1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh hải dương

139 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó đã giúp cho Hải Dương đạt được những thành công nhất định trong việc thu hút các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Vũ Văn Hiền

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiền Các số liệu trong luận văn là trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2010

Tác giả luận văn

Vũ Trường Giang

Trang 3

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

LĐ-TBXH : Lao động – thương binh xã hội

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu……… 1

Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất………. 7

1.1 Những vấn đề lý luận chung.……… 7

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.2 Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân 14

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho nông dân 28

1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất và bài học rút ra cho tỉnh Hải Dương 33

1.2.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội 33

1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 34

1.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc 38

1.2.4 Bài học rút ra cho tỉnh Hải Dương 41

Chương 2 Thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương……… 43

2.1 Tình hình thu hồi đất ở Hải Dương 43

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương 43

2.1.2 Tình hình thu hồi đất 56

2.2.Tình hình việc làm của nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương 61

2.1.1 Chủ trương, chính sách và các chương trình dự án đã thực hiện để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất……… 61

2.1.2 Thực trạng việc làm của nông dân bị thu hồi đất……… 64

2.3 Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương……… 71

2.3.1 Những kết quả đạt được……… 71

Trang 5

2.3.2 Một số tồn tại, nguyên nhân và những vấn đề đặt

Chương 3 Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân

3.1 Phương hướng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương 88 3.1.1 Dự báo nhu cầu thu hồi đất và số người mất việc làm do thu hồi đất ở Hải Dương trong thời gian tới 88 3.1.2 Quan điểm, định hướng về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương 91 3.2 Giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải

Dương 99

3.2.1 Gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị với quy hoạch sử dụng đất, giải quyết việc làm và đào tạo nghề

99

3.2.2 Nâng cao chất lượng lao động nông thôn, mở rộng hệ thống dịch

vụ việc làm 101 3.2.3 Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo mở việc làm… 105 3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động 110 3.2.5 Tạo cơ chế chính sách kinh tế - xã hội đối với lao động lớn tuổi, lao động nữ 112 3.2.6 Tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp nhằm khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm 114

Kết luận 117

Danh mục tài liệu tham khảo 119

Phụ lục 127

Trang 6

có hạn về mặt diện tích, cơ cấu các loại đất và không thể di chuyển được

Hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá đang diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước với tốc độ ngày càng cao Theo quy luật chung, quá trình CNH, HĐH và ĐTH sẽ dẫn đến việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Để có tiền đề về vị trí, đất đai phục vụ xây dựng các KCN, KĐT và các công trình công cộng, Nhà nước đã tiến hành thu hồi nhiều khu đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp giao cho các chủ đầu tư để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng Điều đó đã gây ảnh hưởng lớn đến việc làm và đời sống của người dân khu vực thu hồi đất

Hải Dương là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đến năm

2020 phấn đấu trở thành tỉnh có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu, trong những năm qua Hải Dương đã triển khai thực hiện nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội như: chỉnh trang đô thị; xây dựng mới công sở; mở rộng

hạ tầng giao thông; xây dựng khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất Điều đó đã giúp cho Hải Dương đạt được những thành công nhất định trong việc thu hút các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động, phát triển kinh tế - xã hội

Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Hải Dương tiến hành thu hồi đất trong đó phần lớn là đất nông nghiệp để xây dựng các Khu công

Trang 7

2

nghiệp, Khu đô thị và hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế –xã hội Việc thu hồi đất

đã làm cho nông dân bị mất toàn bộ hoặc một phần đất sản xuất không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm dẫn đến giảm thu nhập, đời sống hộ gia đình gặp nhiều khó khăn Từ đó

đã nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp: khiếu kiện đông người, lao động di

cư tự do ra các thành phố lớn, tệ nạn xã hội và tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định xã hội

Xuất phát từ thực tiễn mang tính thời sự của vấn đề nêu trên, tác giả lựa

chọn việc nghiên cứu “Vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh

Hải Dương” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế Chính trị

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, việc nghiên cứu những bất cập nảy sinh do thu hồi đất để xây dựng KCN, KĐT và hệ thống hạ tầng cơ sở tại các vùng nông thôn

đã được nhiều tác giả thuộc các lĩnh vực khác nhau đặc biệt quan tâm thực hiện Kết quả của những công trình nghiên cứu này cho thấy, việc thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn đến việc làm, đời sống kinh tế - xã hội và môi trường sống của người dân vùng thu hồi đất Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

- Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng

các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia do GS.TSKH Lê Du Phong (chủ

biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007

- Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp do

TS Lưu Song Hà (chủ biên), NXB.Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2009

- Vấn đề việc làm và thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, Đề tài nghiên cứu khoa học

KX.01-2005, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2005

- Một số vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hoá ở

Trang 8

3

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thuộc Chương trình khảo sát, tổng kết thực

tiễn năm 2005 – 2007 do Tiến sĩ Vương Cường (chủ nhiệm), Học viện chính trị Quốc gia Hồ chí Minh, 2007

- Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất phát trển các khu công

nghiệp của tác giả Hoàng Văn Cường, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam,

tháng 9/2006

- Về thực hiện chính sách đền bù giải toả trong phát triển các khu công

nghiệp của tác giả Phạm Chánh Dương, Tạp chí Cộng sản, số 3 tháng 1/2003

- Phát triển Khu công nghệp với ổn định đời sống người dân ở nông

thôn nước ta hiện nay của tác giả Trần Đắc Hiến, Tạp chí Khu công nghiệp

Việt Nam, tháng 5/2006

- Đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các Khu công nghiệp của tác giả Lê Du Phong, Tạp chí Khu công nghiệp Việt

Nam, tháng 1/2006

- Một số giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp việc làm cho người lao

động tại địa phương thu hồi đất để phát triển các Khu công nghiệp và đô thị

của tác giả Vũ Đức Quyết, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam, tháng 5/2006

- Nhìn lại hơn mười năm phát triển Khu công nghiệp và Cụm công

nghiệp của các tác giả Thu Thành, Đào Ngọc Dũng, Báo nhân dân, số 18329

- Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho lao

động sau khi bàn giao đất cho các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và khu

Trang 9

4

đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Đề tài khoa học do Sở lao động

thương binh và xã hội Hải Dương chủ trì năm 2004 Đề tài đã cung cấp các số liệu thống kê về số lượng đất đai thu hồi, số người bị ảnh hưởng do thu hồi đất từ năm 1997 đến năm 2001 và đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động sau khi bàn giao đất

- Công nghiệp hoá và những biến đổi đời sống gia đình nông thôn Việt

Nam (nghiên cứu trường hợp xã Aí Quốc, Nam Sách - Hải Dương) của

PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, đăng trên Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ

3, tháng 12/2008 Bài viết đã nêu khái quát tác động của CNH, HĐH đến gia đình nông thôn ở xã Ái Quốc trên các mặt: thay đổi quy mô gia đình; thay đổi

cơ cấu nghề nghiệp; biến đổi vai trò giới trong gia đình, đồng thời tác giả cũng đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của CNH, HĐH đối với nông thôn địa bàn nghiên cứu

- Giải quyết những thách thức trong quá trình công nghiệp hoá, và phát

triển nông nghiệp ở Hải Dương của tác giả Bùi Quang Toản đăng trên Tạp

chí Cộng sản số 15 năm 2009 Nội dung bài viết chỉ ra những thách thức chủ yếu trong quá trình công nghiệp hoá đối với tỉnh Hải Dương như: tài nguyên đất nông nghiệp ngày càng giảm; tình trạng ô nhiễm môi trường; phân hoá giàu nghèo; tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn; nông nghiệp phát triển thiếu bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần…, đồng thời tác giả

đã đưa ra 7 giải pháp cơ bản để thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

- Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở Hải Dương, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Học viện chính trị

quốc gia chủ trì Dưới cách tiếp cận vấn đề trên quan điểm giải quyết mối quan hệ Cung - Cầu, Đề tài đã phân tích một cách chi tiết về thực trạng việc làm của lao động nói chung, lao động nông nghiệp nói riêng trong quá trình ĐTH ở Hải Dương, trong đó có đề cập sơ lược đến thực trạng việc làm của

Trang 10

5

lao động nông nghiệp bị thu hồi đất Có thể khẳng định, Đề tài là một công trình khoa học có giá trị tham khảo lớn, đặc biệt là các số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu là nguồn tư liệu hữu ích cho tác giả luận văn

Nhìn một cách tổng thể, các công trình khoa học nêu trên có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài luận văn Tuy nhiên, về đối tượng, phạm vi

và thời gian nghiên cứu so với đề tài luận văn vẫn có những điểm khác biệt

Đề tài luận văn của tác giả là một công trình nghiên cứu độc lập tiếp cận dưới góc độ Kinh tế Chính trị trên quan điểm phát triển bền vững, có sự kế thừa và phát huy những thành tựu của các công trình khoa học có liên quan

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Từ việc làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương luận văn nêu bật định hướng và giải pháp giải quyết tốt hơn vấn đề này ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

- Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân

bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn là đội ngũ đông đảo nông dân bị thu hồi đất phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở tỉnh Hải Dương, đồng thời nghiên cứu những vấn đề có liên quan

Trang 11

6

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm để nghiên cứu đề tài này

- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp nghiên cứu Kinh tế Chính trị học, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp: lịch sử - lôgic, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh… các phương pháp này được sử dụng phù hợp với từng nội dung trong luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần làm rõ ý nghĩa Kinh tế Chính trị của vấn đề việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước về lao động việc làm, kế hoạch đầu tư, giáo dục và đào tạo của tỉnh Hải Dương trong việc tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài tiệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về việc làm cho

nông dân bị thu hồi đất

Chương 2 Thực trạng việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở Hải Dương Chương 3 Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho nông

dân bị thu hồi đất ở Hải Dương

Trang 12

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM

CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT 1.1 Những vấn đề lý luận chung

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a Khái niệm việc làm, thất nghiệp và giải quyết việc làm

Việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của người lao động, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới Đây

là vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp, có việc làm có nghĩa là người lao động có thu nhập để nuôi sống bản thân và tạo ra của cải cho xã hội Điều này đã được C.Mác khẳng định: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng

và giá trị sản phẩm tăng lên tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng [9, tr.75] Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chính sách quan trọng hàng đầu đối với nhiều quốc gia trên thế giới Đối với nước đang phát triển có lực lượng lao động dồi dào như Việt Nam, vấn đề việc làm cho người lao động được Đảng ta nhìn nhận “là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của xã hội hiện nay” [32, tr.74]

Một là, hoạt động đó có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và

cho các thành viên trong gia đình họ Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn

Trang 13

8

mạnh yêu cầu tạo ra thu nhập của việc làm

Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp

lý của việc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế

Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều cần và đủ cho một hoạt động được coi là việc làm Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật cấm như cờ bạc, mại dâm, ma tuý, trộm cướp thì không được thừa nhận là việc làm Song, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập thì cũng không được thừa nhận là việc làm, chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của người phụ nữ để phục vụ cho chính gia đình họ (đi chợ, nấu cơm, rửa bát, trông con )

Tuy nhiên, theo chúng tôi khái niệm về việc làm như trên chưa hoàn toàn phù hợp vì những lý do sau:

Thứ nhất, một hoạt động có thể là hợp pháp ở quốc gia này nhưng lại

không hợp pháp ở quốc gia khác chẳng hạn như mại dâm ở Thái Lan, Philipin được coi là hợp pháp nhưng ở Việt Nam thì điều đó là phạm pháp

Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình, cho

xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay

vì thuê người làm công Điều này vô hình dung tạo ra sự phân biệt đối xử đối với lao động nữ

Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”

Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với quan niệm “Việc làm là phạm

trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó” [72, tr.45]

Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu

Trang 14

- Người có việc làm

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì “Người có việc làm là những người đang làm một việc gì đó được trả tiền công, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thoả mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình” [55, tr.12]

Ở Việt Nam, trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, quan niệm người có việc làm là người làm những công việc đòi hỏi một chuyên môn nào đó, tạo ra một thu nhập nhất định; người có việc làm hoặc phải thuộc biên chế Nhà nước, hoặc làm việc trong các hợp tác xã [55, tr.13] Với quan niệm này, tiêu chuẩn về người có việc làm đã bỏ qua những người lao động đang làm việc ở các khu vực kinh tế

tư nhân, cá thể, tự làm việc, kể cả những người chưa đủ tuổi hoặc quá tuổi lao động; làm việc tại nhà (nội trợ, chăm sóc con cái ) Mặt khác, quan niệm trên cũng không phân biệt những người hiện đang trong guồng máy sản xuất nhưng tạm thời thiếu việc làm với người thực tế không có việc làm

Trang 15

10

Theo quan điểm tác giả, người có việc làm là người làm việc ở các lĩnh

vực, ngành nghề không bị pháp luật cấm, tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, cho gia đình hoặc cho một cộng đồng

Với cách hiểu trên, đối tượng được coi là có việc làm đã được mở rộng hơn, trong đó đã tính đến cả những người làm các công việc dù không trực tiếp tạo ra thu nhập cho bản thân nhưng đem lại lợi ích cho gia đình họ hoặc cho xã hội cũng có thể được coi là có việc làm, ví dụ như người chuyên làm nội trợ, giúp việc, trông trẻ

- Phân loại người có việc làm

Căn cứ vào số giờ làm việc thực tế và nhu cầu làm thêm của người có việc làm, có thể phân chia thành người có đủ việc làm và người thiếu việc làm

+ Người có đủ việc làm: gồm những người có số giờ làm việc (trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra) lớn hơn hoặc bằng 35 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 35 giờ nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành

+ Người thiếu việc làm: gồm những người có số giờ làm việc (trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra) dưới 35 giờ, hoặc nhỏ hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc

để làm (trừ những người có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc

và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc)

Người lao động ở trong tình trạng thiếu việc làm thường là lao động nông thôn theo mùa vụ, lao động khu vực thành thị không chính thức, lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, lao động dôi dư ở khu vực nhà nước

Trang 16

11

Tỷ lệ người thiếu việc làm =

Ngoài ra, dựa trên tính thường xuyên của công việc mà người được coi

là có việc làm thực hiện trong vòng 12 tháng và nhu cầu làm thêm của họ, có thể phân người có việc làm thành có việc làm thường xuyên và người không

có việc làm thường xuyên

+ Người có việc làm thường xuyên: gồm những người thuộc lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có tổng số ngày làm việc thực tế lớn hơn hoặc bằng tổng số ngày có nhu cầu làm thêm

+ Người không có việc làm thường xuyên: gồm những người thuộc lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng qua có tổng số ngày làm việc thực tế nhỏ hơn tổng số ngày có nhu cầu làm thêm

* Thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và các nước nghèo Thất nghiệp luôn là mối quan tâm chung của toàn xã hội Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

ổn định giá cả, cải thiện việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp Thất nghiệp cũng

là mối lo của người lao động vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất

và tinh thần của bản thân họ

Thất nghiệp là sự mất việc hay sự tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất Nó gắn liền với việc người có khả năng lao động nhưng không được sử dụng có hiệu quả [47, tr.16]

Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành

Như vậy, theo tác giả người thất nghiệp là người thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động, có nhu cầu lao động nhưng hiện tại không có việc

Trang 17

12

làm và đang tích cực tìm việc

Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm cao sẽ ảnh hưởng không tốt đến tình hình kinh tế - xã hội Về mặt kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao đồng nghĩa với việc một

bộ phận lớn lao động và tài nguyên không được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, vấn đề này đồng nghĩa với sự lãng phí nguồn lực cơ bản của nền kinh tế Về mặt xã hội, nó sẽ làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây nên trạng thái căng thẳng trong cuộc sống của con người vì thiếu việc làm, từ đó dẫn đến hiện tượng di dân từ những nơi thiếu việc làm đến những nơi có thể tìm được việc làm một cách dễ dàng hơn

Tỷ lệ thất nghiệp =

* Gải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm

và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội Giải quyết việc làm được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Điều này phụ

thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó

Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng sức lao

động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, quy định về độ tuổi và sự di chuyển lao động Chất lượng sức lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, thông tin…

Ba là, tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội như cơ chế, chính sách

của Nhà nước; các giải pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của lao động; giải pháp duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao; quản lý thị

Trang 18

để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm

b Thu hồi đất

Theo Khoản 5, Điều 4, Chương I của Luật đất đai năm 2003 quy định:

“Thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”

Nhà nước thực hiện thu hồi đất trong các trường hợp sau:

1 Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;

2 Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc

từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

3 Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;

4 Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

5 Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

6 Đất bị lấn, chiếm;

7 Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

8 Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

9 Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;

10 Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia

Trang 19

14

hạn khi hết thời hạn;

11 Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;

12 Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép

Như vậy việc thu hồi đất được nghiên cứu trong luận văn thuộc trường hợp thứ nhất trong Luật đất đai Thực tế ở Việt Nam trong thời gia qua, diện tích đất thu hồi để phục vụ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế là chủ yếu, chiếm số lượng và

tỷ lệ lớn

1.1.2 Thu hồi đất và tác động của nó đến việc làm của nông dân

a Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá - quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế nước ta

Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội

Tiêu chí đánh giá sự biến đổi cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội là sự biến đổi và phát triển lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị Đặc trưng về cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc

Trang 20

15

trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản, đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

Do vậy, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân C.Mác đã chỉ ra rằng việc quá độ lên CNXH từ xã hội phong kiến hoặc xã hội tư bản là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua CNH, HĐH Do vậy, mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN

Đối với nước ta, CNH, HĐH đất nước là một chủ trương lớn và đúng đắn được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VII đến Đại hội IX của Đảng và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ

X “Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [34, tr.186]

Quan điểm về CNH, HĐH được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII như sau: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến

bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [30, tr.65]

Mục tiêu của CNH, HĐH là “xây dựng nước ta thành một nước công

Trang 21

16

nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [31, tr.80]

CNH, HĐH đất nước là một nhiệm vụ trọng tâm đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nội dung chủ yếu của CNH, HĐH là:

+ Phấn đấu đạt và duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững;

+ Thực hiện quá trình ĐTH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp (nông - lâm - ngư nghiệp) và tăng tỷ trọng kinh tế, tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ;

+ Thực hiện quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất

cả các ngành kinh tế quốc dân Nói cách khác là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ cao cùng với sự phân bố nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu ngành nghề;

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động, hướng vào thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nước;

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật vừa

là quá trình kinh tế - xã hội Do vậy nhìn theo chiều sâu của sự phát triển kinh

tế - xã hội đó là phát triển con người và nguồn lực con người là nội dung cốt lõi;

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ kinh tế quốc dân, bao gồm mở rộng phân công lao động ở địa phương, vùng, toàn quốc và phân công lao

Trang 22

17

động quốc tế;

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải được thực hiện hướng vào phát triển các giá trị hiện đại, văn minh chung của nhân loại ngày nay, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững, hài hoà cả về thiên nhiên, môi trường và con người

Cho đến nay, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định CNH, HĐH là cách thức phổ biến và hữu hiệu làm thay đổi căn bản bộ mặt kinh tế - xã hội của các nước Việc thực hiện có kết quả quá trình CNH, HĐH trước hết sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về trình độ của lực lượng sản xuất, từ công cụ lao động, phương tiện sản xuất đến yếu tố người lao động, thay vào đó là những công nghệ, phương tiện và phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động xã hội, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, nhờ vậy năng lực sản xuất tăng lên, kinh tế phát triển Mặt khác, CNH, HĐH nâng cao mức sống dân cư, tạo điều kiện phát triển dân trí, đưa xã hội đến trình độ văn minh công nghiệp Tuy nhiên, CNH, CNH mang lại hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội đến đâu còn phụ thuộc vào tính ưu việt trong mục tiêu CNH, HĐH của mỗi nước

Cùng với CNH, HĐH, đô thị hóa là một tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của xã hội Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, tiền đề của đô thị hóa là sự phát triển của công nghiệp hay CNH là cơ sở phát triển của đô thị hoá ĐTH được xem là một trong những nét đặc trưng cơ bản nhất của thời đại ngày nay Đó là quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị theo chiều rộng và theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị [54, tr.15]

Như vậy, thực chất của CNH, HĐH và ĐTH ở nước ta chính là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành công

Trang 23

18

nghiệp và dịch vụ gắn với khoa học – công nghệ, cơ cấu lại việc phân bố dân

cư theo hướng tăng nhanh số lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng, tỷ lệ dân cư sống ở khu vực nông thôn Qúa trình đó diễn ra ở Việt Nam trong những năm gần đây có những đặc điểm sau:

- Hình thành các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ tại

các đô thị lớn: Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong

những đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, biểu hiện tính chuyên môn hoá cao trong sản xuất, kinh doanh Theo đó, các hoạt động sản xuất kinh doanh có cùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào một khu vực nhằm tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất đạt hiệu quả cao hơn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm

- Hình thành các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ ở các

vùng ven đô: Sự hình hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách

quan nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất, đời sống ở chính vùng đó và từ các trung tâm này sẽ lan rộng sang các vùng khác Đó cũng chính là sự biểu hiện của quá trình tập trung hoá các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, quy mô sản xuất, kinh doanh, thương mại, dịch vụ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng

để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả Trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thị lớn

- Mở rộng các đô thị hiện có: Việc mở rộng các đô thị hiện có theo hiệu

ứng lan toả là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị không ngừng tăng lên Xu hướng này nhằm giải quyết các vấn đề quá tải cho đô thị hiện có

- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: Đây là một hình thức

phổ biến trong quá trình CNH nông thôn nước ta Vấn đề cơ bản ở đây là phải xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại

- Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: ĐTH theo chiều rộng hay chiều sâu

Trang 24

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH cơ

cấu ngành kinh tế trong đô thị vận động theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt, khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân

cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ sẽ được đẩy mạnh và phát triển

- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Qúa trình CNH, HĐH và

ĐTH cũng là quá trình hình thành và phát triển nhanh chóng kết cấu hạ tầng

kỹ thuật mà khởi đầu bằng hệ thống đường giao thông tiếp theo đó là hệ thống điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, trung tâm thương mại, dịch vụ và cuối cùng là các khu nhà ở của dân cư

- Thay đổi lối sống: Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, cách thức

kiếm sống là kết quả tất yếu của quá trình ĐTH Người dân mới thành dân cư

đô thị sẽ từng bước thay đổi tập tục sinh hoạt cho phù hợp với lối sống đô thị

- Thay đổi cơ cấu dân cư: Trong quá trình ĐTH, cơ cấu dân cư theo độ

tuổi - giới tính, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp cũng biến đổi theo Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét Thu nhập của dân cư có xu hướng tăng lên nhưng không đều, tốc độ tăng của mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp là rất khác nhau Cơ cấu giàu nghèo có quan hệ chặt chẽ với cơ cấu nghề nghiệp, việc làm của người lao động

b Tầm quan trọng của thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH

Trang 25

20

Như đã nêu trên, CNH, HĐH là một tất yếu khách quan đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Qúa trình đó cần có sự tập trung các nguồn lực cơ bản vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, điều đó dẫn đến sự phân bố lại các nguồn lực trong nền kinh tế mà trước tiên là đất đai, lao động, vốn và khoa học - công nghệ

Riêng về nguồn lực đất đai, một bộ phận đất đai trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng sang phục vụ cho việc xây dựng các KCN, KCX; mở rộng các KĐT cũ và xây dựng các KĐT mới; xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng, quốc gia Vì vậy, việc thu hồi đất phục vụ quá trình CNH, HĐH là rất cần thiết

Quá trình thu hồi đất để phát triển và xây dựng mới các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta diễn ra từ những năm 1990 và ngày càng được đẩy mạnh Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm

2001 đến năm 2005 cả nước đã thu hồi 366,44 nghìn ha đất nông nghiệp (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng, bình quân mỗi năm thu hồi 73,29 nghìn ha) để xây dựng các KCN, KĐT và các cụm công nghiệp

Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng nhiều KCN, các CCN; mở rộng và xây dựng mới các KĐT, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện; hoàn thiện và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch vụ; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi, giải trí, công viên, cây xanh Vì vậy làm cho quá trình CNH, HĐH được đẩy nhanh, có thể nêu ra dẫn chứng như sau:

Thứ nhất, nhờ có thu hồi đất, cả nước đã xây dựng được nhiều KCN,

KCX, thu hút được hàng ngàn dự án đầu tư từ trong nước và ngoài nước với tổng mức đầu tư lên đến hàng chục tỷ USD và hàng ngàn tỷ đồng cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Tính đến hết năm 2005, cả nước có 131 KCN và KCX đã được xây

Trang 26

21

dựng với tổng diện tích 28.076 ha Ngoài ra, còn có 124 cụm công nghiệp hoặc KCN vừa và nhỏ do các địa phương thành lập với tổng diện tích hơn 6.500 ha [87] Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến cuối năm 2005 các KCN, KCX ở nước ta đã thu hút được 2980 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký khoảng 17,8 tỷ USD, trong đó tổng số vốn đã thực hiện khoảng trên 9 tỷ USD, đạt gần 50% so với số vốn FDI đã đăng ký Bên cạnh

đó, các KCN, KCX cũng thu hút được khoảng 2.350 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký đạt gần 150 ngàn tỷ đồng, trong đó trên 1200 dự án

đã đi vào sản xuất kinh doanh với tổng số vốn thực hiện đạt khoảng 55% so với tổng số vốn đăng ký [53]

Thứ hai, nhờ có thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nên quá

trình ĐTH được đẩy mạnh

Từ những năm 1990, cùng với tiến trình đổi mới của đất nước, dân số

đô thị nước ta tăng lên khá nhanh Đặc biệt từ năm 2000 đến nay, ĐTH ở nước ta đã diễn ra với tốc độ rất nhanh Tính đến 31/12/2004, cả nước có 25 thành phố trực thuộc tỉnh, 42 quận, 59 thị xã, 536 huyện, 1.181 phường, 583 thị trấn, 9.012 xã Đến cuối năm 2005, cả nước có 679 đô thị, tăng gấp 1,4 lần

so với năm 1990, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 87 thành phố trực thuộc tỉnh, 587 thị trấn

Thứ ba, đã mở rộng và xây dựng mới khá đồng bộ và tương đối hiện

đại hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

Việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong những năm qua đã tạo cơ sở mặt bằng cho mở rộng và xây dựng mới các sân bay, cảng biển, hệ thống đường bộ, đường thuỷ, hệ thống điện lưới quốc gia, hệ thống thông tin liên lạc, thuỷ lợi Điều này có tác động rất lớn đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện để hàng hoá, dịch vụ được lưu thông thuận lợi hơn giữa các vùng miền

Trang 27

22

trong cả nước cũng như trong giao thương với nước ngoài

Thứ tư, việc hình thành các KCN, KĐT mới đã tạo điều kiện thu hút,

giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập tương đối khá, giúp

họ từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, cũng như tinh thần của bản thân và gia đình

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến hết năm

2005, số lao động động được thu hút vào làm việc trực tiếp tại các KCN (do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập) trên địa bàn cả nước là hơn 700 nghìn người (chưa kể số lao động làm việc trong các Cụm CN vừa và nhỏ do các tỉnh quyết định thành lập) Mặt khác, do hoạt động của các KCN kéo theo hoạt động thương mại, dịch vụ tại địa phương phát triển đã tăng lên đáng kể việc làm trong khu vực này

c Tác động của thu hồi đất đến việc làm của nông dân

Như đã trình bày ở phần trên, để tiến hành CNH, HĐH và ĐTH thì việc thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang xây dựng các KCN, KĐT, hạ tầng kinh tế - xã hội… là tất yếu Hay thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là hệ quả tất yếu của quá trình CNH, HĐH và ĐTH Do vậy, tác động của việc thu hồi đất đến lao động việc làm ở khu vực bị thu hồi đất cũng chính là tác động của CNH, HĐH và ĐTH đến lao động việc làm khu vực này

* Tác động tích cực

Trong thực tế, CNH, HĐH và ĐTH là hiện thân của nền sản xuất lớn, văn minh, hiện đại, nơi tập trung mọi yếu tố vật chất và tinh thần cho sản xuất của xã hội, là nơi sản xuất đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Do đó, CNH, HĐH và ĐTH có tác động tích cực đến việc làm cho lao động nông thôn, điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau:

- CNH, HĐH và ĐTH tạo mở nhiều việc làm mới trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ

Trang 28

23

Để tiến hành CNH, HĐH và ĐTH đòi hỏi phải thúc đẩy xây dựng, cải tạo, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với việc hình thành các KCN, khu du lịch, thương mại, KĐT mới ngày càng hiện đại Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại sẽ kích thích gia tăng hội tụ các nguồn lực đầu tư cho sản xuất, thúc đẩy hoạt động kinh tế phi nông nghiệp diễn ra ngày càng sôi động, đa dạng hóa và phát triển các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ… đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH từ đó tạo mở nhiều việc làm mới trong các lĩnh vực phi nông nghiệp

Theo tính toán của các nhà kinh tế, 1ha đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay chỉ sử dụng khoảng 3 đến 5 lao động, tạo ra giá trị khoảng 22,5 triệu đồng/năm (năm 2004) Nhưng nếu chuyển sang xây dựng KCN có thể thu hút

từ 50 đến 100 lao động và tạo ra giá trị trên 500 triệu đồng/năm Thu nhập của người lao động ở các KCN cũng cao hơn nhiều so với làm nông nghiệp Ngoài ra, KCN, cụm CN bên cạnh việc thu hút lao động vào làm việc trực tiếp còn giải quyết việc làm cho lao động gián tiếp phục vụ cho khu vực này

- CNH, HĐH và ĐTH làm tăng số chỗ việc làm tại khu vực kinh tế

không chính thức

Sự phát triển của các KCN, KĐT một mặt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư đô thị làm nảy sinh các nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần Để đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi sản xuất và dịch vụ phải được mở rộng, kéo theo sự phát triển đa dạng các ngành nghề, tạo mở nhiều việc làm mới Trong đó, đáng chú ý là sự hình thành và phát triển một cách tự phát khu vực kinh tế không chính thức với những hoạt động kinh tế quy mô nhỏ, không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao như bán hàng rong, dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, cho thuê nhà, buôn bán nhỏ, giúp việc gia đình… Sự phát triển của khu vực kinh tế này sẽ góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động không có tay nghề, lao động

Trang 29

24

nhập cư, lao động nông nghiệp thuộc diện thu hồi đất sản xuất

- CNH, HĐH và ĐTH mở rộng khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm

việc làm của người lao động

Khả năng tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm của người lao động chủ yếu do:

Trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao Trước yêu cầu trình độ lao động ngày càng cao và áp lực về việc làm do dân số, lao động hội

tụ ngày càng đông tại các KCN, KĐT nên một bộ phận người lao động nhất là lao động trẻ buộc phải trang bị cho mình một chuyên môn kỹ thuật nhất định

để có thể được làm việc trong các KCN Do đó, CNH, HĐH và ĐTH sẽ hướng một bộ phận lao động trẻ tích cực tham gia vào các chương trình giáo dục và đào tạo

Dưới tác động của CNH, HĐH, và ĐTH, thị trường lao động hoạt động sôi động hơn Tốc độ CNH, HĐH và ĐTH hóa càng cao thì tăng trưởng việc làm và tốc độ hội tụ dân số, lao động có quy mô ngày càng lớn Môi trường kinh tế năng động hơn chính là điều kiện cơ bản phát triển mạnh mẽ các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, giáo dục, đào tạo nghề, dịch vụ thông tin trên thị trường lao động Vì vậy, người lao động có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dịch vụ về việc làm, thiết lập và mở rộng các mối quan hệ làm ăn và thực hiện các giao dịch trên thị trường lao động

* Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực như trên, việc thu hồi đất cũng có tác động tiêu cực đến việc làm, đời sống của nông dân vùng thu hồi đất Những tác động tiêu cực này ngày càng gia tăng khi tốc độ thu hồi đất tăng nhanh Có thể nêu những tác động tiêu cực chủ yếu như sau:

Thứ nhất, một bộ phận người lao động diện thu hồi đất nông nghiệp rơi vào tình

trạng thất nghiệp

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ phục vụ sản xuất nông nghiệp sang phục

vụ sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ sẽ làm xuất hiện một bộ phận không nhỏ

Trang 30

25

những người lao động diện thu hồi đất sản xuất mất việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi nghề Đại đa số họ có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, không có vốn để tự tổ chức việc làm Hơn nữa, do cách nghĩ, cách làm, lối sống của họ còn mang nặng sắc thái văn hóa nông thôn làng xã truyền thống nên rất hạn chế trong các khả năng: thiết lập các mối quan hệ để tạo công ăn việc làm; tiếp cận các dịch vụ việc làm; hòa nhập với cuộc sống đô thị; thích ứng kịp thời với sự biến đổi nhanh chóng của quá trình CNH, HĐH và ĐTH Những vấn đề trên đã cản trở nhóm dân cư này trong việc tìm kiếm cơ hội chuyển đổi việc làm mới, biến họ trở thành những cư dân thất nghiệp trên chính quê hương mình

Bảng 1.1.2.1 Tình hình lao động bị mất việc làm trong nông nghiệp

do thu hồi đất giai đoạn 2001 – 2005

Trang 31

26

diện tích đất tự nhiên của các địa phương này (khoảng 1 đến 2%) nhưng lại tập trung vào một số xã, huyện có mật độ dân số cao, tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có những xã diện tích đất bị thu hồi chiếm 70 đến 80% diện tích đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, người dân bị mất việc hoặc thiếu việc làm, trong khi đó các dự án phát triển công nghiệp, dịch vụ đòi hỏi phải có thời gian xây dựng (thông thường thời gian kéo dài từ 2 đến 5 năm) sau đó mới đi vào hoạt động và thu hút được rất ít lao động Chính

vì vậy, việc làm ở khu vực này trở lên bức xúc Các tỉnh có nhiều lao động bị mất việc làm hoàn toàn do thu hồi đất là Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Hải Dương, Cà Mau… (bảng 1.1.2.1)

Theo khảo sát của Bộ Lao động thương binh và xã hội, trung bình mỗi hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và mỗi héc ta đất nông nghiệp

bị thu hồi có khoảng 13 lao động mất việc làm trong nông nghiệp Việc thu hồi đất đã làm cho số lao động không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định tăng lên, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập, đời sống của hộ nông dân Theo điều tra của Bộ LĐ - TBXH tại các hộ bị thu hồi đất, có tới 53% số hộ giảm thu nhập so với trước khi bị thu hồi đất, chỉ

có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn so với trước khi thu hồi đất Các hộ có mức thu nhập thấp hơn so với trước khi bị thu hồi đất điều kiện sống trở lên rất khó khăn Tỷ lệ hộ có điều kiện sống tốt hơn trước chiếm khoảng 29%, có điều kiện sống thấp hơn trước khoảng 34,5% và 36,5% có điều kiện sống không thay đổi

Thứ hai, một bộ phận người lao động không kịp đáp ứng yêu cầu về

trình độ sản xuất

CNH, HĐH và ĐTH thúc đẩy quá trình sắp xếp, cơ cấu lại các đơn vị, các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhà nước, thực hiện thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí, phát triển tự động hoá ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, ngành nghề, làm giảm số lượng chỗ việc làm giản đơn Do đó, xuất hiện một bộ phận không nhỏ lao động dôi dư không đáp ứng được yêu cầu sản xuất sẽ bị mất việc Những người này đa số đã lớn tuổi hoặc trình độ thấp không còn phù hợp với yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp, khả năng đào tạo lại và chuyển đổi nghề của họ là rất thấp Vì vậy, đội ngũ những người thất nghiệp và thiếu việc làm sẽ gia tăng

Thứ ba, tệ nạn xã hội trong các vùng bị thu hồi đất có chiều hướng gia

Trang 32

27

tăng

Các tệ nạn xã hội chủ yếu là cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, trộm cắp, cướp giật đã xảy ra ở nhiều địa phương có diện tích đất bị thu hồi lớn Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này đó là: mất đất nhưng chưa có việc làm; được đền bù một số tiền lớn nhưng sử dụng không đúng mục đích hoặc không hiệu quả

Thứ tư, do những bất hợp lý trong việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ

cho nông dân bị thu hồi đất, tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp của nông dân xảy ra ngày càng nhiều

Theo báo cáo của Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và báo cáo thẩm tra các báo cáo trên của ủy ban Pháp luật Quốc hội về tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI tháng 11 năm 2006 cho thấy trong thời gian qua cả nước có trên 80%

vụ khiếu nại, tố cáo liên quan đến thu hồi đất đai Tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp liên quan đến đất đai có xu hướng tăng cao Điển hình là đoàn 360 người thuộc xã Lai Vu huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương khiếu nại liên quan đến thu hồi, đền bù đất

Những tác động tiêu cực đã nêu là thực tế khách quan, trong đó vấn đề vừa mang tính thời sự đồng thời cũng là vấn đề lâu dài trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đó là việc làm cho lao động nông thôn đặc biệt là những lao động bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Giải quyết tốt vấn đề nêu trên sẽ góp phần khắc phục, hạn chế những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình CNH, HĐH, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho nông dân

Giải quyết việc làm cho nông dân trong điều kiện hiện nay phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có cả những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Tuy nhiên, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và mức

Trang 33

28

độ ảnh hưởng không giống nhau

a Đất đai, điều kiện tự nhiên

Một quốc gia, một địa phương ở vào vị trí thuận lợi, khí hậu, thời tiết

ôn hoà, đất đai màu mỡ, phì nhiêu, tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, số lượng và trữ lượng lớn, chất lượng tốt thì sẽ thuận lợi hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động Ngược lại, những nơi nào ở vào vị trí địa

lý, điều kiện tự nhiên tiết khắc nghiệt, tài nguyên thiên nhiên ít thì sẽ khó khăn hơn trong tạo việc làm cho người lao động

Đất đai là một yếu tố của quá trình sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với nông nghiệp mà còn đối với công nghiệp, dịch vụ phi nông nghiệp Nước ta có diện tích hơn 330.000 km2

đứng thứ 58 trên thế giới, diện tích bình quân đầu người là 0,45ha, đứng thứ 159 trong số gần 200 nước trên thế giới Hiện nay, cả nước có khoảng 8,1 triệu héc ta đất nông nghiệp, bình quân 0,68 ha/hộ nông nghiệp, đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng bình quân một lao động nông nghiệp chỉ khoảng 600m2

Nhu cầu lao động ở nông thôn cho nông nghiệp tối đa khoảng 19 triệu người Nếu không phát triển mạnh việc làm phi nông nghiệp, sẽ dư thừa tương đối lao động khoảng 10 triệu người [24, tr.25]

Hiện nay diện tích đất nông nghiệp có khả năng khai thác ở nước ta còn rất lớn (khoảng 9 triệu ha rừng và đất trống, đồi trọc, 90 vạn héc ta mặt nước,

ao, hồ và hàng vạn héc ta đất ven biển) Diện tích đất canh tác mặt nước càng lớn, tài nguyên nông - lâm - thuỷ sản càng phong phú thì khả năng tạo ra việc làm trong nông nghiệp, nông thôn càng nhiều Nếu khai thác tốt diện tích đất này sẽ giải quyết được việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn

b Chất lượng lao động

Qúa trình CNH, HĐH hiện nay đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng lao động Chất lượng lao động được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng sức

Trang 34

29

khoẻ, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu về tuổi tác, giới tính, v.v Chất lượng lao động càng cao thì cơ hội tìm kiếm việc làm càng nhiều, khả năng thích ứng với sự thay đổi công việc lớn hơn Ngoài ra, trong nhiều trường hợp cơ hội tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc tự tạo việc làm cho bản thân người lao động lại được quyết định bởi khả năng thiết lập các mối quan hệ để nhận được sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng và Nhà nước về việc làm của người đó Thái độ tích cực, sự năng động

và niềm tin của bản thân người lao động về khả năng tìm kiếm việc làm cũng

là một nhân tố quan trọng để họ có cơ hội tìm kiếm được việc làm phù hợp

Đối với lĩnh vực lao động - việc làm, sự phát triển của khoa học và công nghệ mang lại nhiều cơ hội để con người phát huy khả năng của mình, nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít thách thức đối với bản thân họ Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, việc áp dụng phổ biến các phương tiện tự động hóa sẽ làm cho những nước có sức lao động rẻ và dư thừa bị mất dần ưu thế

Xu hướng các ngành sản xuất trên thế giới hiện nay là tăng lao động khoa học

kỹ thuật và giảm lao động giản đơn, kỹ năng thấp, điều này sẽ dẫn đến gia tăng thất nghiệp của đội ngũ công nhân không lành nghề

Hiện nay ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng công nghệ tiên tiến không tuyển dụng đủ lao động đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh

do số lượng lao động được đào tạo còn thấp Vì vậy, cơ hội để lao động nông nghiệp tìm kiếm được làm việc trong lĩnh vực công nghiệp càng khó khăn hơn Thực tế cho thấy, trang bị máy móc, thiết bị càng hiện đại thì nguy cơ thất nghiệp đối với lao động có trình đô thấp lại càng cao Do đó, nâng cao chất lượng lao động nói chung, lao động nông thôn nói riêng là giải pháp cơ bản để hạn chế thất nghiệp Để thực hiện được mục tiêu này, trước hết cần có những biện pháp nhằm tăng cường năng lực thể chế của các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm Thực hiện có hiệu quả các chương

Trang 35

30

trình mục tiêu quốc gia như: chương trình phát triển giáo dục; chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho nông dân; phát triển nông thôn; phát triển y tế; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội

c Sự phát triển của thị trường sức lao động

Sự phát triển của thị trường sức lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, thị trường sức lao động là nơi gắn kết giữa cung với cầu lao động và giải quyết việc làm cho người lao động

Nếu thị trường sức lao động phát triển sẽ cung cấp một cách đầy đủ, thường xuyên và chính xác thông tin cho cả bên cung và bên cầu về lao động, việc làm Khi đó, việc làm sẽ được giải quyết nhanh hơn, hiệu quả hơn Ngược lại khi thị trường sức lao động chưa phát triển hoặc phát triển ở trình

độ thấp thì các bên cung và cầu về lao động khó gặp nhau, thông tin về nhu cầu và khả năng cung cấp của các bên sẽ không đầy đủ, chậm hoặc không chính xác, do đó việc làm sẽ không được giải quyết một cách hiệu quả

Đối với lao động nông thôn, khi thị trường sức lao động phát triển sẽ cung cấp cho họ thông tin về nhu cầu lao động, tiêu chuẩn tuyển dụng, tư vấn

về học nghề, dạy nghề , do đó mở rộng cơ hội tìm kiếm việc làm và chuyển đổi nghề Đặc biệt khi diện tích đất canh tác bị thu hẹp do tác động của CNH, HĐH và ĐTH thì sự phát triển của thị trường sức lao động càng có ý nghĩa trong giải quyết việc làm cho đối tượng này Thực tế tại các địa phương cho thấy, nơi nào thị trường sức lao động phát triển mạnh thì ở đó khả năng giải quyết việc làm sẽ tốt hơn, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm đi

d Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội

Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước, của chính quyền địa phương, các quy định của doanh nghiệp không chỉ tác động trực tiếp đến số lượng, chất lượng lao động mà còn tác động đến số lượng, chất lượng việc

Trang 36

31

làm mới sẽ được tạo ra Nhóm nhân tố này rất đa dạng, bao gồm nhiều chính sách khác nhau như chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô; chính sách giáo dục và đào tạo; chính sách khoa học công nghệ; chính sách thu hút đầu tư; chính sách

hỗ trợ vốn phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo; chính sách tiền lương; chính sách thuế

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các chính sách và cơ chế quản lý tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế, các vùng phát triển, tạo nhiều việc làm mới, đáp ứng từng bước yêu cầu việc làm và đời sống của người lao động

Đối với người lao động, cơ hội lựa chọn việc làm ngày càng được mở rộng Từ chỗ thụ động trông chờ vào sự bố trí công việc của Nhà nước, người lao động đã trở nên năng động hơn, chủ động tự tìm việc làm trong các thành phần kinh tế Các quan hệ lao động - việc làm thay đổi theo hướng cá nhân được tự do phát huy năng lực của mình và tự chủ hơn trong tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực của bản thân, quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường và phù hợp với pháp luật của Nhà nước

Người sử dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp nên đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển cũng đã mở ra khả năng to lớn trong giải quyết việc làm

Vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm đã thay đổi cơ bản Thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, Nhà nước tập trung vào việc tạo ra

cơ chế, chích sách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ rào cản không cần thiết về hành chính và tạo điều kiện vật chất đảm bảo cho mọi người được tự do đầu tư phát triển sản xuất

e Tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá

Trang 37

32

Tốc độ CNH, HĐH và ĐTH càng cao sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm tình trạng thất nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình đó cũng tiềm ẩn nguy cơ người lao động bị thất nghiệp khi chất lượng lao động không đáp ứng được các yêu cầu của bên sử dụng lao động Tốc độ và quy

mô CNH, HĐH và ĐTH là nhân tố tổng hợp tác động trực tiếp đến tăng trưởng, phát triển kinh tế Điều đó được thể hiện ở mức độ tập trung ngày càng cao các nguồn lực cho phát triển kinh tế khu vực CNH, HĐH và ĐTH, mức độ sôi động của các hoạt động phi nông nghiệp như công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và du lịch

Tốc độ CNH, HĐH và ĐTH sẽ quyết định đến số lượng, chất lượng việc làm được tạo ra, đồng thời cũng tạo ra môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi để người lao động có thể tiếp cận thông tin, dịch vụ việc làm và thực hiện các giao dịch trên thị trường lao động

f Sự phát triển của khu vực kinh tế không chính thức

Cùng với sự phát triển của các KCN, KĐT là sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế không chính thức Đây là khu vực hoạt động kinh tế của những người không đăng ký chính thức, công việc không yêu cầu trình độ cao, quy mô nhỏ, việc làm tạm thời là chủ yếu, phù hợp với lao động không

có tay nghề và lao động khó có khả năng chuyển đổi thích ứng với công việc mới Sự phát triển khu vực kinh tế này đã và đang thu hút một lượng lớn lao động làm việc đã góp phần làm giảm áp lực nhu cầu làm việc ở khu vực kinh

tế chính thức

Trong xu thế CNH, HĐH và ĐTH lao động không có tay nghề tại khu vực không chính thức cần được các tổ chức, chính quyền hỗ trợ về vốn, kỹ thuật để người lao động tự tạo việc làm, tự chuyển đổi việc làm khi có điều kiện thuận lợi, đặc biệt là hỗ trợ tạo điều kiện cho lao động trong độ tuổi thanh niên được tham gia các chương trình đào tạo nghề Làm tốt vấn đề này

sẽ góp phần nâng cao trình độ cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ

Trang 38

1.2.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội

Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu cả nước về tốc độ CNH, HĐH và ĐTH Theo thống kê của Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng thành phố, bình quân mỗi năm Hà Nội giải phóng mặt bằng gần 1000 ha đất, trong

đó có trên 80% là đất nông nghiệp liên quan đến 178.205 hộ dân Từ năm

2001 đến năm 2008, Hà Nội có khoảng 197.000 người mất việc làm do bị thu hồi đất canh tác, bình quân có khoảng 13-15.000 người/năm và con số này tiếp tục tăng qua các năm [84, tr.9]

Để giúp lao động bị thu hồi đất chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới, chính quyền Thành phố Hà Nội đã thực hiện những biện pháp sau:

- Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho người lao động tại những khu vực

có đất nông nghiệp bị thu hồi Với chính sách này, Hà Nội quy định những hộ

bị thu hồi từ 30% đến 50% diện tích đất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển nghề cho 1 lao động, đối với những hộ bị thu hồi từ 50 – 70% diện tích đất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển nghề cho 2 lao động, những hộ bị thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ cho toàn bộ số lao động trong

hộ (mức hỗ trợ 3,8 triệu đồng/lao động được thực hiện năm 1997) Từ năm

1998, Thành phố thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo nghề cho các hộ

có đất nông nghiệp bị thu hồi theo diện tích đất bàn giao, mức hỗ trợ là 25.000đ/m2 đất

- Quy định đối với các doanh nghiệp có dự án sử dụng đất thu hồi ưu tiên sử dụng lao động tại địa phương Theo đó, mỗi héc ta đất nông nghiệp thu hồi phục vụ cho các dự án sản xuất kinh doanh thì chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển ít nhất 10 lao động địa phương Trong 5 năm qua, các doanh

Trang 39

- Thông qua các quỹ giải quyết việc làm, Thành phố thực hiện chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với lao động, hộ gia đình có đất canh tác bị thu hồi nhằm phát triển sản xuất, chuyển đổi ngành nghề, tự tạo việc làm mới với các dự án sản xuất kinh doanh nhỏ

1.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh giáp Thủ đô Hà Nội có diện tích đất tự nhiên nhỏ nhất nước với hơn 800 km2, mật độ dân số rất cao Sau khi tái lập tỉnh (năm 1997), Bắc Ninh mới quy hoạch, xây dựng các KCN Qua nghiên cứu mô hình phát triển KCN của các địa phương như: tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…, Bắc Ninh đã lựa chọn mô hình Khu công nghiệp - Đô thị và giải quyết mối quan hệ đó ngay từ trong quy hoạch Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển các KCN - CCN, làng nghề và đô thị vừa là giải pháp vừa là bước đi của quá trình CNH, HĐH của tỉnh Bắc Ninh

Do hạn chế về quỹ đất, các KCN Bắc Ninh khó có thể phát triển theo chiều rộng, định hướng đến 2015 và 2020 tối đa chỉ có thể phát triển được từ

10 đến 12 KCN tập trung Vì vậy tỉnh đã lựa chọn quy mô cho mỗi KCN khoảng từ 500 đến 700 ha Trong đó, giai đoạn I khoảng 300 đến 350 ha và

ưu tiên cho doanh nghiệp sản xuất, thiết lập tổ chức dịch vụ kỹ thuật; giai đoạn II ưu tiên cho phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ, nhà ở dân cư kiểu đô

Trang 40

là dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các mục đích khác Qúa trình CNH, HĐH và ĐTH ở Bắc Ninh trong những năm qua diễn ra rất mạnh, nhiều KCN, KĐT được xây dựng và phát triển trên diện tích đất nông nghiệp Những diện tích đất nông nghiệp sử dụng cho phát triển các KCN, KĐT trước đấy chủ yếu được người dân sử dụng để trồng lúa, cây rau màu, trồng hoa và chăn nuôi gia súc, gia cầm Cũng như các địa phương khác trong cả nước, việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng và phát triển các KCN, KĐT của tỉnh Bắc Ninh đã làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất bị mất việc hoặc thiếu việc làm Để giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao động bị thu hồi đất nói riêng tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện các biện pháp sau:

Một là, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm cho lao động ở những

nơi chuyển đổi mục đích sử dụng đất

Công tác đào tạo nghề trong những năm gần đây được tỉnh quan tâm đầu tư đúng mức như nâng cấp, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng quy mô mạng lưới các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng đào tạo, đa dạng hoá các ngành nghề đào tạo Đặc biệt, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định

số 84/2003/QĐ-UB ngày 27/6/2003 phê duyệt đề án quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003 - 2010 Cùng với việc phát triển các cơ sở dạy nghề, kinh phí đầu tư dạy nghề cho nông dân cũng ngày càng tăng, nếu năm 2006 mới đầu tư 1 tỷ đồng thì đến năm 2007 là

3 tỷ đồng với mức đầu tư 300.000đồng cho 1 lao động Ngoài ra để công tác đào tạo nghề đạt hiệu quả, trước khi dạy nghề, lao động được tư vấn nghề nghiệp mà các KCN, các làng nghề có nhu cầu Vì vậy lao động sau khi đào

Ngày đăng: 09/12/2020, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tuệ Anh (1999), “Phát triển thị trường lao động ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (259) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường lao động ở nước ta”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Nguyễn Tuệ Anh
Năm: 1999
3. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
4. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2003), Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2002, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2002
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2003
5. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2006), Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2005, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam 2005
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2006
6. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2007), Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về đền bù, giải phóng mặt bằng và giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật về đền bù, giải phóng mặt bằng và giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Năm: 2007
7. Bộ lao động Thương binh và xã hội (2008), Việc làm cho thanh niên ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho thanh niên ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu tìm việc làm của thanh niên nông thôn ở khu công nghiệp tại Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Phòng
Tác giả: Bộ lao động Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2008
8. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2001), Một số vấn đề về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
9. C.Mác – Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 20, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
10. Hoàng Văn Cường (9/2006), “Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất phát trển các khu công nghiệp”, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất phát trển các khu công nghiệp”
11. Đỗ Kim Chung (T1/2000), “Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở Việt nam- Thực trạng và các định hướng chính sách”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, (260) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở Việt nam- Thực trạng và các định hướng chính sách”, "Tạp chí nghiên cứu kinh tế
13. Nguyễn Sinh Cúc (2008), “Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp”, Tạp chí Cộng sản điện tử, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp”, "Tạp chí Cộng sản điện tử
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2008
14. Cục thống kê tỉnh Hải Dương(2005), Kinh tế – xã hội tỉnh Hải Dương 5 năm (2001 – 2005), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế – xã hội tỉnh Hải Dương 5 năm (2001 – 2005)
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
15. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2007), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2006, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2006
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
16. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2008), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2007, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2007
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
17. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2009), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2008, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2008
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
18. Phạm Chánh Dương (1/2003), “Về thực hiện chính sách đền bù giải toả trong phát triển các khu công nghiệp”, Tạp Chí Cộng sản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thực hiện chính sách đền bù giải toả trong phát triển các khu công nghiệp”, "Tạp Chí Cộng sản
19. Đào Ngọc Dũng, Hoàn Hiền, Bảo Trung (3/2008), “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Báo Nhân dân, (19203) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, "Báo Nhân dân
20. Đào Ngọc Dũng, Hoàn Hiền, Bảo Trung (3/2008), “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Báo Nhân dân, (19204) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, "Báo Nhân dân
21. Đào Ngọc Dũng, Hoàn Hiền, Bảo Trung (3/2008), “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Báo Nhân dân, (19205) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, "Báo Nhân dân
22. Đào Ngọc Dũng, Hoàn Hiền, Bảo Trung (3/2008), “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, Báo Nhân dân, (19206) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”, "Báo Nhân dân

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w