1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh thái bình hiện nay

102 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 862,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ THƯƠNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Mã số: Đào tạo thí điểm

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THƯƠNG

ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Mã số: Đào tạo thí điểm Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Thế Hanh

Hà Nội, 2014

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC VIẾT TẮT 5

LỜI CẢM ƠN 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài: 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 11

3 Mục tiêu nghiên cứu: 14

4 Phạm vi nghiên cứu: 14

5 Mẫu khảo sát: 14

6 Vấn đề nghiên cứu: 14

7 Giả thuyết nghiên cứu: 14

8 Phương pháp nghiên cứu: 14

9 Kết cấu luận văn: Chia làm 03 chương 15

CHƯƠNG 1 16

LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 16

1.1 Một vài khái niệm 16

1.1.1 Khái niệm đào tạo và các khái niệm liên quan 16

1.1.2 Khái niệm Nghề 17

1.1.3 Khái niệm đào tạo nghề 18

1.1.4 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn 21

1.1.4.2 Vị trí, vai trò của việc làm 23

1.1.4.3 Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 24

1.2 Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn: 25

1.2.1 Số lượng và chất lượng lao động ở nông thôn đã qua đào tạo nghề còn thấp 25

1.2.2 Nguyên nhân khiến số lượng và chất lượng lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề thấp 28

1.3 Mối quan hệ giữa đào tạo nghề và giải quyết việc làm 30

CHƯƠNG 2 31

Trang 4

2

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY 31

2.1 Một số đặc điểm, tình hình của Tỉnh Thái Bình liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay 31

2.1.1 Vài nét về tỉnh Thái Bình 31

2.1.2 Thực trạng đào tạo nghề hiện nay 35

2.2 Thực trạng công tác đào tạo nghề ở Thái Bình 47

2.2.1 Mặt tích cực: 50

2.2.2 Tồn tại, hạn chế: 51

2.2.3 Một số nguyên nhân cơ bản 51

2.3 Triển khai đề án đào tạo nghề cho lao động trong Tỉnh năm 2014 52

2.3.1 Xác định rõ từng mục tiêu của Đề án đào tạo nghề cho lao động trong Tỉnh cần đạt được trong năm 2013 52

2.3.2 Tuyên truyền 53

2.3.3 Điều tra, khảo sát 53

2.3.4 Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề 54

2.3.5 Hỗ trợ lao động nông thôn học nghề và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã 54

2.3.6 Giám sát, đánh giá 55

2.4 Thực trạng giải quyết việc làm ở Thái Bình 55

2.4.1 Thực trạng lao động, việc làm: 55

2.4.2 Thực trạng giải quyết việc làm hiện nay 58

2.5 Những chính sách của UBND Tỉnh Thái Bình về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động hiện nay 64

Làng Nguyễn: Làng Nguyễn chỉ là một tên gọi khác của xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình Nói tới Thái Bình là mọi người nghĩ ngay đến một món đặc sản đó là Bánh Cáy Làng Nguyễn.Bánh Cáy ngày nay đã trở thành một đặc sản của Thái Bình và Làng Nguyễn đã trở thành cái nôi sản sinh ra món đặc sản đó 66

Làng Chiếu Hưng Nhân: Làng Hới (Thái Bình) có nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng ở nước ta Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hà theo tên huyện mới, và chiếu Thái Bình (tên tỉnh) 66

Trang 5

3

Làng vườn Bách Thuận: Làng Bách Thuận nằm cách Thành phố Thái Bình

10 km theo hướng Cầu Tân Đệ đi Nam Định thuộc huyện Vũ Thư Nơi đây có chùa Từ Vân và chùa Bách Tính đã được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử, là một điểm du lịch để du khách đến thăm quan, vãn cảnh Du khách

trong và ngoài nước rất thích thú với cảnh quan, môi trường sinh thái ở làng

vườn Bách Thuận này (nguồn Thaibinh.gov.vn) 66

CHƯƠNG 3 70

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY 70

3.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 70

3.2 Chủ trương, kế hoạch phát triển đào tạo nghề nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh Thái Bình trong những năm tới 76

3.2.1 Quan điểm, định hướng quy hoạch 77

3.2.2 Mục tiêu quy hoạch 77

3.2.2.1 Mục tiêu tổng quát 77

3.2.2.2 Mục tiêu cụ thể 78

3.2.3 Nội dung quy hoạch 78

3.2.3.1 Mạng lưới cơ sở dạy nghề 78

3.2.3.2 Cơ cấu ngành nghề đào tạo 78

3.2.3.3 Cơ sở vật chất 79

3.2.3.4 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề 79

3.2.3.6 Xã hội hóa hoạt động dạy nghề 80

3.2.4 Một số giải pháp cơ bản 80

3.2.4.1 Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển dạy nghề 80

3.2.4.1.1 Nhu cầu kinh phí 80

3.2.4.1.2 Huy động, sử dụng nguồn vốn: 80

3.2.4.2 Giải pháp về chế độ, chính sách 81

3.2.4.3 Giải pháp về pát triển dội ngũ giáo viên dạy nghề 82

3.2.4.4 Giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, chương trình, giáo trình dạy nghề 83

Trang 6

4

3.3 Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay 83

3.3.1 ần nâng cao nhận thức xã hội về vai tr , vị trí của đào tạo nghề và học

nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội 83 3.3.2 Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo nghề 85 3.3.3 Phát triển mạng lưới các cơ sở dạy nghề, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy nghề và học nghề nhằm phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nghề 88 3.3.5 Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình đào tạo

nghề 90 3.3.6 Xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động 91 3.3.7 Tăng cường nguồn lực và đầu tư quốc tế cho đào tạo nghề, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo nghề 92

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

5

DANH MỤC VIẾT TẮT

1 CNH- HĐH: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa

2 HNTƯ: Hội nghị Trung ương

3 KHKT: Khoa học kỹ thuật

4 KT-XH: Kinh tế- Xã hội

5 ILO: Tổ chức lao động quốc tế

6 UBND: Uỷ ban nhân dân

7 LLVTND: Lực lượng vũ trang nhân dân

15 DS-KHHGĐ: Dân số- kế hoạch hóa gia đình

16 TTDN: Trung tâm dạy nghề

17 Sở LĐTB&XH: Sở Lao động Thương binh & Xã hội

18 GTSX: Gía trị sản xuất

19 CN-TTCN: Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp

20 DN: Doanh nghiệp

Trang 8

bất cập và hạn chế Vì vậy, vấn đề “Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao

động nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay” được tôi chọn làm đề tài luận văn cao

học của mình với hy vọng góp thêm những giải pháp giúp cho người lao động nông thôn ở Thái Bình được đào tạo nghề và tạo việc làm ổn định

Để hoàn thành sản phẩm nghiên cứu này, trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đoàn Thế Hanh đã nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.Đồng thời tôi xin cảm ơn sự dạy dỗ, chỉ bảo của các thầy cô trong suốt khóa học

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cô, chú, và các bác làm việc tại Sở TB&XH Tỉnh Thái Bình đã cung cấp và bổ sung những số liệu cần thiết cho tôi sử dụng trong luận văn của mình

LĐ-Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ và khích lệ nhiệt tình của các anh, chị và các bạn cùng khóa học với tôi

Khóa luận này là sản phẩm nghiên cứu của tôi nên về nội dung và hình thức khó tránh khỏi những khuyết điểm và hạn chế Tôi rất mong nhận được góp ý của thầy cô và bạn bè cho tôi rút kinh nghiệm và có bài học quý báu để hoàn thiện hơn sản phẩm nghiên cứu của mình ở hiện tại và tương lai

Trang 9

hệ thống giáo dục quốc dân đó

Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, công nghệ, nhiều ngành sản xuất mới xuất hiện đòi hỏi trình độ tay nghề và độ chính xác cao như viễn thông, tin học, điện tử… Đặc biệt với nước ta, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ với những chính sách ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài nên lượng doanh nghiệp FDI ngày càng nhiều với đa dạng các ngành sản xuất Chính yếu tố này đã đặt ra nhiều vấn đề với đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng để đáp ứng yêu cầu xã hội và sản xuất Một thực tế đặt ra là, mặc dù có nhiều cơ sở dạy nghề được mở ra, hệ thống trường dạy nghề được đầu tư, các ngành nghề hết sức phong phú nhưng lượng người học không nhiều, các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI

không tuyển được lao động như mong muốn

Ngoài ra bên cạnh việc dạy nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu xã hội thì việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng cần được chú trọng hơn nữa Đây là nguồn nhân lực hết sức quan trọng, có năng suất lao động và trình độ tay nghề cao, mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài, bền vững

Để thực hiện được mục tiêu này, ngoài việc các cơ sở đào tạo chủ động, tích cực chuẩn bị thì các cơ quan quản lý Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề và xây dựng cơ cấu ngành nghề, góp phần định hướng cho cơ sở đào tạo Đồng thời, có chính sách khuyến khích, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tránh tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” hiện nay

Tình hình lao động nông thôn thời kỳ CNH, HĐHđặt ra yêu cầu nhất định về trình độ học vấn và tay nghề Do đó, đào tạo và bồi dưỡng nghề là giải pháp cơ bản

để giải quyết việc làm ở nông thôn Với điều kiện kinh tế và lao động nông thôn

Trang 10

đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn

và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới.Theo

đó, mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho gần 17 triệu lao động nông thôn nhằm

mở ra nhiều cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn Trong đó, giai đoạn 2009 – 2010 dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động; giai đoạn

2011 – 2015 đào tạo nghề cho 5,2 triệu lao động (bồi dưỡng kiến thức 500.000 cán

bộ, công chức xã); giai đoạn 2016 – 2020 đào tạo nghề cho 6 triệu lao động (bồi dưỡng kiến thức 500.000 cán bộ công chức xã) Như vậy, bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động (đào tạo, bồi dưỡng 10.000 lượt cán bộ, công chức xã) Cũng theo mục tiêu của Đề án, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu

từ 70- 80% Tổng kinh phí của đề án dự kiến là 25.980 tỷ đồng, trong đó kinh phí dạy nghề lao động nông thôn là 24.694 tỷ đồng; kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã 1.286 tỷ đồng

Theo Tổng Cục dạy nghề, tính từ năm 2010 đến hết tháng 6/2013 đã hỗ trợ dạy nghề theo chính sách của đề án được 1.294.608 người Trong đó 78,9% có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ với năng suất, thu nhập cao hơn, 44,1% có việc làm nông nghiệp, 23,5% được doanh nghiệp tuyển dụng… Người học nghề nông nghiệp đã tiếp thu được kiến thức, kỹ năng cơ bản để hành nghề trồng trọt, chăn nuôi, góp phần nâng cao chất lượng và giảm chi phí sản xuất, thu nhập Nghề trồng thuốc lá tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Tây Ninh, Gia Lai… sản lượng tăng 15 – 20% Nghề trồng sắn ở Quảng Trị năng suất tăng 1,5 lần, đạt 17 – 18 tấn/ha, thu nhập đạt

40 – 50 triệu/ha Nghề trồng lúa chất lượng cao ở Hậu Giang, sản lượng tăng từ 0,5 – 0,7 tấn/ha/vụ, giảm chi phí sản xuất từ 2 – 2,3 triệu đồng/ha so với trước khi học

do người học biết cách tính toán… Đã có nhiều mô hình dạy nghề có hiệu quả, nhiều điển hình lao động đã trở thành chủ trang trại, tổ hợp tác Đơn cử như chị Phan Thị Hạnh ở xã Tam Tiến, Yên Thế, Bắc Giang, từ học nghề nuôi gà đồi, chị đã

tổ chức nuôi gà mía thả đồi, thunhập từ nuôi gà khoảng 200 - 300 triệu đồng/năm

Trang 11

9

Anh Đỗ Văn Trường ở xã Hải Đường, Hải Hậu, Nam Định học nghề mộc mỹ nghệ

và đã lập tổ sản xuất với 25 lao động, thu nhập của lao động từ 120.000 đến 150.000 đồng/người/ngày… Đó chỉ là hai trong số nhiều lao động nông thôn tìm được hướng đi đúng sau khi học nghề, đã giúp họ đổi đời, thoát nghèo và tạo công

ăn việc làm cho bà con trong xã Tuy nhiên, tỷ lệ lao động “sống” được với nghề còn ít, các ngành nghề phi nông nghiệp hầu như không có người học vì nhu cầu sử dụng lao động phi nông nghiệp tại các vùng nông thôn rất ít Trong khi đó, một số nghề mà học viên có nhu cầu thật sự lại không có trong danh mục đào tạo nghề Bất cập nhất là việc đào tạo nghề ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chưa tính đến tính khả dụng của nghề sau khi được đào tạo và cả đặc điểm địa lý, văn hóa các vùng này Đề án được đầu tư lớn, nhưng nhiều lao động nông thôn khi được đào tạo xong vẫn không có việc làm, nhiều người vẫn làm nghề nông hoặc sản xuất theo phương thức cũ Một số lao động vẫn không tha thiết với dạy nghề mà tìm kiếm các

cơ hội việc làm tại các thành phố lớn do người lao động không có vốn để chuyển sang nghề mới, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ, thời gian học ngắn không đủ

để thành thạo nghề Dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay mới chỉ đạt đến hiệu quả đào tạo, đào tạo cho đủ chỉ tiêu, chứ chưa chú trọng gắn với nhu cầu của xã hội Việc đào tạo nghề phải gắn với nhu cầu của xã hội Hàng năm có kế hoạch khảo sát thị trường lao động, nắm bắt kịp thời thông tin lao động theo từng nghề để có cơ sở

tư vấn, định hướng kịp thời cho người lao động xác định chọn đúng nghề để học hoặc tự tạo được việc làm ổn định, tránh tình trạng người lao động sau khi đào tạo không tìm được việc làm hoặc không tự tạo được việc làm phù hợp gây lãng phí tiền của Nhà nước cũng như công sức, thời gian của người đi học Hỗ trợ tìm đầu ra cho sản phẩm cũng là một cách thức quan trọng để thu hút người lao động học nghề

và gắn bó với nghề mà mình được học Có như vậy người lao động mới mặn mà với các chương trình đào tạo do đề án mang lại

Hiện nay, chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói chung và phát triển kinh

tế nông thôn nói riêng luôn gắn với sự phát triển của nguồn lực con người vì thực

tế, dù ở giai đoạn phát triển nào con người vẫn là trọng tâm quyết định sự thay đổi của xã hội Vì vậy, nguồn nhân lực cần phải qua đào tạo để phát triển toàn diện hơn gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Một trong những mảng đào tạo

Trang 12

Năm 2010, Thái Bình triển khai các dự án đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn, giải quyết việc làm, hỗ trợ kinh phí đào tạo cho sinh viên, những hộ gia đình thuộc diện thu hồi đất, đã đạt được một số kết quả nhất định Đây cũng là một trong

19 tiêu chí của chương trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình đã và đang được

ưu tiên thực hiện

Thái Bình xác định nhóm giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động là phát triển kinh tế - xã hội Tập trung phát triển toàn diện sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và sản lượng, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế biển Thực hiện đồng thời các biện pháp đẩy mạnh thâm canh, luân canh tăng vụ, hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa tập trung như: lúa gạo, rau quả xuất khẩu; đánh bắt, nuôi trồng các loại cây – con có giá trị kinh tế cao Khôi phục, phát triển nghề thủ công và làng nghề, hình thành các khu công nghiệp tập trung để chuyển dịch lao động nông nghiệp sang khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất

Về nhóm giải pháp hỗ trợ trực tiếp, tạo điều kiện để nhân dân tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm.Tỉnh đã tập trung quy hoạch lại mạng lưới trường, trung tâm dạy nghề, lập quỹ để hỗ trợ đào tạo nghề.Củng cố, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo nghề.Khuyến khích, tạo điều kiện đưa dạy nghề về xã, phường Tỉnh đã thành lập tại Trường dạy nghề giao thông vận tải, thành lập 7 trung tâm dạy nghề, cấp giấy phép mở trường dạy nghề cho 30 cơ sở Năm 2004, tỉnh đã triển khai dự án

dạy nghề cho 2500 lao động ở 12 xã thuộc 4 huyện

Trong thời gian tới, để giải quyết hiệu quả hơn vấn đề làm việc ở nông thôn, Thái Bình tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp kết hợp phát triển kinh

tế - xã hội, tăng việc làm tại chỗ với đưa lao động đi làm việc ở tỉnh ngoài, nước

Trang 13

11

ngoài Tuy nhiên, với Thái Bình nói riêng, khu vực nông thôn nói chung, để giải quyết vấn đề việc làm cần có sự hỗ trợ hơn nữa của Nhà nước, sự quan tâm, đóng góp của toàn xã hội Trước hết là phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương, giải pháp mà Nghị quyết HNTƯ 9 (khóa IX) đã chỉ ra là: “Đẩy mạnh giải quyết việc làm phải đi đôi với việc tăng cường năng lực quản lý nguồn lao động, thiết lập hệ thống thông tin, dự báo thị trường lao động, gắn kết chương trình giải quyết việc làm và dạy nghề, tập trung đào tạo có trọng điểm ở các lĩnh vực công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu học nghề, tìm việc làm đa dạng trên địa bàn Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động gắn liền với tăng cường công tác quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xuất khẩu Từng bước

đẩy mạnh xuất khẩu lao động có chất lượng cao”

Công tác cho vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, vay từ Ngân hàng phục vụ người nghèo, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm tại chỗ Đã có trên 3000 lượt dự án, vay trên 95 tỷ đồng từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, giải quyết việc làm cho 3,2 vạn lao động, trong đó tạo 1,4 vạn việc làm mới

Nhận thấy đào tạo nghề và giải quyết việc làm là 02 nhiệm vụ hàng đầu, cần chú trọng trong lao động nông thôn hiện nay nói chung và lao động nông thôn tại

tỉnh Thái Bình nói riêng nên tôi chọn vấn đề “Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm là công tác vô cùng quan trọng đối với

sự phát triển của nguồn nhân lực và nền kinh tế nước ta hiện nay Đây là vấn đề được rất nhiều tác giả quan tâm và chủ yếu các tác giả tập trung vào giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động ở nhiều khía cạnh khác nhau Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, liên quan đến vấn đề của luận văn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài viết xoay quanh vấn đề này, tiêu biểu như:

- Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của TS Nguyễn Hữu Dũng,

TS Trần Hữu Trung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997) Các tác giả của công trình này đã làm rõ thực trạng vấn đề việc làm của nước ta trong những năm 90 của

Trang 14

12

thế kỷ XX, từ đó đề xuất một số phương hướng giải quyết việc làm trong điều kiện kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam;

- Với tác phẩm: “ Việc làm ở nông thôn- Thực trạng và giải pháp”- NXB

Nông nghiệp, H, 2001, tác giả Chu Tiến Quang đã làm rõ thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn nước ta và đề xuất những giải pháp tạo cơ hội cho lao động nông thôn có thể tiếp cận đến việc làm

- ThS Hoàng Văn Phai, “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta

hiện nay: Vấn đề cần quan tâm”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 3/2011 đã đề cập

đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh

mẽ Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mất đất sản xuất, phải tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp nên rất cần được hưởng chính sách ưu đãi về đào tạo nghề Bên cạnh đó, chất lượng lao động ở nông thôn nước ta còn quá thấp Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của người lao động không thể tăng nhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Chính vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp bách

- TS Nguyễn Tiến Dũng, “Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kỳ hội

nhập quốc tế” đề cập đến vấn đề thiếu việc làm trong nông thôn hiện nay, qua đó đề

ra giải pháp và phương pháp đào tạo nghề nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, bổ sung nguồn lực có tay nghề cho đất nước

- Cuốn Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của Nguyễn Hữu

Dũng và Trần Hữu Trung nghiên cứu về chính sách việc làm ở Việt Nam trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nội dung công trình có thể khái quát trên một số vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận chính sách việc làm Các tác giả cho rằng : “vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải tạo

ra điều kiện và cơ hội để người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình, đồng thời góp phần cho xã hội Đó là nội dung cơ bản của chính sách việc làm”

Thứ hai, tiếp cận phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm Các tác giả cho rằng , chính sách việc làm phải đặt trong hoàn cảnh của quá trình chuyển đổi nền

Trang 15

13

kinh tế cũng như chủ trương đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế Đồng thời, chính sách việc làm cũng phải dựa trên sự sáng tạo của nhân dân, phục vụ hiệu quả công cuộc đổi mới phát tr

Thứ ba, công trình đã hệ thống khái niệm về lao động, việc làm Các tác giả

đề cập đến nội dung chủ yếu như quan điểm về lao động và việc làm, khái niệm cơ bản về lao động và việc làm được vận dụng ở nước ta

- Cuốn Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa trên

địa bàn thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Tiệp đã nêu những vấn đề lý luận và

thực tiễn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội Những đặc trung cơ bản của nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình đô thị hóa tác động chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn sang làm các công việc công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, quá trình đô thị hóa và hội nhập toàn cầu hóa kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp dịch vụ Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi nguồn nhân lực nông thông phải có sự đổi mới nâng cao chất lượng để thích ứng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Đô thị hóa và di chuyển lao động nông thôn ra thành thị trở thành xu hướng không thế cưỡng nổi, nó có tác dụng giảm sức ép căng thẳng về việc làm ở các vùng nông thôn và cung ứng lao động cho thị trường lao động ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu dụ lịch Dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị bao gồm có lao động nhập cư và sinh sống làm việc tại các thành phố và lao động nông thôn đến thành phố làm việc mang tính chất thời vụ Cuốn sách đã phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực nông thôn như động thái dân số, mức sống dân cư, giáo dục và đào tạo, tăng trưởng và phát triển kinh tế, việc làm và thu nhập, sự phát triển hệ thống giao thông và công nghệ thông tin, các chính sách của chính phủ Cuốn sách khẳng định phát triển nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, khẳng định vai trò trọng tâm của đào tạo phát triển nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận văn thạc sĩ viết về vấn đề việc làm như ở một số tỉnh: Đồng Nai, Hà Tĩnh, Kiên Giang ; ở Thái Bình, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh có ban hành "Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm từ 2000 -

Trang 16

14

2005"

Đề tài này đi sâu vào thực trạng đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn tại Tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó đưa ra nhận xét, đánh giá mặt mạnh, hạn chế của vấn đề này để tìm hướng giải quyết tối ưu nhất nhằm xây dựng nông thôn mới thực sự và giải quyết việc làm cho người lao động một cách hiệu quả

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở đánh giá thực trạng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại Tỉnh Thái Bình trong những năm qua, tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số khuyến nghị xây dựng chương trình đào tạo cơ bản, sát thực, hữu ích nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh nói chung, nguồn nhân lực ở nông thôn của tỉnh nói riêng,góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của tỉnh

4 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Tỉnh Thái Bình

Phạm vi thời gian: 03 năm từ năm 2010 đến năm 2013

7 Giả thuyết nghiên cứu:

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình diễn ra đa dạng, phổ biến, hiệu quả trong việc giải quyết việc làm cho lao động nơi đây

Có chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức mở các trung tâm đào tạo nghề thực tiễn tại các địa bàn trong tỉnh Thái Bình để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nơi đây

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Dựa hẳn vào phương pháp luận duy vật, biện chứng, đi từ phương pháp lịch sử tới logic

Trang 17

15

- Qua điều tra, khảo sát và xử lý số để phân tích, đánh giá, rút ra những nhận thức khoa học

9 Kết cấu luận văn: Chia làm 03 chương

- Chương 1: Lý luận chung về đào tạo nghề và giải quyết việc làm

- Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Tỉnh Thái Bình hiện nay

- Chương 3: Một số khuyến nghị xây dựng chương trình đào tạo cơ bản, sát thực, hữu ích nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Tỉnh Thái Bình

Trang 18

16

CHƯƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.1 Một vài khái niệm

1.1.1 Khái niệm đào tạo và các khái niệm liên quan

Wikipedia Tiếng Việt định nghĩa: Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định

Khái niệm đào tạo có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục.Thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình

độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo

Từ khái niệm trên ta thấy, để hiểu sâu hơn về đào tạo cần phải hiểu rõ các khái niệm liên quan đến đào tạo bao gồm giáo dục và phát triển:

Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tương lai

Đào tạo: (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng), được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình Nói một cách cụ thể, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn

Phát triển: là hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt, liên quan tới việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn hoặc mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức

Ba bộ phận đào tạo, giáo dục, phát triển hình thành việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng của con người

Các khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự: quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới, thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của

Trang 19

17

các cá nhân Điều đó cũng có nghĩa là giáo dục, đào tạo, phát triển được áp dụng để làm thay đổi việc nhân viên biết gì, làm như thế nào, và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp và các nhà quản lý

Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo nội bộ được thực hiện bên trong một doanh nghiệp, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện từ bên ngoài như: đào tạo sau đại học, ngoại ngữ, tin học, nâng cao tay nghề, dạy nghề, bồi dưỡng và nâng cao các

kỹ năng, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ, học tập và trao đổi kinh nghiệm, đào tạo chuyên sâu, chuyên đề, lý luận chính trị, đào tạo tại nước ngoài,…

- Ở Việt Nam, Khái niệm “nghề” cũng được định nghĩa hết sức đa dạng:

Từ điển Tiếng Việt (năm 1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”

Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

Trang 20

18

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn.Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”.Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện.Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau

Mặc dù khái niệm “nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:

- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại

- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội

- Là phương tiện để sinh sống

- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định

Hiện nay, xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động KHKT và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với

xu hướng phát triển KT-XH của đất nước

1.1.3 Khái niệm đào tạo nghề

Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai

Trang 21

19

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là: -Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định

Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung và đào tạo lại nghề

Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động được đào tạo nghề cho xã hội

Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề

Bồi dưỡng nâng cao tay nghề (Đào tạo nghề bổ sung): Bồi dưỡng có thể coi

là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn

Các hình thức đào tạo nghề:

Một trong những nhiệm vu quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình thức đào tạo thích hợp.Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác

Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:

- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức Kèm cặp trong

Trang 22

20

sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo

tổ chức, đội sản xuất Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát

ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước:

Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hướng dẫn thợ học nghề Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công nghệ, phương pháp làm việc Người học theo dõi những thao tác, phương pháp làm việc của người hướng dẫn Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý thuyết cho người học do kỹ sư hay kỹ thuật viên đảm nhận

Bước 2: Giao việc làm thử, người học bắt tay vào làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắn của người hướng dẫn

Bước 3: Giao việc hoàn toàn cho người học nghề khi người học nghề có thể tiến hành công việc độc lập được, những người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo dõi giúp đỡ

- Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực Chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp Chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất, phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán

bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ

sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn

- Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên

cơ sở kỹ thuật hiện đại, các bộ hoặc ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao Thời gian đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra trường được cấp bằng nghề Khi tổ chức các trường

Trang 23

21

dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xã hội.Nếu không

có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học.Các tài liệu và sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường

- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới một năm Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động

1.1.4 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

1.1.4.1 Khái niệm việc làm và các khái niệm liên quan đến việc làm

Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân, Điều 55 Hiến pháp

năm 1992 đã quy định:“Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và

xã hội có kế hoạch ngày càng tạo ra nhiều việc làm cho người lao động” Công dân

có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Do đó, hơn bao giờ hết, việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng Việc tìm hiểu về khái niệm, cũng như vai trò, vị trí của việc làm có ý nghĩa cả trong

lý luận và thực tiễn.Đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau về việc làm Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lí thì ta

có thể tóm tắt khái niệm việc làm như sau:

- Dưới góc độ kinh tế - xã hội:

Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm Việc làm

trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động

lao động nhất định Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ những người

hiện đang tham gia các hoạt động đó Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ

Trang 24

22

những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất, xã hội Do đó, Việc làm không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân người lao động mà còn có ý nghĩa đối với cộng đồng và xã hội Điều này đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp nhất định từ phía Nhà nước nhằm tăng số lượng và chất lượng việc làm, đảm bảo đời sống dân cư, hạn chế nạn thất nghiệp và thông qua đó giải quyết các vấn đề xã hội

- Dưới góc độ pháp lí:

Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cũng coi việc khuyến nghị và xúc tiến việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng trong tôn chỉ hoạt động của mình thể hiện thông qua việc ILO đã có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như công ước số 47 về duy trì tuần làm việc 40 giờ, công ước số 88 về tổ chức dịch vụ việc làm, công ước số 122 về

chính sách việc làm…Theo quan niệm của ILO, người có việc làm là những người

làm việc gì đó được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích

hay vì thu nhập gia đình được nhận tiền công hoặc hiện vật Còn người thất nghiệp

là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc

Ở Việt Nam, thời kinh tế tập trung, bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách việc làm đã có những thay đổi căn bản Cùng với việc tiếp thu, chọn lọc kinh nghiệm quốc tế vào hoàn

cảnh của Việt Nam, Bộ Luật lao động (Điều 13) cũng quy định “Mọi hoạt động lao

động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Nếu như trước đây, trong các văn bản pháp luật, vấn đề việc làm chủ yếu

được đề cập ở góc độ cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động thì đây là lần đầu tiên khái niệm việc làm được ghi nhận trong văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Như vậy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố:

+ Hoạt động lao động

Trang 25

23

+ Tạo ra thu nhập

+ Hoạt động đó phải hợp pháp

1.1.4.2 Vị trí, vai tr của việc làm

Việc làm có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, đề tài xem xét vị trí, vai trò của việc làm trên 3 phương diện:

- Trên phương diện kinh tế xã hội:

Đối với bản thân người lao động, có việc làm sẽ tạo cơ hội để họ có thu nhập, đảm bảo cuộc sống cho bản thân, gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội Đối với mỗi quốc gia, giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính sách xã hội khác như phát triển văn hóa, giáo dục, y tế…góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội

Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất.Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất, kinh doanh

Về mặt xã hội, giải quyết việc làm có mục tiêu hướng vào sử dụng tốt lao động, chống thất nghiệp và khắc phục tình trạng thiếu việc làm, bảo đảm thu nhập Đối với Việt Nam, việc làm còn gắn với công cuộc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm là biện pháp quan trọng, thiết thực xóa đói giảm nghèo

- Trên phương diện chính trị, pháp lí:

Chính sách việc làm không phù hợp tất yếu sẽ không hiệu quả đối với vấn đề việc làm, lao động nói riêng và các vấn đề xã hội nói chung Ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn, nhạy cảm nếu không được giải quyết

có thể dẫn đến những “điểm nóng” và trở thành vấn đề chính trị

Trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người.Quyền này đã được thừa nhận trong hiến pháp, luật và các công ước Quốc tế.Vấn đề việc làm còn gắn liền với chế độ pháp lí lao động, là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động

- Trên phương diện Quốc gia – Quốc tế:

Đối với mỗi Quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận

có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của mỗi quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội Trong thời đại ngày nay, vấn đề việc làm không chỉ dừng lại ở

Trang 26

24

phạm vi quốc gia mà nó còn mang tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc Trong xu thế hội nhập với khu vực và thế giới, các quốc gia không thể tránh khỏi áp lực ngày càng gia tăng của tiến trình tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường về phương diện kinh tế và phải đối mặt với các vấn đề việc làm, chuyển dịch lao động quốc tế

về vấn đề xã hội Thị trường lao động không chỉ tồn tại trong đường biên giới lãnh thổ quốc gia mà không ngừng được mở rộng sang các quốc gia khác và trên phạm

vi quốc tế

Chính vì vậy, từ góc độ pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngoài cơ sở luật pháp quốc gia, vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động

1.1.4.3 Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Lao động là hoạt động có mục đích, có ích của con người tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chật, tinh thần cho bản thân và xã hội

Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn

Việc làm cho lao động ở nông thôn là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm bao gồm việc làm thuần nông và việc làm phi nông nghiệp

Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao

động có việc làm

Ý nghĩa của việc giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Việc làm là nhu cầu của tất cả mọi người lao động, nhằm đem lại thu nhập cho bản thân và gia đình họ một cách hợp lý, tạo một nguồn thu nhập chính đáng để trang trải cuộc sống, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, tiết kiệm và tích lũy cho tương lai

Lao động nông thôn được giải quyết việc làm sẽ có cuộc sống ổn định, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Không có việc làm hoặc việc làm bấp bênh, năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất kém, dẫn đến thu nhập không ổn định, khiến cho việc đầu tư, tái sản xuất ở khu vực nông thôn gặp nhiều

Trang 27

25

khó khăn Mặt khác, vấn đề dư thừa lao động ở nông thôn đang trở nên đáng báo động: nhiều làng nghề truyền thống mai một, thanh niên ở các làng quê không có việc làm, chơi bời, lêu lổng và sa vào các tệ nạn xã hội ….Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn thể hiện vai trò của xã hội đối với người lao động ở nông thôn, hạn chế những phát sinh tiêu cực cho xã hội do thiếu việc làm gây ra

1.2 Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn:

1.2.1 Số lượng và chất lượng lao động ở nông thôn đã qua đào tạo nghề còn thấp

Mục tiêu của Đảng và Nhà nước là phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó trước hết phải thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Để đáp ứng mục tiêu chiến lược đó, yếu tố con người là quan trọng và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đất nước Cùng với tiến trình phát triển chung của đất nước, nền nông nghiệp Việt Nam bước vào quá trình hội nhập, từng bước thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường và chuyển sang nền sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn hơn, tiên tiến hơn Do vậy, việc tăng cường đào tạo nghề cho nông dân có ý nghĩa quyết định trong việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng nông thôn mới

Hiện nay, lao động nông thôn có khoảng 32,7 triệu người, chiếm 76% dân

số trong độ tuổi lao động của cả nước Đây là lực lượng lao động có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

và sự ổn định chính trị của đất nước Song thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước

Cùng với việc mức sống thấp, thiếu việc làm và quá trình đô thị hóa, việc

sử dụng đất nông nghiệp cho xây dựng các khu công nghiệp làm cho diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm xuống, dẫn tới làn sóng di cư mạnh mẽ từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm Quá trình di cư này dẫn tới rất nhiều hệ lụy cho các thành phố, trung tâm với các vấn đề về nhà ở, môi trường, văn hóa…Để giải quyết vấn đề này thì vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn luôn gắn chặt với việc đào tạo nghề cho họ để hướng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc làm cho khu

Trang 28

26

vực nông thôn với phương châm “Ly nông bất ly hương” Tuy nhiên, hiện tại lực lượng lao động nông thôn có sự bất cập lớn về trình độ tay nghề, cơ cấu trình độ Chất lượng lao động nông thôn rất thấp Theo kết quả điều tra nông nghiệp, nông thôn do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2004, chỉ có 2,3% lao động được đào tạo, dạy nghề ở trình độ sơ cấp, công nhân kỹ thuật, 2,4 % ở trình độ trung cấp, 1,5% ở trình độ Cao đẳng, Đại học, trong khi đó có tới 93% số lao động nông thôn chưa được đào tạo bồi dưỡng Theo kết quả đánh giá của tổ chức Beri về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm 100 công bố năm 2004, thì chất lượng lao động Viêt Nam chỉ đạt 32 điểm, trong khi đó nếu chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm thì sức cạnh tranh với thị trường lao động thế giới ở mức thấp Trình độ văn hóa của lao động nông thôn ở mức thấp, phần lớn ở trình độ tiểu học và trung học cơ sở, chỉ

có 2,9% có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông, có tới 29% ở trình độ tiểu học

Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề đến nay mới đạt 18,7%, còn rất thấp so với bình quân chung của cả nước là 25%; lao động nông thôn qua đào tạo nghề có

sự chênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế (vùng Đồng bằng Sông Hồng 19,4%, đồng bằng Sông Cửu long 17,9%; trong khi đó vùng Tây Bắc chỉ có 8,3%)

Số lượng nhân lực đã qua đào tạo còn thấp, chất lượng lại không cao, do vậy lao động nông thôn thường thiếu kinh nghiệm trong công việc Cơ cấu nguồn nhân lực đã qua đào tạo trong các lĩnh vực nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, còn mất cân đối với đặc điểm “thừa thầy – thiếu thợ” hoặc “thiếu tổng thể – thừa cục bộ” Hệ thống đào tạo nghề chuyên môn kỹ thuật nước ta hiện có 300 cơ

sở, mỗi năm đào tạo được từ 85 nghìn đến 90 nghìn lao động Năng lực đào tạo các khóa ngắn hạn theonhu cầu chính sách đối với lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, người tàn tật và những đối tượng khác hằng năm mới đạt khoảng từ 110 đến 120 nghìn người Cùng với hệ đào tạo lao động kỹ thuật, cả nước hiện có 345 trường đại học cao đẳng, 273 trường trung học chuyên nghiệp Hệ thống đào tạo này cung cấp cho nền kinh tế nguồn nhân lực theo một cơ cấu trình độ: 1 đại học, 0,8 trung học

và 3,7 công nhân Trong khi đó, theo nghiên cứu của các chuyên gia, cơ cấu lao động kỹ thuật hợp lý phải là: 1 đại học, 4 trung học chuyên nghiệp và 15 – 20 công nhân (lao động kỹ thuật) Những tính toán của chuyên gia Trung tâm Thông tin và

Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia (NCEIF) vào năm 2009 cho thấy, nếu tiếp tục đào tạo theo hệ thống hiện hành, đến năm 2015 Việt Nam sẽ thiếu từ 3,8 triệu đến

Trang 29

27

5,12 triệu lao động kỹ thuật, thiếu từ 3,14 triệu đến 3,4 triệu lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và thừa từ 3,6 triệu đến 3,68 triệu lao động có trình độ đại học, cao đẳng Nếu tính riêng khu vực nông thôn, thì mức độ thừa đại học và cao đẳng còn lớn hơn, và mức độ thiếu lao động kỹ thuật cũng cao hơn

Cho đến nay, các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư tuy thu được một số kết quả nhất định, nhưng về tổng thể, chưa đáp ứng được yêu cầu hình thành những ngành, nghề mới ở nông thôn Trong khi đó, hiện vẫn chưa có chương trình đào tạo nghề riêng cho đối tượng những người nông dân có đất sản xuất bị thu hồi để phát triển công nghiệp, đô thị và kết cấu hạ tầng

Việc đào tạo, bồi dưỡng nghề cho nông dân là rất cần thiết để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Mặt khác, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới làm cho sản phẩm làng nghề tiêu thụ chậm, giá bán giảm sút, sản xuất gặp khó khăn, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp Hiện có một số làng nghề đã phá sản và nhiều làng nghề khác đang cầm cự sản xuất.Suy thoái kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng xấu đến cả thị trường trong nước Hiệp hội làng nghề Việt Nam cho biết, trong năm 2010-2013 khoảng 5 triệu lao động thời vụ và chuyên nghiệp ở các làng nghề không có đủ việc làm Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua – theo khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn tại 8 tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Thuận, Đăk Lăk

và An Giang – đã khiến cho 17,8% lao động nông thôn di cư vào thành phố hoặc làm việc trong các doanh nghiệp tại địa phương mất việc làm Có tới 71% số xã trong tổng số các xã được khảo sát có lao động mất việc trở về Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến mức độ mất việc làm ở lao động nông thôn nhập cư vào

đô thị cao hơn các nhóm lao động khác là do tay nghề thấp hoặc không có nghề chuyên môn cụ thể Hậu quả cắt giảm nhân công tại các khu vực công nghiệp và dịch vụ đã đẩy số lớn lao động trở về khu vực nông thôn; từ đó làm chậm lại quá trình chuyển dịch lao động, đồng thời tạo thêm sức ép cho khu vực nông thôn vốn thiếu việc làm Những tác động tiêu cực diễn ra cũng tạo khó khăn, thách thức lớn cho việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm Theo kết quả điều

Trang 30

28

tra về việc làm, tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nước ta tăng dần qua các năm và tỷ

lệ thiếu việc làm ở nông thôn luôn lớn hơn ở khu vực thành thị

Tình hình trên đây đòi hỏi phải triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói chung và lao động làm công ăn lương nói riêng, trên diện rộng, từ những nghề nông, lâm, ngư nghiệp cho đến các ngành, nghề tiểu – thủ công nghiệp và dịch vụ,…

1.2.2 Nguyên nhân khiến số lượng và chất lượng lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề thấp

- Đại bộ phận lao động nông thôn chưa có nhận thức đúng về đào tạo nghề, học nghề Một phần do tập quán và thói quen canh tác, nông dân tiến hành sản xuất nông nghiệp theo kinh nghiệm, nông dân coi sản xuất nông nghiệp nói riêng và các hoạt động khác trong khu vực nông thôn nói chung là công việc giản đơn không phải học Do đó nông dân nhận thức về việc học tập để sản xuất chưa thực sự cần cho bản thân họ Nhu cầu học tập của họ được dồn vào cho thế hệ con cháu với mục đích là tìm lối thoát khỏi nghề nông và cuộc sống ở nông thôn

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong một thời gian dài chưa được coi trọng đúng mức Nhiều bộ, ngành, địa phương và xã hội nhận thức chưa đầy đủ

về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống

- Đào tao nghề hiện nay thường tập trung vào các ngành mũi nhọn trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ…Đồng thời nhận thức về nguồn lao động lâu nay mới được quan tâm về mặt số lượng, về chất lượng, trình độ của nguồn lao động như khả năng và năng lực thực hiện các công việc có hiệu quả cao ít được chú ý đặc biệt là đối với lao động nông thôn

- Các hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn hiện mới chỉ dừng lại ở mức quy mô nhỏ, rời rạc, thiếu thống nhất, thông qua các chương trình hoặc hoạt động như khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư là chủ yếu Việc xây dựng các chiến lược đào tạo, kế hoạch đào tạo lao động nông thôn dài hạn cho các vùng, miền chưa hiện thực hoặc chưa căn cứ vào thực trạng lao động, định hướng phát triển của địa phương, nhu cầu về nguồn nhân lực…

- Tuy nhiên, việc dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay chưa đầy đủ

và chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa có tổ chức

Trang 31

29

quản lý thống nhất Sự chưa đồng bộ thể hiện qua việc lập kế hoạch đào tạo, dạy nghề giữa cấp Trung ương, cấp tỉnh, giữa các bộ và cơ sở, các dự án hỗ trợ phát triển Tham gia quá trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngoài hệ thống các trường, các trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giới thiệu việc làm, hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hệ thống trung tâm dạy nghề và hỗ trợ việc làm của Hội Nông dân Việt Nam, hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, còn có các tổ chức, cá nhân, các chương trình phát triển cũng tham gia vào quá trình dạy nghề nông dân

- Một số tỉnh, huyện có các trung tâm dạy nghề, song phần lớn các nghề dạy trong các trung tâm chưa gần với nghề khu vực nông thôn cần có, đối tượng đến học cũng không phải là nông dân, những người đang làm việc ở khu vực nông thôn

mà mới chỉ dừng lại ở đối tượng con em của nông dân là chủ yếu, các điều kiện dạy

và học rất hạn chế cả về quy mô và tính kỹ thuật, khó có khả năng đáp ứng được các mục tiêu đào tạo Các điều kiện dạy và học của tất cả cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn hiện nay rất nghèo, nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật, thiếu về chủng loại, không có nơi thực hành, thực tập tay nghề, nhất là cơ sở dạy nghề cấp huyện

- Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu về số lượng

và chất lượng Hiện tại chưa có chương trình nào đào tạo giáo viên nông nghiệp, hầu hết các giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn thiếu kiến thức và kỹ năng khi làm việc với nông dân Mặt khác các hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực nông thôn rất đa dạng, đòi hỏi người giáo viên không chỉ có kiến thức chuyên môn, mà còn cần có những kiến thức lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng

mô hình, giám sát đánh giá…

- Tài liệu đào tạo lao động nông thôn chưa đáp ứng kịp với sự thay đổi của khoa học công nghệ trong nông nghiệp, đồng thời chưa căn cứ vào nhu cầu học tập của người lao động, chưa có sự tham gia của người nông dân trong quá trình xây dựng và phát triển tài liệu Các tài liệu phần lớn viết theo hướng hàn lâm, viết nhiều

và dài, trong khi đó với tâm lý người nông dân rất ngại đọc các tài liệu viết dài, nhiều chữ ít có hình…

- Thời gian và các tổ chức lớp học chưa thực sự phù hợp lao động nông thôn Những người lao động nông thôn thường là những lao động chính trong gia

Trang 32

30

đình, do vậy họ không thể và không muốn tham gia các khóa học với thời gian dài, địa điểm xa nhà, phương pháp giảng dạy theo hướng lý thuyết nhiều

Chính vì vậy, việc tăng cường hơn nữa hiệu quả của công tác đào tạo nghề

có ý nghĩa rất lớn trong thời điểm hiện nay

1.3 Mối quan hệ giữa đào tạo nghề và giải quyết việc làm

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau, là điều kiện cần và đủ của nhau

Đào tạo nghề tạo ra năng lực làm việc tốt hơn cho người học Có đào tạo nghề thì người lao động mới có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm

Muốn áp dụng những kiến thức, kĩ năng đã học được thông qua đào tạo thì người lao động cần phải có một công việc nhất định để thể hiện những năng lực và tay nghề của mình

Đối với những người đã có nghề, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng thêm kiến thức

sẽ giúp có họ nâng cao năng lực sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tạo ra giá trị vật chất nhiều hơn cho gia đình và xã hội Vì vậy, đào tạo nghề trở thành công cụ để điều chỉnh sâu cơ cấu, số lượng và chất lượng công việc của người lao động

Bên cạnh đó, việc làm lại tạo ra nhu cầu đào tạo, người lao động muốn có việc làm, làm được việc thì phải qua đào tạo, dẫn đến việc tạo ra nhu cầu đào tạo Mặt khác, khi khoa học và kỹ thuật ngày càng phát triển thì việc đào tạo nâng cao tay nghề, áp dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào các lĩnh vực sản xuất, đòi hỏi người lao động phải không ngừng học hỏi, đào tạo nâng cao tay nghề phục vụ sản xuất và phục vụ nhu cầu của xã hội, của thị trường kinh tế Chính vì vậy, đào tạo là quá trình mô phỏng yêu cầu và hoạt động của việc làm, còn việc làm quy định nội dung đào tạo

Trong mối quan hệ gắn kết giữa đào tạo và giải quyết việc làm phải dựa trên nhu cầu lao động của thị trường lao động Đào tạo ai?Đào tạo nghề gì? Cấp trình độ nào? phải do nhu cầu lao động trên thực tế quyết định

Trang 33

31

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO

ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

2.1 Một số đặc điểm, tình hình của Tỉnh Thái Bình liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay

Hiện nay, Thái Bình có 7 huyện và 01 thành phố: Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư, Thái Thụy và thành phố Thái Bình Bảy huyện thuộc tỉnh đều có những đặc điểm phát triển kinh tế và xã hội riêng biệt theo những thế mạnh của từng vùng nhưng nét nổi bật trong hoạt động lao động của người dân trong tỉnh đó là phát triển các làng nghề truyền thống, qua đó tạo nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động

Theo số liệu thống kê của Sở Công thương tỉnh, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 210 làng nghề được UBND tỉnh cấp bằng công nhận Với đa dạng ngành nghề truyền thống, toàn tỉnh đẩy mạnh công tác sản xuất hàng hóa dịch vụ theo lợi thế từng địa phương đáp ứng nhu cầu của không chỉ người dân trong tỉnh mà còn là nhu cầu của nhiều người trong và ngoài nước, góp phần xây dựng kinh tế của tỉnh, giải quyết nhiều vấn đề cho người dân như thu nhập, việc làm… trong nền kinh tế thị trường đầy khó khăn và biến động hiện nay

Trang 34

32

nghìn người, bình quân tăng 7,02%/năm, tỷ lệ đô thị hóa mới đạt 7,89%, chỉ bằng 33,3% vùng đồng bằng sông Hồng (23,8%) và 30% của cả nước (26,3%) Điểm dân

cư nông thôn trung bình 2000 người/ thôn, phân bố phân tán chia cắt mạnh với mật

độ 0,5 thôn/Km2 Mật độ dân cư ở trong các thôn trung bình 5.403 người/Km2 ( vượt ngưỡng của đô thị loại V)

Lao động :

Theo số liệu thống kê của Sở Lao động Thương Binh và Xã hội Tỉnh:

Năm 2012 lao động trong độ tuổi 1.092 nghìn người, Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế :

Lao động có trí thức chiếm 6,5%, Lao động có nghề chiếm 30%, Lao động phổ thông 63,5%

Tiềm lực khoa học công nghệ :Toàn tỉnh có trên 30.453 người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên ( tăng 28% so 2005), trí thức có trình độ trên đại học (Thạc

sỹ, Bác sỹ, dược sỹ chuyên khoa I,II ) là 852 người ( tăng 47% 2005) và 98 tiến sỹ ( tăng 237% 2005)

Đất đai:

Diện tích tự nhiên là 1.647,7 km2

và bình quân đất đai tự nhiên của tỉnh Thái Bình chỉ đạt 0,085 ha/người (bình quân cả nước là 0,45 ha /người)

+ Đất nông, lâm, ngư nghiệp 106.811 ha

+ Đất phi nông nghiệp 45.206 ha

+ Đất ở đô thị 515 ha

+ Đất ở nông thôn 11.969 ha

Quy hoạch sử dụng đất quốc gia đến năm 2020 thì diện tích đất trồng lúa nước từ 2 vụ trở lên ( Quỹ đất cần bảo vệ nghiêm ngặt đảm bảo vững chắc an ninh lương thực) của Thái Bình giai đoạn 2011-2015 là 79.840 ha/100.529 ha tổng diện tích dất nông nghiệp ( 79,41%); đến năm 2020 76,110 ha/96.052 ha ( 79,23%)

Phân bố dân cư:

Thái bình có 01 thành phố , 7 huyện, 10 phường, 9 thị trấn và 267 xã (Tổng cộng 286 xã phường, 1991 thôn làng, tổ dân phố, 1200 cơ quan, đơn vị Hộ gia đình 517.303)

Diện tích đất tự nhiên các huyện từ 20 - 25 ngàn ha/huyện.Bình quân mỗi xã

580 ha và 6.500 hộ dân

Trang 35

33

Đô thị hóa:

Tỷ lệ đô thị hoá toàn tỉnh là 7,39% bằng 26,92% so với tỷ lệ chung cả nước và 29,41 so với vùng ĐBSH Tốc độ đô thị hoá từ năm 2001-2007 chỉ đạt trung bình 1,33%/năm

Thành phố Thái Bình -tỉnh lỵ là đô thị loại III có quy mô diện tích 6.771,5

ha, dân số 178.183 người Trước chưa mở rộng : năm 2003 diện tích toàn Tỉnh là 4.335 ha, dân số 136.000 người trong đó nội thị chiếm 100.000 người

Đô thị loại 4: Các thị trấn Đông Hưng, An Bài, Diêm Điền, Tiền Hải

Đô thị loại 5 : Quỳnh Côi, Hưng Hà, Vũ Thư, Thanh Nê

Dự kiến quy hoạch tiếp:

+Đông Đô, Thái Phương (huyện Hưng Hà)

+Thái Hưng, Thuỵ Xuân, Thuỵ Văn, Thuỵ Phong, Thái Dương (huyện Thái Thuỵ) +Tân Lập, Vũ Hội, Vũ Tiến (huyện Vũ Thư)

+ Hồng Thái, Nam Cao, Vũ Tây (huyện Kiến Xương)

+Quỳnh Giao, An Lễ, An Đồng, Quỳnh Nguyên (huyện Quỳnh Phụ)

+ Đông Phong, Thăng Long, Đông Động, Hoa Lư, Mê Linh, Phú Châu (huyện Đông Hưng)

+ Nam Trung, Đông Xuyên, Đông Quý (huyện Tiền Hải)

Diện tích tự nhiên mỗi đô thị tương ứng khoảng từ 500 ¸ 600 ha, dân số sau năm 2010 đạt từ 15.000 ¸ 20.000 người

Công trình nhà ở: (2007) Nhà ở nông thôn đạt trung bình 6-8m2/người, trong

đó có khoảng 60% là nhà truyền thống 1 tầng mái ngói, 40% là nhà bê tông mái bằng

Diện tích đô thị chỉ đạt 37,4% diện tích tự nhiên

Truyền thống:

Kết thúc hai cuộc kháng chiến, Thái Bình có 2.178 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 51.140 liệt sĩ, 32.450 thương, bệnh binh; 88 tập thể và 50 cá nhân vinh dự được Nhà nước phong trặng danh hiệu Anh hùng LLVTND Hòa bình trở lại, 30 nghìn bà mẹ và hơn 11 nghìn phụ nữ không được đón chồng, con trở về sum họp trong ngày vui chiến thắng của dân tộc

Mạng lưới giao thông:

Đường bộ:

Trang 36

34

Tính đến năm 2012, Thái Bình có 4.079 km đường các loại, trong đó: quốc

lộ 108 km (chiếm 2,6%), tỉnh lộ 356 km (8,5%), đường huyện 539 km (13,2%), đường nội thị 123 km (2,9%), đường xã, thôn xóm 3.076 km (73,2%) Có tổng số trên 1.000 chiếc cầu với độ dài 14.250 m và 2 bến phà

Thái Bình có mật độ lưới đường bộ lớn nhất trong vùng Đồng bằng sông Hồng (trừ Hà Nội): 2,66km/km2, bằng 1,6 lần mật độ lưới đường của vùng ĐBSH

và bằng khoảng 5,76 lần mật độ lưới đường trung bình trong toàn quốc

3 Quốc lộ : QL 10 dài khoảng 40,78 Km cấp III Đồng bằng Bm 7-15 m

QL 39 cấp III ĐB dài 57,3 Km, 2 nhánh đoạn từ ngã tư Gia lễ đến Thị trấn Diêm Điền (tại cảng) 26,95 Km, đoạn từ Thị trấn Đông Hưng-cầu Triều Dương dài 30,35 km

QL 37 (hiện cấp 4,5) Bm 5,5-7 m từ Thị trấn Diêm Điền đến cầu phao Sông Hoá

19 tuyến tỉnh lộ dài 344,23 km

Huyện lộ : Tổng dài 539,3 Km, mặt cắt chủ yếu 2,5- 4,5 m

Đường xã Tổng chiều dài 3.076 Km rộng 2,5-3,5 m

Đường nội đô thị Dài 123,16 Km, tỷ lệ đường có mặt cắt > 20m trong Thành

phố khoảng 60%

Đào tạo:

Có 2 trường đại học: Đại học Y Thái Bình, Đại học Công nghiệp Thành phố

Hồ chí Minh (cơ sở phía Bắc)

02 trường cao đẳng, 2 trường giáo dục và đào tạo nghề: Trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Thái Bình hiện có (2012) 5.571 sinh viên và 135 cán bộ, giảng viên, trong đó 5 người có trình độ tiến sỹ, 42 người có trình độ thạc sỹ

Cơ sở dạy nghề :

Toàn tỉnh có 43 cơ sở dạy nghề, trong đó có 7 trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề và 01 đại diện của Trường cao đẳng nghề với quy mô tuyển sinh học nghề trên 25.700 học sinh nghề /năm

Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể:

Cả tỉnh có 8 đoàn nghệ thuật tư nhân và Công ty biểu diễn nghệ thuật

Thái bình có 1404 thiết chế tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có

440 đình, 348 đền, từ miếu, phủ, 91 từ đường, 1 khảo cổ, 105 các thiết chế khác

Trang 37

35

291 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia hoặc địa phương như Chùa Keo Vũ Thư, di tích các Vua Trần Hưng Hà, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, từ đường Lê Quý Đôn, Nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Tân Hoà, Nam Cường Tiền Hải, Hồng An Hưng Hà…

Văn hoá phi vật thể: 201 lễ hội đặc sắc quê hương, 16 loại hát múa, nghệ thuật cổ truyền như Chèo, múa rối nước và làng vườn Bách thuận

Đời sống xã hội:

Hiện toàn tỉnh có 54.399 hộ nghèo (chuẩn theo giai đoạn 2006-2010) Theo

số liệu khảo sát và thẩm định, hiện toàn tỉnh có 2379 hộ nghèo, hộ chính sách nhà ở dột nát, xuống cấp và chưa có nhà ở

Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2008-2012 khoảng 2.128 doanh nghiệp, tăng gấp đôi so với giai đoạn 2003-2007; bình quân mỗi năm có trên 400 doanh nghiệp dân doanh được thành lập mới, tốc độ tăng đạt 16%/năm; Vốn đầu tư đăng ký bình quân khoảng 5,3 tỷ đồng/1 doanh nghiệp, tăng 4,6 lần so với giai đoạn 5 năm trước

Tính đến tháng 10-2013 có 2.856 DN và 303 chi nhánh, văn phòng đại diện, số vốn đăng ký là 16.894 tỷ đồng

Kết quả: Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2013 đạt 11.678 tỷ đồng, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2012 Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến 31/12/2013 đạt 15.729 tỷ đồng, tăng 31,2% so cùng kỳ 2012 (toàn Quốc tăng 29,81%), Cơ cấu đầu tư tín dụng: cho vay ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 25,6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 33,5%, thương mại dịch vụ 40,9% Từ khi thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất đến nay, có 62.802 lượt khách hàng được hỗ trợ lãi suất, số tiền 114,7 tỷ đồng, (năm 2013 là 33,4 tỷ đồng), giảm bớt khó khăn trong sản xuất kinh doanh

2.1.2 Thực trạng đào tạo nghề hiện nay

Trong 10 năm trở lại đây, hệ thống trường nghề tại Việt Nam đã được Nhà nước và xã hội quan tâm nhiều hơn, bằng chứng là có cả những khích lệ về vật chất lẫn tinh thần, sự đầu tư về tài chính, cải cách về chất lượng giáo dục, đầu tư về quy

mô, khích lệ bằng các giải thưởng “Nhất Nghệ tinh”,… điều này chứng tỏ rằng trường nghề đang là những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực để vận hành guồng máy của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và trong cả tương lai

Trang 38

36

Tuy nhiên, thực trạng mạng lưới cơ sở dạy nghề, giáo viên, tình trạng tuyển sinh và việc làm học sinh sau tốt nghiệp, cơ sở vật chất thiết bị…của các cơ sở dạy nghề vẫn còn rất nhiều những bất cập cần được khắc phục

Tính đến cuối năm 2011 cả nước có 1293 cơ sở dạy nghề, tuy nhiên việc phân bố còn nhiều bất cập:

- Nhiều nhất tập trung ở đồng bằng sông Hồng với 27,3% số cơ sở trên cả nước

- Tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ với 20,4%

Ví dụ điển hình như đồng bằng sông Hồng cũng là vùng có số lượng trường cao đẳng nghề cao nhất trong cả nước (với 52 trường), trong khi cả vùng Tây Nguyên hiện mới chỉ có 3 trường cao đẳng nghề Riêng thủ đô Hà Nội, tốc độ tăng

số lượng trường cao đẳng nghề nhanh nhất, từ 8 trường năm 2011 lên tới 22 trường vào năm 2013

Nhiều trường nghề thiết bị lạc hậu:

- Rất ít trường nghề đáp ứng được 100% quy mô đào tạo, đa phần mới đáp ứng được trên 50% quy mô đào tạo theo tiêu chuẩn, quy định ban hành

- Thêm nữa, đa phần các trường chưa đạt tiêu chuẩn về diện tích phòng học, giảng đường theo quy định Một số trường chưa có cơ sở riêng phải thuê giảng đường, phòng làm việc.Thư viện của các trường nhỏ, chỉ đáp ứng khoảng 1% nhu cầu của người học, số lượng đầu sách nghèo nàn

- Khi sinh viên đến đợt thực tập, mặt bằng các xưởng không đủ diện tích tiêu chuẩn lắp đặt thiết bị và bố trí đủ vị trí thực hành cho sinh viên

- Nhiều trường còn không có diện tích để sinh viên tham gia các hoạt động thể thao, giải trí ngoài trời

Trường nghề lãng quên một số ngành học: Có đến 16 nghề thuộc nhóm nông nghiệp và một số nghề có nhu cầu lao động cao thuộc nhóm nghề công nghệ kỹ thuật cơ khí như:

Trang 39

Các ngành nghề sản xuất và phục vụ nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản cũng chưa được chú trọng đào tạo, trong khi những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu thuộc các lĩnh vực này

Báo cáo từ 101 trường nghề cho biết, mức lương khởi điểm bình quân cho học viên sau khi tốt nghiệp đạt từ khoảng 3 đến 3, 5 triệu đồng/tháng Mức lương có

sự chênh lệch ở các nghề đào tạo, cụ thể, nhóm nghề kỹ thuật có lương bình quân cao hơn, đạt khoảng 3,5 triệu đồng/tháng Các nghề dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, lương bình quân thấp, chỉ ở mức 2,2 triệu đồng/tháng

Có thể đây được xem như nguyên nhân chính khiến giới trẻ quay lưng với các trường nghề?Câu hỏi còn đang chờ sự giải đáp từ các nhà chức trách, nhà quản

lý có liên quan.Thiết nghĩ, bức tranh tổng thế về hệ thống trường nghề tại Việt Nam vẫn còn nhiều những lỗ hổng dẫn đến bất cập trong nhiều khâu, nhưng không vì thế

mà chúng ta lãng quên trường nghề, vì vô hình chung điều này sẽ gây những phí phạm không đáng có cho nền giáo dục Việt Nam Nền kinh tế nước ta quả thực cần những nhà quản lý, lãnh đạo trẻ tài năng và có tầm nhìn, nhưng bên cạnh đó xã hội không thể thiếu được những người thợ lành nghề, tạo ra sản phẩm thực, đáp ứng nhu cầu xã hội, nâng tầm nền kinh tế Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó

có nhân lực qua đào tạo nghề là một trong ba trụ cột tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế Việt Nam Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 Do vậy, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nghề là yêu cầu, là đòi hỏi của đất nước, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung Trong thời gian qua, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, dạy nghề Việt Nam đã được Nhà nước và xã hội quan tâm cả về đầu tư tài chính và các nguồn lực khác, nên đã có bước phát triển tích cực, từng bước đáp ứng được nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề cho các ngành kinh tế, đặc biệt là các vùng

Trang 40

- Mạng lưới cơ sở dạy nghề mở rộng, phân bố tương đối hợp lý ở các ngành kinh tế, địa phương, vùng, miền Năm 2011 cả nước có 136 trường cao đẳng nghề,

308 trường trung cấp nghề; 849 trung tâm dạy nghề (trong đó có 296 trung tâm ngoài công lập) và hơn 1000 cơ sở khác (các cơ sở giáo dục - đào tạo, doanh nghiệp,…) tham gia dạy nghề Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập chiếm 35,4%

- Số lượng tuyển sinh dạy nghề tăng từ 887,3 ngàn người (ngoài công lập

170 ngàn) năm 2001 lên 1,860 triệu người (ngoài công lập 700 ngàn) năm 2011, tăng 2,01 lần, trong đó trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề tăng 3,3 lần

- Mạng lưới cơ sở dạy nghề mở rộng, quy mô đào tạo tăng đã góp phần nâng

tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2011 đạt 32%

- Các nghề đào tạo được mở dần theo nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, từng bước phù hợp với sự phát triển các ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Chương trình dạy nghề được xây dựng xuất phát từ thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp

Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề đã được chú trọng đầu tư phát triển như giáo viên dạy nghề (năm 2010 có khoảng 35.000 giáo viên dạy nghề tăng hơn 4 lần so với 2001); phát triển chương trình dạy nghề, cơ sở vật chất, thiết bị của các cơ sở dạy nghề… Từ năm 2008 đã triển khai kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động Ban hành hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2000), Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn An
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
Năm: 2000
2. Bộ giáo dục - đào tạo (2005), Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục - đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
3. Bộ giáo dục- Đào tạo (2005), Một số quy định mới về GD-ĐT , Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định mới về GD-ĐT
Tác giả: Bộ giáo dục- Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Bùi Quang Dũng (2009-2010), Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009, Đề tài cấp Bộ, Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009
5. Bùi Anh Tuấn (2011), Tạo việc làm cho người lao động qua trục đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm cho người lao động qua trục đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
7. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Hà Nội
Năm: 2004
10. Học viện chính trị- hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2009), Tạp chí lý luận chính trị, Nhà xuất bản Học viện chính trị- hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lý luận chính trị
Tác giả: Học viện chính trị- hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Học viện chính trị- hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Năm: 2009
11. Học viện chính trị- hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008), Tạp chí lịch sử Đảng, Nhà xuất bản Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lịch sử Đảng
Tác giả: Học viện chính trị- hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2008
12. Phạm Đức Chính (2010), Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động ở Việt Nam, luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Chính
Năm: 2010
13. Quốc Hội (2008), Luật dạy nghề năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dạy nghề năm 2006 và văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
14. Quốc hội (2012), Luật lao động số 10/2012/ QH13 ngày 18/6/2012, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật lao động số 10/2012/ QH13 ngày 18/6/2012
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2012
15. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp nông dân và nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp nông dân và nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
16. Sở Lao động Thương binh & Xã hội tỉnh Thái Bình, Các báo cáo lao động, việc làm của Sở Lao động thương binh & Xã hội tỉnh Thái Bình, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các báo cáo lao động, việc làm của Sở Lao động thương binh & Xã hội tỉnh Thái Bình
18. Nguyễn Sinh Cúc (2013), “Tổng quan nông nghiệp nông thôn Việt nam sau 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 của bộ chính trị khóa VI”, Tạp chí kinh tế và Quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nông nghiệp nông thôn Việt nam sau 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 của bộ chính trị khóa VI
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2013
20. Thống kê Hà Nội (2008), Chiến lược - kế hoạch- chương trình đầu tư phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến năm 2010, Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược - kế hoạch- chương trình đầu tư phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Thống kê Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội
Năm: 2008
21. Tạp chí nghiên cứu kinh tế (2007), số 11, Nhà xuất bản Viện kinh tế Việt Nam- Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 11
Tác giả: Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Viện kinh tế Việt Nam- Viện khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2007
22. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2006
17. Sở Lao động Thương binh & Xã hội tỉnh Thái Bình (2010), Tư liệu về dân số, đào tạo nghề và giải quyết việc làm những năm gần đây Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w