới là đất sét pha nhẹ hoặc trung bình Thường Tín không có diện tích đất lâm nghiệp

1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Về dân số và lao động, năm 2007 dân số Thường Tín là 211.667 người, chiếm 8,1 % dân số của tỉnh Mật độ dân số 1658 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động (từ 15 – 55tuổi đối với nữ và đến 60 tuổi đối với nam) là 109.601 người, chiếm 51,7% dân số toàn huyện (Phòng Thống kê Thường Tín) Số người đang trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng đang không có việc hàng năm tăng

Về kinh tế, tốc độ tăng tổng sản phẩm GDP năm 2006 đạt 13,8%, năm 2007 đạt 14,3% Năm 2007 cơ cấu kinh tế: nông nghiệp đạt 24%, công nghiệp – xây dựng đạt 46%, thương mại – dịch vụ đạt 30% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, thể hiện

sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Thu nhập bình quân đầu người đến hết năm 2007 đạt 9,2 triệu người/ năm Toàn huyện không có hộ đói Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ đã giảm từ 2% năm 2000 còn 1,95% năm 2005

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm Các ngành kinh tế chậm đổi mới công nghệ, năng suất, chất lượng sản phẩm còn hạn chế, chưa có nhiều nông sản hàng hoá, sản phẩm thủ côngmỹ nghệ xuất khẩu Lao động và việc làm vẫn là vấn đề bức xúc, nhất là khu vực nông thôn

Về giao thông, hệ thống giao thông của huyện đã được định hình và ổn định từ những năm 1960

Chạy dọc trung tâm huyện từ xã Duyên Thái đến xã Minh Cường là Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam có chiều dài 17,2km Cách Quốc lộ 1A về phía Đông là đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình cũng có chiều dài tương tự, chạy song song hai bên đường là trục đường dân sinh Cắt ngang đầu và cuối huyện là Tỉnh lộ 427 (đường 71 cũ) có chiều dài 12km và đường Tỉnh lộ 429 (đường 73 cũ) có chiều dài 8km Từ các quốc lộ và tỉnh lộ đến trung tâm các xã là các tuyến đường

Trang 22

liên xã gồm 11 tuyến có chiều dài 60,15 km Đường trục chính các xã dài 78km, các

đường liên xóm 93km và đường thôn 292 km Trong huyện có 47 cầu với tổng

chiều dài 694 m

Trên tuyến sông Hồng có bến cảng Hồng Vân, bến phà Hồng Vân và các bến

đò Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Thống Nhất chạy qua sông

Hồng sang tỉnh Hưng Yên

Tuyến đường sắt Bắc – Nam qua huyện có 3 ga tàu là Thường Tín, Tía, Đỗ

Xá Huyện có 01 bến xe khách, 03 tuyến xe buýt chạy dọc Quốc lộ 1A qua địa bàn

huyện đi Hà Nội Nhìn chung, mạng lưới giao thông nông thôn của Thường Tín

tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển các LNTT

Về giáo dục và đào tạo, tính đến năm 2007, Thường Tín có trường Cao đẳng

Sư phạm Hà Tây, trường Cao đẳng Truyền hình Việt Nam Toàn huyện có: 30

trường Mầm non, 29 trường Tiểu học, 30 trường THCS, 06 trường THPT, 01

trường bổ túc văn hóa và 01 Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề Năm 2005, huyện

vẫn giữ vững phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, hơn 99% học sinh

Trung học cơ sở và Trung học phổ thông đỗ tốt nghiệp, gần 600 học sinh thi đỗ vào

các trường Đại học, Cao đẳng

Về kết cấu hạ tầng nông thôn, trong những năm qua, huyện đã chú ý đầu tư

nâng cấp khá đồng bộ Đến cuối năm 2000, toàn huyện có 100% cơ quan xí nghiệp,

các xã có máy điện thoại Năm 2003 đã có 100% số xã, thị trấn và 100% số hộ được

sử dụng điện cho sinh hoạt và sản xuất, 100% số xã có hệ thống truyền thanh toàn

xã Năm 2007, 100% số xã có trạm y tế;

Về tiềm năng du lịch, Thường Tín cũng là huyện giàu truyền thống văn hoá

với nhiều di tích lịch sử như: chùa Đậu, đền thờ Nguyễn Trãi,… và các di sản văn

hoá phi vật thể Huyện còn lưu giữ nhiều tục ngữ, dân ca địa phương, các sinh hoạt

lễ hội các tích trò cổ như: kéo lửa nấu cơm thi Từ Vân (xã Lê Lơi), các cuộc thi võ

cổ truyền, hát trống quân

Đặc biệt Thường Tín là huyện có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm

nổi tiếng như: sơn mài Duyên Thái, thêu Quất Động, xương sừng mỹ nghệ Thuỵ

Trang 23

Ứng, mây tren đan Ninh Sở,… Một số nghề mới phát triển mấy chục năm trở lại đây như: bông len Trát Cầu, điêu khắc gỗ đá Hiền Giang, mộc cao cấp Vạn Điểm,… nhưng hoạt động khá ổn định và bền vững Hiện đã có 43 làng nghề được

Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây công nhận danh hiệu làng nghề

Từ những khái quát nêu trên, có thể thấy về tổng thể Thường Tín có một số thuận lợi và cơ hội phát triển kinh tế nói chung và LNTT nói riêng:

Thuận lợi:

- Thường Tín có vị trí địa lý thuận tiện, là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, khá gần với các trung tâm kinh tế năng động, nằm trong khu vực Đồng bằng sông Hồng là nơi có các làng nghề phát triển nhất cả nước nên có điều kiện để học hỏi trao đổi kinh nghiệm phát triển làng nghề Thường Tín cũng có hệ thống giao thông đa dạng với đường bộ, đường thủy, đường sắt tạo điều kiện giao lưu, buôn bán, vận chuyển hàng hóa trong nước và nước ngoài

- Đất đai huyện Thường Tín phù hợp với việc trồng cây lương thực, thực phẩm

và cây công nghiệp ngắn ngày

- Kinh tế - xã hội của huyện có nhiều thành tựu nổi bật Thường Tín đã quy hoạch địa bàn huyện thành 3 vùng trọng điểm để chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng tập trung, có biện pháp khai thác phù hợp nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng của từng vùng Trong đó, Vùng 1: phía Bắc huyện, tiếp giáp với thủ

đô Hà Nội sẽ tập trung các cơ sở quốc doanh của Trung ương, tỉnh và các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài và đầu tư phát triển các làng nghề điêu khắc, tre đan xuất khẩu, sơn mài,… Vùng 2: nằm ở giữa huyện là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất thực phẩm để cung cấp cho nhu cầu địa phương, tạo sản phẩm hàng hoá Đi đôi với phát triển nông nghiệp, trong Vùng 2 còn hình thành một số cơ sở chế biến nông sản, dịch vụ nông nghiệp và một số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vùng 3: phía Nam huyện là vùng trọng điểm phát triển cây công nghiệp, cùng với đó là phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động thương mại - dịch vụ khác Trong những năm qua, trên địa bàn huyện Thường Tín có nhiều các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đang hoạt động

Trang 24

hiệu quả như Công ty Liên doanh sản xuất Coca Cola, Công ty thép Mitsui Thăng Long, Xí nghiệp sản xuất bao bì GROWN VINALIMEX, nhà máy bia châu Á Thái Bình Dương

- Người dân Thường Tín cần cù, thông minh, sáng tạo, năng động, có tinh thần đoàn kết

- Có tiềm năng phát triển du lịch, có thể kết hợp mô hình phát triển du lịch làng nghề và phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

Khó khăn:

- Thường Tín không có diện tích đất lâm nghiệp; nguồn nguyên liệu phục vụ cho làng nghề không nhiều, do đó các làng nghề phải khai thác nguyên liệu từ bên ngoài

- Khí hậu Thường Tín mang những nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc bộ: nhiệt đới, gió mùa, nắng, mưa nhiều, mùa đông giá rét ít mưa Chế độ gió mùa với những diễn biến phức tạp làm khí hậu diễn biến thất thường theo từng mùa, từng năm Lượng mưa khá lớn, phân bố không đồng đều Có năm mưa thất thường, đột xuất kéo dài với lượng mưa lớn vào cuối tháng 10 gây nhiều khó khăn cho đời sống và hoạt động sản xuất của các làng nghề

- Có ít các cơ sở đào tạo nghề Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề của huyện có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất còn hạn chế Các chương trình dạy nghề chậm đổi mới chưa phù hợp với điều kiện phát triển nghề, chưa gắn với sản xuất

1.2.3 Thực trạng các làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín trước

năm 1991

Huyện Thường Tín là một trong những nơi có nhiều làng nghề thủ công truyền thống xuất hiện từ lâu đời, nhiều nghề đã có từ thế kỷ XVII, XVIII như nghề thêu Quất Động, nghề chế tác sừng Thuỵ Ứng đã có cách đây gần 400 năm, nghề sơn mài Hạ Thái có cách đây 200 năm,… Trong tiến trình lịch sử, các làng nghề của huyện Thường Tín có nhiều biến động, lúc phát triển rực rỡ, lúc suy thoái, thậm chí

có nghề bị thất truyền

Trang 25

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các làng nghề huyện Thường Tín khá phát triển dưới thời phong kiến để phục vụ vua chúa các triều đại Chẳng hạn như làng nghề thêu ren Quất Động trước đây người thợ thêu ren thường làm những mặt hàng nghi lễ hay phục vụ cung đình như thêu câu đối, trướng, nghi môn treo ở đình, chùa; các loại khăn chầu, áo ngự cho vua chúa Thời kỳ Pháp thuộc, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, các LNTT không có điều kiện phát triển do bị cạnh tranh bởi các

cơ sở công nghiệp của Pháp, chính sách kìm hãm sự phát triển của kinh tế thuộc địa

và những chính sách khuyến khích phát triển nhằm mở rộng vơ vét, bóc lột của cải cũng như hạn chế sự phát triển của các làng nghề

Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc cho đến trước thời kỳ đổi mới (1954 - 1986), các làng nghề ở huyện Thường Tín cũng đi vào bước phát triển mới cùng với

xu thế phát triển chung của các làng nghề Việt Nam Rất nhiều các tổ chức sản xuất kinh doanh, hợp tác xã ở các làng nghề đã ra đời Các sản phẩm được tiêu thụ không chỉ ở huyện, tỉnh mà còn khắp cả nước, trong đó nơi có nhiều các sản phẩm của các làng nghề huyện Thường Tín, chính là Hà Nội Không những thế, sản phẩm của các làng nghề huyện còn được xuất sang các nước khác trên thị trường các nước

xã hội chủ nghĩa cũ Sản xuất kinh doanh hàng thủ công nghiệp và thủ công nghiệp truyền thống thu hút rất nhiều lao động không chuyên ở mọi lứa tuổi Ngày 20/12/1983, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác lãnh đạo năm 1983, trong đó có đánh giá về sản xuất thủ công nghiệp: Các mặt hàng truyền thống như mây tre đan, sơn mài mỹ nghệ được duy trì, các mặt hàng thêu tăng gấp 3 lần so với năm 1982 Tính chung, sản xuất thủ công nghiệp đạt giá trị sản lượng trên 110 triệu đồng, tăng 69,8% so với kế hoạch Các mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị sản lượng 39 triệu đồng, trong đó hàng thủ công nghiệp đạt 22 triệu đồng

Tuy nhiên thời kỳ này, do không chú ý phát triển kinh tế tư nhân nên các LNTT với tư cách là đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành các HTX TTCN hay các tổ hợp nghề hoặc các đội ngành nghề nằm trong HTX nông nghiệp Các HTX này với trình độ quản lý yếu kém là một trong những nguyên nhân khiến LNTT

Trang 26

không phát triển mạnh được Trong khi đó thì thị trường tiêu thụ của sản phẩm của các làng nghề của huyện Thường Tín còn bị hạn chế bởi cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, làm ăn tập thể, người sản xuất không phải bận tâm đến đầu ra cho sản phẩm Thêm vào đó, tình trạng ngăn sông cấm chợ, thiếu nguyên liệu, vật liệu đã làm giảm khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Do vậy, nhìn chung giai đoạn này tiểu thủ công nghiệp nói chung và các LNTT của huyện Thường Tín nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, không những không phát triển được

mà còn có phần giảm sút

Năm 1986, Đảng khởi xướng sự nghiệp đổi mới đất nước, chuyển nền kinh tế

từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế quản

lý kinh tế, các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp còn lúng túng trong việc tìm nguyên liệu, vật tư, tìm thị trường tiêu thụ nên phần lớn đều phải qua khâu trung gian hợp đồng Nhờ các làng nghề tích cực tạo nguồn vật tư nguyên liệu, tìm nguồn tiêu thụ sản phẩm, giữ vững sản lượng các mặt hàng truyền thống như mây tre đan, sơn mài, thêu và các mặt hàng xuất khẩu, sản xuất thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ nên năm 1987 vẫn tiếp tục phát triển, đạt doanh thu 130 triệu đồng, tăng 4,5% so với kế hoạch Năm 1988, “sản xuất thủ công nghiệp phát triển khá, đạt giá trị sản lượng 176 triệu đồng, tăng 35% so với năm 1987, trong đó hàng xuất khẩu đạt 70 triệu đồng, tăng 41% so với năm 1987 Các nghề thủ công truyền thống phát triển nhanh, tiểu biểu là nghề tiện ở Nhị Khê, mây tre đan Ninh Sở, sơn mài Hạ Thái, chạm khắc ở Nhân Hiền, thêu ren ở Quất Động, Thắng Lợi,…” [10,tr 399,400] Mặc dù Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vốn là thị trường truyền thống của Việt Nam bị sụp đổ (1991), nhưng trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Hà Tây, Đảng bộ huyện Thường Tín đã có những chủ trương kịp thời, sát với thực tế đối với các LNTT nên sản xuất vẫn phát triển

Trang 27

1.3 Đảng bộ huyện Thường Tín lãnh đạo khôi phục và phát triển làng

nghề truyền thống từ năm 1991 đến năm 1999

1.3.1 Chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển làng nghề

Chủ trương của Đảng về phát triển làng nghề truyền thống:

Như đã nêu ở trên, các LNTT gắn liền với nông nghiệp, hình thức tổ chức chủ yếu ở quy mô hộ gia đình Một số hộ có vốn sản xuất kinh doanh lớn đã thành lập các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, một số hợp tác xã được thành lập trở lại hoặc đổi mới Hình thức tổ chức của các LNTT thuộc thành phần kinh tế

tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã phát triển rộng khắp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển

KT - XH của đất nước

Bước vào thời kỳ đổi mới, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

đã khuyến khích phát triển kinh tế nói chung và các LNTT nói riêng Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, LNTT luôn giữ vị trí quan trọng, được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Nhiều chủ trương, chính sách đã được hoạch định Chủ trương: “Hiện đại hóa công nghệ truyền thống và truyền thống hoá công nghệ hiện đại” của Đảng, cũng như việc thể chế hoá hàng loạt pháp lệnh, luật như: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư… đã tạo môi trường pháp lý cho các nghề và làng nghề phát triển

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy khoá VII (7/1994) xác định: Phát triển chế biến nông, lâm, thủy sản và các công nghiệp khác; hình thành các cụm công nghiệp, dịch vụ ở các thị xã, thị trấn, thị tứ Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống của từng vùng, mở thêm những ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất làng tiêu dùng, hàng xuất khẩu…; áp dụng công nghệ tiên tiến

Đại hội VIII của Đảng (9/1996) tiếp tục khẳng định: Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90, trong đó có việc xác định các chính sách đối với các thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh

Trang 28

tế hợp tác xã (nòng cốt là hợp tác xã), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Đồng thời tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, trong đó có “Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống kết hợp với các ngành nghề mới…”[25, tr.211] Trong chính sách đối với các thành phần kinh tế, Đảng chủ trương “Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức đa dạng, từ thấp đến cao… Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách khuyến khích ưu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp tác phát triển có hiệu quả” [25, tr.96] “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ …từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã” [25, tr.96]

Đường lối và những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng về phát triển các thành phần kinh tế, các ngành nghề nông thôn đã thể hiện quá trình nhận thức và

tư duy lí luận của Đảng ta về CNH, HĐH Đảng chủ trương và luôn qua tâm tạo điều kiện thuận lợi như môi trường pháp lý, chính sách thị trường,… cho các LNTT với tư cách là các đơn vị kinh tế độc lập dần khôi phục và phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây:

Quán triệt đường lối của Đảng về phát triển LNTT, Đảng bộ tỉnh Hà Tây tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển tiểu thủ công nghiệp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi về chính sách, môi trường kinh doanh cho các cơ sở, các hộ sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của LNTT

Từ ngày 6 đến ngày 10/3/1992, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ VII đã diễn ra Trên cơ sở đánh giá tình hình phát triển KT - XH trong những năm 1986 – 1991, Đại hội đã đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu trong 4 năm 1992 – 1995 Trong đó, Đại hội xác định đưa giá trị sản lượng công nghiệp

và thủ công nghiệp hằng năm tăng khoảng 8 – 10% Để thực hiện được mục tiêu đó hướng chủ yếu là đẩy mạnh chế biến nông sản, vật liệu xây dựng, đồ dùng gia

Trang 29

đình, may mặc, dịch vụ sửa chữa và các mặt hàng thủ công truyền thống… Những nơi đã có nghề Đảng bộ chủ trương đầu tư chiều sâu để nâng cao giá trị sản phẩm Những nơi chưa có nghề cần tích cực tạo các mô hình từ kinh tế gia đình để dần dần nhân rộng ra, từng bước hình thành mạng lưới công nghệ nông thôn

Ngày 4/8/1993, Tỉnh ủy Hà Tây ra Nghị quyết số 07- NQ/TU về tiếp tục

đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn với mục tiêu: “ Thu hút hết số lao

động thiếu việc làm Sử dụng tốt đất đai tài nguyên, ngành nghề sẵn có; cải tiến công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển nhanh và vững chắc nông lâm nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn, mở mang du lịch ở nơi có điều kiện;… [46, tr.5]” Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ 12

đã thảo luận và ngày 5/10/1994 ra Nghị quyết số 09 – NQ/TU về “phát triển

công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2000”, trong đó nhấn mạnh: “ Từ nay

đến năm 2000 cần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương hợp lý hơn Trong lúc tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đa dạng, phải thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; tăng cường chỉ đạo phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; mở mang ngành nghề và các hoạt động dịch

vụ, du lịch, ”[48, tr.2]

Quán triệt Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VII) về phát triển công nghiệp,

công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước, Nghị quyết 09 của

Tỉnh ủy Hà Tây đã đưa ra những giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, trong đó giải pháp thứ sáu là các cấp ủy Đảng phải làm tốt việc quán triệt cho cán bộ đảng viên tinh thần Nghị quyết TW7 và nghị quyết của Tỉnh ủy; đề

ra kế hoạch chỉ đạo các cơ sở Đảng và nhân dân đề cao tinh thần tự lực, cần kiệm, xây dựng chương trình hành động cụ thể để chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với thực tiễn địa phương, trọng tâm là làm tốt cuộc “cách mạng giống” trong nông nghiệp, phát triển nông nghiệp đa canh, phát triển làng nghề, mở mang thị trường, đổi mới quản lý các hợp tác xã và doanh nghiệp nhà nước…

Trang 30

Nhằm khắc phục những tồn tại và phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, năm 1994, Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu

xây dựng Bản quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây thời kỳ 1995 – 2010

với quan điểm:

Phát huy cao độ tính tự chủ, sáng tạo của các thành phần kinh tế, khai thác sử dụng tốt hơn mọi tiềm năng của một tỉnh có nguồn lực đất đai, lao động và ngành nghề phong phú, lại có lợi thế gần sát Hà Nội, đồng thời liên doanh, liên kết với Hà Nội và các tỉnh bạn; khuyến khích các doanh nghiệp ngoài tỉnh và thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, vững chắc hơn, tạo một bước chuyển biến cơ cấu kinh tế mới gồm công nghiệp – nông nghiệp – du lịch, dịch vụ vào năm 2010 [64, tr.37]

Tỉnh ủy xác định: công nghiệp dần dần trở thành ngành kinh tế chủ đạo Quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp có kỹ thuật cao ở Hòa Lạc (1000 ha), Phú Cát (300 – 400 ha), Xuân Mai (300 ha) và một số khu công nghiệp ở Thường Tín, Phú Xuyên, các vùng lân cận hai thị xã Hà Đông và Sơn Tây Ngoài ra còn quy hoạch khoảng 25 điểm công nghiệp nhỏ ở các làng nghề và ven các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ… Nhờ vậy mà trong nhiệm kỳ 1991 – 1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm

về công nghiệp, thủ công nghiệp là 14,5% (mức đề ra 8 – 10%) TCN phát triển nhanh ở các làng nghề và được mở rộng ở một số địa phương Ngoài những nghề truyền thống, có thêm nghề mới và sản phẩm mới vừa tiêu thụ nội địa, vừa xuất khẩu Kinh tế của các HTX, hộ gia đình ở các làng nghề cũng dần dần thích ứng với cơ chế mới, sản xuất, kinh doanh phát triển năng động hơn, có 29 HTX thủ công nghiệp góp phần tích cực giải quyết việc làm, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa Sự phát triển của các làng nghề đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ VIII diễn ra vào tháng 4/1996

đã đề ra những chỉ tiêu phấn đấu phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội đến năm

2000, trong đó có giải pháp về phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp Cụ thể là:

Trang 31

- Tập trung lực lượng của các ngành và tranh thủ sự giúp đỡ của cán bộ ngành Trung ương đẩy mạnh khảo sát, quy hoạch, xây dựng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, bao gồm cả công nghiệp Trung ương, địa phương, TTCN, dần dần hình thành cơ cấu hợp lý

- Tỉnh cần tập trung đầu tư (hoặc liên doanh với nước ngoài) để xây dựng những cơ sở quan trọng, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước phát triển công nghiệp, TTCN không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong tất cả các ngành, các khu vực mà nhà nước không cấm…

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn, ngày 1/10/1996, Tỉnh ủy

ra Nghị quyết 01-NQ/TU về Tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp và

kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH đến năm 2000 Trên cơ sở đánh giá tình

hình sản xuất nông nghiệp trong 10 năm 1986 – 1995, Hội nghị định rõ phương hướng chung là: “Chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ thuần nông sang sản xuất hàng hóa; đồng thời đẩy mạnh tốc độ khôi phục ngành nghề truyền thống và nâng cao đời sống của nông dân” [67, tr.3]

Đối với LNTT, trong những năm qua Tỉnh uỷ tỉnh Hà Tây cũ cũng rất quan tâm đến việc phát triển tập trung, mang tính bền vững, lâu dài bằng cách quy hoạch các làng nghề tại vùng nhất định, tạo ra sự tập trung trong sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm Ngày 10/04/1998, Tỉnh uỷ Hà Tây đã đưa ra kết luận số 02 – KL/TU về việc

tiến hành quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiêp, cụm làng nghề trong tỉnh Với chủ trương đúng đắn và thực hiện các biện pháp tích cực,

đến năm 2000, ngành công nghiệp, TTCN trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển Trong đó, toàn tỉnh đã khôi phục được 900 làng nghề có nghề, có 106 làng đạt tiêu chí làng nghề Nhiều LNTT được khôi phục và phát triển thêm nhiều nghề mới Theo Quy chế làng nghề đã ban hành ngày 23/12/1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh

Hà Tây ra Quyết định số 1492/1999/QĐ – UB xác định các tiêu chí làng nghề thủ công truyền thống của tỉnh Hà Tây:

Làng nghề thủ công truyền thống theo mô hình của tỉnh Hà Tây là làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thoả mãn các điều kiện sau đây: Các làng nghề

Trang 32

thủ công truyền thống cần chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và mọi quy định hợp pháp của chính quyền địa phương; số hộ lao động làm nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề thủ công truyền thống đạt

từ 50% trở lên so với tổng số hộ lao động của từng làng; giá trị sản xuất và thu nhập từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề thủ công truyền thống chiếm tỷ trọng trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của các làng trong năm Đồng thời, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có biện pháp và ý thức nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường theo các quy định hiện hành; các làng nghề thủ công truyền thống phải có ý thức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương Tên của các làng nghề thủ công truyền thống phải được gắn với tên làng: Nếu làng nghề truyền thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên cho nghề của làng Nếu làng có nhiều nghề, sản phẩm nào nổi tiếng nhất thì lấy nghề đó đặt tên nghề của làng; hoặc trong làng nghề không phải làng nghề truyền thống hay chưa có sản phẩm nghề nào nổi tiếng thì tên nghề của làng nên dựa vào nghề nào có giá trị sản xuất và thu nhập cao nhất để đặt tên nghề gắn với tên làng Việc đặt tên nghề của làng do nhân dân bàn bạc thống nhất và chính quyền địa phương xem xét đề nghị

Các tiêu chuẩn trên của LNTT ổn định và đạt từ 3 năm trở lên, hàng năm có tổ chức theo dõi và căn cứ 3 năm Uỷ ban nhân dân tỉnh xét công nhận một lần

Mục đích của việc quy định tiêu chuẩm các làng nghề là:

- Nhằm vận động nhân dân các địa phương trong tỉnh xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống, làng nghề mới sản xuất công nghiệp

- tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp - dịch vụ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn

- Xây dựng nông thôn mới, phát triển ngành nghề, làng nghề phải gắn với công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH; quy hoạch, kế hoạch phát triển

Trang 33

công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, bảo vệ môi trường của từng vùng, từng xã theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Tạo thuận lợi để các làng nghề thủ công truyền thống, dịch vụ gắn bó với các hoạt động văn hoá du lịch và giao lưu kinh tế

Với những quan niệm và mục đích như trên, đến năm 2008, Hà Tây đã có 219 làng nghề đạt tiêu chuẩn và được Tỉnh cấp bằng công nhận là Làng nghề

Những chủ trương trên của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển TTCN, ngành nghề truyền thống được các Đảng bộ địa phương trong tỉnh quán triệt và vận dụng sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Cùng với đường lối, chủ trương của Đảng, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây là nền tảng và căn cứ xuất phát quan trọng trong việc phát triển CN, TTCN nói chung và khôi phục, phát triển các LNTT nói

riêng của Đảng bộ huyện Thường Tín

1.3.2 Chủ trương khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống của Đảng bộ huyện Thường Tín

Từ ngày 14 – 16/3/1991, Đảng bộ huyện Thường Tín tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 1991-1995, vòng 1 Đại hội phân tích sâu sắc những khuyết điểm, hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, những mặt còn yếu kém về kinh tế – xã hội của huyện trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng

Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng bộ trong nhiệm

kỳ 1991-1995, trong đó xác định: Tiếp tục đầu tư phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; tích cực giải quyết việc làm cho người lao động Phấn đấu đến năm

1995 đạt tổng sản lượng lương thực quy thóc 78.000 tấn, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,5%; thu nhập bình quân đầu người đạt 540.000 đồng, bình quân lương thực đạt 430 kg/người Trong đó, mục tiêu cụ thể đối với kinh tế là: Cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng tích cực: Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 52%, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – dịch vụ chiếm tỷ trọng 48% tổng sản phẩm xã hội, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công

Trang 34

nghiệp tăng trưởng khá, năm 1995 đạt giá trị tổng sản lượng 40,9 tỷ đồng (giá cố định năm 1989) [12, tr.106]

Đại hội cũng xác định: Do điều kiện đất đai địa phương có hạn nên lực lượng lao động dư thừa khá nhiều, đòi hỏi phải nhanh chóng mở mang ngành nghề, sản xuất ra hàng hoá để tiêu dùng và xuất khẩu, chú ý các nghề truyền thống như sơn mài, mây tre đan, thêu, gốm sứ, thuỷ tinh, diêm, đồ gỗ,…

Áp dụng chính sách đầu tư đối với việc khôi phục và phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống; du nhập các ngành nghề mới sử dụng nhiều lao động; các dịch vụ tư vấn cho phát triển TTCN

Khuyến khích kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng sự hợp tác đa dạng, liên doanh liên kết, nhất là kinh tế gia đình, cá thể,…

Để đạt được các nhiệm vụ, mục tiêu và chỉ tiêu trên, Đại hội đã thảo luận và nhấn mạnh một số vấn đề trọng tâm, trong đó đối với sản xuất công nghiệp – TCN: Huyện cần có nhiều chủ trương, biện pháp phù hợp, tạo ra cơ chế thoáng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế quốc doanh – tập thể, ngoài quốc doanh phát triển và có sự cạnh tranh lành mạnh Cần có nhiều biện pháp tích cực để phát triển ngành nghề truyền thống, chủ động nguồn vốn, vật tư, nguyên liệu cho các làng nghề Chủ động xuất nhập khẩu làm giầu cho huyện [3, tr.3]

Do có những chủ trương, biện pháp đúng, trúng của Đảng bộ, cùng với nông nghiệp, sản xuất TTCN Thường Tín tiếp tục ổn định, có mặt phát triển, đạt tốc

độ tăng trưởng bình quân hàng năm 8,8% Một số LNTT được khôi phục, một

số nghề mới phát triển Toàn huyện có 84/132 làng nghề ổn định sản xuất, đạt hiệu quả kinh tế khá Năm 1993 tổng giá trị sản xuất thủ công nghiệp đạt 70.515 triệu đồng, chiếm 20,4% tổng sản phẩm xã hội [10, tr.414]

Trong ba ngày từ 21 – 23/4/1994, Huyện uỷ Thường Tín tổ chức Hội nghị cán

bộ Đảng giữa nhiệm kỳ Đại hội XVIII Hội nghị đã đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ trong những năm 1991 – 1993 Trên cơ sở đó, Hội nghị khẳng định để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ, phấn đấu trong hai

Trang 35

năm 1994 – 1995 chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp, công nghiệp, TTCN, dịch vụ trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng 46% tổng sản phẩm

xã hội, công nghiệp công nghiệp, TTCN, dịch vụ chiếm tỷ trọng 54% tổng sản phẩm xã hội Phấn đấu tăng tốc độ phát triển kinh tế hàng năm đạt bình quân 12% Những chỉ tiêu phấn đấu chủ yếu là: “Giá trị tổng sản phẩm xã hội đạt 490 tỷ đồng, trong đó nông nghiệp đạt 224,6 tỷ đồng; công nghiệp, TTCN, dịch vụ đạt 265 tỷ đồng Thu nhập quốc dân đạt 230 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 1.264.000 đồng/năm”.[10, tr 419, 420]

Hội nghị cũng xác định những giải pháp thực hiện để đạt được những mục tiêu trên Trong đó, đối với các LNTT cần đổi mới công nghệ, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa và các ngành nghề truyền thống hiện có; tích cực khai thác thị trường Đầu tư hỗ trợ để khuyến khích khôi phục lại các ngành nghề, tìm kiếm ngành mới, xây dựng làng nghề mới Tận dụng tối đa lao động nông nhàn

Có các chính sách khuyến khích về đất đai, địa điểm, ứng dụng công nghệ mới, hỗ trợ vốn, đào tạo tay nghề và tìm kiếm thị trường nhằm phát huy hiệu quả các ngành nghề, nguồn lao động, thiết thực xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng

Từ năm 1993, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp được hồi phục và phát triển vững chắc Hai năm 1994, 1995, giá trị sản lượng công nghiệp, TTCN tăng bình quân 22,6% Nhiều LNTT tiếp tục phát triển, đồng thời phát triển một số nghề mới như: mộc cao cấp, điêu khắc, chế biến da, chế biến lương thực, thực phẩm Đại hội Đảng bộ huyện Thường Tín lần thứ XIX diễn ra ngày 15/3/1996 tiếp tục khẳng định định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đồng thời đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu là: “Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức tăng GDP hàng năm trên 13% Bình quân GDP đạt 500 USD/người/năm Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2000: nông nghiệp đạt 35%, công nghiệp - thủ công nghiệp và xây dựng đạt 34%, thương mại - dịch vụ đạt 31%” [10, tr.430]

Trang 36

Đối với thủ công nghiệp, Đại hội khẳng định: Tiếp tục phát triển mạnh các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu Chú trọng đầu tư chiều sâu, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, tăng cả số lượng, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, tập trung vào các sản phẩm lụa may mặc, lụa tơ tằm, thêu ren, sơn mài, khảm trai,

đồ gỗ cao cấp,…

Coi trọng phát triển TCN nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân và tăng nhanh giá trị công nghiệp Tích cực chỉ đạo và khuyến khích tạo điều kiện cho nhân dân mở rộng thêm các làng nghề, tạo thêm nghề mới, hướng vào chế biến nông lâm sản, thực phẩm và các mặt hàng thủ công xuất khẩu…

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành khoa học công nghệ giữ vị trí vô cùng quan trọng Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khoá VIII), Nghị quyết số 04 – NQ/TU về khoa học - kỹ thuật, ngày 31/5/1997,

Huyện uỷ Thường Tín ban hành Kế hoạch số 07-KH/HU Về phát triển khoa học –

công nghệ tới năm 2000 Trên cơ sở đánh giá những kết quả làm được, phân tích rõ

những yếu kém và nguyên nhân, Huyện uỷ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển

khoa học công nghệ đến năm 2000 Huyện đã chỉ rõ những điểm cần chú trọng,

trong đó cần cải tiến, tận dụng các cơ sở và thiết bị sẵn có, từng bước đổi mới công nghệ hiện đại ở những cơ sở và những khâu quan trọng với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu; tăng năng lực sản xuất của các LNTT; mở mang thêm các nghề mới và làng nghề mới

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết của Huyện uỷ, các ngành, các cấp tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực kinh tế - văn hoá trên địa bàn huyện Đối với các LNTT, Huyện ủy và các cơ quan ban ngành khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ sở đổi mới thiết bị dây chuyền công nghệ, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm của các LNTT, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Tích cực hợp tác liên doanh với các tổ chức kinh tế, các cơ quan khoa học kĩ thuật của Trung ương và các địa phương khác, kể cả ngoài nước để có thêm vốn đầu tư và đổi mới công nghệ sản xuất

Trang 37

Ngày 30 tháng 12 năm 1998, Huyện ủy Thường Tín đã thông qua Chương

trình số 09-CT/HU Về phát triển kinh tế, tăng trưởng bền vững; từng bước nâng

cao đời sống nhân dân, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ

XX Trong đó, Huyện đã đánh giá kết quả phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong những năm 1995 – 1998 về công nghiệp – TTCN; thương mại – dịch vụ; nông nghiệp; quy hoạch và xây dựng hạ tầng kỹ thuật; nâng cao đời sông nhân dân; bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường; tài chính – ngân hàng Từ đó, Huyện cũng đã đưa ra những biện pháp nhằm phát huy những kết quả đã đạt được đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại Đối với LNTT, Huyện khẳng định: cần củng cố và phát triển nghề truyền thống Cụ thể là:

Phát triển nghề truyền thống, tiếp tục thực hiện kế hoạch triển khai xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung phù hợp với quy hoạch phát triển chung của Tỉnh và Huyện Củng cố phát triển trên cơ sở kết hợp giữa truyền thống và từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để tạo ra những sản phẩm phù hợp với thị trường

Hằng năm, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của Tỉnh và của Huyện để đầu tư

hỗ trợ các chương trình phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn, nhằm thu hút lao động nhàn rỗi trong địa phương tham gia sản xuất và giữ gìn các làng nghề truyền thống

Làm tốt công tác khuyến công: cùng với sự hỗ trợ của Tỉnh mở các lớp dạy nghề, hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giới thiệu sản phẩm để mở rộng quy mô các nghề truyền thống, đưa thêm nghề mới, sản phẩm mới, vaào địa bàn huyện [32, tr.7]

Có thể nói những chủ trương trên của Đảng bộ huyện Thường Tín đã có tác động tích cực đến sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói chung, hoạt động sản xuất của các làng nghề truyền thống nói riêng Từ đó, kinh tế tư nhân, nhất là kinh tế hộ gia đình, hình thức chủ yếu trong các làng nghề truyền thống có thể yên tâm phát triển nghề Việc tạo điều kiện và khuyến khích các làng nghề áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất đã

Trang 38

mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các làng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường Bên cạnh đó, sự liên kết giữa kinh tế hộ gia đình trong các làng nghề truyền thống với các doanh nghiệp sẽ giúp các làng nghề thuận lợi trong việc tìm kiếm thị trường, ổn định về đầu ra, mở rộng sản xuất, đưa sản phẩm truyền thống tới thị trường rộng lớn hơn

1.3.3 Quá trình Đảng bộ huyện Thường Tín chỉ đạo khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống

Một là, thực hiện chính sách hỗ trợ về vốn

Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện, Huyện uỷ, UBND đã chỉ đạo các ngành, xã, thị trấn xây dựng hoàn thành mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ kinh tế

xã hội hàng năm, đồng thời phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất công nghiệp – TTCN và các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác Cùng với chỉ đạo phát triển nông nghiệp, Huyện ủy đã tổ chức quán triệt và chỉ đạo công nghiệp, TTCN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 và Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy “Về phát triển công nghiệp, TCN đến năm 2000 theo định hướng CNH, HĐH đất nước” Để các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp duy trì và mở rộng quy mô sản xuất, UBND huyện phối hợp với các ngân hàng để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp tại các làng nghề có điều kiện phát triển, chỉ đạo các phòng, ban tiến hành cho các hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã thủ công nghiệp được ưu tiên vay vốn ngân hàng, tín dụng với lãi suất thấp để phát triển sản xuất, nhất là đối với một số ngành nghề có khả năng tiêu thụ tốt như: sơn mài, gỗ cao cấp, điêu khắc, Huyện ủy cũng đã chỉ đạo các ngân hàng trên địa bàn huy động mọi nguồn vốn, cho các thành phần kinh tế vay, nhất là các hộ sản xuất tại các LNTT Chỉ đạo ngành tài chính quan tâm xây dựng Quỹ tín dụng nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ sản xuất vay vốn Trong năm

1995 đã có 5 xã thành lập Quỹ tín dụng nhân dân và đi vào hoạt động tốt, được nhân dân hoan nghênh Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của các cấp ủy Đảng tạo được nguồn vốn ổn định nên các LNTT ở các xã Nhị Khê, Duyên Thái, Hoà Bình, Quất Động, Vạn Điểm từng bước đã được khôi phục, phát triển, tạo điều kiện cho

Trang 39

các cơ sở sản xuất, các gia đình được liên doanh liên kết, thu hút vốn đầu tư, phát triển các mặt hàng thế mạnh của địa phương Nếu như trong những năm 1986 –

1991, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn trong thu nhập bình quân của địa phương, giá trị sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng rất ít thì

từ năm 1996, do những chủ trương, giải pháp chủ động, tích cực, sản xuất thủ công nghiệp của huyện Thường Tín đạt giá trị tổng sản lượng 116,8 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 4% kế hoạch, tăng 22% so với năm 1995 Năm 1996, giá trị xuất khẩu đạt 40,5 tỷ đồng chiếm 34,6% tổng doanh thu Tại những xã nghề thủ công truyền thống phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển đổi rõ rệt, đời sống nhân dân được cải thiện

Hai là, đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất trong các LNTT

Năm 1986 – 1995, nghề thủ công truyền thống ở giai đoạn này phát triển chủ yếu theo hình thức tổ hợp sản xuất, xuất hiện một số doanh nghiệp tư nhân nhưng chiếm số lượng rất nhỏ

Năm 1995, quán triệt và chỉ đạo công nghiệp, thủ công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 và Nghị quyết 09 của Tỉnh uỷ về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng bộ huyện Thường Tín đã chỉ đạo cần phải đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương, khuyến khích các tổ chức, cá nhân mạnh dạn đầu tư vốn vào sản xuất công nghiệp, TTCN nhằm làm giàu cho bản thân và xã hội, giải quyết việc làm cho lao động Huyện chỉ đạo các cơ sở mạnh dạn tìm nguồn hàng, tìm nguồn tiêu thụ, mở rộng liên doanh, liên kết, từng bước liên doanh liên kết với nước ngoài để phát triển sản xuất Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo củng cố phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, của tập thể, huyện chỉ đạo khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh của tư nhân phát triển, nhất là các cơ sở sản xuất của các LNTT Các phòng, ban đã khuyến khích các chủ hộ có khả năng phát triển hình thức doanh nghiệp tư nhân tạo điều kiện cho họ phát triển Kết quả là năm 1998, toàn huyện đã có 42 tổ hợp sản xuất và hai liên doanh với nước ngoài Ở các LNTT,

Trang 40

cơ cấu kinh tế chuyển đổi rõ rệt, đời sống nhân dân được cải thiện nhanh hơn Điển hình tại xã Duyên Thái, trước năm 1993, nghề sơn mài khá phát triển nhưng chưa có nhiều các công ty, doanh nghiệp mà chủ yếu phát triển thông qua hình thức hợp tác xã nghề, đó là Hợp tác xã Bình Minh Đến cuối năm 1992 đầu năm 1993, Hợp tác xã này giải thể thay vào đó là các công ty

Ba là, hướng dẫn đào tạo nghề

Ngoài ra, Huyện ủy Thường Tín cũng rất quan tâm tới vấn đề nhân lực, đào tạo nghề Huyện chỉ đạo mở rộng các hình thức đào tạo nhằm tăng nhanh đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề trên các lĩnh vực

để đáp ứng nhu cầu trước mắt và đón đầu cho phát triển KT - XH của huyện trong những năm tới và sau năm 2000

Khuyến khích các nghệ nhân, thợ giỏi truyền nghề, đào tạo nghề, bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, du nhập thêm nghề mới Tặng thưởng danh hiệu và vật chất xứng đáng cho các nghệ nhân, thợ giỏi, các doanh nghiệp sản xuất giỏi, có nhiều sản phẩm, hàng hóa đạt chất lượng cao, được ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế; những người có nhiều công lao đóng góp trong việc tuyên truyền nghề, đào tạo nghề, bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, du nhập nghề mới,…

Bốn là, khuyến khích áp dụng khoa học – kỹ thuật vào trong sản xuất, quy

hoạch LNTT

Tổ chức thực hiện Kế hoạch số 07-KH/HU Về phát triển khoa học – công

nghệ tới năm 2000, ngày 31/5/1997 của Huyện uỷ, UBND huyện cùng chính quyền

các xã, nhất là các địa phương có nghề truyền thống đã tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ năng sản xuất kinh doanh và kiến thức quản lý cho các hộ sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống; khuyến khích và hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất hiện đại, trang bị kỹ thuật và điều kiện lao động nhằm tăng năng suất lao động nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của LNTT Nhiều LNTT đã tích cực hưởng ứng chủ trương này, đặc biệt là làng nghề chăn bông len Trát Cầu (Tiền Phong) Trước năm 1998, người dân Trát Cầu làm chăn, gối bông bằng phương pháp thủ công Để làm một chiếc chăn bông loại tốt phải có 2 thợ cùng làm,

Ngày đăng: 09/12/2020, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Thị Lan Anh (2009), Phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Bạch Thị Lan Anh
Năm: 2009
2. Đặng Văn Bài (2006), Bảo tồn giá trị nghề thủ công truyền thống, Tham luận Hội thảo “Bảo tồn bền vững làng nghề Hà Tây thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn giá trị nghề thủ công truyền thống", Tham luận Hội thảo “Bảo tồn bền vững làng nghề Hà Tây thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
8. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thường Tín (2008), Nghị quyết về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp huyện Thường Tín đến năm 2010 vànhững năm tiếp theo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp huyện Thường Tín đến năm 2010 và
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thường Tín
Năm: 2008
10. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thường Tín (2010), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Thường Tín, tập 4 (1975 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Thường Tín, tập 4 (1975 - 2010)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thường Tín
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2010
11. Ban Thường vụ huyện ủy Thường Tín (2004), Thường Tín đất danh hương, Nxb. Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thường Tín đất danh hương
Tác giả: Ban Thường vụ huyện ủy Thường Tín
Nhà XB: Nxb. Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây
Năm: 2004
12. Ban Thường vụ huyện uỷ Thường Tín (2007), Tập tài liệu Lịch sử truyền thống cách mạng địa phương huyện Thường Tín ,Xí nghiệp in Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tài liệu Lịch sử truyền thống cách mạng địa phương huyện Thường Tín
Tác giả: Ban Thường vụ huyện uỷ Thường Tín
Năm: 2007
13. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Báo cáo công tác phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Thường Tín năm 2008, Phòng Công thương huyện Thường Tín Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Thường Tín năm 2008
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Định hướng phát triển làng nghề và làng nghề thủ công Việt Nam, Công trình dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển làng nghề và làng nghề thủ công Việt Nam," Công trình dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2004
18. “Cá trong ao làng cũng không ăn được vì nhiễm độc sơn và dầu”, Báo Lao động, số 112/2003, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá trong ao làng cũng không ăn được vì nhiễm độc sơn và dầu”, "Báo Lao
20. Đỗ Quang Dũng (6/2005), “Làng nghề ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí công nghiệp, Kỳ 1, tr.43- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề ở Hà Tây trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, "Tạp chí công nghiệp
21. Đỗ Quang Dũng (2006), Phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Đỗ Quang Dũng
Năm: 2006
22. Chương trình “Hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề huyện Thường Tín trong giai đoạn 2009 - 2014”, Phòng Công thương huyện Thường Tín Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình “Hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề huyện Thường Tín trong giai đoạn 2009 - 2014”
23. Đảng bộ tỉnh Hà Tây (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hà Tây
Năm: 2000
24. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. CTQG, H, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb. CTQG
25. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. CTQG, H, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb. CTQG
26. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,Nxb. CTQG, H, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ "IX
Nhà XB: Nxb. CTQG
27. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,Nxb. CTQG, H, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ "X
Nhà XB: Nxb. CTQG
28. Nguyễn Trọng Đức, Những biện pháp nhằm khai thác tiềm năng ở một số làng nghề ở Hà Tây, Nxb. ĐHSPHN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp nhằm khai thác tiềm năng ở một số làng nghề ở Hà Tây
Nhà XB: Nxb. ĐHSPHN
29. Hiệp hội sơn mài tỉnh Hà Tây, Báo cáo đánh giá quá trình hình thành và phát triển của nghề sơn mài, 1/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá quá trình hình thành và "phát triển của nghề sơn mài

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w