1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tiểu thuyết trăm năm cô đơn của g marquez dưới góc nhìn phân tâm học

78 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 892,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rõ ràng Trăm năm cô đơn là một cuốn sách ăn khách mặc dù tác giả của nó không viết với mục đích câu khách.” 8,5 Trăm năm cô đơn để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc bởi những trang

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HỒNG

TIỂU THUYẾT TRĂM NĂM CÔ ĐƠN CỦA

G.MARQUEZ DƯỚI GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60220245

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Duy Hiệp

Hà Nội – 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3 Phương pháp nghiên cứu _ 12

4 Đóng góp của luận văn 14

5 Cấu trúc đề tài _ 14 CHƯƠNG 1 MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH 15 1.1 Ucsula với nỗi sợ tội loạn luân _ 15

1.1.1 Loạn luân và những giải thích cổ điển 16 1.1.2 Ucsula người phụ nữ luôn bị ám ảnh bởi tội loạn luân _ 17

1.2 Hôsê Accađiô Buyênđya con người hai cá tính và giấc mơ về những phát minh khoa học _ 20

1.2.1 Hôsê Accađiô Buyênđya con người hai cá tính cô đơn trong nỗi

ám ảnh về tội lỗi trong quá khứ 20 1.2.2 Hôsê Accađiô Buyênđya trăn trở về những phát minh khoa học 23

1.3 Cuộc đời chinh chiến của Aurêlianô và những nỗi ám ảnh về những lời tiên tri _ 26

1.3.1 Cuộc đời chinh chiến 26 1.3.2 Nỗi ám ảnh về những lời tiên tri 29

Tiểu kết: 31 CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT CÔ ĐƠN BỊ ÁM ẢNH TÍNH DỤC _ 32 2.1 Vấn đề tình yêu, tính dục trong sáng tác của Gabriel Garcia Marquez 34 2.2 Yếu tố tính dục trong tác phẩm Trăm năm cô đơn _ 38

2.2.1 Macondo không gian mang tính dục _ 38 2.2.2 Nhân vật mang tính dục, mối quan hệ chằng chéo giữa những người cận huyết _ 44 2.2.3 Rêmêđiốt – người đẹp nhân vật miễn dịch với tính dục giữa thế giới đầy dục tình _ 51

Tiểu kết: 53 CHƯƠNG 3 VÔ THỨC TẬP THỂ TRONG _ 55

TRĂM NĂM CÔ ĐƠN 55

3.1 Vô thức một vấn đề khoa học 56 3.2 Vô thức trong vấn đề sáng tạo văn chương 57 3.3 Vô thức của tập thể trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn 61

3.3.1 Những ám ảnh về thực tại khách quan của Gabriel Garcia Marquez _ 61 3.3.2 Bi kịch trong dòng họ Buyênđya một nỗi ẩn ức vô thức 63 3.3.3 Vô thức giữa cái bản ngã, bất lực dồn nén trong tình yêu 68

Trang 3

Tiểu kết: 72 KẾT LUẬN _ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO _ 75

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lời giới thiệu đầu sách Trăm năm cô đơn, Nguyễn Trung Đức

từng viết: “Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của Gabriel Garcia Marquez, nhà văn người Côlômbia người được giải

Nobel về văn học năm 1982 Trăm năm cô đơn ra đời năm 1967 đã gây dư

luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm mộ

Theo số liệu của tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn được in bằng

tiếng Tây Ban Nha hơn nửa triệu bản, chưa kể hai lần in ở Cuba xã hội chủ nghĩa (một lần hai vạn bản, lần sau tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin phép tác giả được dịch tác phẩm này ra các thứ tiếng khác Sau gần hai

mươi năm, Trăm năm cô đơn đã có mặt khắp nơi trên hành tinh chúng ta để đến với mọi người và mọi nhà Rõ ràng Trăm năm cô đơn là một cuốn sách

ăn khách mặc dù tác giả của nó không viết với mục đích câu khách.” (8,5)

Trăm năm cô đơn để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc bởi những trang viết đầy trăn trở của Marquez, độc giả như bị cuốn sâu vào thế giới cô

đơn của con người, với vòng luẩn quẩn và ám ảnh quanh dòng họ bảy đời đang bị lưu đày vào cõi cô đơn, sống lay lắt vào nỗi nhớ và không thôi trốn chạy lo sợ về tội loạn luân Chính sự hấp dẫn của những trang viết đầy trăn

trở này tôi chọn đề tài “Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Marquez

dưới góc nhìn phân tâm học”

Qua việc nghiên cứu này, tôi muốn tìm hiểu xem những ám ảnh của các thế hệ Buyênđya, cũng là nỗi ám ảnh sâu xa của tác giả, những giá trị văn hóa mà tác giả và cuốn sách để lại cho chúng ta

Trang 5

Ở Việt Nam, việc tiếp cận tác phẩm qua nhiều bản dịch của nhiều dịch giả, nhưng đáng chú ý nhất là bản dịch của Nguyễn Trung Đức, Nxb Văn học, HN, 2004 Tác giả đã đưa ra những nhận định khái quát về vấn đề cốt truyện đề tài, kết cấu và thời gian nghệ thuật, nhân vật và thông điệp Từ khi tác phẩm được dịch sang tiếng Việt đã có nhiều công trình nghiên cứu

để lại nhiều dấu ấn sâu sắc

Đầu tiên phải kể đến đề tài cấp bộ do PGS.TS Bửu Nam chủ nhiệm

(2002-2005): Đặc điểm khuynh hướng và sự phát triển của văn học Mỹ Latinh nửa đầu thể kỉ XX trong phần phụ lục 3: Các tác giả và tác phẩm

tiêu biểu cho tiểu thuyết và truyện ngắn Mỹ Latinh từ những năm 60 đến nay dành dung lượng bàn đến Marquez trong đó đã bàn luận nhiều vấn đề

từ góc độ liên văn bản (tiểu thuyết huyền thoại đã tiết chế nhiều chất liệu dân gian của Châu Mỹ Latinh, một cách tự do và sáng tạo, vay mượn các motif trong Thánh kinh và các huyền thoại cổ đại, sử dụng các tình tiết trong truyền thuyết lịch sử, các sự kiện có thật), từ cấp độ kí hiệu học (mô hình hệ giới dưới hình thức làng Macondo); đề cập đến vấn đề thời gian lịch sử và thời gian vòng tròn theo chu kỳ … Nhà nghiên cứu khẳng định: cách kể chuyện của Marquez được xem như tiêu biểu cho chủ nghĩa huyền

ảo nhưng đây là một thứ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo theo phương thức

Trang 6

hài, lướt qua một cách thản nhiên giữa hiện thực và cái kỳ diệu để làm kinh ngạc các nhân vật ngờ nghệch trong khi đương đầu với một thế giới mà họ không hiểu thấu Nhưng sự hài hước này lại đi kèm với một cảm giác trắc

ẩn, xót xa mà tác giả có vẻ như chia sẻ với các số phận nhân vật Tuy chỉ

dành một phần để bàn về tác phẩm Trăm năm cô đơn nhưng công trình

nghiên cứu này đã gợi mở nhiều điều cho những người nghiên cứu về Marquez Đặc biệt ở khía cạnh các yếu tố huyền ảo, tính hài hước, yếu tố thời gian, cách xây dựng cốt truyện, tuyến nhân vật … Cách đặt ngược vấn đề: phải chăng tiểu thuyết là một ẩn dụ của sự thất bại của quá trình hiện đại hóa? khiến cho người đọc phải suy ngẫm

Đào Thị Thu Hằng trong bài viết Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm Kawabata và Marquez trong cuốn Văn học so sánh – nghiên cứu và triển vọng, Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh (tuyển chọn), NXB

ĐHSP, 2005 Tác giả đã so sánh chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng tác của hai nhà văn nói trên và qua đó đã khám phá đặc sắc về không gian

và thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn

Đỗ Xuân Hà trong bài viết Tiểu thuyết hiện thực huyền ảo: Trăm năm

cô đơn của Gabriel Garcia Marquez trong cuốn Văn học thế giới thể kỉ

những nét tiêu biểu nhất về con người cũng như những sáng tác của

G.Marquez trong Trăm năm cô đơn trên các mặt nội dung và nghệ thuật và chỉ ra phương pháp sáng tác trong Trăm năm cô đơn là chủ nghĩa huyền ảo

kết hợp với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo và các yếu tố hoang đường

Chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez của Lê Huy Bắc, NXBGD Việt Nam, 2009 Đây là chuyên luận

công phu về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, gồm 2 phần chính: chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez, ngoài ra còn có phần phụ lục trích đăng những bài dịch có liên quan đến chủ đề Trong phần một,

Trang 7

người viết đã đưa ra nhiều lý giải về khái niệm như cái kì ảo, cái huyền ảo, văn học huyền ảo, văn học hiện thực huyền ảo, nhà văn hiện thực huyền ảo Trong đó đáng chú ý là sự phân kì văn học huyễn ảo Lê Huy Bắc cho rằng lịch sử văn học huyễn ảo có thể được chia làm ba giai đoạn tương ứng với cách thức sáng tạo và tiếp nhận văn học: giai đoạn 1 (cái huyễn tưởng): thời trung cổ, khi con người xem những yếu tố siêu nhiên, kì quái, hoang đường … như những cái tất nhiên, lí trí chưa phải là cơ sở để con người tin tưởng Giai đoạn 2 (cái kì ảo): thời cận hiện đại Cài kì ảo xuất hiện trong văn học với mục đích gây nên sự hoang mang cho người đọc Đây là điều

mà văn học thời kì trước không mấy bận tâm Giai đoạn 3 (cái huyền ảo) gắn với thời hiện đại, hậu hiện đại Cái huyền ảo xuất hiện như một sự đối thoại trở lại, bản chất là bộc lộ sự bất tin Chương 2 ở phần 1, tác giả khái quát hệ thống về văn học hiện thực huyền ảo, bao gồm: nguồn gốc và lịch

sử, nguyên nhân ra đời, xác định khái niệm, đặc điểm, tiếp nhận văn học hiện thực huyền ảo ở Việt Nam Lê Huy Bắc cũng bổ sung thêm một số nguyên nhân như thói quen xem cái hoang đường như cái thường nhật của người bản địa, tìm sự an ủi trong thế giới siêu nhiên trước cuộc sống quá khắc nghiệt Chương 3 phần 1, Lê Huy Bắc điểm qua những tên tuổi thuộc khuynh hướng này như F.Kafka, J.Borges, T.Morrison … Nhà nghiên cứu quan niệm Kafka là người khai sinh ra khuynh hướng hiện thực huyền ảo thế kỉ XX Trong những trang tiếp theo Lê Huy Bắc giới thiệu và nhận xét tổng quan về các nhà văn hiện thực huyền ảo Đó là những nghiên cứu có tính gợi mở cho những người quan tâm tìm hiểu về những nhà văn này Phần 2 của chuyên luận gồm 6 chương, được sắp xếp theo thứ tự: Chương 1: Lịch sử Comonbia và hiện thực của Marquez

Chương 2: Những người thầy

Chương 3: Khát vọng trở thành người giỏi nhất thế giới

Chương 4: Tự sự nhiều điểm nhìn trong Cụ già với đôi cánh khổng lồ

Trang 8

Chương 5: Những cô gái điếm buồn của Marquez

Chương 6: Trăm năm cô đơn

Đóng góp của phần 2 này chủ yếu tập trung ở chương 4,5,6 những chương 1,2,3 mang tính tổng thuật nhiều hơn là nghiên cứu Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu chương 6 Trong chương này tác giả chia làm 7 phần: 1 Câu chuyện một trăm năm, 2 Gia hệ Trăm năm

cô đơn, 3 Nhân vật, 4 Huyền thoại về cái cô đơn, 5 Macondo huyền thoại,

6 Trần thuật mê lộ - biên niên sử huyền thoại, 7 Ngọn sóng văn chương Trong 7 phần nêu trên thì phần 1,2,3 mang tính chất tóm tắt và giới thiệu,

có sự tương đồng với nhiều những tài liệu tham khảo trước đó Sự dẫn nhập này mang tính hướng dẫn ban đầu cho những ai mới tiếp xúc với văn bản, khá bối rối với gia hệ phức hợp trong tác phẩm 4 phần còn lại nhà nghiên cứu đi sâu khảo sát về các huyền thoại, nghệ thuật trần thuật Trong Huyền thoại về cái cô đơn, Lê Huy Bắc có tiếng nói chung với những nhà nghiên cứu trước đó, cho rằng nỗi cô đơn là chủ đề chính trong sáng tác của Marquez, nó vừa là nỗi cô đơn bản thể vừa là sự cảnh báo để hướng đến sự

đoàn kết để mưu cầu hạnh phúc Trong Trăm năm cô đơn người ta có thể

tìm thấy muôn vàn cấp độ, dạng hình cô đơn, từ Jose luôn cảm thấy ám ảnh

về tội lỗi trong quá khứ, những đam mê khoa học bất tận, Arcadio cô đơn

vì hôn nhân cận huyết, Aureliano Segundo cô đơn ngay trong sự giàu sang bất tận của mình, Rebeca cô đơn vì thói quen lập dị không giống ai … Macondo huyền thoại nhấn mạnh hình tượng làng Macondo Tính huyền thoại thể hiện ngay trong tên gọi của ngôi nhà, sự xuất hiện và biến mất Nó

là sự ẩn dụ về bức tranh phát triển của xã hội, thế giới loài người Trần thuật mê lộ - biên niên sử huyền thoại là phần mà nhà nghiên cứu dụng công nhiều hơn cả Mê lộ là biểu trưng cho Trăm năm cô đơn, thể hiện rõ qua thế giới nhân vật, kết cấu, tự sự đa chủ thể, huyền thoại … Mê lộ dẫn

dụ người đọc vào thế giới huyền thoại, bị đánh đáo các nhân vật, các giá

Trang 9

trị Nó khiến cho yếu tố hiện thực và huyền ảo đan cài vào nhau một cách chặt chẽ, tự nhiên

Nói đến những công trình nghiên cứu về Trăm năm cô đơn, cũng phải

kể đến hệ thống các bài báo, bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Trước hết là bài nghiên cứu: Nhân vật và thông điệp của Nguyễn Trung Đức in

trong phần mở đầu quyển sách Márquez Gabriel García (2004), Nguyễn Trung Đức dịch, Trăm năm cô đơn, Nxb Văn học Nguyễn Trung Đức đã

chỉ ra những bức thông điệp gắn với tên của nhân vật trong sáng tác của nhà văn đạt giải Nobel 1982 Ông xác định những vòng tròn đan lồng trong truyện, vòng tròn cuộc đời của đại tá Aureliano, vòng tròn xoay quanh hai con người sinh đôi, sự quẩn quanh của những số phận sự nhầm lẫn trong cách nhìn nhận của Ursula và bao trùm lên tất cả là sự xoay vòng của thế giới, cuộc sống Nhà nghiên cứu khát quát bằng bức thông điệp của

chính tác giả Trăm năm cô đơn từng tuyên bố cuốn sách mà ông để cả đời

sáng tác là cuốn sách về sự cô đơn và thông qua cái cô đơn ông kêu gọi mọi người đoàn kết, đoàn kết để đấu tranh, đoàn kết để chiến thắng tình trạng chậm phát triển của Mỹ Latinh, đoàn kết để “sáng tạo ra một thiên huyền thoại khác hẳn Một huyền thoại mới, hấp dẫn của cuộc sống, nơi không ai

bị kẻ khác định đoạt số phận mình ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu

có lối thoái và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự, và nơi những dòng họ

bị kết án Trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai

để tái sinh trên mặt đất này” Trong bài viết này, Nguyễn Trung Đức đã đi sâu tìm hiểu những bức thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm, đặc biệt là qua số phận của nhân vật Đó là một phương thức thâm nhập sâu

để tìm hiểu tư tưởng của nhà văn Nhưng chúng tôi cho rằng ngoài những điều nêu trên còn có một bức thông điệp khác quan trọng là sự dự báo Một dòng họ có thể bị tuyệt diệt, vùng đất huyền thoại có thể bị nhấn chìm, loài

Trang 10

người cũng có thể biến mất như chưa từng tồn tại nếu con người vẫn cứ xây cất cho mình những tòa tháp cô đơn

Phan Tuấn Anh có bài đăng trên Tạp chí Sông Hương 259/9-10 số ra

ngày 01/10/2010, tựa đề Hình tượng Macônđô trong Trăm năm cô đơn

Trong bài viết này tác giả đã kiến giải về hình tượng Macondo – hình tượng xuyên suốt nhiều sáng tác quan trọng của Marquez , từ vấn đề nguồn cội tên gọi, tần suất đến ý nghĩa biểu trưng Người viết đưa ra nhận xét khá táo bạo: “Có thể nhận định rằng, nếu “nỗi cô đơn” là chủ đề lớn nhất mà Marquez dành cả cuộc đời để theo đuổi, thì hình tượng trung tâm nhất, có tính xuyên suốt các tác phẩm của nhà văn người Colombia lại không phải

là một nhân vật cụ thể, mà chính là hình tượng về vùng đất Macondo.” Bằng sự đối chiếu với những cứ liệu lịch sử, văn hóa, Tuấn Anh đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa sự phát triển của làng Macondo với tiến trình phát triển của Châu Mỹ Latinh Những cứ liệu này soi sáng và chứng minh

rõ hơn ý nghĩa biểu trưng của Macondo – xã hội Mỹ Latinh thu nhỏ

Nghiên cứu về tác phẩm này còn có các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, khóa luận, luận văn, tôi xin được điểm qua một số công trình: Khóa

luận tốt nghiệp Khảo sát tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong hai tiểu thuyết Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả của Garcia Marquez của Nguyễn

Thị Tuyết Lan – ĐHSP Huế, 2005 Khóa luận tập trung vào hai vấn đề:

khảo sát tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả; những phương thức nghệ thuật thể hiện tình yêu, nhục thể, nỗi

cô đơn trong tác phẩm này Tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn là 3 yếu tố quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong sáng tác của nhà văn người Comlombia này Lí giải được mối quan hệ của 3 yếu tố này sẽ lí giải được

sự ý nghĩa của sự xuất hiện dày đặc những phen làm tình, nỗi cô đơn tràn ngập trong sáng tác của ông Công trình nghiên cứu trên hai tác phẩm đỉnh cao của nhà văn biểu trưng cho nỗi cô đơn của Châu Mỹ Latinh, tìm hiểu

Trang 11

toàn diện các phương thức nghệ thuật thể hiện như người kể chuyện không thời gian, giọng điệu, điểm nhìn nhân vật trong hai tác phẩm Tuy nhiên, công trình này chưa đạt đến độ chín, vì chưa lí giải được mối quan hệ giữa nhục thể và tình yêu, tính dục, nỗi cô đơn … Việc trình bày và khảo sát song hành hai tác phẩm này chưa sâu nên dẫn đến sự rời rạc

Một công trình khác có thể nói đã chạm đến độ chín là Luận văn Thạc

sĩ Thời gian và không gian huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez của Nguyễn Thị Hảo – ĐHKHXH và NV Hà Nội,

2010 Luận văn này đã chạm đến vấn đề đặc biệt lí thú trong sáng tác nổi

danh của Marquez Trăm năm cô đơn Luận văn đã đưa ra một cái nhìn tổng

quan và khá hoàn thiện về đặc điểm của văn học Mĩ Latinh và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Thời gian được tái hiện qua những cấp độ: trật tự, thời lưu, tần suất; cùng với điềm báo Sự xoay vòng của thời gian mang tính ẩn

dụ Không gian bàng bạc màu sắc kì ảo Chốn – không thời gian huyền thoại góp phần quan trọng chuyển tải thông điệp vì hòa bình, đoàn kết nhân

loại – mặt trái của cái cô đơn Còn thêm Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez của Lê Thị Thanh Thủy – ĐHKHXH

và NV Hà Nội, 2011 Đỗ Duy Chiến của ĐHSP đã Bảo vệ luận văn (2011)

“Tính dục trong Trăm năm cô đơn của G.G.Marquez” đã đề cập đến các

vấn đề nhân vật đam mê tính dục; tính dục với đề tài loạn luân và vô thức

và nghệ thuật biểu hiện tính dục

Một số bài nghiên cứu bằng tiếng Anh, tôi khảo cứu được như:

Gabriel Garcia Marquez do Harold Bloom (giáo sư khoa Nhân học

trường ĐHH Yale) hiệu đính và giới thiệu, NXB Chealsea Đây là một cuốn sách tập hợp nhiều bài nghiên cứu công phu về Marquez Trong đó có

một số bài viết về tác phẩm Trăm năm cô đơn như: Gabriel Garcia Marquez từ Aracata đến Macondo, Những sản phẩm khoa học của Jose

Trang 12

Acardio Buendia – con người đi tìm bản thể của Floyd Merrell, Trăm năm

cô đơn – huyền thoại và lịch sử của Roberto Gonzalez Echevarria …

Một cuốn sách khác khảo sát trên diện rộng về tác phẩm này là Trăm năm cô đơn: những phương thức thâm nhập của Regina Janes, NXB

Twayne, 1991 Regina Janes đã cung cấp một phân tích toàn diện hấp dẫn

về Trăm năm cô đơn, bàn đến nhiều phương thức đọc, giải thích tác phẩm

này theo các phương cách khác nhau Janes tiếp cận tác phẩm này qua bình diện văn học và lịch sử, bình luận theo nhiều hướng: chính trị, tiểu sử học, liên văn bản, từ góc độ của huyền thoại và hiện thực huyền ảo Trong quá trình đó, Janes cung cấp một cuộc khao sát có sức thuyết phục về tiểu thuyết, và kết luận, “Nếu Garcia Marquez có bước đi riêng tạo ra huyền thoại hiện đại, thì dường như đó là mong muốn giữ gìn, bồi dưỡng, nuôi dưỡng ý thức của chúng ta về cõi không thực Không chỉ thể giới thực mà chúng ta đang sa lầy mà cả những cuốn sách chúng ta đọc cũng đang phủ nhận chính chúng ta, một cách tạm thời, cần có một thế giới tốt hơn để có thể xác tín được.”

Một công trình khác đã định hình rõ nét hơn về lí thuyết ứng dụng

trong nghiên cứu Trăm năm cô đơn là cuốn sách mang nhan đề: Phê bình hậu hiện đại về Trăm năm cô đơn của Marquez của tác giả Jofer Serapio,

đăng trên trang web: http://joferserapio.wordpress.com Theo tác giả bài viết, yếu tố thể hiện rõ nhất tính hậu hiện đại của tác phẩm này là hiện thực huyền ảo Và nhà văn đã có sự pha trộn nhiều thể loại, lãng mạn, lịch sử, kì

ảo

Những công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài mà tôi khảo sát được trên đây tuy chưa bao quát hết nhưng cũng chứng tỏ được chiều dài và chiều rộng của những công trình nghiên cứu về tác phẩm nổi danh này Từ đó mà tôi có thể nhìn nhận một cách khái quát về những hướng nghiên cứu tiếp theo Trong luận văn này, tôi đi sâu nghiên cứu tác phẩm

Trang 13

Trăm năm cô đơn với đề tài “Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.Marquez

dưới góc nhìn phân tâm học” Tôi khẳng định, tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu mở ra nhiều hướng tiếp cận và khai thác tác phẩm này nhưng đây là đề tài hoàn toàn mới

Mỗi công trình nghiên cứu cho chúng ta nhìn nhận những góc phát hiện

mới, góc tiếp cận mới về tiểu thuyết kinh điển mọi thời đại Trăm năm cô đơn Chúng ta hiểu vì sao, mà trải qua bao nhiêu năm từ khi mới ra đời cho

đến nay tác phẩm này vẫn là đề tài được nhiều người quan tâm, các thế hệ học viên luôn lấy đó là mảnh đất trù phú để khai thác Không nằm ngoài

những niềm đam mê đó, tôi vẫn muốn tìm đến Trăm năm cô đơn với hướng

tiếp cận mới, tuy nó có bề dày những công trình nghiên cứu đồ sộ

1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này tập trung nghiên cứu Trăm năm cô đơn của Gabriel

Garcia Marquez dựa trên lí thuyết phân tâm học Tập trung phân tích vào những giấc mơ, những nỗi ám ảnh về tính dục và sự vô thức của những con người

Đề tài này được nghiên cứu trên phạm vi bản dịch tác phẩm Tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Trung Đức, tái bản lần thứ năm, NXB Văn học, 2004

3 Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo nghiên cứu tác phẩm trên bình diện sâu rộng tôi kết hợp

sử dụng các phương pháp khác nhau như: phê bình phân tâm học, phê bình huyền thoại, nghiên cứu liên ngành kết hợp với các thao tác: đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Trong đó phương pháp chính là phân tâm học

Thuật ngữ phân tâm học do Sigmund Freud đặt ra năm 1896 Thời gian đầu, đó chỉ thuần túy là một khoa học và là một phương pháp trị bệnh, sau ảnh hưởng lan rộng sang địa hạt văn học, trở thành một phương pháp

Trang 14

phê bình Với tư cách là một phương pháp phê bình, phân tâm học xem tác phẩm văn học như một thế giới huyễn tưởng phản ánh những ước muốn âm thầm cũng như những dồn nén trong vô thức của tác giả Xin lưu ý, với các nhà phân tâm học, vô thức không phải là sự thiếu vắng ý thức mà là một cõi riêng

Sự khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã dẫn đến sự ra đời của Phân tâm học Một trường phái tâm lý học khách quan đi sâu nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lý người, là đối tượng thực sự của tâm lý học

Người sáng lập ra Phân tâm học là S.Freud (1856 - 1939) bác sĩ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc, du học ở Áo, Pháp, Đức … Ngay từ khi chữa chứng dồn nén và chứng thần kinh tương khắc, Freud đã đi tới kết luận không chỉ riêng con bệnh mà cả những người bình thường cũng mang trong mình những xung khắc tâm thần tương tự Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và kinh nghiệm thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân

tâm học vào khoảng cuối thế kỷ XIX Trong cuốn Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh xuất bản vào năm 1895, ông đã bộc lộ niềm tin rằng “yếu tố

chính trong sự rối loạn về tính dục là sự suy yếu gây ra cảc bệnh tâm thần, lẫn bệnh tâm thần suy nhược” Đó là nền tảng của thuyết phân tâm Vài năm sau đó, Freud hoàn chỉnh được lý thuyết của ông về sức đối kháng, hiện tượng chuyển biến tính dục tuổi thơ, mối tương quan giữa những ký

ức bất mạn và ảo tưởng, giữa cơ chế tự vệ và sự dồn nén

Học thuyết phân tâm của Freud được xây dựng trên khái niệm vô thức Freud quan niệm, tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất

là hiện tượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý con người Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tùy theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện

Trang 15

ra theo những quy luật khác hẳn với ý thức (26,185) Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lý người được S.Freud làm rõ trong các công trình nghiên cứu về giấc mơ về lý thuyết tính dục cũng như ở nhiều vấn đề khác được đề cập liên quan trong các nghiên cứu cụ thể của ông Dựa vào những thuyết phần tâm học Freud đề ra về hiện tượng ảo giác trong giấc mơ và những rối loạn tính dục, tôi chủ công khai thác những

khía cạnh của tác phẩm Trăm năm cô đơn trên hai phương diện này để từ

đó tìm ra cái cô đơn, vô thức ngàn đời của dòng họ bị lưu đày tram năm

4 Đóng góp của luận văn

Về mặt lý thuyết: Luận văn đưa ra hướng tiếp cận mới, phương pháp phân tâm học Với bình diện đi sâu vào những ám ảnh trong mỗi nhân vật

và tập thể Macondo, cũng như những trăn trở trên những trang viết của

Gabriel Garcia Marquez Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc của những công

trình nghiên cứu đi trước để có cái nhìn sâu sắc, mới mẻ về tác phẩm này

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần định hình rõ nét hơn trong việc ứng dụng phân tâm học, để khám phá ra những ám ảnh, những con người trăn trở, trằn trọc, luẩn quẩn trong cái cô đơn của ngàn đời, sự bế tắc, những ham muốn, nhục dục… những giấc mơ vừa thực vừa ảo

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Macondo với những giấc mơ ám ảnh

Chương 2 Nhân vật cô đơn bị ám ảnh tính dục

Chương 3 Sự vô thức của tập thể

Trang 16

CHƯƠNG 1 MACÔNĐÔ VỚI NHỮNG GIẤC MƠ ÁM ẢNH

Năm 1900 Freud công bố công trình Lý giải các giấc mơ Việc phân

tích cặn kẽ các giấc mơ của người nào đó đã trải qua là một thành công của ông, con đường đi đến làm rõ cái vô thức Các giấc mơ đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt đối với Freud, bởi theo ông, có thể từ việc phân tích các giấc

mơ, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn cấu trúc tâm thần người, rõ hơn về cái

vô thức trong con người Từ các ca lâm sàng trong chữa trị bệnh tâm thần, ông đã đi đến kết luận: Các giấc mơ đều không xa lạ với người nằm mơ, đều luôn khó hiểu với người đó Các giấc mơ đều có một ý nghĩa nhất định nào đó Không những giấc mơ có một ý nghĩa mà ý nghĩa của giấc mơ là nguyên nhân gây nên giấc mơ Trong các giấc mơ có các “ý tưởng tiềm ẩn” cần được khám phá Nội dung biểu hiện của giấc mơ có thể thực hiện trá hình những ham muốn bị dồn nén vào vùng vô thức Bên cạnh đời sống thực tại, các nhân vật của Marquez còn sống trong đời sống của những giấc mộng Giấc mơ là thuộc tính của tư duy thần thoại Các nhà khoa học tin rằng giấc mơ ẩn chứa nhiều điều thần bí nhưng liên quan nhất định đến đời sống thực của con người, có sự liên thông giữa thế giới mộng ảo và đời sống tâm lí cũng như quá trình nhận thức của con người thường nhật Và Marquez đã để cho nhân vật của mình bơi trong cuộc chu du tâm tưởng để đến với miền đất còn bí ẩn và không kém phần phức tạp

1.1 Ucsula với nỗi sợ tội loạn luân

Nỗi ám ảnh về tội loạn luân luôn đeo bám những con người thuộc dòng họ Buyênđia Họ cô đơn giữa ngôi nhà của mình, cô đơn giữa những người thân, cô đơn trên chính chiếc giường của mình và nỗi cô đơn đó ám ảnh cả trong những giấc mơ của họ

Trang 17

Người phụ nữ luôn có ý thức và canh cánh trong mình nỗi ám ảnh về tội loạn luân Chính Ucsula đã được mẹ kể về tấm gương về người sinh ra một đứa trẻ có đuôi lợn Cũng chính điều này đã đeo bám bà ngay trong đêm tân hôn, và một năm sau ngày cưới Sau này, sau mỗi lần sinh nở bà luôn cẩn thận kiểm tra kĩ khắp người đứa trẻ Nỗi ám ánh đó, khiến bà luôn canh cánh, nhắc nhớ các con mình về nỗi kinh hoàng của tội loạn luân Sự minh mẫn của một bà lão ngoài trăm tuổi đã để bà chứng kiến những thế hệ con cháu Buyênđia có một sự khác lạ, sự cô đơn, cá tính khác người còn đáng sợ hơn cái đuôi lợn

1.1.1 Loạn luân và những giải thích cổ điển

Từ giữa thể kỉ XIX loan luân được xem là một sự ghê tởm tự phát, nỗi

sợ hãi về những hậu quả xấu của quan hệ huyết thống Các lý thuyết do các nhà nhân học đưa ra từ cuối thể kỉ XIX để giải thích việc cấm loạn luân có

ba loại; tâm lý học, sinh học, xã hội – văn hóa

Các lý thuyết thứ nhất giả định rằng việc cấm loạn luân là nhắc lại, dưới hình thức một quy tắc, một sự ghê tởm tự phát ở con người đối với một đối tác của mình Nhà tộc học người Phần Lan Edward Westermark năm 1891, nhà tính dục học Anh Havelock Ellis năm 1906 đã phát triển ý tưởng cho rằng sự chung sống lâu dài giữa những thành viên cùng một gia đình sẽ làm cho ham muốn mất đi

Lý thuyết thứ hai coi những hậu quả sinh học là có thể có của sự tái sinh sản giữa những người cùng dòng máu Sự kết hợp giữa những người thân thích ở con người, động vật và một số thực vật có thể có những hiệu quả di truyền có hại theo hai kiểu: tăng dần số của những khuyết tật di truyền và trong trường hợp lặn lại ở nhiều thế hệ, một hiện tượng “suy sụp

về dòng máu”, còn gọi là “thoái hóa” Ở các nước phương Tây Đó là lý do thường được nêu ra Trong các tín ngưỡng trên toàn thế giới, thường xảy ra

Trang 18

những sự sinh đẻ không bình thường được gán cho những tập quán loạn luân đã biết rõ hay được giả định

Cuối cùng, lý thuyết thứ ba dựa vào những lý do xã hội hay những biểu tượng tập thể Tiểu luận của Emile Durkheim công bố năm 1897 là một ví dụ rõ ràng Ông khẳng định tất cả các xã hội đều phải trải qua giai đoạn thờ vật tổ Thế nhưng, việc thờ vật tổ cũng chìm ngập trong nỗi khiếp

sợ máu vật tổ, mà vật tổ cũng lại thuộc nhóm họ hàng của người ta Phạm tội loạn luân là có nguy cơ tiếp xúc với máu vật tổ ấy Do đó mà có sự cấm

kỵ thật sự về hành vi này Ý tưởng của Durkheim là có hiệu quả: nó không chỉ tính đến sự loạn luân sinh học mà đến cả những quy tắc riêng của mỗi

xã hội về cái bên trong và cái bên ngoài của nhóm cùng dòng máu Nhưng

ý tưởng ấy không có chỗ dựa vững chắc: việc thờ vật tổ có lẽ không bao giờ tồn tại dưới hình thức người ta gán cho nó, ít ra cũng không phải là một giá trị phổ biến, và sự sợ máu không có lien quan tất yếu với những quan

hệ tính dục

Theo từ điển Tiếng Việt: “loạn luân dùng để chỉ quan hệ nam nữ về xác thịt với nhau giữa những người cùng máu mủ trái với phong tục tập quán hoặc pháp luật.” (24,574) Dù trong bất cứ trường hợp nào, vô tình hay

cố ý thì hành động loạn luân vẫn không thể chấp nhận được và đáng lên án một cách khắt khe Trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, dòng họ Buênđia trong vòng 100 năm trải qua bảy đời và hầu như đời nào cũng có dấu hiệu loạn luân Mà xét cho cùng nguyên nhân sâu xa của việc đó chính là việc

họ cố chạy trốn tội loạn luân nhưng lại không sao trốn thoát sự cám dỗ một cách vô thức và sự ám ảnh bởi mặc cảm trong quá khứ

1.1.2 Ucsula người phụ nữ luôn bị ám ảnh bởi tội loạn luân

Trong Trăm năm cô đơn, Ucsula là người phụ nữ cần mẫn, năng nổ,

thông minh và kiên định Dưới sự chăm lo của bà, gia đình Buendia là tâm

Trang 19

điểm của làng Macondo – một gia đình giàu có luôn mở rộng cửa đón khác

“Đức cần mẫn của Ucsula sánh ngang với đức cần mẫn của chồng mình Bà năng nổ, mảnh khảnh, kiên nghị Người đàn bà run rẩy mà chẳng một ai nghe thấy cất tiếng hát trong suốt cả cuộc đời mình, là người có mặt ở khắp chốn kể từ lúc trời vừa bừng sáng cho đến khi tối mịt, lúc nào cũng bận bịu với đàn gà nhíp nhíp Nhờ có bà, nền đất nện không chút bụi, tường đất không vẩy bẩn, bàn ghế giường tủ do chính bàn tay vợ chồng bà làm nên lúc nào cũng sạch sẽ, và những rương hòm cũ đựng quần áo lúc nào cũng dịu thơm mùi húng dổi.” (8,29) Bà nuôi nấng và dõi theo tất cả những thành viên trong gia đình, đấu tranh để bảo vệ họ, để rồi lại bất lực khi nhận thấy sự trái khoáy của những đứa con “Con cái thừa kế tính nết điên khùng của cha mẹ chúng” và “…sự trái thói trái tính của các con trai mình quả thật cũng đáng kinh sợ như cái đuôi con lợn” (8,61) Sống để canh chừng con cháu, bà rút ra rằng thời gian cứ quay tròn, thế hệ trước cứ giống thế hệ sau, mãi là tù nhân của sự cô đơn, mãi không thoát khỏi tội kiếp loạn luân của dòng họ Bà là minh chứng cho sự nỗ lực, kiên cường của người phụ nữ của gia đình Gia cảnh nhà Buendia tan vỡ một phần cũng chính vì thiếu một bàn tay như Ucsula chăm sóc khi bà đã về già và mù lòa

Hơn ai hết, Ucsula là người hiểu rõ về hậu quả của tội loạn luân, cũng chính vì điều này đã đẩy bà vào cảnh ngộ trớ trêu, luôn sống vô thức với những ám ảnh quá khứ Bà cố sống để căn dặn con cháu về cái nguy cơ đáng sợ về đứa con có cái đuôi lợn Nhưng rồi không trốn thoát khỏi mặc cảm và bị cuốn sâu vào vực thẳm của sự cô đơn Trong thế giới cô đơn và hoài nhớ ấy những người trong dòng họ Buênđia đã phạm phải tội loạn luân Như vậy, có thể thấy vì sợ loạn luân nên cố chạy trốn, chạy trốn rồi lại mắc vào đúng tội lỗi đó Hình ảnh : “Một đứa con suốt đời mặc quần rộng thùng thình và chết vì bệnh chảy máu khi đã sống một cuộc đời bốn mươi hai tuổi xuân luôn là trai tân, bởi y sinh ra và lớn lên với cái đuôi

Trang 20

xoắn hình mở nút chai ở cuối có một túm lông” (8,49) Đây chính là sản phẩm của bà cô Ucsula lấy ông chú Hose Accadio Buendia Đó là tấm gương tày kiếp mà mãi đến già bà vẫn không quên cảnh báo với con cháu hãy mở to mắt mà nhận họ hàng

Dựa vào sơ đồ phả hệ của dòng họ Buenđia, chúng ta có thể nhận thấy hầu như các thế hệ trong dòng họ không thoát khỏi tội loạn luân với những người cận huyết Trước khi Ucsula Igoaran lấy Hose Accadio Buendia thì

tổ tiên của họ cũng đã phạm phải điều cấm kỵ đó Chính họ đã dẫm lên vết

xe đổ đó Là người sống gần hết chiều dài của dòng họ, chứng kiến các thế

hệ con cháu ra đời, trưởng thành và hủy diệt, bà như sự tổng kết chiêm nghiệm về những thói hư tật xấu của dòng họ Bà sống để canh chừng, coi sát nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát khỏi vòng xoáy của định mệnh

“Con cái nhà đến lạ, tất cả đều giống nhau như hệt Lúc đầu được nuôi dưỡng rất chu đáo, do đó tất cả đều ngoan ngoãn, nết na, hiền lành dường như đến con ruồi cũng không đủ can đảm để giết Ấy thế mà râu vừa lún phún đã lại hư thân mất nết rồi.” (8,180) Trước quyết định đám cưới của cặp đôi Rebecca và Hose Accadio bà đã phản đối kịch liệt, và xem như họ

đã chết Nhà văn Marquez xây dựng tình huống, ngôi nhà hạnh phúc của cặp đôi ngay cạnh nghĩa trang cũng để ám chỉ họ sống đó nhưng đã chết từ lâu rồi Người phụ nữ đã cố sống đến 6 đời và không ít lần bà than phiền về

cố máy thời gian quay vòng “Thời gian như thể quay tròn hay sao ấy.” Cũng chính bà là người đã phải thừa nhận những cá tính khác biệt của con cháu còn đáng sợ hơn những đứa con đuôi lợn, “Con cái nhà này đều thế

cả Chúng điên rồ ngay từ bé.” (8,213) Bà canh chừng, giám sát, và không khi nào nguôi nhắc con cháu hãy mở to mắt mà nhận họ hàng Nhưng bà vẫn không sao ngăn được những cuộc tình loạn luân giữa mẹ con của Accadio và Pilar Tenera Accadio thèm khát mẹ của mình như một con thú dục tình “Pilar Tenera người từng làm cậu nổi máu dê ở trong phòng làm

Trang 21

ảnh, là sự thèm khát không thể cưỡng lại nổi đối với cậu ta, cũng từ thuở ban đầu đối với Hose Accadio và sau đó Aureliano.” (8,138) Những đam

mê cuồng si của Aureliano Hose với thân hình ngà ngọc của cô mình là Amaranta “Lần đầu nhìn thấy cô tắm, cậu bé chỉ chú ý đến cái rãnh sâu sâu giữa hai núm vú trên ngực cô mình … sau đó … cậu không để ý đến cái rãnh sâu mà lại run bắn người vì thích thú lạ lùng trước hai bầu vú hồng hồng căng mọng” (8,169)… Và như thế suốt cuộc đời Ucsula chứng kiến các thế hệ con cháu của dòng họ tìm đến dục vọng như một sự giải thoát nhưng họ càng vùng vẫy trong bể dục thì lại càng đau khổ và tiến dần đến

sự hủy diệt hoàn toàn

1.2 Hôsê Accađiô Buênđya con người hai cá tính và giấc mơ về những phát minh khoa học

1.2.1 Hôsê Accađiô Buênđya con người hai cá tính cô đơn trong nỗi ám ảnh về tội lỗi trong quá khứ

Cụ tổ của dòng họ Buendia, Hôsê Accađiô Buênđya cưới người em họ Ucsula, bỏ làng đi sau khi giết một người bạn Hôsê Accađiô Buênđya là người sáng lập ra làng Macondo và là người lãnh đạo sáng suốt của làng trong một thời gian dài Ông là người có cả sức mạnh cơ bắp và trí tuệ Hai đặc điểm này di truyền cho con cháu theo hai nhánh: Những Arcadio khỏe mạnh, sống sôi nổi, còn những Aureliano thông minh những cô đơn và lánh đời Sau khi bị mê hoặc bởi những phát minh của người Digan Hôsê Accađiô Buênđya say sưa lao vào những tìm kiếm khoa học, rồi phát điên

và cuối cùng chết dưới tán cây dẻ

Những hành động của Hose Accadio Buendia là điển hình, điềm báo cho những đặc tính nổi trội để di truyền cho những thế hệ sau Việc Hose Accadio Buendia lấy em họ Ucsula là hành động mang tính loạn luân, hành động vượt ra ngoài chuẩn mực đạo đức muôn đời Và sau những thế hệ con

Trang 22

cháu cũng đam mê tính dục và đặc biệt ham muốn với những người cận huyết Hành động giết chết Prudencio Aghila là hành động bạo lực, hiếu chiến khiến ông phải day dứt cả đời Ông buộc phải bỏ làng đi để tìm thấy

sự thanh thản và trở thành một tù trưởng giỏi Chính đặc tính này đã di truyền cho nhiều thế hệ sau này đặc biệt là đại tá Aureliano Buendia Một hành động nữa của Hose Accadio Buendia cũng được xem là điềm báo cho đặc tính di truyền của dòng họ Buendia đó là hành động bỏ làng ra đi Đây

là hành động tự tách mình khỏi cộng động, đẩy mình vào cõi cô đơn tiền định Đặc tính này hầu hết các con cháu Buendia đều mắc phải

Hose Accadio Buendia là người tháo vát, với trí tuệ thông suốt ông đã

bố trí ngôi làng hợp lý và gọn gàng “…đã bố trí các nhà theo hình thức sao cho từ mọi nhà đều có thể đi ra sông và không một nhà nào phải gánh nước vất vả hơn nhà nào, đánh những con đường chạy thật khéo để mọi nhà đều phải chịu nắng như nhau vào mùa nóng Chỉ trong ít năm, Macondo là một làng ngăn nắp gọn gàng và chuyên cần … đó là một làng hạnh phúc, là nơi chưa một ai ngoài ba mươi tuổi, và chưa hề có người chết” (8,29) Sức khỏe và sự thông minh, linh hoạt của Hose Accađiô Buyênđya đã đưa ngôi làng vùng đầm lầy ngày một hưng thịnh Cả ngôi làng ngày càng rộn rã tiếng chim Nhưng rồi, những tập tục tốt đẹp, sự tháo vát ở Hôsê Accađiô Buênđya trong thời gian ngắn đã bị cuốn tuột đi bởi những đam mê về đá nam châm, những tính toán thiên văn, mơ mộng biến chì thành vàng, ước muốn được biết các kỳ quan của thế giới Giờ đây Hôsê Accađiô Buênđya trở thành một người lười nhác, ăn mặc thì lôi thôi, râu ria thì xồm xoàm Ở nhân vật này chúng ta dễ dàng nhận ra hai cá tính: một con người khỏe mạnh, vâm váp, nông nổi, táo bạo, cá tính này được di truyền cho những thế hệ Accadio và một con người âu sầu nhưng rất thông minh được di truyền cho những Aureliano Một trong những điều thú vị ở tiểu thuyết này

Trang 23

chính là sự quay vòng, lặp lại của thế hệ sau với thế hệ trước, dường như

đó là bản sao y nguyên về cá tính và số phận

Vì một sai lầm thời trai trẻ, Hôsê Accađiô Buyênđya đã phải bỏ làng đi tha hương cầu thực, tìm kiếm một vùng đất mới Nhưng cũng từ đây, anh sống cuộc đời cô đơn với nỗi ám ảnh tội lỗi Hình ảnh của Prudenxio Aghila xuất hiện thường xuyên trong tâm tưởng của ông Một lần trong cơn sốt vì mất ngủ, sau khi làng Macondo có người chết đầu tiên, ông đã gặp linh hồn của Prudenxio Aghila “Khi nhận ra Prudenxio Aghila, ông ngạc nhiên thấy rằng người chết cũng già theo năm tháng Hose Accadio Buendia cảm thấy rùng mình vì nỗi nhớ nhung … Sau nhiều năm ở cõi chết nỗi nhớ nhung người sống mới da diết làm sao, sự gắn kề một cái chết khá vốn đã tồn tại ngay trong cõi chết mà chính Prudenxio Aghila vừa rồi mong cho kẻ thù tệ mạt nhất của mình mới đáng sợ làm sao Prudenxio Aghila đã tốn nhiều thời gian đi tìm ông Prudenxio Aghila hỏi thăm ông qua những linh hồn chết ở thung lũng Uga, qua những linh hồn chết từ vùng đầm lầy tới …” (8,102) Và suốt thời gian đó ông luôn nhớ tới Prudenxio Aghila “Cả đêm ông nằm trên giường, mắt mở thao láo, mà gọi Prudenxio Aghila, gọi Menkyadet, gọi tất cả những người đã chết để họ tới cùng chia sẻ với ông nỗi chán chường.” (8,103) Trong suốt phần đời còn lại bên gốc cây dẻ, sống với kí ức, nói chuyện với kí ức Mặc dù người chăm sóc ông, trò chuyện với ông là Ucsula nhưng thực ra “người duy nhất mà cụ tiếp xúc từ

đã lâu là Prudenxio Aghila Với dáng vẻ tiều tụy vì tuổi già trong cõi âm phủ, Prudenxio Aghila cứ mỗi ngày hai lần đến nhà nói chuyện với cụ Hai người nói chuyện về gà chọi Hai người hứa hẹn với nhau sẽ xây dựng một chuồng nuôi những chú gà chọi tuyệt vời, không chỉ để vui vẻ trước một trận thắng mà còn để giải khuây trong những ngày chủ nhật man mác buồn

ở cõi âm phủ.” (8,167)

Trang 24

Như vậy, Hose Accadio Buendia thủy tổ của dòng họ Buendia ở Macondo đã tự lưu đày vào cõi cô đơn, sống suốt cuộc đời nhức nhối với tội lỗi trong quá khứ, và đến chết cũng chết trong nỗi cô đơn Sự cô đơn đã tồn tại như bản năng của con người “tập trung những ý, hướng, những động

cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được quyết định bởi bản năng, còn ý thức của chúng thì không biết được” (13,1353) Nỗi cô đơn đó xuất phát điểm từ cội nguồn, bản thể riêng của con người, nó cố hữu, ăn sâu vào tâm tưởng và dần dần đẩy con người vào cõi tuyệt vọng

1.2.2 Hôsê Accađiô Buênđya trăn trở về những phát minh khoa học

Đọc Trăm năm cô đơn, chúng ta không chỉ chứng kiến một cuộc chạy

trốn tội loạn luân, chứng tích của cuộc nội chiến giữa Đảng Tự Do và Bảo thủ, còn chứng kiến những bước chuyển mình của xã hội Mỹ La tinh thu nhỏ, một Macondo sôi động Khi người Digan mang đến những phát minh khoa học, Macondo phút chốc trở thành một thị trấn sầm uất với nghề thủ công, buôn bán…

Lần theo tiếng chim hót những người Digan đã tìm đến ngôi làng vùng đồng lầy Maconđo và mang theo những phát minh khoa học của thời đại, nhưng đối với Macônđô đó hoàn toàn lạ lẫm Sức cuồn hút của những phát minh vĩ đại đó đã làm dẫy lên trong Hôsê Accađiô Buênđya những ám ảnh

về thuật giả kim Tự lưu đày trong căn phòng bày la liệt những dụng cụ thí nghiệm Nỗi ám ảnh đó còn biến Hôsê Accađiô Buênđya thành một con người khác, bỏ bê gia đình, bó buộc mình trong sự trầm mặc và vô hồn Hôsê Accađiô Buênđya say sưa và bồng bột lao vào những tìm kiếm khoa học Ông tự giam mình trong phòng thí nghiệm, và công việc tìm kiếm những phát kiến đã ngày càng đưa ông tới bờ vực của sự thất bại Ông trở thành một kẻ điên dại và bị trói vào gốc cây dẻ

Trang 25

Tình huống xuất

hiện các phát

minh

Phát minh

Hôsê Accađiô Buênđya với những phát

Hôsê Accađiô Buênđya, người có trí tưởng tượng thường đi xa hơn cả bản thể của giới tự nhiên và còn vượt quá rất xa những phép mầu và trò chuyện huyền ảo, nghĩ rằng có thể sử dụng phát minh vô bổ

ấy vào việc moi vàng từ trong lòng đất

Hôsê Accađiô Buênđya lại nẩy ra ý định

sử dụng phát minh ấy như một thứ vũ khí

… Ông ở lỳ trong phòng nhiều giờ liền, tính toán về những khả năng chiến lược của thứ vũ khí mới sáng chế, cho đến khi ông viết được một bản chỉ dẫn mạch lạc,

có tính sư phạm và đầy thuyết phục … Cuối cùng, chán chường vì chờ đợi, ông đành than phiền về sự thất bại của công việc vừa ở bước khởi đầu

Trang 26

Sau khi trả lại

Ông ở ngoài sân suốt đêm để theo dõi đường đi của các vì sao và suýt nữa mắc bệnh đau đầu vì ý muốn xây dựng một phương pháp chính xác để tìm phương Nam Đây là thời kỳ ông mắc bệnh nói một mình.Vài ngày liền, ông cứ như người bị bỏ bùa mê, giọng thì thầm nhắc

đi nhắc lại cho chính mình nghe hàng loạt những phỏng đoán đầy kinh ngạc mà ông không cần tin vào sự hiểu biết của chính mình

Bị thách thức bởi thuật làm đá giả kim, Hôsê Accađiô Buênđya đã bàn với Ucsula đào số tiền vàng để nhân số tiền vàng này lên gấp bội Sau nhiều lần thất bại với chất đặc quánh dính ở đáy chảo không lấy

ra được, thì những việc cần cù đầy hứng thú, cha con Hôsê Accađiô Buênđya đã dành được kết quả Hôsê Accađiô Buênđya cho họ xem cái nồi nấu kim loại với số vàng đã được lấy lại, làm như thể ông vừa chế được

Qua những lần tự giam mình trong những đam mê khoa học, chúng ta

dễ dàng nhận thấy thực chất nhân vật đang tự đẩy mình vào nỗi cô đơn Ông thường giam mình trong phòng thí nghiệm, bỏ tất cả mọi thói quen sinh hoạt Trong những lần đam mê phát kiến khoa học chỉ duy nhất một lần Hose Accadio Buendia thành công, đó là tách thành công hợp chất vàng

Trang 27

những cũng mất một thời gian rất lâu sau đó Những ảo tưởng về khoa học

và những lần cố thủ của Hose Accadio Buendia chính là một dạng thức trong ẩn ức vô thức Hình dáng vật vờ, vô hồn dưới gốc cây dẻ là điều thực

sự gây nên nhiều ám ảnh về nhân vật cũng như tư tưởng tác phẩm muốn hướng tới

1.3 Cuộc đời chinh chiến của Aurêlianô và những nỗi ám ảnh về

những lời tiên tri

Không có được sức vóc và tính cách tự do như anh trai mình, Aurêlianô sống cuốn mình, và bị hấp dẫn bởi những thuật giả kinh, bởi căn phòng bừa bộn của bố mình Và điều đeo bám anh đó là những lời tiên tri Cuộc đời Aurêlianô là một vòng tròn khép kín Nỗi ám ảnh đeo bám anh dần biến anh từ một thanh niên thông minh và dũng cảm trở thành một vị tổng tư lệnh tự tách biệt mình với thế giới, với đồng đội

1.3.1 Cuộc đời chinh chiến

Như đã nói ở trên, hành động giết Prudencio Aghila của Hose Accadio Buendia thể hiện tính hiếu chiến hiếu thắng, để rồi suốt đời mang theo mặc cảm tội lỗi và phải bỏ làng đi nơi khác trở thành tù trưởng giỏi Đặc tính ấy

đã được di truyền cho Aureliano Buendia một con người trốn chạy nỗi cô đơn vào những trận chiến Vị đại tá đã phát động ba mươi hai cuộc nổi dậy Nhưng rồi khi đứng trên đỉnh cao của danh vọng lại cảm thấy cô đơn và cuối cùng tự đày mình trong căn phòng biệt lập

Aureliano Buendia đến với chiến tranh khi anh có thiện cảm với phái

Tự do và bất bình vì sự bịp bợm của phái Bảo hoàng Cũng sau cái chết của Remediot, chàng dường như rơi vào tuyệt vọng Nhưng sâu xa hơn vẫn là lẫn trốn nỗi cô đơn Sau này, Accadio Buendia cũng tìm đến chiến tranh như một sự trốn tránh những nhục cảm đối với cô của mình là Amaranta Nhân vật đại tá Aureliano Buendia được nhà văn xây dựng dựa trên hình mẫu ông ngoại của tác giả là đại tá Nicolas Ricardo Marquez Mejja Tác

Trang 28

giả đã dùng gần hai phần ba chiều dài tác phẩm để nói về nhân vật Aureliano Một con người cô đơn, âu sầu ngay từ trong bụng mẹ, có tài tiên tri và có trí tuệ hơn người, kiên định, đam mê quyền lực … Không giống với anh trai của mình có một đời sống tình dục mạnh mẽ, mặc dù anh đã từng chung đụng với rất nhiều phụ nữ, có mười bảy người con là kết quả của tình một đêm Nhưng đam mê suốt cuộc đời của anh là quyền lực

“Ngài đại tá Aureliano Buendia đã phát động ba mươi hai cuộc vũ trang nổi dậy và thất bại hoàn toàn… Ngài đã thoát nạn trước mười bốn vụ mưu sát, bảy mươi ba vụ phục kích và một đội hành hình … Ngài từ chối Huân chương Công Huân do Tổng thống nước Cộng hòa tặng Ngài trở thành Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng, có quyền uy từ nước này sang nước khác và là người buộc chính phủ phải gườm…” (8,129) Đến với chiến tranh vì sự bất mãn với phái Bảo hoàng như vậy chứng tỏ, mục đích anh đến với chiến tranh là khát vọng tự do, đây là mục đích vô cùng cao đẹp Anh đã lãnh đạo hai mốt chàng trai trang bị thô sơ tiến hành bạo động trước vũ khí của phe Bảo hoàng Đội quân của anh lập được nhiều chiến công và càng chiến đấu anh càng thể hiện tài năng quân sự thiên bẩm của mình Nhưng khi đứng trên đỉnh cao danh vọng anh lại dần đánh mất chính mình Những khát vọng quyền lực đã tách anh khỏi cộng đồng và người thân Hình ảnh Aureliano Buendia trở về với đoàn tùy tùng bao quanh, anh trở về ngôi nhà thuở thiếu thời của mình nhưng hết sức đề phòng, anh đề phòng với những người thân và thậm chí cả mẹ của mình “… Ucsula có cảm giác u buồn rằng con trai cụ là kẻ khác hẳn Cụ có cảm giác ấy ngay từ lúc chàng bước vào nhà được cả đội cảnh vệ ồn ĩ bảo vệ Đội cảnh vệ này

đã lục lọi khắp các phòng cho đến khi thấy rằng không có gì nguy hiểm Đại tá Aureliano Buendia không những chỉ thừa nhận hành động càn quấy thô bạo ấy mà còn ra lệnh một cách dứt khoát và không cho phép bất kỳ ai,

kể cả Ucsula được đến gần mình chưa tới ba mét trong lúc đội cảnh vệ

Trang 29

chưa bố trí xong lính gác quanh nhà.” (8,184) Để thị uy quyền năng của mình, anh thiết lập lại tất cả mọi luật lệ, tiến hành cải cách, lập ra tòa án quân sự và tiến hành trừ khử những người đe dọa đến vị trí của anh Tính độc tài của Aureliano Buendia thể hiện sâu sắc ở hành động giết tướng Moncada để củng cố uy thế và quyền lực của mình Họ đều là những người thân tín và rất được Ucsula yêu quý, trước những lời can ngăn của mẹ anh cũng không một chút lung lay, trắc ẩn Moncada đã nhận xét “là một người căm thù đám tướng lĩnh nhà nghề, từng đấu tranh không mệt mỏi với chúng, từng trăn trở suy nghĩ về chúng thế mà nay anh chẳng khác gì chúng Trong cuộc đời không có mẫu người nào đại diện cho sự thấp hèn của con người hơn anh … Anh không chỉ là một tên độc tài khát máu điển hình nhất của lịch sử nước ta, mà rồi anh còn sẽ bắt cả cụ Ucsula để lương tâm mình được yên ổn.” (8,188) Đại tá Aureliano mới thực sự thức tỉnh và nhận ra sự vô nghĩa của chiến tranh khi Ucsula ra sức bảo vệ che chở cho đại tá Herenendo Marquez thoát chết dưới tính độc tài của Aureliano Buendia “Trong cái đêm dài đằng đẵng ấy, khi đại tá Herenendo Marquez nhớ lại những buổi chiều êm đẹp trong phòng máy may của Amranta thì đại tá Aureliano Buendia bức bối dằn vặt, cố cấu xé cho vỡ nát cái đêm dài dằng dặc, cái vỏ dai bọc quanh nỗi cô đơn của chàng Quãng đời hạnh phúc duy nhất của chàng, kể từ buổi chiều xa xưa ấy khi cha chàng miệt mài đúc những con cá vàng Chàng đã phải khơi dậy ba mươi hai cuộc nội chiến, đã nhiều lần thoát chết, và đã phải tìm kiếm vinh quang như con lợn dũi đống rác tìm kiếm thức ăn, để gần bốn mươi năm sau mới phát hiện ra ý nghĩa của câu phương ngôn “ngu si hưởng thái bình”, một đức tính vốn có của sự nhẹ dạ cả tin… Anh hãy đi giày vào và hãy giúp tôi kết thúc cuộc chiến bẩn thỉu này.” (8,198,199) Chính từ thời điểm này, ngài đại tá mới bắt đầu nhận ra sự vô nghĩa của chiến tranh, cuối cùng anh cũng thức tỉnh và tìm về với bản thể “Chưa bao giờ chàng là một chiến binh dũng mãnh như lúc ấy

Trang 30

Sự nhận thức sáng rõ rằng cuối cùng mình chiến đấu vì chính sự giải phóng mình chứ không phải vì những tư tưởng …” (8,199) đã đưa anh đến với trận đánh cuối cùng Về nhà lần này, anh không ồn ĩ với đoàn quân tùy tùng mà trong tư thế bị áp giải, bị phỉ nhổ, bị buộc tội … Nhưng cuối cùng anh cũng trả lại cho cuộc đời những gì mình được hưởng kể cả phần mình được hưởng trong tuổi già Chàng về trong tư thế của kẻ thất bại nhưng tâm hồn thật sự được thanh thản Chàng đã thoát khỏi cạm bẫy của quyền lực và trở lại với công việc thường ngày, trở về với xưởng kim hoàn, với những con cá vàng thức chất lại là một sự trốn chạy khác Aureliano Buendia tìm đến chiến tranh trong nỗi cô đơn bản thể và trở về sau chiến tranh vẫn là dáng vẻ cô đơn Ngài tự giam mình trong xưởng kim hoàn cho tới lúc chết Hành động tự đóng cánh cửa cuộc đời mình là biểu hiện của sự bất lực và

cô đơn đã được định sẵn ở con người này

1.3.2 Nỗi ám ảnh về những lời tiên tri

Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, Aureliano được tiên đoán là đứa trẻ cô đơn, bất lực trong tình yêu “Aureloano, người đầu tiên sinh ra ở Macondo Cậu bé lặng lẽ và cô đơn Cậu đã khóc trong bụng mẹ và lọt lòng với đôi mắt mở thao láo… Sau đó, mặc kệ những ai đến gần để xem mình, cậu bé

cứ chăm chăm nhìn lên mái nhà ọp ẹp xuýt sập xuống dưới sức ép khủng khiếp của cơn mưa Một ngày nọ, cậu bé Aureliano, mới lên ba tuổi, bước vào nhà bếp giữa lúc Ucsula nhắc nồi canh ra khỏi bếp và đặt nó lên bàn, chính trong ngày này bà mới biết sức nặng của cái nhìn ấy Cậu bé thập thò

ở ngoài cửa nói: “Nó sẽ đổ đấy”… Cái nồi đã được đặt chắc chắn trên bàn, nhưng bỗng nhiên, đúng như lời cậu báo trước, nó bắt đầu rung lên bần bật rồi lăn lên mép bàn như có sức đẩy từ bên trong, rồi nó vỡ toang từng mảnh trên sàn nhà.” (8,35) Cũng chính lúc này, Ucsula bắt đầu để ý đến khả năng đặc biệt của con trai Theo quan niệm của Freud, tâm linh con người là một thành phần của tự nhiên Các quy tắc mà nó tuân theo rất khó lý giải Và

Trang 31

khả năng tiên tri cũng chính là một phần của đời sống tâm linh, là một dạng thức của rối loạn tâm trí Tất cả những quá trình tâm linh như giấc mơ, rối loạn và các triệu chứng trông có vẻ kỳ lạ và vô nghĩa nhưng nó đều có nguyên nhân cả Đối với Aureliano, khả năng đặc biệt của anh phát sinh và hình thành ngay từ trong bụng mẹ Một lần khác khi Ucsula đang than vãn

về những sự trái thói trái tính trái nết của con trai, thì Aureliano mơ màng nhìn và nói “Có người sẽ đến nhà mình đấy! … Con không biết ai? Nhưng người đến đây hiện đang trên đường đi.” (8,61) Qủa thật mấy ngày sau Rebecca đến nhà với bức thư và tro cốt của bố mẹ cô Dường như những điều tiên tri của anh là một biểu hiện của một con người dị biệt Sau này, khi đang tham chiến, anh đã gửi về gia đình với một lời tiên đoán “Hãy trông nom cha cẩn thận vì cha sẽ mất.” (8,165) và điều này làm cho Ucsula thảng thốt Cuộc đời của Aureliano là sự trải dài của những dự cảm, dự báo Chàng đã dự cảm được cái kết cụ bi thảm của các con mình Và trong chuỗi dài những ngày tháng cô đơn thầm lặng, trong sự giằng xé điên cuồng, “đại tá Aureliano Buendia ra sức tìm kiếm một cách vô ích những điềm báo từng đưa tuổi trẻ của ngài theo những con đường nguy hiểm tới

sa mạc bi thảm của vinh quang.” (8,272) Như vậy có thể thấy từ trong tiềm thức của ngài đại tá Aureliano là nỗi cô đơn tiền định, những lời tiên tri của ngài cũng chính là sự thức tỉnh của cõi cô đơn cá biệt trong con người ngài Điều đang nói, đến cuối đời chàng mới kịp lục tìm lại trong mớ hỗn độn những lời tiên tri của mình về định mệnh cuộc đời Ngài sống trong sự vô thức, tham chiến trong vô thức, và tự giam mình trong căn phòng thí nghiệm cũng trong vô thức Cuối cùng sự vô thức về quyền lực và sự hư ảnh về bản thân diễn ra trong tâm hồn ngài chính là sự thắng thế của cái cô đơn tiền định

Trang 32

an bài với khả năng đặc biệt ngay từ khi còn trong bụng mẹ Anh khao khát

tự do, công bằng và đam mê chiến trận nhưng tất cả những lần phát binh của anh đều thất bại Cuối cùng anh trở về với hình ảnh quen thuộc của cha mình, tự lưu đày trong phòng thí nghiệm với những con cá vàng, sống trong vô thức và chết trong cô đơn

Nhân vật trong Trăm năm cô đơn luôn bị trói buộc vào những giấc mơ

ám ảnh, họ cố sống, cố chấp nhận, dè chừng nó Nhưng nỗi ám ảnh đó càng đeo bám, ăn mòn hủy hoại tâm trí họ Và họ càng ngày càng bị đẩy xa khỏi cộng đồng, sống theo một lối mòn cũ, tự nhốt mình trong bóng tối cô đơn của chính bản thân mình

Trang 33

CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT CÔ ĐƠN BỊ ÁM ẢNH TÍNH DỤC

“Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục” là một trong những tác phẩm chủ yếu của Freud trên con đường xây dựng phân tâm học được công bố vào năm 1905 Công trình này làm rõ cơ sở lý thuyết về các chứng nhiễu tâm, giải thích nhu cầu dồn nén và những nguồn năng lực xúc cảm nằm bên dưới những vận động và những ứng xử có ý thức và vô thức của con người Freud đã gọi năng lực đó là Libido Trong công trình này, Freud đã chỉ rõ: Đời sống tính dục của con người không phải được bắt nguồn vào tuổi dậy thì mà trái lại được biểu hiện rất sớm từ khi con người mới sinh ra Khái niệm tính dục khác hẳn với khái niệm sinh dục chứa đựng một nghĩa rộng hơn nhiều và bao gồm nhiều hoạt động không có liên quan với cơ quan sinh dục Đời sống tính dục bao hàm chức năng cho phép thu được các khoái cảm từ những vùng khác nhau của thân thể Các vùng cơ thể gây khoải cảm cho con người, Freud gọi là các vùng kín dâm, đầu tiên là miệng, sau đó là hậu môn, tiếp theo là toàn bộ những bí mật của cơ thể do

bị trẻ tự khám phá ở thân thể của nó Từ những phân tích sâu sắc về tính dục, Freud đã đi đến xem xét những sự loạn dâm, thói phô bày, ác dâm, khổ dâm … đều là những hiện tượng có thật trong đời sống tính dục của con người Đặc biệt Freud đã phân tích khá sâu những biến đổi tính dục ở tuổi dậy thì, chấm dứt thời kỳ tiềm ẩn của đời sống tính dục Các công trình này đã khẳng định khái niệm cơ bản do Freud đề xướng là “Libiolip” giúp chứng minh cho sức mạnh của cái vô thức Theo Freud, đam mê tính dục giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống tâm lý, là cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần con người, đâu đâu cũng thấy đam mê tính dục hoàn thành Đó là nguyên nhân của bênh tâm thần cũng như của mọi sáng tạo, kể

cả văn học nghệ thuật Đam mê đó trong học thuyết Freud là trung tâm của các bản năng và được gọi là “mặc cảm Ơ-đíp” (13,75)

Trang 34

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: tính dục là đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao Sigmund Freud quan niệm: Tất cả các hiện tượng tâm thần của con người xét về bản chất là hiện tượng vô thức Và đam mê tính dục có một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống tâm lí con người Đam

mê tính dục đã tạo ra nguồn năng lượng cực kì mạnh mẽ, cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần, nguyên nhân mọi bệnh tâm thần cũng như khả năng lao động sáng tạo ở con người Đồng thời ông cũng lưu ý khái niệm tính dục khác với sinh dục nó chứa đựng một nghĩa rộng hơn nhiều và bao hàm nhiều hoạt động không có liên quan đến cơ quan sinh dục

Ngay từ những năm 1970, Ủy ban Giáo dục và Thông tin về tình dục ở

Mỹ đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: Tính dục là tổng thể con người bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần

và văn hóa của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại

xã hội

Phật pháp cho rằng dục tính là nhân tính Phật pháp quan niệm tính dục nằm trong phạm trù của chữ “dục” Mà dục ở đây là dục vọng, là sự ham muốn của con người Khi dục vọng của con người quá lớn sẽ gây hại đến bản thân và xã hội

Từ quan niệm của Freud đến giáo lý nhà phật đều cho thấy tính dục là

những ham muốn không chỉ ở ham muốn tình dục Trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, tính dục không chỉ giới hạn trong tình dục mà nó mở rộng ra

các đam mê quyền lực, đam mê hưởng thụ vật chất của các nhân vật trong tác phẩm

Trang 35

2.1 Vấn đề tình yêu, tính dục trong sáng tác của Gabriel Garcia

Marquez

G Marquez một nhà văn gạo cội, được người đọc biết đến với những

tác phẩm đình đám như: Trăm năm cô đơn, Tình yêu thời thổ tả, Ngài đại

tá chờ thư, Tướng quân giữa mê hồn trận, Những cô điếm buồn của tôi …

Đã để lại nhiều băn khoăn, trăn trở trong lòng bao thế hệ về tình yêu và sự

cô đơn Với tư duy nghệ thuật độc đáo, Marquez đã thể hiện trong tác phẩm của mình một tình yêu vừa ngây thơ vừa sâu sắc, mãnh liệt đối với con người, với cuộc đời Có lần G.G Marquez đã nói: Trên thực tế, mỗi nhà văn chỉ viết một cuốn sách Cuốn sách mà tôi đang viết là cuốn sách về “cái

cô đơn” Sự cô độc thường xuất hiện trong các tác phẩm của Marquez Ông khai thác sự cô độc trong tình yêu, trong mỗi cá nhân và trong cả đời sống nhân loại

Trong tác phẩm Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Marquez

xây dựng nên cuộc đời của một nhà báo già Sinh ra trong một gia đình trung lưu nhưng ông sớm mồ côi cha mẹ Trong căn nhà cũ kỹ, ông đã sống một cuộc đời hoàn toàn cô đơn, không có vợ con, không bạn bè Ông đã từng dạy ngữ pháp tiếng Latinh và Tây Ban Nha Sau đó, ông biên tập tin tức và viết bình luận âm nhạc cho một tờ báo địa phương đến năm 90 tuổi

Và chính trong buổi sáng kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 ấy, ông bỗng ao ước

có một đêm tình ái nồng say với một thiếu nữ còn trinh nguyên Cái ý muốn đó thôi thúc ông đến độ ông tìm cách liên hệ với một người đàn bà mối lái mà ông quen từ ngày còn trẻ, nhờ bà ta giúp đỡ bất chấp nỗi xấu hổ Ông đã đến nơi hẹn với một cô bé đang say ngủ Khi ông ra về, ông đặt lên trán cô nụ hôn vĩnh biệt và lời cầu Chúa giữ hộ trinh tiết cho cô Nhưng chính sự cô đơn của tuổi già đã khiến ông nhiều lần nữa đến gặp cô bé Mỗi lần, ông lại thêm yêu thương cô Ông đem những bức tranh, những bó hoa, những cuốn sách … bày trong căn phòng để sớm mai, khi thức dậy, cô bé

Trang 36

cảm thấy ấm cúng Ông nhận thấy sự hiện diện vô hình của cô trong căn nhà vắng lặng của ông Cuộc sống nhàm tẻ, khổ cực của ông như có một ý nghĩa, đó là niềm yêu thương, lo lắng cho tương lai của cô bé Lần đầu tiền, ông nhận ra “niềm thích thú thực sự khi được ngắm nhìn thân thể người phụ nữ ngủ say mà không bị áp lực của dục vọng hay bối rối vì ngượng ngùng”

Đối với G.G.Marquez viết về “cái cô đơn” của một con người, một dòng họ, một đất nước chính là để “sáng tạo ra một huyền thoại khác hẳn, một huyền thoại mới, hấp dẫn của cuộc sống, nơi không ai bị kẻ khác định đoạt số phận mình, ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự; và nơi những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ nhất để tái sinh trên mặt đất này.” (Diễn văn nhận giải Nobel văn chương của Marquez – theo Nguyễn Trung Đức)

Ở một tác phẩm khác, cũng cày xới trên mảnh đất truyền thống là tình yêu nhưng tác phẩm đã đạt tới đỉnh cao mới bởi tính độc đáo và lạ lùng của

nó Đó là Tình yêu thời thổ tả một câu chuyện cảm động của hai nhân vật

chính Phecmina Đaxa và Phlôrêntinô Arixa Họ giống như rất nhiều cặp tình nhân không lấy được nhau vẫn yêu nhau Nhưng họ khác biệt ở cái cách thức yêu Họ yêu nhau bằng sự chờ đợi, không nổi loạn, không cướp đoạt, không vụng trộm Chờ hết quá nửa đời người, cho đến khi ông chồng của Phecmina Đaxa chết vì già yếu Nhưng ngày gặp lại, cả hai đều đã thuộc vào “thất thập cổ lai hy” Trong con mắt của những người xung quanh, họ không còn sức để yêu nữa Nhưng họ lại rủ nhau lên một chiếc tàu thủy, giương lên một lá cờ màu vàng để thông báo trên tàu có người bị thổ tả Trên “vương quốc của thổ tả” họ tha hồ yêu nhau, yêu như chưa bao giờ được yêu, yêu bù đắp cho cả cuộc đời chờ đợi của họ Yêu như những nam thanh nữ tú mới lớn … Để được bên nhau, con tàu của họ cứ chạy đi,

Trang 37

chạy lại trên sông, không cập mạn bất cứ một bến nào Bằng cách đó, nỗi

cô đơn ngự trị trong trái tim hai người trong vòng “năm mươi ba năm bảy tháng một ngày và đêm” đã được dỡ bỏ là lấp đầy bởi tình yêu đích thực Phải chăng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đã giúp Marquez chuyển tải được tất cả những điều được coi là lạ lùng và độc đáo đó Tình dục được phô diễn ở mọi cấp độ khiến tác phẩm khi ra đời đã gây ấn tượng mạnh mẽ và

ăn khách chưa từng thấy

Tình yêu thời thổ tả là sự suy nghĩ về tình yêu của con người ở mọi lứa

tuổi Con người không chỉ yêu nhau ở độ xuân sắc, mà còn yêu nhau khi đầu bạc răng long Có lẽ cũng chính ở độ tuổi này, họ yêu nhau lại càng chân thành hơn, da diết hơn, si mê hơn Tình yêu chính là chiếc chìa khóa

để mở cánh cửa tâm hồn, giải thoát sự cô đơn Đây cũng chính là thông điệp, lời cảnh tỉnh của Marquez đối với những ai đùa bỡn với tình yêu để thỏa mãn nhục dục Những người đó sẽ bị sự cô đơn đeo bám sau khi đã thõa mãn nhục dục Lời cảnh tỉnh này, sẽ còn quay lại trong nhiều tác phẩm của Marquez, mà điển hình là sự cô đơn của những con người trong dòng

họ Buenđia luôn bị nỗi ám ảnh về tình dục dày vò, rơi vào cái hố sâu cô đơn của chính cuộc đời mình

Trong tự truyện Sống để kể lại, và cuốn tiểu thuyết mang màu sắc tự thuật Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, mang màu sắc, hơi hướng

mối tình của ông bà ngoại tác giả Chính ông ngoại Nicolas Ricardo Marquez Meija đã góp phần tạo nên cảm hứng giúp tác giả xây dựng nên hình tượng nhân vật F.Ariza u sầu, si tình nhưng phóng túng và tham dục

Trong Tình yêu thời thổ tả, đại tá Nicolas Ricardo Marquez Meija mặc dù

phản đối cuộc hôn nhân của con gái yêu Luisa Santiaga với một chàng trai phóng túng, nhưng ngay chính bản thân ông là một người tham dục hào hoa hơn cả con rể tương lai của mình Thuộc tính hào hoa tham dục của cả ông ngoại và cha mình đã được Marquez kết hợp nhằm sáng tạo nên một

Trang 38

F.Ariza với lịch sử huy hoàng hơn 620 mối tình chính thức và vô số những cuộc tình chớp nhoáng Trong mối quan hệ tình ái của G.G Marquez và những người tình, có thể nhận thấy một số đặc điểm gần như tương đồng với các mối quan hệ tình ái của F.Ariza Vụng trộm với các bà quả phụ, các quý bà ngoại tình: Thông qua các văn bản có tính chất tự thuật lại tiểu sử của mình, chúng ta có thể thấy đặc điểm đầu tiên cần xét đến trong mối quan hệ tình ái giữa Marquez với những người tình, đó là rất hiếm có những cô gái còn trẻ và chưa có chồng Đa số nhân vật người tình của ông

là những bà góa, những mệnh phụ xa chồng, chán chồng hoặc chê chồng Chính những sự quyến rũ kì lạ và một niềm đam mê khó tả đó đã tạo cảm hứng cho Marquez Có thể nói một loạt những mối tình vụng trộm, bí mật, chớp nhoáng và đầy màu sắc tính dục đã góp phần làm nên sắc màu tình

yêu đa dạng trong tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả Nó chỉ ra mặt bản năng

phồn thực tất yếu của tình yêu, nhưng đồng thời cũng làm rõ những năm tháng trống rỗng và cô đơn của nhân vật F.Ariza trong sự chờ đợi và vết thương lòng mà tình yêu bất diệt với F.Daza gây ra

Tính dục trong sáng Tình yêu thời thổ tả còn thể hiện qua những mối

quan hệ đa bạn tình và thường xuyên quan hệ với gái điếm Trong sáng tác của G.G.Marquez gái điếm là một đối tượng thẩm mỹ Những cô gái điếm biểu trưng cho niềm đam mê khoái lạc mãnh liệt từ phía nam giới, thể hiện quyền uy của giới nữ trong năng lực tình dục, đồng thời biểu hiện cho một nền văn hóa với nhiều sa đọa và cũng đầy cởi mở trong tình ái Tuy nhiên các nhân vật của Marquez tuy sôi nổi và ham muốn dục vọng nhưng đều là những con người u sầu trong tình ái, chính nỗi ám thị đó lại là sức hút mãnh liệt trong nội tâm u uất của các nhân vật

Trang 39

2.2 Yếu tố tính dục trong tác phẩm Trăm năm cô đơn

Trăm năm cô đơn được Marquez chính thức viết năm 1967 thì hoàn thành và xuất bản Nhưng như lời của ông, Trăm năm cô đơn được hoài

thai từ hai mươi năm trước Từ năm 1970 tác phẩm này được in ra hàng triệu bản, sau đó tải bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, trở thành cuốn sách ăn khách Cùng với giải Nobel văn học 1982 quyển sách cùng với tác giả của nó trở thành một hiện tượng trong văn học

Trăm năm cô đơn được đánh giá là sản phẩm tuyệt với của hư cấu nghệ thuật Điểm nổi bật của Trăm năm cô đơn còn ở nỗi ám ảnh về tội loạn luân

đã đẩy những con người nơi đây chìm sâu vào nỗi cô đơn Họ cô đơn trong chính ngôi nhà của mình Cô đơn giữa những người thân thuộc Cô đơn trên chiếc giường của mình, trong giấc mơ của mình … và cuối cùng sau một trăm năm tồn tại, ngôi làng Macondo bị xóa sổ Nghiên cứu tiểu thuyết

Trăm năm cô đơn dưới góc nhìn phân tâm học, trước hết tôi tìm hiểu nó

dưới góc nhìn vô thức của tính dục Mà như đã nói ở trên, tính dục trong tác phẩm này không chỉ dừng lại ở tình dục, nó còn là đam mê quyền lực, đam mê hưởng lạc và mặt vật chất … của mỗi thành viên trong làng Macondo hay cũng chính là mỗi thành viên trong dòng họ Buenđia

Marquez viết về vấn đề tính dục trong tác phẩm của mình ở nhiều phương diện phản ánh: từ không gian mang tính dục cho đến nhân vật mang tính dục, những mối quan hệ tình dục chằng chéo của những con người cùng huyết thống

2.2.1 Macondo không gian mang tính dục

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê cắt nghĩa: Không gian là

khoảng không bao trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người (24,633) Không gian nghệ thuật theo cách hiểu của Lê Bá Hán

trong cuốn sách Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: Không gian nghệ

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Đình Ca (1967), “Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nền văn học châu Mỹ La tinh”, Tạp chí văn học (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nền văn học châu Mỹ La tinh”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đoàn Đình Ca
Năm: 1967
2. Lê Nguyên Cẩn (2000), “Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Nguyên Cẩn (2000), “Cô đơn nghĩa là sự tiêu diệt”", Tạp chí Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2000
3. Lê Nguyên Cẩn (1999) Cài kì ảo trong tác phẩm của Balzac, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cài kì ảo trong tác phẩm của Balzac
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Đỗ Đức Dục (1988, tr 59 - 65), “Từ Đông ki sốt đến Trăm năm cô đơn”, Tạp chí Văn học (số tháng 2) tr 59 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Đức Dục (1988, tr 59 - 65), “Từ Đông ki sốt đến Trăm năm cô đơn”, "Tạp chí Văn học
5. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Nguyễn Trung Đức (1995) “Hiệu quả nghệ thuật của không - thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G.Márquez”, Tạp chí Văn học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trung Đức (1995) “Hiệu quả nghệ thuật của không - thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G.Márquez”", Tạp chí Văn học
7. Nguyễn Trung Đức (2002), Từ chân trời một phía đến chân trời nhiều phía, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chân trời một phía đến chân trời nhiều phía
Tác giả: Nguyễn Trung Đức
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
8. Márquez Gabriel García (2004), Nguyễn Trung Đức dịch ,Trăm năm cô đơn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăm năm cô đơn
Tác giả: Márquez Gabriel García
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
9. Márquez Gabriel García, Nguyễn Trung Đức dịch (2007), Truyện ngắn tuyển chọn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn tuyển chọn
Tác giả: Márquez Gabriel García, Nguyễn Trung Đức dịch
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
10. Márquez Gabriel García, Nguyễn Trung Đức (2004), Tình yêu thời thổ tả, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình yêu thời thổ tả
Tác giả: Márquez Gabriel García, Nguyễn Trung Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Phan Minh Hạc (1980), Nhập môn tâm lý học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn tâm lý học
Tác giả: Phan Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
14. Nguyễn Thị Hảo (2010), Thời gian và không gian huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez, luận văn thạc sĩ, ĐHKHXH và NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian và không gian huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez
Tác giả: Nguyễn Thị Hảo
Năm: 2010
15. Vũ Trung Kiên (2005), Nghệ thuật tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của Gabrriel García Márquez, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của Gabrriel García Márquez
Tác giả: Vũ Trung Kiên
Năm: 2005
16. Phương Lựu (1995), Tìm hiểu Lý luận văn học Phương Tây hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Lý luận văn học Phương Tây hiện đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
17. Nguyễn Đức Nam (số 1 năm 1975, tr 110 – 120), Một khuynh hướng trong tiểu thuyết hiện tiến bộ ngày nay ở Châu Mỹ Latinh: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một khuynh hướng trong tiểu thuyết hiện tiến bộ ngày nay ở Châu Mỹ Latinh: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
18. Nguyễn Hữu Tấn (SH289/03/13 2013), Vô thức trong văn học, Tạp chí Sông Hương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô thức trong văn học
19. Đỗ Lai Thúy (2004), Phân tâm học và Văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
20. Đỗ Lai Thúy (2001), Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóa tâm linh
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w