1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về luật phòng chống bạo lực gia đình (nghiên cứu trường hợp tại thị trấn kỳ sơn, huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình)

113 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ khoa học Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về luật phòng, chống bạo lực gia đình Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Kỳ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ THU THUỶ

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ KIẾN THỨC CHO PHỤ NỮ

VỀ LUẬT PHÕNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THỊ TRẤN KỲ SƠN, HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÕA BÌNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ THU THUỶ

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ KIẾN THỨC CHO PHỤ NỮ

VỀ LUẬT PHÕNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI THỊ TRẤN KỲ SƠN, HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÕA BÌNH)

Chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG BÁ THỊNH

Hà Nội – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ khoa học Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về luật phòng, chống bạo lực gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình) là do tự bản thân tôi thực

hiện, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều trích rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Tác giả

Trần Thị Thu Thuỷ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với tên đề

tài: Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về luật phòng, chống bạo lực gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình) tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của

Tôi xin cảm ơn cơ quan Hội liên hiệp Phụ nữ Thị trấn Kỳ Sơn, đã cung cấp

và tạo điều kiện cho tôi thu thập những số liệu cần thiết và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình tôi nghiên cứu tại địa bàn

Tuy nhiên, dù có nhiều cố gắng nỗ lực, xong luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô giáo

Một lần nữa xin chân thành cám ơn!

Học viên

Trần Thị Thu Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài 4

3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 10

4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 11

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11

6 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Giả thuyết nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Các khái niệm 16

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội 16

1.1.2 Hỗ trợ kiến thức 18

1.1.3 Gia đình 19

1.1.4 Bạo lực gia đình 20

1.2 Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 21

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 21

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 24

1.2.3 Lý thuyết hệ thống 28

1.3 Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức về Luật Phòng chống bạo lực gia đình tại một số địa phương 32

1.3.1 Tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu 32

1.3.2 Tại xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 32

1.3.3 Tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 33

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

1.4.1 Khái quát về thông tin kinh tế chính trị xã hội, văn hóa 36

1.4.2 Khái quát về hệ thống cơ sở hội tại địa phương 40

Tiểu kết chương 1 42

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC HỖ TRỢ KIẾN THỨC VỀ LUẬT PHÕNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở THỊ TRẤN KỲ SƠN, HUYỆN

KỲ SƠN, TỈNH HÕA BÌNH 43

2.1 Tình hình bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn 43

2.1.1 Những hành vi bạo lực gia đình 43

2.1.2 Nguyên nhân dẫn tới hành vi bạo lực gia đình tại địa phương 47

2.2 Tình hình về mức độ hiểu biết của phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn 48

2.2.1 Một số cách hiểu về BLGĐ 48

2.2.2 Sự nhận biết về các hành vi bạo lực gia đình 50

2.2.3 Hiểu biết của người dân về Luật Phòng chống bạo lực gia đình 52

2.3 Các hình thức hỗ trợ kiến thức về Luật phòng chống bạo lực gia đình tại Thị Trấn Kỳ Sơn 53

2.3.1 Tình hình tổ chức và hoạt động của các hội, đoàn thể tại Thị trấn Kỳ Sơn trong công tác phòng chống bạo lực gia đình 53

2.3.2 Các hình thức tuyên truyền Luật Phòng chống BLGĐ tại địa phương 58

2.3.3 Một số hoạt động trong việc hỗ trợ kiến thức về luật PCBLGĐ tại địa phương 61

2.4 Đánh giá chung những mặt thuận lợi, tích cực và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật Phòng chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn 64

2.4.1 Những mặt thuận lợi, tích cực 65

2.4.2 Những khó khăn, vướng mắc 65

2.4.3 Một số nguyên nhân 66

Tiểu kết chương 2 66

CHƯƠNG 3 NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ GIẢI PHÁP TRONG HỖ TRỢ KIẾN THỨC CHO PHỤ NỮ VỀ LUẬT PHÕNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 68

3.1 Nâng cao vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ tại Thị trấn Kỳ Sơn 68

Trang 7

3.1.1 Đẩy mạnh vai trò kết nối các nguồn lực 68

3.1.2 Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn 71

3.1.3 Đẩy mạnh công tác xã hội nhóm 73

3.1.4 Nâng cao vai trò của giáo dục trong cộng đồng 75

3.2 Một số giải pháp hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 76

3.2.1 Giải pháp về hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, giáo dục pháp luật và tư vấn về pháp luật 76

3.2.2 Giải pháp đa dạng các hình thức về tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức 79

3.2.3 Nâng cao hiệu quả trong công tác tập huấn giảng viên nguồn( TOT) 82

3.2.4 Nâng cao vai trò của Hội LHPN các cấp trong công tác hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về luật phòng, chống bạo lực gia đình 86

3.2.5 Xây dựng hệ thống ứng phó và y tế thôn bản 88

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 95

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Những hành vi được coi là bạo lực gia đình 51 Bảng 2.2: Cách xử lý và cơ quan thực hiện trong Phòng chống BLGĐ 53 Bảng 2.3: Vai trò của các cơ quan đoàn thể 55 Bảng 2.4 Các hình thức tuyên truyền Luật phòng, chống bạo lực gia đình 59 Bảng 2.5: Các hoạt động hỗ trợ kiến thức Luật PCBLGĐ tại địa phương 61 Biểu đồ 2.1.Những hành vi bạo lực xảy ra tại địa phương (đơn vị: %) 44

Sơ đồ 1: Mạng lưới truyền thông ở địa phương 83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ lâu, vấn đề bạo lực gia đình (BLGĐ) đã trở thành mối quan tâm của nhân loại Ở Việt Nam, tình trạng bạo lực gia đình ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nghiêm trọng bởi tính chất và hậu quả của nó Hiện nay trên phạm vi cả nước, bạo lực gia đình đang diễn ra dưới nhiều hình thức và đối tượng khác nhau nhưng phổ biến nhất là bạo lực về thể xác và tinh thần đối với phụ nữ, trẻ em gái mà người gây

ra bạo lực chính là chồng là cha họ

Bạo lực gia đình gây ra nhiều hậu quả ở nhiều mức độ khác nhau cho gia đình và cho xã hội; bạo lực gia đình không chỉ gây tổn thương về thể xác, tâm lý tình cảm của các thành viên trong gia đình mà còn gây tổn thất về kinh tế Ngoài ra,

nó làm cho xã hội ngày càng trở nên phức tạp mất ổn định và ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cách của những đứa con chứng kiến bạo lực gia đình, vì bạo lực gia đình là vấn đề nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu như đứa trẻ chứng kiến bạo lực trong gia đình hay là nạn nhân của bạo lực gia đình thì sau này khi trưởng thành có thể trở thành người gây ra bạo lực gia đình Người Ấn Độ có một câu châm ngôn nói rằng: “Một cái tát vào mặt con anh có thể trở thành một nắm đấm vào mặt cháu anh”

Theo Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố năm 2010, gần 60% phụ nữ Việt Nam từng chịu ít nhất một trong ba hình thức bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục trong đời 87% nạn nhân chưa tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ công Tình trạng xâm hại, bạo lực với trẻ em diễn biến phức tạp và trở thành vấn đề bức xúc cho xã hội [17]

Bạo lực gia đình có nguồn gốc từ lâu đời trong xã hội phong kiến Việt Nam

và diễn ra ở tất cả các tầng lớp trong xã hội, cả nông thôn và thành thị Trong văn hóa Việt Nam, nguyên nhân của bạo lực gia đình chủ yếu là do bất bình đẳng giới, trong đó phụ nữ luôn được đồi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực, giá trị nhất định

để đáp ứng với đòi hỏi, mong đợi của gia đình cũng như của cộng đồng, xã hội Bạo lực gia đình có sự khác nhau về mức độ, tính chất và cách thức biểu hiện các số liệu thống kê của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy tình trạng bạo lực gia đình

Trang 10

có xu hướng gia tăng về mức độ và tính chất nghiêm trọng, được biểu hiện tinh vi hơn, phức tạp hơn Theo một nghiên cứu gần đây, có khoảng 20 – 25% gia đình Việt Nam có bạo lực trên cơ sở giới;66% vụ ly hôn ở Việt Nam có liên quan đến bạo lực

Mặc dù tình trạng bạo lực gia đình đang diễn ra hàng ngày và đã có khung pháp lý để hỗ trợ nạn nhân, tuy vậy, những hỗ trợ còn chưa mang tính kịp thời Năm

2011, Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc công bố kết quả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành cho nạn nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam dựa trên khảo sát và chia sẻ kinh nghiệm của 900 phụ

nữ Theo đó, 43% các vụ bạo lực gia đình được báo cáo cho công an, 54% người bị bạo lực gia đình nghĩ rằng các biện pháp xử lý của công an là chưa nghiêm minh và chỉ có 8% nạn nhân được cán bộ tư pháp, pháp lý trợ giúp Chỉ có 37% người được phỏng vấn cho rằng bạo lực gia đình là một dạng tội phạm, đa phần còn lại cho rằng đây là hành vi sai nhưng không phải là tội phạm; 77% vụ việc được hòa giải không đạt kết quả mong đợi và bạo lực vẫn tiếp diễn; 66% không hài lòng với việc hòa giải tại cộng đồng; 90% phụ nữ bị bạo lực cho biết họ bị trầm cảm, sợ hãi, hoảng loạng

và mất ngủ do bạo lực gia đình Chỉ có 43% các vụ bạo lực là nhận được sự chú ý của cảnh sát Những con số “biết nói” này cho thấy tình trạng đáng lo ngại về tình trạng

bạo lực gia đình đang diễn ra tại Việt Nam [13]

Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình,trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Luật bình đẳng giới Đặc biệt, Luật phòng chống bạo lực gia đình được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2007 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2008 Ngoài ra chính phủ ban hành Nghị định số 08/ NĐ – CP 2009 về hướng dẫn chi tiết một số điều thi hành luật phòng chống Bạo lực gia đình Cùng với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm ngăn ngừa, răn đe và quy định các mức xử phạt đối với người có hành vi bạo lực gia đình, nhiều hoạt động can thiệp, hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình đã và đang được các cơ quan chức năng của nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể, cộng đồng tích cực thực hiện

Trang 11

Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình là địa bàn miền núi thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam đang còn có những khó khăn trong phát triển kinh tế xã hội

và đặc biệt là các dịch vụ an sinh xã hội còn nhiều hạn chế Toàn thị trấn có 65% là người dân tộc thiểu số Tại đây, có rất nhiều vấn đề xã hội đang tồn tại trong đó nổi bật nhất là hiện tượng bạo lực gia đình đang có dấu hiệu gia tăng về số lượng cũng như mức độ Một đặc điểm chung dựa trên quan sát và những thông tin thu thập được, hầu hết gia đình có bạo lực tại địa phương, người chồng thường không mang lại tài chính cho gia đình nhưng thường xuyên uống rượu và rơi vào tình trạng say xỉn Vì thế, đối với những trường hợp bị pháp luật xử lý hành chính, người vợ lại là người phải mang tiền đi nộp Vì vậy, nhiều người vừa là nạn nhân của bạo lực gia đình, lại là người phải trực tiếp giải quyết vấn đề xử phạt cho người bạo lực nên tâm

lý chung là không thường báo cáo vụ việc và thường giữ im lặng, không dám nói cho ai biết, vì thế mà tình hình bạo lực ngày càng diễn ra nghiêm trọng hơn

Tuy nhiên, thực tế tại địa phương hiện nay, do đặc thù là toàn thị trấn chủ yếu là dân tộc thiểu số có nhiều hạn chế về trình độ học vấn vì vậy khi có bạo lực xảy ra người phụ nữ chưa nhận định được bản thân mình có bị bạo lực hay không, chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết về cả mặt y tế và hỗ trợ của luật pháp vì những hạn chế từ cả phía nguồn lực địa phương và cả bản thân những người trong cuộc Một trong những nguyên nhân đó là do Luật Phòng chống bạo lực gia đình chưa được phổ biến sâu sắc đến người dân và chính quyền địa phương Với những

lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng chống bạo lực gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình)

Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn tìm hiểu được thực tế tình hình bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn, những yếu tố tác động, mức độ hiểu biết về Luật Phòng chống bạo lực gia đình của các ban ngành có trách nhiệm liên quan và của người phụ nữ, các hình thức truyền thông và cách thức thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình tại địa phương Từ đó đúc rút được vai trò của công tác xã hội trong công tác vận động bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình và đưa ra một

Trang 12

số đề xuất theo hướng công tác xã hội giúp nâng cao hiểu biết về bạo lực gia đình cho phụ nữ tại Thị trấn Kỳ Sơn nói riêng và các địa phương khác trong cả nước

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài

Việt Nam đã ký cam kết thực hiện theo Công ước Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, đồng thời Pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận các quyền của phụ nữ trong pháp luật như quyền tự do, quyền bình đẳng, bất khả xâm phạm của phụ nữ, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, lao động, việc làm, hôn nhân và gia đình Các chủ đề về giới và bạo lực gia đình được các học giả, các nhà làm luật, cá nhân và các nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt Có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu chính như sau:

2.1 Các nghiên cứu theo hướng lí luận về bạo lực gia đình

Những nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề lí luận và phương pháp luận

về bạo lựcgia đình, giới, công tác thực hiện và phát triển phụ nữ như: cung cấp hệ thống các khái niệm liên quan có giá trị nhận diện vấn đề bạo lực gia đình, đưa ra những hệ

quan điểm, lý thuyết để giải thích, khái quát tính đa dạng của bạo lực gia đình

Nhà nghiên cứu Trịnh Thái Quang lại tập trung vào nhóm phụ nữ nông thôn,

ông nghiên cứu “Một số vấn đề mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn” tìm hiểu về mối quan hệ giữa độ tuổi, trình độ học vấn,

mô hình sống chung, mức sống hộ gia đình, mối quan hệ vợ chồng, lạm dụng rượu với tình trạng mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn hiện nay Kết quả cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn hiện nay là khá phổ biến và để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng tới sức khỏe và tinh thần của người phụ nữ

“Bạo lực trên cơ sở giới” là báo cáo chuyên đề thực hiện bởi các chuyên gia

của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam thực hiện vào tháng năm 2010 Báo cáo nhấn mạnh vấn đề bạo lực đối với phụ nữ là biểu hiện của quan hệ quyền lực bất bình đẳng về mặt lịch sử giữa nam giới và phụ nữ dẫn đến tình trạng nam giới thống trị

và phân biệt đối xử đối với phụ nữ, đồng thời ngăn cản sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã dần tích cực hơn trong nỗ lực giải quyết bạo lực giới song những vấn đề liên quan đến hệ lụy của bạo lực giới từ các số liệu thực tế về các hình thức bạo lực

Trang 13

từ đó có những khuyến nghị bao trùm trong báo cáo là Việt Nam cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp liên ngành gắn kết với các cơ chế hiện có về thực thi bình đẳng giới trong đó có ưu tiên đến việc điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách và pháp luật mới bao gồm các loại h́nh bạo lực mà hiện c ̣n chưa đề cập đến và các biện pháp hỗ trợ những bộ phận dân cư dễ bị tổn thương

Tháng 11 năm 2014, Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động TB & XH công bố

báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu “Điều gì khiến một số phụ nữ chịu nhiều bạo lực hơn các phụ nữ khác”dựa trên kết quả phân tích các yếu tố nguy cơ bị bạo lực bởi

chồng nhấn mạnh nguyên nhân sâu xa của điều này là do bất bình đẳng giới và là rào cản với phụ nữ trong việc thực hiện và thụ hưởng quyền con người Mặc dù phụ

nữ được bảo vệ bởi khung pháp lý nhưng có nhiều người phụ nữ vẫn bị tình trạng bạo lực gia đình thường xuyên, lý do được giải thích liên quan đến mối tương tác phức tạp từ các yếu tố ở nhiều cấp độ khác nhau giữa vợ, chồng, gia đình và khu vực trong đó có yếu tố trình độ giáo dục, độ tuổi, thói quen xấu, kinh tế, các mối quan hệ ngoài hôn nhân, tài sản, mẹ chồng và ý kiến bất đồng Bạo lực gia đình cũng có liên quan đến những trải nghiệm về bạo lực của cả người vợ lẫn người chồng trước hôn nhân của họ cũng như trải nghiệm bạo lực của cả mẹ vợ hoặc mẹ chồng Một trong những yếu tố là điểm sáng của nghiên cứu là các yếu tố về quan

hệ gia đình và mạng lưới hỗ trợ cùng cộng đồng không liên quan chặt chẽ tới bạo lực do chồng gây ra Theo đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị đó là làm việc với cộng đồng nhằm xóa bỏ sự kỳ thị và giữ im lặng đối với bạo lực trên cơ sở giới và thay đổi các quy chuẩn xã hội liên quan đến sự chấp nhận bạo lực và hạ thấp vị thế người phụ nữ

2.2 Các nghiên cứu theo hướng thực tiễn về bạo lực gia đình

Theo nội dung này, các nghiên cứu tập trung nhìn nhận thực trạng bạo lực gia đình biểu hiện trong nhiều lĩnh vực, gắn với bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và sự phát triển của xã hội Thông qua việc phân tích hệ thống các dữ liệu thực tiễn phán ánh về những khía cạnh bất bình đẳng giới, địa vị, vai trò của giới, tập trung nhiều hơn vào người phụ nữ

Trang 14

Năm 2010, “Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với Phụ nữ tại Việt Nam” được Tổng cục Thống kê thực hiện trong cấu phần của Chương trình

hợp tác chung về Bình đẳng giới giữa Chính Phủ Việt Nam và Liên hợp quốc, với

sự hỗ trợ về kỹ thuật từ Tổ chức Y tế Thế giới và điều phối chung từ Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc cùng sự tham gia của tư vấn trong nước từ Trung tâm Sáng kiến về sức khỏe và dân số (CCIHP), Bộ Y tế và một chuyên gia tư vấn quốc tế là một nghiên cứu lớn được thực hiện qui mô dân số với 4.838 phụ nữ từ 18 đến 60 tuổi đại diện cho toàn bộ phụ nữ trong độ tuổi này tại Việt Nam đến từ Hà Nội, Huế và Bến Tre Thêm vào đó, 30 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm Điều tra áp dụng phương pháp luận do Tổ chức Y tế Thế giới xây dựng cho các Nghiên cứu đa quốc gia về Sức khỏe phụ nữ và Bạo lực gia đình, sử dụng bảng câu hỏi và phương pháp đã được chuẩn hóa nhằm đảm bảo tính so sánh của dữ liệu cùng việc tuân thủ tuyệt đối các quy tắc về an toàn và đạo đức nghiên cứu Nghiên cứu cho thấy mức

độ phổ biến, tỷ lệ và các loại hình thức bạo lực khác nhau đối với phụ nữ và trẻ em, mức độ ảnh hưởng của bạo lực gia đình do chồng gây ra liên quan đến sức khỏe và các hậu quả khác, các yếu tố bảo vệ hoặc yếu tố đặt phụ nữ vào nguy cơ chịu bạo lực gia đình gây ra bởi chồng và các biện pháp đối phó và dịch vụ phụ nữ sử dụng

để đối phó với bạo lực gia đình do chồng gây ra, quan điểm về bạo lực cũng như quan điểm về bạo lực và hiểu biết của phụ nữ về quyền lợi hợp pháp của mình đến đâu Chương 8 trong báo cáo của nghiên cứu về chiến lược ứng phó và xử trí của phụ nữ khi bị bạo lực cho thấy một nửa số phụ nữ từng bị bạo lực về thể xác hoặc tình dục do chồng gây ra chưa từng bao giờ kể cho bất cứ ai, gần 90% phụ nữ chưa bao giờ tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ chính thống hoặc những người có thẩm quyền và chỉ tìm sự trợ giúp khi bạo lực đã trở nên nghiêm trọng và có 60% phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục do chồng gây ra nói rằng họ có nghe về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Tuy nhiên những cuộc phỏng vấn định tính cho thấy phụ nữ thường không nắm được các nội dung chi tiết của Luật và ngay cả các cán

bộ địa phương cũng không có đủ kiến thức về Luật cũng như về bạo lực gia đình nói chung trong khi đó, những người phụ nữ thường tìm kiếm sự trợ giúp từ mạng

Trang 15

lưới phi chính thức là bạn bè và người thân gia đình hơn là những cơ quan chính quyền [13, tr.19]

“Từ bạo lực gia đình đến bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực” là tài liệu của Liên Hợp Quốc xuất bản năm 2014 cho thấy bức

tranh về đánh giá hiểu biết về bạo lực gia đình của Việt Nam hiện nay cho thấy nạn bạo hành xảy ra đối với phụ nữ ở tất cả các nhóm dân số xã hội khác nhau thì tỷ lệ bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý cao hơn ở các vùng nông thôn và ở những phụ

nữ có trình độ văn hóa thấp hơn [17]

Đồng thời, với ấn phẩm tài liệu chuyên đề “Đánh giá những thiệt hại kinh tế

do Bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam” công bố năm 2014, Liên Hợp

Quốc cũng chỉ ra rằng những chi phí về mặt con người của tình trạng bạo lực là rất lớn Sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng, nghiên cứu cho thấy thiệt hại trực tiếp bao gồm chi phí từ tiền túi phát sinh cho dịch vụ sức khỏe hoặc thay thế đồ đạc bị hư hỏng và những chi phí gián tiếp bao gồm những thiệt hại về thu nhập do không thể đi làm bao gồm cả công việc nội trợ Vấn đề bạo lực gia đình vẫn tồn tại dai dẳng và phổ biến tại Việt Nam và chi phí cho việc không hành động là quá cao, ngân sách cho vấn đề này cần phải tăng lên cụ thể là cho những hoạt động cung cấp dịch vụ y tế và công an nhằm giải quyết bạo lực gia đình đối với phụ nữ [18]

2.3 Các nghiên cứu về nguyên nhân, giải pháp cho công tác thực hiện phòng chống bạo lực gia đình và phát triển phụ nữ

Các công trình nghiên cứu theo nhóm này tập trung vào làm rõ những nguyên nhân tạo ra bạo lực gia đình, những nguyên nhân làm hạn chế địa vị, vai trò của phụ nữ từ phạm vi gia đình đến rộng hơn là các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên cơ sở đó các đề tài cũng đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện phòng chống bạo lực gia đình và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Trước hết phải kể đến nghiên cứu “Rà soát các chương trình Phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại Việt Nam” được thực hiện tháng 10 năm 2007 bởi Quỹ

dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam tiến hành xác định các chương trình về phòng chống và giải quyết bạo lực giới đã thành công ở Việt Nam, các thách thức và lĩnh vực hành động trong tương lai, tập trung nghiên cứu các chương trình ở cấp chính

Trang 16

sách quốc gia, cấp ngành y tế, luật pháp và giáo dục và cấp cộng đồng Theo đó, các chương trình hỗ trợ được thực hiện bởi chủ yếu ba lĩnh vực y tế, giáo dục và luật pháp, sau này có thêm các tổ chức phi chính phủ tạo điều kiện với mô hình nhà tạm lánh (ngôi nhà bình yên), mô hình thực tiễn công tác xã hội cá nhân (quản lý ca tại nhà tạm lánh của tổ chức quốc tế Hagar làm việc cùng phụ nữ bị bạo lực gia đình gây ra bởi chồng) Bên cạnh đó, các mô hình hỗ trợ từ phía cộng đồng cũng có hiệu quả từ nguồn kinh phí các dự án như các trung tâm tư vấn tâm lý, giáo dục, trung tâm sức khỏe sinh sản, ủy ban dân số gia đình và trẻ em chương trình Phát triển “gia đình bền vững” Trên thực tế không có mô hình nào là hoàn hảo vì cần sự liên kết

đa ngành và có sự tham gia của cộng đồng vì vậy, nghiên cứu cũng đưa ra đề xuất phải xây dựng các nhóm phòng chống bạo lực gia đình/bình đẳng giới cho phụ nữ

và cho các cặp vợ chồng đồng thời nâng cao nhận thức của thanh niên về vấn đề này, xây dựng thế giới quan cho thanh thiếu niên, tuyên truyền

Tháng 4 năm 2014, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” thực hiện năm 2013 bởi

Ths Trần Tuyết Ánh, vụ trưởng Vụ gia đình, Bộ VHTT &DL làm chủ nhiệm đề tài Nghiên cứu góp phần cung cấp cho người đọc cái nhìn hệ thống về các kết quả nghiên cứu, các chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình của các nước và Việt Nam và tập trung vào bốn nhóm giải pháp đó là giải pháp về chính sách, pháp luật; nhóm giải pháp về phòng ngừa; nhóm giải pháp về can thiệp, hỗ trợ và nhóm giải pháp về xử lý vi phạm Nghiên cứu cũng nhấn mạnh các mô hình phòng chống bạo lực gia đình của các tổ chức phi chính phủ làm tốt khi có dự án nhưng khó duy trì lâu dài, hệ thống báo cáo thống kê chưa có độ tin cậy cao và đội ngũ tư vấn viên, hòa giải viên ở cộng đồng hạn chế về nghiệp vụ, kỹ năng tư vấn, hòa giải nên việc hòa giải chưa mang lại kết quả cao [1, tr.3]

Một nghiên cứu khác là “Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành cho nạn nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam” được thực hiện bởi

Trung tâm nghiên cứu và Phát triển thuộc trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội (RCGAD), cùng với Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và Hội Phụ

nữ Việt Nam (VWU) đưa ra những số liệu cụ thể dựa trên khảo sát 900 ý kiến cá

Trang 17

nhân phụ nữ về về thực tế hệ thống hành pháp hiện thời và hỗ trợ pháp lý cũng như

hỗ trợ xã hội dành cho phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, vai trò của chính quyền địa phương trong việc xử lý những vụ việc này Trong đó mô tả rõ các nguyên nhân bạo lực, sự nghiêm minh của công an trong thực thi những vụ việc liên quan đến bình đẳng giới Trong đó nhấn mạnh tác động của sự can thiệp của công an vẫn còn hạn chế, thậm chí đôi khi dẫn đến tình trạng bạo lực trầm trọng hơn và liên tục [23]

Nếu người phụ nữ có năng lực và tham gia công tác quản lý, họ có nằm ngoài đối tượng của bạo lực gia đình hay không? Đánh giá năng lực tham gia công

tác lãnh đạo, quản lý, các tác giả Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh tìm hiểu chủ đề “ Phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý: Một số yếu tố tác động và các giải pháp”, bài viết được đăng trên Tạp chí Xã hội học (số 4 năm 2010) Bài

viết nêu rõ một số yếu tố gây trở ngại cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý nữ hiện nay, bao gồm các yếu tố: nhận thức về vai trò của phụ nữ và công tác cán bộ nữ; những vấn đề về chính sách, cơ chế công tác cán bộ nữ; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ; những khó khăn liên quan trực tiếp đến cán bộ nữ Từ đó nghiên cứu đề xuất 6 nhóm giải pháp để thúc đẩy phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý [15, tr.23]

Liên quan đến hoạt động công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình, luận văn thạc sĩ của học viên Hoàng Thị Ngọc Yến, trường ĐH Khoa học xã

hội nhân văn Hà Nội nghiên cứu về “Công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình – nghiên cứu trường hợp tại xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định” với mục đích sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm vào giúp đỡ

một nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình Thông qua hoạt động tương tác nhóm, các thành viên có được sự hỗ trợ về mặt tâm lý, tình cảm, có môi trường để chia sẻ với những người có hoàn cảnh và tăng cường kiến thức về bạo lực gia đình, cách phòng tránh cho bản thân và gia đình [21, tr 45]

Như vậy có thể thấy các nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình và các vấn đề liên quan đến giới có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn nạn bạo lực gia đình, từ việc

Trang 18

xây dựng cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, từ đó đưa ra các giải pháp

để thực hiện phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu đến vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Dựa trên nền tảng các nghiên cứu đi trước, tác giả tiếp tục lựa chọn đề tài:

Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại Thị Trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình) để nghiên cứu Điểm mới của luận văn so với các nghiên cứu trước là nghiên

cứu về vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình cho đối tượng là phụ nữ mà trước đó các công trình nghiên cứu chưa đề cập sâu đến thực trạng bạo lực gia đình và mức độ hiểu biết về Luật Phòng chống bạo lực gia đình của người phụ nữ, từ đó tìm hiểu các hình thức truyền thông

và cách thức thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình, tìm hiểu những ưu, nhược điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình Thông qua đó đúc rút được vai trò của công tác xã hội và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về Luật phòng chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn và các địa phương khác trong cả nước

3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài vận dụng lý thuyết nhu cầu, lý thuyết nhận thức hành vi để lý giải và xác định vai trò, yêu cầu, hình thức của việc nâng cao kiến thức về Luật Phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ nông thôn miền núi Sử dụng lý thuyết hệ thống

để mô tả rõ hơn về cách thức quản lý và kết hợp những nguồn lực sẵn có tại địa phương để kết nối được tốt hơn có thể hỗ trợ trong việc nâng cao những nhận thức

về bạo lực gia đình Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của người nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình góp phần nâng cao bình đẳng giới

3.2 Ý nghĩa thực tế

Kết quả nghiên cứu đưa ra những phân tích, đánh giá thực tế, những biểu hiện về tình hình bạo lực gia đình tại thị trấn Kỳ Sơn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Nghiên cứu cũng sẽ chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu một cách khách quan, khoa

Trang 19

học về quá trình thực hiện Luật phòng chống bạo lực gia đình của các cơ quan

có trách nhiệm và cộng đồng làm cở sở để đưa ra những giải pháp cho địa phương có những thay đổi trong thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình, đồng thời giúp nhóm những người phụ nữ tại địa phương hiểu và nắm rõ hơn về luật này, nâng cao hiệu quả truyền thông về bình đẳng giới, góp phần giảm

thiểu bạo lực gia đình cho xã hội

4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

4.1 Mục đích của nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu vai trò của hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình Từ đó, tìm hiểu vai trò của

công tác xã hội và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên đề tài cần làm rõ:

Thứ nhất là tìm hiểu thực trạng tình hình bạo lực gia đình và mức độ hiểu biết về Luật Phòng chống bạo lực gia đình của người phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu

Thứ hai là tìm hiểu các hình thức truyền thông và cách thức thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu

Thứ ba là tìm hiểu những ưu, nhược điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Thứ tư là tìm hiểu vai trò của công tác xã hội và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng chống bạo lực gia đình

5.2 Khách thể nghiên cứu

Nhóm phụ nữ hiện đang sinh sống và làm việc tại thị trấn Kỳ Sơn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Trang 20

Cán bộ hội liên hiệp phụ nữ Thị trấn Kỳ Sơn

Cán bộ tổ tuyên truyền, hòa giải Thị trấn Kỳ Sơn

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn thời gian: từ tháng 2/2015 đến tháng 7/2015

Giới hạn không gian: Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình Hiện nay, CTXH hướng đến trợ giúp các đối tượng xã hội đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, mức sống và tôn giáo, chính vì vậy kiến thức CTXH cũng rất rộng như các kiến thức và kỹ năng trong hỗ trợ người cao tuổi, người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí, người nhiễm HIV/AIDS; người nghèo; trẻ em; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân của bạo lực gia đình và phân biệt đối xử về giới; ; người sau cai nghiện; cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ khẩn cấp… Tuy nhiên, trong điều kiện giới hạn, luận văn đã lựa chọn các vấn đề xã hội có ảnh hưởng đến vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức về luật phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ hiện đang sinh sống và làm việc tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình

6 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hướng đến đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:

(1) Thực trạng tình hình bạo lực gia đình và mức độ hiểu biết của người phụ nữ về Luật phòng chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn như thế nào?

(2) Tại Thị trấn Kỳ Sơn có các hình thức truyền thông và những cách thức thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình nào?

(3) Trong quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình có những ưu, nhược điểm nào? Những nhân tố nào ảnh hưởng?

(4) Công tác xã hội có vai trò gì? Cần có những biện pháp nào nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về Luật phòng,chống bạo lực gia đình?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Thực trạng bạo lực gia đình còn nhiều bất cập Mức độ hiểu biết của người phụ nữ

Trang 21

về Luật phòng chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn còn yếu kém, chưa hoàn toàn đúng

- Tại Thị trấn Kỳ Sơn đã có một số các hình thức truyền thông và đa dạng về cách thức thực hiện Luật Phòng chống bạo lực gia đình

- Quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình ở Thị Trấn Kỳ Sơn đã có nhiều ưu điểm, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số nhược điểm Có nhiều nhân tố tác động đến

- Công tác xã hội có vai trò rất quan trọng và có những biện pháp phù hợp, tích cực nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ về Luật phòng,chống bạo lực gia đình

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận

Quan điểm về chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản là nguyên tắc chung cho mọi khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng Vận dụng những nguyên tắc này, chúng ta có thể sử dụng những nhận định về quy luật phát triển và tồn tại của xã hội trước hết phải được xem xét trong

sự tồn tại khách quan như nó vẫn tồn tại Mặt khác các hiện tượng trong xã hội phải xem trong mối quan hệ biện chứng với nhau, và xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không hướng tới ngẫu nhiên bất bình thường Điều cơ bản nhất là xem xét con người mang bản chất xã hội, là “ tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ thể xã hội từ đó coi việc phát huy nhân tố con người, coi chiến lược con người là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế xã hội trong đó bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình là những mục tiêu cần phải đạt được

8.2 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp trưng cầu ý kiến:

Để làm rõ được vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình, người nghiên cứu tiến hành trưng cầu 120 ý kiến của phụ nữ hiện

Trang 22

đang sinh sống và làm việc tại Thị trấn Kỳ Sơn Tuy nhiên vì những lý do khác nhau mà số phiếu thu về và được xử lý là 105 phiếu Cụ thể như sau:

Cơ cấu tuổi của đối tượng được khảo sát:

Để phục vụ cho việc nghiên cứu, học viên đã thực hiện 8 phỏng vấn sâu theo

cơ cấu như sau:

+ 04 cá nhân người phụ nữ có dấu hiệu bị bạo lực gia đình đang làm việc và sinh sống tại Thị trấn Kỳ Sơn: Tìm hiểu về tình hình bạo lực gia đình và mức độ hiểu biết của người phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

+ 02 cán bộ nữ làm công tác tuyên truyền, hòa giải tại thị trấn Kỳ Sơn: Tìm hiểu những hành vi bạo lực gia đình, các hình thức tuyên truyền Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại Thị trấn Kỳ Sơn

Trang 23

+ 02 cán bộ hội liên hiệp phụ nữ Thị trấn Kỳ Sơn: Tìm hiểu hoạt động của các Hội, Đoàn thể tại địa phương trong công tác phòng chống bạo lực gia đình và một số hoạt động trong việc hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Tiến hành 02 thảo luận nhóm:

+ 01 thảo luận nhóm với nhóm phụ nữ tại thị trấn Kỳ Sơn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình: Tìm hiểu về tình hình bạo lực gia đình và mức độ hiểu biết về Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại địa bàn nghiên cứu

+ 01 thảo luận nhóm với cán bộ hội liên hiệp phụ nữ và cán bộ tuyên truyền,hòa giải Thị trấn Kỳ Sơn: Tìm hiểu về những ưu nhược điểm và các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hỗ trợ kiến thức về Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Vai trò của công tác xã hội và một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho phụ nữ

về Luật phòng, chống bạo lực gia đình

- Phương pháp phân tích tài liệu:

Phân tích tài liệu là một phương pháp được sử dựng khá phổ biến trong các

công trình nghiên cứu.Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Công tác xã hội trong việc

hỗ trợ kiến thức cho phụ nữ về Luật phòng, chống bạo lực gia đình (Nghiên cứu

trường hợp tại Thị trấn Kỳ Sơn, Huyện Kỳ Sơn, Tỉnh Hòa Bình)” có thu thập, tham

khảo các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như tạp chí, internet, sách, báo, các tài liệu truyền thông về Luật Phòng chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới của Thị trấn Kỳ Sơn, các công trình nghiên cứu, các văn bản luật, các báo cáo nghiên cứu về giới và bình đẳng giới của các tổ chức Phi chính phủ có liên quan đến đề tài trên cơ

sở có sự sàng lọc về thu thập thông tin, số liệu để phân tích các cơ sở lý luận phục

vụ cho đề tài nghiên cứu Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu

Trang 24

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định, nhằm hỗ trợ cá nhân và những nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ, qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Lịch sử công tác xã hội hiện đại được xem như bắt đầu cùng với cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu Cùng với thời gian, công tác xã hội ngày càng phát triển và trở thành một ngành khoa học và một nghề chuyên môn có tính thực tiễn cao Phương pháp công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, phát triển cộng đồng, quản lý trường hợp, biện hộ ngày càng hoàn thiện Các lĩnh vực khoa học chuyên ngành này được tổng kết từ những kinh nghiệm, kỹ năng làm việc thực tế của các chuyên gia và đưa vào đào tạo sinh viên chuyên ngành công tác xã hội chuyên nghiệp Có thể nói, công tác xã hội ngày càng khẳng định được vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội và được coi là một lĩnh vực khoa học độc lập Đối tượng quan tâm của công tác xã hội hiện đại rất đa dạng, đó có thể là nhóm các cá nhân yếu thế, các cộng đồng chưa phát triển hay các vấn đề xã hội như: mại dâm, ma tuý, HIV/AIDS Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Công tác xã hội, có thể kể đến các định nghĩa sau về công tác xã hội:

CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề”

Năm 1970, Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Hoa Kỳ - NASW định

nghĩa: "Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những

cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện

Trang 25

chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy"

Một định nghĩa khác về Công tác xã hội được nêu trong "Foubndtion of

Social Work Practice" - Cơ sở thực hành công tác xã hội: "Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa"

Định nghĩa Công tác xã hội của Philippin: "Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội"

Năm 2000, tại Đại hội Montreal , Liên đoàn Công tác xã hội Chuyên nghiệp Quốc tế (IFSW) đã phát triển định nghĩa công tác xã hội theo hướng tiếp cận mới:

"Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người và tăng quyền lực, giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề Công tác xã hội"

Năm 2004, IFSW họp tạo Canada đã thảo luận và bổ sung định nghĩa như sau:

"Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng

sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan

hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã hội đã giúp con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân"

Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống

nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất

Trang 26

lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và

lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống

Nhân viên CTXH là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về Công tác xã hội có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức, vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội Cán

bộ CTXH chuyên nghiệp không chỉ biết hướng vào những nhóm cư dân yếu thế nhằm hỗ trợ, bảo vệ và tăng cường năng lực tự chủ của họ mà còn xây dựng những chương trình, giải pháp khoa học nhằm bảo vệ toàn xã hội, toàn thể dân cư Do tính chất đặc thù của ngành nghề CTXH, đòi hỏi người cán bộ CTXH chuyên nghiệp phải là người biết kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết với thực tiễn, thành thạo các

phương pháp và kỹ năng chuyên môn

Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Trang 27

thức bao gồm các hoạt động liên quan đến học tập, cung cấp thông tin qua các tài liệu, vật dụng, truyền thông miệng, giảng dạy, trình diễn

1.1.3 Gia đình

Khái niệm gia đình xuất hiện từ rất sớm, nhìn chung, thuật ngữ được xác định “ là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ” Trải qua quá trình hình thành từ lâu đời, gia đình được coi là một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, một hình ảnh thu nhỏ cơ bản nhất của xã hội Thông thường, gia đình là nhóm xã hội có từ 2 người trở lên, trong gia đình phải có giới tính nam nữ,

có quan hệ ruột thịt, huyết thông, liên kết với nhau về đặc điểm tâm sinh lý, có ngân sách dùng chung và sống chung một nhà

Việt Nam tồn tại nhiều kiểu gia đình khác nhau, bao gồm gia đình 02 thế hệ hoặc nhiều thế hệ, gia đình hạt nhân, gia đình đơn thân, gia đình đầy đủ Sự biến đổi các hình thức gia đình bị xảy ra dưới tác động của của những chuyển biến xã hội nhưng cũng không tách rời những đặc trưng truyền thống mà vẫn kế thừa và thích nghi những điều kiện hoàn cảnh mới

Trong thời đại ngày nay, gia đình được coi là một vấn đề xã hội lớn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội Việc tổ chức gia đình tốt sẽ giúp hình thành nhân cách con người, tạo tiền đề quan trọng để cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quốc gia trong quá trình phát triển nhiều chiều Gia đình là một thể chế có tính toàn cần, thể chế đó lại có hình thái khác nhau và thực hiện các chức năng một cách khác nhau Một trong những chuyển biến khá rõ nét trong các gia đình trẻ ở Việt Nam hiện nay đó là mong muốn thể hiện sự bình đẳng trong gia đình, sự phân công lao động cũng có sự thay đổi, quyền quyết định đang dần chuyển sang cùng bàn bạc Mặc dù vậy, gia đình Việt Nam vẫn đang chịu ảnh hưởng của gia đình truyền thống, được hình thành và gắn liền với xã hội nông thôn

và chịu sự chi phối của tư tưởng Khổng giáo, gắn bó chặt chẽ với họ hàng, làng xã, mang tính chất phụ quyền gia trưởng

Trang 28

1.1.4 Bạo lực gia đình

Luật phòng chống bạo lực gia đình được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21/11/2007 đi ̣nh nghĩa:“Bạo lực gia đình là hành vi

cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại vể thể chất, tinh thần, kinh tế, đối với thành viên khác trong gia đình.” [14, tr.51]

Về mă ̣t hình thức , có thể phân biệt bạo lực gia đình thành những hình thức chủ yếu là bạo lực thể chất , bạo lực tình dục , bạo lực tinh thần , bạo lực kinh tế Về mức độ gây tổn hại có thể phân biệt bạo lực gia đình cực kỳ nghiêm trọng , nghiêm trọng và ít nghiêm trọng Tương ứng với mỗi loa ̣i ba ̣o lực này có những cách thức , biê ̣n pháp phòng , chống phù hợp cần phải tính đến khi thực hiê ̣ n Luâ ̣t PCBLGĐ ở

đi ̣a phương Ngày 25 tháng 11 hằng năm được Liên Hợp Quốc lấy làm ngày Quốc

tế phòng, chống bạo lực gia đình và đây được coi là vấn đề mang tính toàn cầu

Trên thế giới bạo lực gia đình còn được xem là bất kỳ hành vi lạm dụng nào trong một mối quan hệ mật thiết (vợ chồng, bạn tình) gây nguy hại về thể chất, tâm

lý hay tình dục cho những người trong mối quan hệ đó Đại đa số nạn nhân của bạo lực gia đình và các hình thức bạo lực khác là phụ nữ và quyền của họ bị vi phạm nghiêm trọng nhiều trường hợp Đại hội đồng LHQ đã đưa ra Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ dưới mọi hình thức nhằm đảm bảo các quyền của phụ nữ Trong Tuyên bố này, bạo lực đối với Phụ nữ được định nghĩa là bất kỳ hành động nào gây ra hoặc có thể gây ra hậu quả làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tâm lý hay tình dục kể cả những lời đe dọa hay độc đoán, tước quyền tự do

dù xảy ra ở nơi công cộng hay đời sống riêng tư Hành vi bạo lực gia đình được xem là hành vi của các thành viên gia đình nhất định gây thương tích cho các thành viên khác trong gia đình, nó cũng được áp dụng cho các thành viên gia đình trong các trường hợp ly hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Trang 29

1.2 Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Công tác xã hội sử dụng thuyết nhu cầu như là một lý thuyết quan trọng nhằm tìm ra vấn đề nào là cần thiết nhất đối với thân chủ dựa vào đánh giá nhu cầu Bởi vậy, việc xem xét các yếu tố cụ thể và những khả năng đáp ứng được của các nguồn lực cho phép người nhân viên xã hội đạt được những điều kiện nhất định trong xây dựng kế hoạch trợ giúp thân chủ của mình

Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ, gốc Nga, năm 1943 bắt đầu nghiên cứu lý thuyết thang bậc nhu cầu Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, động cơ bên trong được hình thành từ những nhu cầu của con người Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: (1) Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác (2) Nhu cầu về an ninh

và an toàn: là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ…(3) Nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội (4) Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị (5) Nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ,

tự chủ, sáng tạo, hài hước

Maslow cũng chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn Nhu cầu cấp cao bao

Trang 30

gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người

Nhu cầu sinh học: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con

người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Đây cũng

là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:An ninh và an toàn có nghĩa là một môi

trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển của cá thể An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý,

an toàn nhân sự Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu

an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm

ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Những nhu cầu được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận): Do con người

là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị

cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, tình thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận

Trang 31

luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự

trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện.Thứ hai, nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị,

có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách

phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Rõ hơn thế, nội dung này bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Với cách nhìn dựa trên lý thuyết nhu cầu thì con người

ai sinh ra cũng có các nhu cầu căn bản cần được đáp ứng như được đáp ứng như nhu cầu được ăn, uống, nhu cầu được an toàn, nhu cầu được được tôn trọng, nhu cầu được khẳng định giá trị bản thân và phát triển nhưng tùy vào hoàn cảnh khác nhau thì nhu cầu ở mức độ khác nhau

Thuyết nhu cầu càng đặc biệt quan trọng đối với những nạn nhân bạo lực gia đình Theo các thang bậc của thuyết nhu cầu và biểu hiện của bạo lực đều có sự tương ứng với nhau Nhóm một và nhóm hai là hành vi bạo lực thể chất/thể xác và bạo lực tình dục Đây là hành vi gây ảnh hưởng đến nhu cầu tồn tại của con người bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc hành

vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng Hai nhóm còn lại bao gồm bạo lực

về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với

Trang 32

nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và nhóm hành vi bạo lực về kinh tế, bao gồm chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính Có nhiều kiểu bạo lực gia đình, nhưng phổ biến nhất vẫn là vợ (hoặc chồng) bị bạn đời hay bạn tình bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần hay bạo lực tình dục (ép, cưỡng…) Một số chuyên gia cho rằng cái gốc của bạo lực gia đình ở Việt Nam xuất phát từ bất bình đẳng giới…Các nhà tư vấn cũng đặc biệt lưu ý đến giai đoạn “trăng mật” Đây là giai đoạn người bạo lực tỏ ra hối hận, muốn chuộc lỗi, có những biểu hiện quan tâm chăm sóc mang tính bù đắp; chính điều này làm nhiều nạn nhân của nạn bạo lực gia đình bị cuốn vào vòng xoáy không dứt ra được: từ bạo lực, rồi bất bình vì bị hành hạ, rồi lại đến sự an ủi và quay lại tình trạng

cũ Những hành vi này gây ảnh hưởng đến tinh thần, khả năng tự chủ, không được an toàn, không được chăm sóc, yêu thương và được thừa nhận áp lên người phụ nữ Những điều này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến tâm lý của người nạn nhân bạo lực Dần dần sự tự tin và không tự chủ được bản thân mình Do vậy, đánh giá đúng hành

vi bạo hành và nhu cầu của người bị bạo hành sẽ giúp cho quá trình trợ giúp được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả hơn

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi

Về mặt lịch sử, các quan điểm về hành vi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâm sàng sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của TLH Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành

vi Các quan điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành vi của con người xuất hiện dựa trên ý thức của họ Nhưng lý thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó

Do đó, chúng ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào có thể xảy ra trong ý

Trang 33

thức của chúng ta trong quá trình này Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977)

mở rộng thêm quan điểm này và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua

Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu Như vậy lý thuyết nhận thức – hành vi là một phần của quá trình phát triển lý thuyết hành vi và trị liệu, gần đây lại được xây dựng trên lý thuyết học hỏi xã hội Nó cũng phát triển vượt qua khỏi hình thức về trị liệu của lý thuyết trị liệu thực tế (Glasser- 1965) được các tác giả như Beck (1989) và Ellis (1962) đưa

ra Lý thuyết nhận thức- hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ ràng

là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai và lý giải sai Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại môi trường Theo Scott (1989), có nhiều cách tiếp cận khác nhau như theo quan điểm của Beck là đề cập tới cách tư duy lệch lạc về bản thân (“mình là đồ bỏ đi ), về cuộc sống của chúng ta, về tương lai của chúng ta đang hướng đến những nỗi lo âu và căng thẳng; quan điểm của Ellis có trọng tâm về những niềm tin không hợp lý về thế giới và quan điểm trọng tâm của Meincheanbeum (1977) về những mối đe dọa mà chúng ta trải qua

Quan điểm của Sheldon về Trị liệu hành vi - nhận thức cho cá nhân

Đánh giá gần đây của Sheldon về trị liệu hành vi đã đưa ra những đóng góp

về mặt nhận thức Theo ông một thành tố quan trọng trong trị liệu hành vi chính là việc lựa chọn các yếu tố tăng cường, thúc đẩy để củng cố hành vi Các yếu tố này cần được quan sát, khái quát hóa và mô hình hóa (học hỏi qua trải nghiệm), điều này đòi hỏi chúng ta hành động dựa trên nhận thức của chúng ta về thế giới về cuộc sống Sheldon cũng chỉ ra việc học hỏi thông qua việc lập mô hình là nhận thức, điều này có nghĩa là chúng ta tự suy nghĩ về bản thân trong các tình huống mà chúng ta đang quan sát, chỉ ra được chúng ta hành động ra sao Trong thực tế, việc thúc đẩy cách nghĩ như trên là rất hữu ích Theo ông, lượng giá là một khía cạnh quan trọng trong cách tiếp cận hành vi- nhận thức Một chuỗi hình thức lượng giá phù hợp sẽ gồm những nội dung sau:

Trang 34

* Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau

* Đưa ra những ví dụ về ai bị tác động và tác động như thế nào

* Tìm kiếm những hình thức khởi đầu của các vấn đề, chúng biến đổi ra sao

và tác động đến chúng ở những vấn đề gì?

* Xác định những khía cạnh khác nhau của các vấn đề và chúng phù hợp với nhau ra sao?

* Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi

* Xác định những mô hình tư duy và những cảm xúc có trước, trong và sau những biến cố về hành vi của vấn đề

* Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ

Theo lý thuyết này tập trung vào việc mô tả về hành vi thì tốt hơn là phán xét

về nó Những vấn đề nảy sinh trong và sau quá trình can thiệp cũng cần được đo lường bởi nhiều khi “giai đoạn đối lập” sẽ xuất hiện sau một giai đoạn can thiệp và việc can thiệp lại khởi động lại thêm lần nữa Đặc biệt, trong quá trình trị liệu, việc kiểm soát những phản ứng (gồm các hoạt động như mô hình hóa, đào tạo kỹ năng xã hội, sự quyết đoán…) và quản lý những vấn đề bất ngờ thì cần thiết Đánh giá của Scott (1989) về cách tiếp cận nhận thức hành vi cũng tương phản với Sheldon qua việc nhấn mạnh đến những hình thức can thiệp về nhận thức Đánh giá của ông về can thiệp nhận thức chính là việc chúng được tóm lược, có khả năng ứng dụng rộng rãi, được cấu trúc ở cấp độ cao, dễ dàng học hỏi và có hiệu quả Ông áp dụng để đánh giá trong bốn lĩnh vực về hành vi của trẻ em bao gồm: rối loạn xúc cảm như lo lắng

và thất vọng, các vấn đề liên quan cá nhân như vấn đề hôn nhân hay thiếu kỹ năng xã hội và những rối loạn về việc tự kiểm soát việc lạm dụng chất ma túy

Bản chất của Thuyết nhận thức - hành vi

Thuyết hành vi đưa ra công thức: S -> R -> B (S là tác nhân kích thích, R là

phản ứng, B là hành vi) Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thay đổi của môi trường để thích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta được học hay được củng cố khi kết quả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết này thì hành vi con người là do chúng ta tự học mà có và môi

Trang 35

trường là yếu tố quyết định hành vi Các mô hình trị liệu hành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương pháp thưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt

Thuyết nhận thức-hành vi:

Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội Thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi dựa vào mô hình:

S -> C -> R -> B

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi

Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R

Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành

vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy

méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại.(ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêu thương mình bằng em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với mẹ, không gần gũi…) Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức Như vậy, lý thuyết này

Trang 36

cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm

Thuyết nhận thức – hành vi mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyết hành vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu tố thói quen hay học tập) Hiểu được lý thuyết này và áp dụng với nhóm phụ nữ

bị bạo hành, ta có thể xác định được động cơ, nguyên nhân hay tác nhân của hành vi của người gây ra bạo lực gia đình, vì sao người phụ nữ cam chịu và những biểu hiện khác Khi chủ thể nhìn nhận vấn đề và hiểu biết về vấn đề theo một hướng khác thì những kết quả hành vi có thể sẽ diễn ra khác nhau Trong tình huống này, giả thuyết đặt ra là nếu như cá nhân hiểu rõ về Luật Phòng chống BLGĐ thì có thể tỷ lệ hành

vi này sẽ xảy ra thấp hơn và giảm thiểu đi Lý thuyết nhận thức nhấn mạnh rằng sự khác nhau về hành vi ứng xử của nam giới và nữ giới tùy thuộc vào cách mỗi người nhận thức về một “hoàn cảnh” cụ thể là thuận lợi hay bất lợi cho hành vi ứng xử đó diễn ra

1.2.3 Lý thuyết hệ thống

Hệ thống là thuật ngữ sử dụng chỉ tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách có quy luật để tạo thành một chỉnh thể,

từ đó làm xuất hiện những thuộc tính mới, đảm bảo thực hiện những chức năng nhất định Lý thuyết hệ thống xuất hiện từ thời cổ đại cho rằng thế giới như một thể thống nhất theo hệ thống triết học về ý thức vũ trụ của Hegel Đến thời kỳ trung và cận đại, sự xuất hiện của lý hóa sinh đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của tư duy hệ thống Dần dần đến thời kỳ hiện đại, từ những tư tưởng của cách mạng công nghiệp, hệ thống máy móc đã gợi ra sự tương tác vận hành của bộ máy hành chính, cơ chế quản lý, đòn bẩy kinh tế Sau đó cao hơn, từ cách tiếp cận sinh học, hệ thống được xét đến trong mối quan hệ máu thịt – hữu cơ Các nhà nghiên cứu tiêu biểu cho lý thuyết hệ thống bao gồm L.V Bertalaffy (1901 – 1972) – nhà sinh học người Áo với lý thuyết hệ thống cơ thể (1930) và Lý thuyết hệ thống tổng

Trang 37

thể (1968); Nhà tâm lý học người Anh (1917 – 1999); nhà toán học người Mỹ Claude Elwood Shannon, nhà xã hội học người Mỹ T.Parson xuất bản ấn phẩm “Hệ thống xã hội” xem xét xã hội ở 4 khía cạnh: thích ứng, đạt mục tiêu, hội nhập và duy trì hệ thống

Theo từ điển Tiếng việt định nghĩa “Hệ thống” là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất Còn theo Bertalanffy “hệ thống là phức hợp các phần tử

có quan hệ nhất định với nhau và với môi trường”

CTXH quan tâm đến sự nối kết xã hội và các mối quan hệ xã hội của con người và cũng quan tâm tới các mục tiêu xã hội như công bằng xã hội hoặc thay đổi

xã hội cũng như công việc chung giữa người với người (liên cá nhân) Các quan điểm lý thuyết hệ thống trong CTXH có nguồn gốc từ hệ thống tổng quát của Bertalanffy (1971) Đây là lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ những tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên

từ những nguyên tử mà được tạo dựng từ các phân tử nhỏ hơn Lý thuyết này được

áp dụng với hệ thống xã hội cũng như hệ thống sinh học Tác giả Hanson (1995) cũng cho rằng giá trị của lý thuyết hệ thống chính là nó đi vào giải quyết những vấn

đề về tổng thể nhiều hơn là những bộ phận của các hành vi xã hội hoặc con người Các quan niệm chính cho rằng, các thực thể hệ thống có hệ thống đóng và hệ thống

mở hoặc coi là một tiến trình có đầu vào – đầu ra của khối lượng - phản hồi mà dẫn đến những trạng thái của hệ thống bao gồm ổn định, điều hòa/cân bằng, khác biệt, không tính tổng hay trạng thái trao đổi Nhìn chung những quan điểm này đều là những dấu mốc cụ thể để ứng dụng lý thuyết này trong các khoa học khác

Lý thuyết hệ thống được coi là một trong những chiều hướng phù hợp về sự phát triển, hướng đến cái tổng thể (Hanson, 1995) Tác giả Robert (1990) cũng xem xét lý thuyết này như là một mô hình mang tính hòa nhập đang được phát triển trong CTXH và thường được ứng dụng trong trị liệu gia đình Ưu điểm của lý thuyết hệ thống là nó phản ánh một số khía cạnh về các tổ chức xã hội và các chính sách xã hội hiện nay

Trang 38

Tác phẩm được sử dụng rộng rãi giữa mối liên hệ giữa hệ thống sinh thái và CTXH là của Pincus và Minahan (1973) Nguyên tắc về tính tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó, CTXH nhấn mạnh đến những hệ thống như vậy

Ba hình thức hệ thống cơ bản trong CTXH bao gồm:

Hệ thống phi chính thức hoặc tự nhiên (gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp )

Hệ thống chính thức (nhóm cộng đồng, các tổ chức công đoàn )

Các hệ thống xã hội (bệnh viện, nhà trường )

CTXH xem xét các thành tố trong các tương tác giữa thân chủ và những đối tượng liên quan và môi trường của họ mục đích là để giúp đỡ cá nhân thể hiện được những nhiệm vụ của cuộc sống cà có tầm quan trọng đối với chúng ta

Pincus và Minahan phân loại 4 hệ thống ứng dụng trong CTXH bao gồm:

Hệ thống tác

nhân thay đổi Nhân viên xã hội và tổ chức mà họ làm việc trong đó và hệ thống kỹ

thuật/tài liệu/nguồn lực tạo nên thay đổi

Toàn bộ những cán bộ hòa giải, cán bộ hội phụ nữ, công an, những nhân viên trợ giúp, gia đình, cộng đồng chung sống cùng nhóm phụ nữ bị bạo lực

Hệ thống thân

chủ Cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng đang tìm kiếm các hình thức hỗ trợ

và tham gia vào việc giải quyết với

hệ thống tác nhân thay đổi

Thân chủ mà nhân viên CTXH

sẽ làm việc cùng Chủ yếu là nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Hệ thống mục

tiêu

Các cá nhân mà hệ thống thay đổi đang cố gắng đổi thay nhằm mục đích hệ thống

Bao gồm hệ thống mục tiêu của nhân viên CTXH, mục tiêu của người hòa giải, cán bộ luật, nhóm làm luật, các hệ thống mục tiêu này khác nhau

Trang 39

luật), mang tính thương lượng có sự đồng thuận về phương pháp, cách thức, thậm chí mang tính xung đột nếu như mục đích hoặc mục tiêu đối lập nhau Bản thân tiến trình của mỗi đối tượng trong mối quan hệ từng hệ thống cũng sẽ được phân chia thành từng bước khác nhau cùng với những kỹ năng hỗ trợ

Tất cả các cá nhân tham gia vào quá trình thực hành đều có liên quan đến một mục tiêu chung và làm việc theo những hệ quả chung ví dụ như trong nghiên cứu này là đạt được mục tiêu tuyên truyền một cách hiệu quả Luật chống bạo lực gia đình Nhìn chung, việc duy trì những cách thức quan hệ chặt chẽ giúp các đối tượng thực hành thay đổi giữa trọng tâm về xã hội và cá nhân với nhau

Cơ chế vận hành duy nhất của hệ thống đó là “ đầu vào” và “đầu ra”: loại tác động hệ thống nhận được từ môi trường và kết quả của quá trình hoạt động của hệ thống Đầu vào trong nghiên cứu dựa vào tập hợp đặc điểm văn hóa tập quán địa phương, tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương, sự hiểu biết về luật tại những thời điểm xác định khác nhau trong cùng một cộng đồng làng xã xác định, có những liên hệ bên trong đó Nếu hệ thống có thể tự ổn định, cân bằng thì không cần có sự can thiệp nhưng khi hệ thống có sự khác biệt, thay đổi tạo ra những bất lợi cho những phần tử bên trong đòi hỏi cần tìm hiểu nguyên nhân tại sao và giúp các thân chỉ sử dụng và tăng cường khả năng của mình để giải quyết vấn đề, xây dựng các mối quan hệ giữa các cá nhân và các hệ thống nguồn lực, giúp hoặc bổ trợ thêm những tác động giữa cá nhân và hệ thống nguồn lực, đồng thời cải thiện, thay đổi chính sách

Trang 40

1.3 Công tác xã hội trong việc hỗ trợ kiến thức về Luật Phòng chống bạo lực gia đình tại một số địa phương

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tăng trưởng kinh tế phải tiến hành đồng thời với tiến bộ và công bằng xã hội Song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo,

hỗ trợ các đối tượng yếu thế như người già, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo và các đối tượng xã hội khác Đặc biệt các chính sách mới ngày càng mang tính hội nhập quốc tế, phát huy truyền thống văn hoá, nhân văn của dân tộc và mang tính xã hội hoá, không ỷ lại vào nhà nước nhiều; Hệ thống tổ chức

bộ máy và đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, tôi có điểm qua ba địa bàn tiêu biểu có những hoạt động

phát triển công tác xã hội nổi trội

1.3.1 Tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu

Thực hiện công tác bình đẳng giới, phòng Văn hóa và Thông tin đã tích cực triển khai, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về Luật phòng, chống bạo lực gia đình Đến nay, toàn huyện đã thí điểm và nhân rộng mô hình câu lạc bộ này ở 03 xã: Hưng Hội, Hưng Thành và Vĩnh Hưng A với tổng số 13 câu lạc bộ Kết quả hoạt động của các câu lạc bộ này rất khả quan, đã góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng gia đình no

ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Cùng với việc tuyên truyền thực hiện công tác bình đẳng giới, phòng Văn hóa và Thông tin đã tích cực triển khai, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về Luật phòng, chống bạo lực gia đình Đến nay, toàn huyện đã thí điểm

và nhân rộng mô hình câu lạc bộ này ở 03 xã: Hưng Hội, Hưng Thành và Vĩnh Hưng A với tổng số 13 câu lạc bộ Kết quả hoạt động của các câu lạc bộ này rất khả quan, đã góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

1.3.2 Tại xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Trước đây, xã Văn Phương là điểm “nóng” của huyện Nho Quan về tình trạng bạo lực gia đình Mỗi năm, xã phải đứng ra giải quyết hàng chục vụ bạo lực

Ngày đăng: 09/12/2020, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Tuyết Ánh (2014). Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Tuyết Ánh
Năm: 2014
12. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007). “Gia đình học”, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
20. Trịnh Quang Thái (2009). Một số vấn đề mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn, Báo cáo nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề mâu thuẫn vợ chồng và bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn
Tác giả: Trịnh Quang Thái
Năm: 2009
26. “Phòng chống bạo lực gia đình ở Đà Nẵng: Tuyên truyền đến từng người dân”, Đăng 4/2010.http://www.baomoi.com/Info/Phong-chong-bao-luc-gia-dinh-o-Da-Nang-Tuyen-truyen-den-tung-nguoi-dan/144/4171946.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chống bạo lực gia đình ở Đà Nẵng: Tuyên truyền đến từng người dân
27. “Tuyên truyền về bạo lực gia đình: Thiếu chiều sâu” , Đăng ngày 24/5/2010.http://www.thegioiphunu.pnvn.com.vn/Tin.aspx?varbaoid=1408&varnhomid=4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên truyền về bạo lực gia đình: Thiếu chiều sâu
2. Báo cáo cuối năm Hội phụ nữ thị trấn 2012, 2013, 2014, 2015 Khác
4. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Huyện Kỳ Sơn năm 2015 Khác
5. Báo cáo tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kỳ Sơn năm 2015 Khác
6. Báo cáo công tác tuyên truyền về Luật Phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Huyện Yên Thế, Tỉnh Bắc Giang năm 2015 Khác
7. Báo cáo nghiên cứu đánh giá việc triển khai và thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tháng 8/2010 Khác
8. Báo cáo nghiên cứu đánh giá việc triển khai và thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn xã Minh Bảo, tỉnh Yên Bái Khác
9. Báo cáo nghiên cứu đánh giá việc triển khai và thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình trên địa bàn Xã Văn Xá, Huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam Khác
11. Trần Thị Minh Đức , Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng (2006). Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn Khác
13. Nguyễn Linh Khiếu (2010). Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình, Báo cáo nghiên cứu Khác
14. Luật Phòng chống bạo lực gia đình - Luật số 02/2007/QH12, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007 Khác
15. Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2010). Phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý: Một số yếu tố tác động và các giải pháp, Tạp chí Xã hội học số 4 Khác
16. Hoàng Kim Ngân. Nhận thức và chỉ đạo của cán bộ quản lý cấp cơ sở trong thực hiện bình đẳng giới ở miền núi phía Bắc hiện nay, Báo cáo nghiên cứu Khác
17. Liên Hợp Quốc (2014). Từ bạo lực gia đình đến bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực Khác
18. Liên Hợp Quốc (2014). Đánh giá những thiệt hại kinh tế do bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam Khác
19. Quỹ dân số Liên Hợp Quốc VN (2014). Rà soát các chương trình Phòng chống bạo lực trên cơ sở giới tại Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w