1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) vận dụng tư tưởng hồ chí minh vào việc thực hiện công tác đào tạo cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh nam định

119 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 875,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song bên cạnh những mặt tích cực do công cuộc đổi mới đem lại còn có những vấn đề nổi cộm làm cho chúng ta phải băn khoăn lo lắng khi mà tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60 31 27

Người hướng dẫn khoa học: TS Lại Quốc Khánh

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lại Quốc Khánh Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2012

Tác giả

Trần Thị Ngọc

Trang 4

Muc Luc

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ 10

1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng 10

1.1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về cán bộ 10

1.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng 17

1.2 Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ 24

1.2.1 Đào tạo cán bộ là gì? 24

1.2.2 Tính tất yếu của đào tạo cán bộ 28

1.2.3 Mục tiêu đào tạo cán bộ 30

1.2.4 Nội dung đào tạo cán bộ 34

1.2.5 Hình thức đào tạo cán bộ 47

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ VÀO VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 55

2.1.Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Nam Định 55

2.1.1 Khái quát tình hình chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh Nam Định 55

2.1.2 Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Nam Định 61

2.1.3 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Nam Định 80

2.2 Giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định theo tư tưởng Hồ Chí Minh 94

PHẦN KẾT LUẬN 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 5

QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CB, CC: Cán bộ, công chức UBND: Ủy Ban Nhân dân HĐND: Hội đồng Nhân dân QLNN: Quản lý Nhà nước MTTQ: Mặt trận Tổ quốc BCH: Ban Chấp hành

ĐT, BD: Đào tạo, bồi dưỡng

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Sự khẳng định đó đã nói lên vai trò quan trọng, to lớn của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước

ta Tư tưởng của Người còn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đồng thời là tài sản quý giá trong kho tàng văn hóa nhân loại

Tư tưởng Hồ Chí Minh bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn và phong phú, trong đó vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề được Người quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng Người coi: “cán bộ là gốc của mọi công việc”,

“là dây chuyền của bộ máy” và là “tiền vốn của đoàn thể” do đó “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” Từ việc nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ trong xã hội nói chung cũng như trong sự nghiệp cách mạng nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức về việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu trong từng giai đoạn cách mạng Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua

đã chứng minh vai trò của đội ngũ cán bộ - một lực lượng nòng cốt đã cùng với nhân dân làm cuộc cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi, giải phóng đất nước, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân

Sau gần ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã giành được nhiều thành tựu đáng kể Song bên cạnh những mặt tích cực do công cuộc đổi mới đem lại còn có những vấn

đề nổi cộm làm cho chúng ta phải băn khoăn lo lắng khi mà tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân

Trang 7

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, đẩy mạnh cải cách hành chính lên một bước mới, cơ bản, toàn diện và rộng khắp, hội nhập toàn diện và sâu rộng vào khu vực và thế giới Nhiệm vụ rất nặng nề, khó khăn và phức tạp làm cho vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức gánh vác nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng giao cho càng có ý nghĩa quan trọng

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước, Nam Định là một tỉnh đồng bằng ven biển, có vị trí địa chính trị quan trọng ở nam đồng bằng sông Hồng Theo Nghị quyết 54 - NQ/TW ngày 14 tháng 9 năm

2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng đồng bằng sông Hồng, Nam Định đang phấn đấu trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - du lịch của khu vực Để thực hiện được mục tiêu đó không thể không có vai trò của đội ngũ cán bộ trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở (từ đây gọi tắt là cán bộ, công chức cấp xã) Cán

bộ, công chức (CB, CC) cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi, triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân; đồng thời, nắm bắt thông tin từ thực tiễn để báo cáo, làm cơ sở quan trọng cho các quyết định, chỉ đạo của cấp trên Cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện hầu hết các công tác ở cơ sở, do vậy, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức có ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân với chính quyền, với chế độ Thực tế cho thấy hiện nay, số lượng CB, CC xã của tỉnh Nam Định hiện vẫn chưa đủ theo yêu cầu, trình độ chuyên môn chưa đạt chuẩn theo quy định, chế độ đãi ngộ còn thấp Đây là một trong những vấn

đề lớn mà Nam Định đang phải đối mặt trên con đường phát triển

Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của CB, CC cấp xã, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ban hành Nghị quyết

số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 về Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống

chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn Sau khi có Nghị quyết, các cấp, các ngành

đã tổ chức quán triệt và ban hành nhiều văn bản để thực hiện như: Chính phủ

Trang 8

ban hành Nghị định 114/2003/NĐ - CP về Cán bộ, công chức xã, phường, thị

trấn và Nghị định 121/2003/NĐ - CP ngày 21/10/2003 về Chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn Trên tinh thần đó, công tác đào tạo, bồi

dưỡng CB, CC cấp xã là một trong những công tác đang được hết sức quan tâm hiện nay

Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đào tạo cán bộ trong

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như từ thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp xã và công tác đào tạo đội ngũ CB, CC cấp xã tại tỉnh Nam Định, tác giả đã chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc thực hiện công tác đào tạo cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định” với mong muốn đóng góp một phần công sức giải quyết một trong những vấn đề quan trọng của tỉnh nhà

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, vấn đề cán bộ đang có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Mảng đề tài này từ lâu đã được rất nhiều tác giả tham gia nghiên cứu và viết bài Có nhiều những bài viết được in trên các báo, các tạp chí như tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí Cộng sản… và cũng

có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cán bộ như:

- Võ Nguyên Giáp với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường

cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Cuốn sách gồm

lời mở đầu, ba phần với mười chương, đã trình bày một cách có căn cứ khoa học, toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản, về tư tưởng Hồ Chí Minh và con dường cách mạng Việt Nam, làm rõ và có những đóng góp mới về quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Trong chương V, tác giả có bàn đến vấn đề Đảng cách mạng, vấn đề đảng viên, cán bộ, về phẩm chất và tiêu chuẩn của người cán bộ, về công tác cán bộ

- Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường

dân giàu nước mạnh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 có đề cập đến vai

Trang 9

trò, vị trí của người cán bộ, những phẩm chất đạo đức của con người trong thời đại mới trong đó có phẩm chất của người cán bộ

- Đặng Xuân Kỳ với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ,

chuyên đề khoa học cấp nhà nước KX.02 Tác giả đề cập đến vị trí, vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, vấn đề cán bộ, tư cách của người cán bộ, những tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ và những vấn đề trong công tác cán bộ

- Đức Vượng với công trình Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng

nhân tài, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Với 554 trang của cuốn sách,

tác giả đã trình bày một cách có hệ thống về quá trình đào tạo cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các giai đoạn cách mạng, phân tích những gương mặt của những cán bộ lãnh đạo cách mạng đã được Người đào tạo trực tiếp hoặc gián tiếp như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v Cuốn sách cũng đã rút ra những vấn đề then chốt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đào tạo cán

bộ và trọng dụng nhân tài với tư tưởng lớn: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc của chúng ta”

- Mạch Quang Thắng với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng

Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, có đề cập đến tư

tưởng Hồ Chí Minh về tư cách cán bộ, đảng viên, hiểu và đánh giá đúng cán

bộ, đảng viên

- Bùi Đình Phong với công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và

công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002, có đề cập đến tư tưởng Hồ Chí

Minh về quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; vai trò, vị trí của cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp cách mạng và

sự vận dụng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm với công trình Luận cứ khoa học

cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công

Trang 10

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Tác

giả có đề cập đến vai trò của cán bộ, những yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ

- Trịnh Gia Ban, Phạm Văn Trường, Tô Văn Gia với công trình Tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 có đề cập đến tư tưởng Hồ Chí

Minh về tiêu chuẩn cán bộ và công tác cán bộ

- Nguyễn Thế Thắng với công trình Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào

xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Tác giả có đề cập đến phong cách

làm việc của cán bộ lãnh đạo quản lý, và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

- Kỷ yếu hội thảo khoa học: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công

tác cán bộ, do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức

gồm hàng trăm bài nghiên cứu, đề cập nhiều khía cạnh trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí, các đề tài đã được nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, thạc sĩ về vấn đề này Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đều có giá trị mang tính

lý luận và có ý nghĩa thực tiễn cao, nội dung rộng, bao chứa nhiều lĩnh vực với phạm vi khái quát cao và được đề tài tham khảo

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể và liên quan trực tiếp đến đề tài tại cơ sở nên chưa thấy được đặc điểm, vai trò của cán

bộ công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định cũng như chưa có sự vận dụng cụ thể

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ với trường hợp cụ thể này một cách chuyên sâu Vì vậy đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc thực hiện công tác đào tạo cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định” có thể và cần thiết phải được đặt ra

Trang 11

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ những nội dung cơ bản

trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ và vận dụng tư tưởng đó để nhận diện và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, chúng tôi xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Hệ thống hoá và luận giải những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ

- Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Nam Định từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đào cán bộ

- Thực trạng, những vấn đề đặt ra và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng về đào tạo cán bộ thể hiện trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh đã được công bố trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), xuất bản lần thứ 2, năm 2000

- Việc nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Nam Định được tiến

Trang 12

hành dựa trên những tài liệu chính thức được lưu trữ tại các cơ quan lưu trữ của tỉnh Nam Định

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đề tài cũng trân trọng kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: lịch sử - lôgích, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, hệ thống - cấu trúc, so sánh, đối chiếu, nghiên cứu văn bản

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ

Luận văn cũng đã góp phần đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định; cung cấp thêm cơ sở khoa học để xây dựng và hoàn thiện về các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Nam Định trong giai đoạn tới, đặc biệt là giai đoạn 2010 - 2020

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm hai chương với sáu tiết:

Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ

Chương 2: Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ vào việc thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Nam Định

Trang 13

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ

1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng

1.1.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về cán bộ

Trong suốt cuộc đời cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vấn

đề cán bộ Trong tư tưởng của Người, vấn đề cán bộ thực chất là một hệ vấn đề,

bao quát một cách rộng rãi nhiều vấn đề như định danh cán bộ, xác định vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, đào tạo và huấn luyện cán bộ, đánh giá và sử dụng cán bộ, đãi ngộ cán bộ Các vấn đề trên có mối quan hệ với nhau, chẳng hạn: trước khi nói đến vấn đề vì sao phải đào tạo cán bộ, nội dung đào tạo cán

bộ là gì, phương pháp đào tạo cán bộ như thế nào, thì cần phải làm rõ vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng; và trước khi làm rõ vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, thì cần phải định danh cho được cán bộ là gì Đó là lôgic tư tưởng và lôgic ấy thể hiện rất rõ ở Hồ Chí Minh

Đối với vấn đề định danh cán bộ, Hồ Chí Minh đã có những quan niệm độc đáo

Phân tích các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chúng tôi đã chọn lọc một số luận điểm tiêu biểu, thể hiện rõ quan niệm của Người về cán bộ, cụ thể là:

- “Cán bộ là tướng của đoàn thể Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể,

có mưu trí, được quần chúng tin yêu kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm như thế mới là tướng giỏi của đoàn thể Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công” [25, tr 515]

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [28, tr 54]

Trang 14

- “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng

Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [28, tr 269]

- “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể” [28, tr 46]

Phân tích các luận điểm nói trên, có thể thấy rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ được quan niệm là:

Thứ nhất, “cán bộ là tướng của đoàn thể” Cán bộ là những người giữ

trọng trách nhất định trong một tổ chức, chẳng hạn trong hệ thống cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước Họ được trao quyền và có trách nhiệm xử lý công việc trong phạm vi chức trách được giao Họ phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, có trí tuệ và năng lực, có bản lĩnh và quyết tâm, có năng lực vận động và tổ chức quần chúng, được quần chúng tín nhiệm và và một lòng đi theo Cán bộ giỏi là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của

sự nghiệp cách mạng

Thứ hai, “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy” Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã dùng quan điểm hệ thống cấu trúc chức năng để xem xét tổ chức và xã hội Với quan điểm như thế, cán bộ được coi là một khâu có vai trò rất quan trọng - khâu liên kết các bộ phận của hệ thống Các bộ phận có tốt đến mấy, động cơ

có khỏe đến mấy, nhưng nếu không có dây chuyền tốt thì cỗ máy vẫn không thể vận hành được Tính chất “dây chuyền” của cán bộ thể hiện trên hai phương diện: Một mặt, cán bộ là những người đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào trong quần chúng, trong xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật ấy; Mặt khác, cán bộ là những người đem “tình hình của dân chúng” báo cáo cho Đảng và Nhà nước, tức là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt tình hình đời sống chính trị - xã hội, phản hồi trở lại Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước điều chỉnh đường lối, chính sách, pháp luật

Trang 15

Thứ ba, “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể” Trong lý thuyết phát triển xã

hội hiện đại, con người được coi là một loại vốn, một loại “tư bản” Có cả một trường phái lý thuyết với nhiều đại biểu là các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel nhờ đề xuất và luận giải một cách sâu sắc về “vốn con người”, “tư bản con người”, về vai trò của nguồn lực đặc biệt này trong tổ chức doanh nghiệp cũng như trong xã hội Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người sớm nhất sử dụng khái niệm “vốn con người” Ngay từ những ngày đầu của công cuộc kiến thiết đất nước sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công,

Hồ Chí Minh đã nêu lên quan niệm coi con người là một nguồn “vốn” bên cạnh khoa học kỹ thuật và tiền bạc Ở đây, chúng ta lại thấy Hồ Chí Minh nhấn mạnh một loại vốn đặc biệt quan trọng của tổ chức, của Đảng và Nhà nước, và của chính nhân dân: “vốn cán bộ” Đã coi cán bộ là tiền vốn thì phải làm sao cho tiền vốn ngày càng nhiều, ngày càng có giá trị - tức là phải coi trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ; lại còn phải tính toán, sử dụng tiền vốn một các hợp lý và có hiệu quả - tức là phải coi trọng công tác sử dụng cán

bộ Với quan niệm như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh vai trò của cán bộ, mà còn nhấn mạnh đến trách nhiệm của tổ chức trong công tác cán

bộ

Thứ tư, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Một cách hợp logic, từ ba

quan niệm trên, chúng ta hoàn toàn hiểu được vì sao Hồ Chí Minh lại coi “cán

bộ là cái gốc của mọi công việc” và “công tác cán bộ là công tác gốc” của Đảng

và Nhà nước

Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh

vể cán bộ, song qua những luận điểm của Người về cán bộ, trong đó có mấy luận điểm tiêu biểu mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên, có thể thấy rằng, quan niệm của Hồ Chí Minh về cán bộ có giá trị lý luận lý luận và thực tiễn to lớn trong phân tích hiện thực, định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn về cán bộ Người không những chỉ ra cán bộ là ai (xét trên phương diện chức năng của họ trong tổ chức và trong xã hội), mà còn chỉ ra họ cần có những năng lực gì

Trang 16

(thực) để xứng với tên gọi cán bộ (danh), và tổ chức cũng như xã hội cần phải

có thái độ, chính sách như thế nào đối với cán bộ

Nếu so sánh với một số quan niệm về cán bộ đang được sử dụng hiện nay, chúng ta sẽ càng thấy rõ hơn giá trị trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là:

1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước (như cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị)

2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ [5, tr 16]

Theo gốc trong tiếng Pháp và tiếng Anh từ cán bộ (Cadre) có hai nghĩa Một là cái khung, sườn và hai là lực lượng nòng cốt

Theo từ điển Hành chính: “Cán bộ là người có đủ các điều kiện được tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, tổ chức lực lượng vũ trang: trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên Từ cán bộ được sử dụng rộng rãi trong các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây (cán bộ, công nhân) Cán bộ công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ” [60, tr 46]

Theo cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội: Cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương hoặc phụ cấp

Hiện nay, theo pháp luật hiện hành đồng thời tồn tại ba khái niệm “cán bộ” “công chức”, “viên chức” Các “cán bộ” “công chức”, “viên chức” mà pháp luật nói chung và các văn bản luật hành chính nói riêng điều chỉnh, không chỉ làm việc trong bộ máy nhà nước, mà cả trong các cơ quan của các tổ chức

xã hội (bao gồm cả tổ chức chính trị - Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp) Đây là một nét đặc thù xuất phát từ chế độ chính trị của nước ta

Trang 17

Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành quy chế công chức Việt Nam Theo Sắc lệnh này “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển, bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức” Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, đặc biệt từ năm 1954, Nhà nước ta thực hiện chế độ cán bộ nên Sắc lệnh này hầu như không được áp dụng, dù không bị văn bản pháp luật nào bãi bỏ Trong các văn bản pháp lý thời kỳ đó, thuật ngữ được

sử dụng là “cán bộ, viên chức” - những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng,

tổ chức chính trị - xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân Cán bộ, viên chức được hình thành từ nhiều nguồn phong phú như từ bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, phân công khi tốt nghiệp các cấp học, bậc học, nhưng do không làm rõ được đặc điểm nghề nghiệp, tính chất công việc, trình độ chuyên môn nên không có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí công tác, đánh giá và các chế độ khác cho cán bộ, viên chức

Đến ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức Nhà nước Nghị định chỉ ra công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước cấp Khái niệm này dù đã rộng hơn Sắc lệnh 76/SL, song vẫn bị đánh giá

là chưa bao hàm hết phạm vi đối tượng công chức Văn bản điều chỉnh về cán

bộ, công chức nhà nước cần tiếp tục điều chỉnh

Ngày 24/9/2003, Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 được sửa đổi, bổ sung Điều 1 Pháp lệnh này không đưa ra định nghĩa riêng cho từng khái niệm

“cán bộ”, “công chức”, mà liệt kê tất cả những người là công dân Việt Nam trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp, làm việc trong toàn hệ thống chính trị là cán bộ, công chức Pháp lệnh này lần đầu tiên quy định về cán bộ công chức cấp xã Pháp lệnh này cũng là cơ

Trang 18

sở quan trọng tách viên chức sự nghiệp với công chức hành chính, nhưng dường như coi công chức bao hàm cả viên chức

Căn cứ Pháp lệnh năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán

bộ, công chức năm 1998, ngày 10/10/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 117/2003/NĐ - CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Nghị định chỉ rõ hơn cơ quan nơi người công chức làm việc, nhưng các văn bản này chưa đưa ra được căn cứ để phân biệt được rõ đâu là công chức và đâu là cán bộ

Trước đòi hỏi của tình hình mới là đã đến lúc cần một văn bản pháp luật cao hơn, điều chỉnh khái quát và toàn diện hơn các vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức Tại kỳ họp thứ 4, ngày 13/11/2008, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức Lần đầu tiên, Luật cán bộ, công chức năm 2008, đưa ra khái niệm rõ ràng, phân biệt cán bộ, công chức, cán bộ cấp xã, công chức cấp

xã Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định như sau:

1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bô máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công

Trang 19

chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

3 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) gọi chung là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Theo các quy định trên thì cán bộ, công chức có đặc điểm chung: là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, mỗi cán

bộ, công chức có phương thức riêng để được vào làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập

Như vậy, mặc dù đến nay đã có nhiều cách định danh mới, song quan niệm của Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, đơn giản, dễ hiểu, chỉ rõ chức năng của con người trong hệ thống

Từ quan niệm của HCM, tiếp thu các quan niệm mới về cán bộ, công chức, có thể định nghĩa cán bộ công chức nhà nước được hiểu như sau: Cán bộ

Nhà nước là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước ở các cấp, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức nhà nước là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,chức danh trong cơ quan nhà nước ở các cấp, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn,

vị trí công tác trong các cơ quan Nhà nước, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 20

1.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng

1.1.2.1 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ

- Tiếp cận từ vai trò của quần chúng nhân dân đối với cách mạng

Quần chúng nhân dân có sức mạnh vô địch, quyết định thành công của cách mạng Nhưng sức mạnh ấy chỉ được phát huy đầy đủ khi có người tổ chức, có người lãnh đạo Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định đó là sự nghiệp của “dân chúng số đông, chứ không phải

là công việc của một hai người” [21, tr 261-262] Vì vậy, cách mạng muốn thắng lợi thì phải phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân

Sức mạnh của nhân dân chỉ mang tính vật chất khi đó là một khối cộng đồng đoàn kết thành một khối, với tính cách là một cộng đồng chung một ý chí, một quyết tâm Hồ Chí Minh đã nói: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được, không có thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra Như vậy, “mọi việc đều do lực lượng nhân dân thực hiện Nếu nhân dân không ra tay, không

có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy cũng không làm xong” [29, tr 292] Nhà nước muốn làm bất cứ việc gì đều phải dựa vào sức dân thông qua việc huy động nhân tài, vật lực của dân Không ai có thể làm thay quần chúng,

dù đó là Đảng hay Nhà nước Nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước là: ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân

Song, Hồ Chí Minh cũng khẳng định vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy khi có sự lãnh đạo của Đảng Năm 1932 trước khi rời Pháp sang Nga, Hồ Chí Minh nói rõ: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở

về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện

họ, đưa họ ra đấu tranh giành độc lập tự do” [25, tr 192]

Sau này Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn, là vô cùng vô tận Nhưng lực lượng ấy

Trang 21

cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi” [32, tr 290] Như vậy, qua việc khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có người tổ chức, lãnh đạo và cũng chính là người trực tiếp làm công tác ấy, Hồ CHí Minh đã khẳng định vai trò cực kỳ to lớn của cán bộ Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh là rất độc đáo, nhấn mạnh vai trò đánh giá nhân dân để nhấn mạnh vai trò của cán bộ, giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được

- Tiếp cận từ vai trò của Đảng và Nhà nước đối với cách mạng

Đảng và Nhà nước là những đại diện của nhân dân, có nhiệm vụ giác

ngộ và tổ chức nhân dân Trong cuốn Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh viết:

“Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh để

trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [26, tr 267- 268] Hồ Chí

Minh cho rằng: “Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương trâm cho đúng Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo” [30, tr 228-229]

Nhưng Đảng cũng như Nhà nước không phải là cỗ máy vô tri mà là tổ chức của những con người Đảng và Nhà nước có vững mạnh hay không, có hoàn thành được nhiệm vụ lãnh đạo hay tổ chức hay không, điều đó bị quyết định bởi đội ngũ cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước Theo Hồ Chí Minh, Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân Đối tượng lãnh đạo của Đảng là toàn thể nhân dân, nhằm đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc mà trước hết là nhân dân lao động Nhưng muốn lãnh đạo được nhân dân lao động, trước hết Đảng phải có tư cách, phẩm chất, năng lực cần thiết Vì

“quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức” và “chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách

Trang 22

đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” [27, tr.139] Thực tế là, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào cán bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng

là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ Người cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của Đảng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ: chăm sóc, nuôi dạy cán bộ là việc làm hệ trọng, phải rất công phu, chu đáo, tỉ mỉ, cũng giống như người làm vườn chăm sóc, vun trồng những cây cối quý báu, cần mẫn, tâm huyết mới có hoa thơm, quả ngọt

Vì vậy, Đảng cần phải biết coi trọng, giữ gìn cán bộ cũ, và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mới, trọng dụng nhân tài, trọng dụng cán bộ

Nhấn mạnh vai trò của Đảng và Nhà nước để đi đến nhấn mạnh vai trò của cán bộ, đây cũng là cách tiếp cận độc đáo của Hồ Chí Minh

1.1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của cán bộ

- Cán bộ là người xây dựng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà

nước Muốn cho đường lối đúng, pháp luật phù hợp với thực tiễn của cuộc sống

đòi hỏi cán bộ phải là những người có phẩm chất đạo đức trung thực, có kiến thức khoa học phải sát với thực tiễn cuộc sống của xã hội Việt Nam là một nước trải qua đấu tranh giành độc lập dân tộc đi lên Chủ nghĩa xã hội, do vậy đòi hỏi một sự sáng tạo lớn khi vận dụng Chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện của đất nước

Do đó, nếu “cán bộ dở” thì một mặt chính sách không thể thực hiện được, mặt khác việc hoạch định, xây dựng chính sách mới sẽ sai lầm hoặc không phù hợp Do đó đòi hỏi cán bộ phải đi sâu, đi sát quần chúng, nắm được tâm tư nguyện vọng của họ Hồ Chí Minh đã viết: “Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hiệp chặt chẽ với dân chúng” [28, tr 249] và

“khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương”

Trang 23

- Cán bộ là người đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào

trong cuộc sống Muốn để người dân tiếp nhận những đường lối của Đảng cũng

như chính sách pháp luật của Nhà nước, đòi hỏi người cán bộ phải có phẩm chất đạo đức để sao cho dân tin, dân mến, dân làm theo Nếu dân không tin thì cán bộ không thể tiếp cận được với dân để tìm hiểu về dân Muốn dân hiểu, dân làm thì người tuyên truyền phải biết cách tuyên truyền, do đó người cán bộ tuyên truyền phải hiểu đường lối đó một cách thấu đấu, phải có tài trong tuyên truyền, thuyết phục quần chúng một cách có lý, có tình, làm cho họ hiểu rõ “thì việc gì khó mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ” [28, tr 241]

- Cán bộ là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của

Nhà nước và là người bày cách cho dân làm Cán bộ không chỉ là người tổ

chức thực hiện đường lối cho nhân dân trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền mà ngay cả trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội vì: đấu tranh giành chính quyền đã khó nhưng xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực lại càng khó khăn hơn Quá trình xây dựng xã hội mới là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài gian khổ, bởi: Việt Nam từ một nước sản xuất nhỏ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa lại càng khó khăn hơn các nước khác, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp, trình độ dân trí còn hạn chế Vì vậy, trong các lĩnh vực xây dựng chính quyền, kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ có năng lực để đảm nhiệm được những nhiệm vụ cách mạng Do đó, cán bộ phải thực sự “nhúng tay” vào việc, phải cùng với nhân dân bàn bạc và tìm cách giải quyết có hiệu quả nhất “việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng và giải thích cho dân chúng” [28, tr 295]

- Cán bộ là người tổng kết thực tiễn, từ thực tiễn cuộc sống phải tiếp tục

bổ sung lý luận và phát triển lý luận, vì thực tiễn thay đổi nhanh hơn so với lý luận cũng như thực tiễn rất phong phú và phức tạp, do đó đòi hỏi cán bộ không chỉ có phẩm chất tốt mà còn phải có năng lực, trình độ cao để đáp ứng yêu cầu,

Trang 24

nhiệm vụ của công việc, để có thể bổ sung và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Do đó, nói đến cán bộ là nói đến “tiền vốn của Đoàn thể” [29, tr 295]

Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì sẽ thành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì sẽ hỏng việc, tức là lỗ vốn Vì vậy, để thực hiện được những nhiệm vụ nặng nề của cách mạng, chúng ta cần

có một đội ngũ cán bộ biết “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc” [32, tr 285] Như vậy, khi bàn đến vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh đã không đề cập cán bộ một cách chung chung, mà Người đã sử dụng cán bộ “có tính từ” Đó là “cán bộ tốt” “cán bộ kém”, “cán bộ dở” Mà “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” Nói cụ thể, có cán bộ tốt thì mọi việc mới thành công

Khẳng định vai trò của người cán bộ cần phải hiểu rằng không phải đã là cán bộ thì chỉ có tính tốt Mà cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu Song đã là người cán bộ cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu Vì “tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân” [28, tr 254]

- Nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, song Người

không cho rằng “cán bộ quyết định tất cả” mà “cách mạng là sự nghiệp của

quần chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của Chủ nghĩa Mác - Lênin” [33, tr 197] Do đó, Người luôn đề cao vai

trò của quần chúng nhân dân và đặt người cán bộ trong mối quan hệ với nhân dân “dân như nước Cán bộ như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết” Người khẳng định “nước lấy dân làm gốc” còn “cán bộ quyết định mọi việc”

Trang 25

[29, tr 480] Sự “quyết định” ở đây là cán bộ phải đi trước, làm gương về tư tưởng đạo đức, thái độ, lề lối làm việc Muốn phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng Chủ nghĩa xã hội, vì Chủ nghĩa xã hội có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người, thì cán bộ phải đi trước, tự cải tạo mình, tự nâng cao mình Cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản vững chắc, giác ngộ về Chủ nghĩa xã hội cao; phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện tinh thần và ý thức tập thể

Không chỉ nêu ra các quan điểm về vai trò của cán bộ, trong thực tế Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề phát hiện, đào tạo, sử dụng cán bộ, luôn thực

sự coi công tác cán bộ là công tác gốc Nghiên cứu thực tiễn Hồ Chí Minh tiến hành công tác cán bộ sẽ giúp hiểu rõ hơn tư tưởng của Người về vấn đề này Ngay từ năm 1911 trên đường từ Trung Kỳ vào Sài Gòn để chuẩn bị ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân tại Phan Thiết một thời gian để dạy học, thực chất là để chuẩn bị đào tạo một lớp cán bộ tương lai Tinh thần dạy học của thầy giáo Nguyễn Tất Thành thật đáng quý khi thầy truyền cảm cho học sinh những vần thơ ca yêu nước, thương nòi gợi mở tình yêu quê hương và những con người lao động Thầy đã bắt đầu đào tạo con người với ý thức và lòng mong mỏi sau này những con người đó sẽ gánh vác những công việc chung của đất nước Chính vì vậy, thầy không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức văn hóa, mà còn giáo dục cho lớp người kế tiếp một tinh thần yêu nước, thương nòi

Trong thời gian Người ở Luân Đôn, thủ đô nước Anh từ năm 1914 đến năm 1917, Người đã gặp gỡ một số người Việt Nam tại Anh lúc đó để tuyên truyền tinh thần yêu nước và cứu nước Việt Nam

Từ năm 1917 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pari, thủ đô nước Pháp Thời gian này, Người gặp gỡ những người lao động Việt Nam trên đất Pháp và những người lao động của nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc lúc

ấy đang ở Pháp, tuyên truyền, giác ngộ về vấn đề giải phóng dân tộc, giành độc

Trang 26

lập tự do cho dân tộc mình Người nói với những người Việt Nam lúc đó đang

ở Pari rằng, hãy luôn luôn nhớ mình đang là người dân mất nước, cho nên phải cứu lấy nước, giành lại nước đã bị các thế lực xâm lược chiếm Tại Pari, Người

đã đào tạo được một số cán bộ cho cách mạng Việt Nam, gửi được một số người đi đào tạo tại Liên Xô

Từ nửa cuối năm 1923, Người sang Liên Xô, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản Thời gian này, Người ra sức đào tạo cán bộ cho cách mạng Đông Dương, cách mạng Việt Nam, giới thiệu được một số cán bộ vào học Trường Đại học Phương Đông Chính Người đã đề nghị Hiệu ủy Trường Đại học Phương Đông lập một nhóm cộng sản Việt Nam đầu tiên ở nước ngoài, do Trần Phú làm Bí thứ nhóm

Từ cuối năm 1924 đến đầu năm 1927, Người về Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc để mở lớp huấn luyện chính trị cho những thanh niên yêu nước Việt Nam, tổ chức ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội), chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức để thành lập một chính đảng cách mạng ở Việt Nam Nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước đã được Người huấn luyện chính trị tại Quảng Châu Ngoài ra, tại Quảng Châu, Người đã giới thiệu được một số cán bộ trẻ Việt Nam vào học Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc và Trường Đại học Phương Đông, Liên Xô

Thời gian Người ở Thái Lan từ năm 1928-1929, Người cũng tập trung đào tạo cán bộ trong số bà con kiều bào để đưa họ về nước hoạt động Cũng trong năm 1928, từ Thái Lan, Người sang Lào, ở xã Xiềng Mương, huyện Nọong Bốc, tỉnh Khăm Muộn, Trung Lào để gây cơ sở cách mạng và đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam và Lào

Đầu năm 1941, Người về nước hoạt động Công việc đầu tiên của Người khi sắp về nước và khi về nước, Người mở ngay lớp huấn luyện chính trị tại vùng biên giới Trung - Việt và tại Cao Bằng Nhiều cán bộ chính trị và cán bộ quân sự đã được Người đào tạo tại các lớp huấn luyện này

Trang 27

Thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp đó là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam; thời gian khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế ở miền Bắc, cho đến khi Người qua đời vào ngày 2-9-1969, lúc nào Người cũng nghĩ đến việc đào tạo cán bộ, trọng dụng nhân tài Trong Di chúc, Người viết: "Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” [26, tr 498]

Người đặc biệt quan tâm đến lớp cán bộ trẻ Người viết: "Bồi dưỡng thế

hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [26, tr 498]

Nội dung huấn luyện cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ là người cán bộ phải có tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng, yêu nhân dân, hết lòng vì nhân dân, có bản lĩnh, nhân cách, tài và đức, đức và tài, hồng và chuyên Đức, tài hội tụ thành phẩm chất người cán bộ Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, nhân, chí, dũng, liêm, giản dị, khiêm tốn, đời tư trong sáng, hội

tụ thành phẩm chất người cán bộ cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại nhiều tác phẩm quan trọng để dùng làm tài liệu huấn luyện cán bộ, trong đó, có các tác phẩm đặc biệt quan trọng: "Bản

án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925), "Đường Kách mệnh”(năm 1927), "Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947)

1.2 Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đào tạo cán bộ

Trang 28

Hồ Chí Minh ít sử dụng khái niệm “đào tạo cán bộ” mà thường dùng khái niệm “huấn luyện cán bộ” Công tác huấn luyện cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Bởi vậy, Người không chỉ dừng lại ở những bài nói, bài viết, những chỉ thị về công tác cán bộ mà còn trực tiếp mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ, trong

đó Người trực tiếp tham gia giảng dạy, chỉ dẫn công việc trong thực tế Xuất phát từ quan niệm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Hồ Chí Minh xác định: “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” Đó không phải là một công việc đơn giản, để làm được thì trước tiên phải hiểu cho rõ

Huấn luyện là một khái niệm rộng, có nội dung vừa giảng dạy, vừa

hướng dẫn giảng luyện tập Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, huấn là dạy dỗ, luyện

là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc Huấn và luyện có mối quan

hệ biện chứng với nhau Huấn (dạy) nhằm nâng cao khả năng để luyện (tự cải tạo tốt) và sự tự cải tạo tốt giúp cho việc tiếp nhận nhanh chóng nâng cao khả năng hơn nữa Như vậy, công tác huấn luyện cán bộ không chỉ có nhiệm vụ nâng cao kiến thức mà còn có mục tiêu quan trọng nữa rèn luyện về tư tưởng Hai nhiệm vụ này phải gắn chặt với nhau

Xuất phát từ thực tế, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khuyết điểm còn tồn tại trong sự huấn luyện: huấn luyện nghề nghiệp mà không đụng đến nghề nghiệp ấy, dạy chính trị thì mênh mông mà không biết thực học rồi dùng được; chưa nâng cao trình độ cho cán bộ, những người phần đông là công nhân và nông dân, văn hóa kém; huấn luyện lý luận cho cán bộ cao cấp hoặc chưa làm, hoặc làm không đúng, lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau [29, tr 52, 53] Tình trạng mở lớp lung tung, mở lớp quá đông ảnh hưởng xấu đến chất lượng đào tạo do thiếu người giảng, do trình độ của người học không đồng đều, việc tiếp thu không đều và chương trình không sát với công tác thực tế của từng

người học Bên cạnh đó, còn một khuyết điểm rất to nữa là “cán bộ đảng viên

ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà sao nhãng việc học tập Khác nào chỉ chữa bệnh cho người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa” [29,

Trang 29

tr.7] Do đó, Hồ Chí Minh nhận thấy cần thiết phải có một sự sửa đổi việc học tập và huấn luyện theo một quy trình mới, tuân theo những nguyên tắc nhất định Những vấn đề cơ bản rất cụ thể và thiết thực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Về đối tượng huấn luyện

Hồ Chí Minh yêu cầu cần phải huấn luyện cán bộ, huấn luyện hội viên của đoàn thể, huấn luyện cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền, huấn luyện nhân dân Trong đó, trước hết là huấn luyện cán bộ Người học phải xác định được mục đích, động cơ học tập để từ đó có một thái độ học tập đúng đắn

Mục đích học tập được xem như là một loại hình hoạt động thuộc lĩnh

vực của nhận thức và mang tính mục đích của con người Mục đích học tập của cán bộ đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [28, tr 684]; "Học để sửa chữa tư tưởng: Hăng hái theo cách mạng, điều đó rất hay

vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được”; “Học để tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn”; “Học để tin tưởng: tin tưởng vào đoàn thể, tin tưởng vào nhân dân, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, tin tưởng vào tương lai của cách mạng”;

“Học để hành: Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì học vô ích

Hành mà không học thì hành không trôi chảy” [29, tr 50]

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ việc học tập của cán

bộ là đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, để phục vụ Đảng và sự nghiệp chung Do đó, mỗi người cán bộ cần xác định học tập như là một nhu cầu tất yếu để không ngừng nâng cao kiến thức cho bản thân, phục vụ công việc Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự trong bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ở tỉnh Nghệ An, ngày 09/12/1961: Tôi năm nay đã 71 tuổi, ngày nào cũng phải học Việc lớn, việc nhỏ tôi tham gia Công việc cứ tiến mãi Không học thì không theo kịp, công việc sẽ gạt mình lại phía sau

Trang 30

Động cơ học được hiểu là nhu cầu thôi thúc từ bên trong của chính chủ

thể hành động Dưới chế độ mới do nhân dân làm chủ, cán bộ cách mạng là người đầy tớ phục vụ nhân dân và đáp ứng sự nghiệp chung Điều đó đòi hỏi tất

cả cán bộ nói chung, cán bộ được đi học nói riêng phải có những phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Do đó, người học phải lấy việc nỗ lực không ngừng nhằm đáp ứng yêu cầu công việc, để hoàn thành nhiệm vụ cao cả

mà Đảng và nhân dân giao phó làm động cơ thúc đẩy quá trình học tập

Thái độ học tập của mỗi người học tác động trực tiếp đến kết quả, đến sự

thành bại của sự học Muốn có kết quả học tập tốt, người học phải có thái độ

nghiêm túc Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: người học "phải

thật thà, không lên mặt, biết sao nói vậy; không biết phải học hỏi quần chúng nhân dân, không giấu dốt…” [30, tr 107]; phải có thái độ khiêm tốn: "kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [29, tr 499]; phải tự

nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập; phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau học tập, mạnh

dạn phê bình và thật thà tự phê bình…

Về người huấn luyện

Đào tạo là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học Trong quá trình đào tạo, người thầy có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo Do đó, người dạy cũng quan trọng như người học

Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được, phải lựa

chọn rất cẩn thận những người tham gia huấn luyện Người nói: “muốn huấn

luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn nghề nguội”

[29, tr 46] Như vậy, huấn luyện cán bộ cũng là một nghề mà người huấn luyện cần thông thạo nghề ấy, cần tùy theo đối tượng và nội dung huấn luyện mà chọn người huấn luyện tương xứng Người huấn luyện của Đoàn thể phải làm

kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc

Trang 31

Về tư tưởng, người huấn luyện phải nắm vững những nguyên lý cơ bản

của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức đầy đủ quy luật khách quan của cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng

Về đạo đức, người huấn luyện phải là một tấm gương đạo đức sáng ngời,

bởi một tấm gương thực tế có giá trị hơn gấp nhiều lần so với những bài thuyết giảng chung chung Người huấn luyện phải không ngừng tu dưỡng, hoàn thiện các phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân, nghĩa, trí, dũng… Chỉ khi đó, người huấn luyện mới phát huy được uy lực trong việc giảng dạy, khiến cho người học noi theo

Về lối làm việc, về chuyên môn phải nghiêm túc, khoa học Kiến thức là

vô tận và nhu cầu của công việc thay đổi theo từng giai đoạn cũng khiến cho nhu cầu đào tạo thay đổi Do đó, người huấn luyện cũng phải không ngừng trau

dồi kiến thức, “người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công

việc huấn luyện của mình” [29, tr 46]

1.2.2 Tính tất yếu của đào tạo cán bộ

Khi nói về cán bộ và vai trò của cán bộ những nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác- Lênin đã từng đưa ra rất nhiều những luận điểm rất nổi tiếng

C.Mác đã từng viết: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử

dụng lực lượng thực tiễn” [8, tr.181] Ông còn nói: con người là tổng hòa của

mọi mối quan hệ xã hội, vấn đề con người - cán bộ từ lâu đã được xem là nhân

tố quyết định hàng đầu cho mọi sự thắng lợi

Lênin thì đã khẳng định: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào

giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [67, tr 473] Nhân dân làm nên lịch sử, làm nên

các cuộc cách mạng xã hội nhưng trong cuộc cách mạng đó không thể không nhắc đến vai trò của những vĩ nhân, và bộ phận cán bộ lãnh đạo cách mạng Đó chính là con người đưa ra định hướng, chiến lược và hướng dẫn quần chúng nhân dân thực hiện; thành công hay thất bại của cách mạng có vai trò to lớn của

Trang 32

bộ phận cán bộ cách mạng V.I Lênin nhấn mạnh nếu không có đội ngũ cán bộ

tốt “thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn”

Do vậy, muốn có một đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu mới trong giai đoạn cách mạng, thì chúng ta cần phải thường xuyên quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng họ, vì:

Cán bộ không tự nhiên có, không có ai sinh ra để làm cán bộ Phải qua quá trình đào tạo và tập trung đào tạo lâu dài mới có được

Cán bộ từ xã hội mà ra - cái xã hội mà chúng ta đang tiến hành cải tạo

Vì thế cán bộ không tránh khỏi mang trong mình những hạn chế từ xã hội Phải đào tạo cán bộ để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta là vô cùng to lớn, đầy khó khăn, phức tạp, lại biến đổi không ngừng Phải đào tạo cán bộ thường xuyên, liên tục mới đáp ứng được yêu cách mạng

Bản thân Đảng và Nhà nước cũng trưởng thành không ngừng, cán bộ phải được đào tạo và tập trung đào tạo để theo kịp sự phát triển của tổ chức

Mặt khác cán bộ của chúng ta chủ yếu xuất thân từ nông dân, công nhân, ngoài ra còn một số do chế độ cũ để lại Vì vậy, phải thường xuyên bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chính trị cho họ

Hơn nữa, tình hình quốc tế và tình hình kinh tế - xã hội trong nước thường xuyên thay đổi, do đó cán bộ cần phải nắm bắt được những thông tin mới, những thay đổi trong cuộc sống để kịp thời giải quyết công việc sao cho phù hợp với thực tiễn

Trình độ của nhân dân ngày càng cao, nhiệm vụ cách mạng ngày càng nặng nề, do vậy phải thường xuyên nâng cao phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ, đảng viên thi mới có thể hoàn thành được trách nhiệm được giao

Ngay từ thời kỳ đầu của sự nghiệp cách mạng, Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phục vụ

sự nghiệp cách mạng Tư tưởng về công tác đào tạo và huấn luyện cán bộ đã

Trang 33

được Hồ Chí Minh quán triệt khá sâu sắc trong những lần Người đi chỉ đạo thực tiễn, đặc biệt là trong hai bài phát biểu chính của Người “Nói về công tác huấn luyện và học tập”phát biểu ngày 6 tháng 5 năm 1950 và “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” ngày 7 tháng 9 năm 1957

Từ đó đến nay, 50 năm đã trôi qua chúng ta đã làm được rất nhiều việc theo sự chỉ dẫn của Người, đã cung cấp cho Trung ương, địa phương, các ban ngành một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, đảm trách những công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó Chúng ta đã trụ được trong bão táp và phát triển Đó là mặt rất cơ bản

Trong giai đoạn hiện nay, khi đã giành được chính quyền, lãnh đạo công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đội ngũ cán bộ lại có vai trò quan trọng hơn Công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, những vấn

đề mới đặt ngày càng nhiều, những biến động trên thế giới và sự gắn kết vào phân công và hợp tác quốc tế, ngày càng sâu, đòi hỏi chúng ta phải đầu tư nhiều hơn nữa cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày một thiết thực hơn, nhằm đào tạo được một đội ngũ cán bộ vững vàng về chính trị, tư tưởng,

có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh; có năng lực, đủ sức giải quyết những vấn

đề thực tiễn mà sự nghiệp cách mạng của dân tộc đặt ra Đó là một đội ngũ cán

bộ biết: “Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân

mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc” [31, tr 285]

1.2.3 Mục tiêu đào tạo cán bộ

Một là, để phục vụ sự nghiệp cách mạng (vì cách mạng)

Đó là những con người hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng nhằm giành lại độc lập tự do cho dân tộc, nhằm xây dựng nước nhà phồn vinh để sánh

ngang vai với các dân tộc khác và đem lại hạnh phúc cho nhân dân “Học để

làm việc, làm người, làm cán bộ” Trong đó, thứ tự ưu tiên mục tiêu huấn luyện

về nhân cách được đặt trước mục tiêu huấn luyện để trở thành cán bộ Người

khẳng định “phải đào tạo một mớ cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm

Trang 34

việc Có thế Đảng mới thành công”, còn ngược lại, “nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng” không dám phụ trách, như thế là một việc thất bại cho Đảng” [28, tr 281]

Chính vì thế, Hồ Chí Minh nêu lên trách nhiệm của Đảng cầm quyền vừa

là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, được nhân dân giao cho trách nhiệm lãnh đạo toàn xã hội để đảm bảo quyền lợi cho dân Người cho rằng: “mọi chủ trương, chính sách của Đảng và chính phủ đều chỉ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Chính người dân là người làm nên thắng lợị lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là sự gắn

bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước

Đào tạo cán bộ là nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, vì cuộc sống, tự

do, hạnh phúc của nhân dân “ Phải có sức mình, làm sao phải có người lãnh đạo, quản trị, phải chống được tham ô, lãng phí Do đó phần lớn phải là ở cán

bộ

Làm sao cho nhân dân có công ăn việc làm để nâng cao đời sống của nhân dân lên, thì mức sống cán bộ mới nâng cao được Nâng cao được phần nào là do sức cố gắng của mình quyết định [31, tr 32]

Từ nhiệm vụ thực tiễn, cách mạng yêu cầu: cán bộ, đảng viên không chỉ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, mà còn phải lãnh đạo quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương ấy Vì thế họ “ 1 Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng 2 Phải tổ chức sự thi hành cho đúng 3 Phải tổ chức sự kiểm soát ” [28, tr 285] Yêu cầu này trở thành tiêu chuẩn, thước đo góp phần quan trọng vào việc đánh giá hiệu quả công việc của người cán bộ đảng viên Tuy nhiên, muốn có được năng lực đó, dù đảm nhiệm cương vị công tác nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải chịu khó học tập, rèn luyện, vì “ cách mạng cũng là một nghề, làm nghề gì cũng phải học, vậy làm cách mạng cũng phải học” [35, tr 224]

Trang 35

Hai là, để tăng cường sức mạnh cho tổ chức Đào tạo cán bộ góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng đoàn thể (vì tổ chức)

Để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm

Tổ chức là tổ chức của những con người, của cán bộ, của tổ chức Cán bộ

có tiến bộ, trưởng thành thì tổ chức mới tiến bộ trưởng thành được Theo Hồ Chí Minh: “ Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trả lại nơi quần chúng” [28, tr 224] Công việc của tổ chức có chạy tốt là nhờ nơi có cán bộ giỏi biết cách phối hợp giữa quần chúng với nhau “ công việc của mọi người, mọi địa phương, mọi ngành đều phối hợp với nhau, như một chuyến xe lửa Tất cả mọi người mọi địa phương, mọi ngành đều cố gắng, đều siêng năng, thì nước ta sẽ tiến bộ nhanh chóng, mau đến ga Nếu một người, một địa phương hoặc một ngành mà lười biếng, thì khác nào toàn tuyến xe chạy, mà một bánh xe trật ra ngoài đường ray Họ sẽ làm chậm trễ cả chuyến xe” [28, tr 631- 645]

Tổ chức đảng là hạt nhân lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các tổ chức hữu quan tại cơ sở cũng như chủ động đề xuất với cấp trên giải quyết những vấn đề không thuộc thẩm quyền Đồng thời kiểm tra, theo dõi quá trình thực hiện đạt kết quả

Người cán bộ bao giờ cũng gắn với tổ chức, nằm trong tổ chức Nói tới cán bộ lãnh đạo, quản lý là nói tới những người có trọng trách trong một tập thể Họ không thể đứng ngoài hay đứng trên tập thể Bởi vậy, việc đào tạo cán

bộ là một yêu cầu không thể thiếu Và xét đến cùng, tập thể là lý do tồn tại của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Uy tín, sức mạnh của Đảng và Nhà nước một phần lớn là phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ Vì vậy, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, phong cách quần chúng, tôn trọng sự thật, nói đi đôi với làm, nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trang 36

Ba là, vì sự hoàn thiện của bản thân người cán bộ (vì bản thân người cán bộ)

Tất cả mọi quan điểm của Hồ Chí Minh đều là vì con người Mục tiêu đào tạo cán bộ cũng vậy Người nói: “ Muốn giáo dục nhân dân làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ, đảng viên phải tự giáo dục và rèn luyện hành ngày Người xưa còn biết tu thân, mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để ghi việc tốt việc xấu Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống sao cho xứng với nhân dân và Đảng anh hùng” [35, tr.557] Theo Người: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” [35, tr 558]

Đào tạo cán bộ vì cán bộ, quan điểm này thể hiện thái độ tôn trọng con người của Hồ Chí Minh Nếu đào tạo cán bộ chỉ vì nhà nước, vì tổ chức, thì vô hình chung chỉ coi cán bộ là công cụ, là phương tiện và nội dung đào tạo cũng

sẽ tất hạn hẹp

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng sống trong xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên đều chịu ảnh hưởng của xã hội, cả cái tốt và cái xấu, cái hay và cái dở Chỉ có thể phát huy được cái tốt, cái hay, lọc bỏ cái xấu, cái dở bằng việc rèn luyện thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên Đã là cán bộ thì ít nhiều cũng có quyền lực Cho nên có lúc cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm, một số

bộ phận thoái hóa biến chất làm tổn hại đến uy tín và thanh danh của Đảng Với tinh thần cách mạng, theo Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên phải nhìn thẳng vào

sự thật, dám công khai thừa nhận khuyết điểm sai lầm trong công tác, lãnh đạo, vạch rõ những tệ nạn đã có ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó có những biện pháp sửa chữa và khắc phục Đó cũng là thái độ đúng đắn của cán bộ, vì

sự hoàn thiện chính bản thân của người cán bộ, do chính bản thân họ quyết định Nó phụ thuộc vào ý thức và khả năng của mỗi người

Trang 37

1.2.4 Nội dung đào tạo cán bộ

1.2.4.1 Về phẩm chất đạo đức

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người, tiêu chí để kiểm tra chất “người”, trình độ “người”, tính “người” của một con người Nhất là đối với cán bộ, trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách mạng Đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng Đạo đức của người cán bộ không phải là “đạo đức thủ cựu”, mà là đạo đức cách mạng Theo Hồ Chí Minh, đạo đức ở cán bộ là nói đến đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, “nó không phải

vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [28, tr 252] Sinh thời, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết về đạo đức cách mạng Khi nói về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh thường đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là những người nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Trong tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng xét đến cùng là yêu thương con người, trước hết

là nhân dân lao động, đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân

Yêu thương con người phải gắn với sự tin tưởng và phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn Đó là mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Bởi vì Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, con đường của Chủ nghĩa xã hội, nhân dân mới

có thể đấu tranh giành được độc lập chủ quyền dân tộc, thực sự có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc Song cách mạng là một quá trình lâu dài, đày khó khăn phức tạp, nếu đấu tranh giải phóng dân tộc đã khó thì công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội còn khó hơn nhiều Vì vậy, nó đòi hỏi cán bộ đảng viên phải luôn có lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

Cán bộ, đảng viên phải luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tất thắng của cách mạng Bởi vì niềm tin cách mạng, lập trường chính trị vững vàng là cơ sở giúp cán bộ, đảng viên có khả năng vượt qua mọi gian khổ hy

Trang 38

sinh, có những suy nghĩ và việc làm đúng đắn, có lợi cho dân, cho nước Người

có đạo đức cách mạng là người luôn phấn đấu thực hiện và vận động mọi người thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Đảng Theo Hồ Chí Minh, người có đạo đức cách mạng là người dù “khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng” [32, tr 288]

Cán bộ phải là những người nói phải đi đôi với làm, không được nói một đằng, làm một nẻo, hoặc nói nhiều nhưng làm ít Yêu thương con người ở người cách mạng không dừng lại ở những suy nghĩ tình cảm, mà đòi hỏi phải được thực hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực Theo Hồ Chí Minh, người có đạo đức cách mạng là người “sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi công việc được giao, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm, khi được giao việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đế n nơi đến chốn, bất kỳ việc to, việc nhỏ phải quyết làm cho thành công” [28, tr 645]

Người có đạo đức cách mạng phải là người không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ Bởi vì, để hoàn thành tốt mọi công việc được giao, cán

bộ phải là người có trình độ hiểu biết về chuyên môn, lý luận và thực tiễn Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ là người luôn có tinh thần học tập, nghiên cứu, “học thêm, học mãi để tiến bộ, càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm” Đó

là học để làm việc, chứ không phải để lấy bằng cấp, “để mặc cả với Đảng, với

tổ chức”

Đạo đức cách mạng đối lập với biểu hiện ngại khó, ngại khổ, lười học tập, nghiên cứu Hồ Chí Minh khẳng định trong “bất kỳ hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, tri thức và chính trị của mình” [28, tr 253]

Hiện nay ở nhiều nơi có tình trạng cán bộ lười học tập nghiên cứu, hoặc học chỉ cốt để lấy bằng cấp, chứ không phải học để nâng cao trình độ, để làm tốt các công việc được giao Theo Hồ Chí Minh, lười học tập nghiên cứu là

Trang 39

biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, của việc không quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đảng ta cũng đã khẳng định: “Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phải có kế hoạch học tập thường xuyên, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực thực tiễn Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải quy thành chế

độ Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự thoái hóa” [15, tr 140 - 141]

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về việc không ngừng học tập nghiên cứu Học tập ở Hồ Chí Minh là học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, học ở trong sách vở cũng như học ở trong nhân dân Luôn học tập và nghiên cứu là cơ sở giúp Hồ Chí Minh có sự hiểu biết sâu sắc sâu rộng về lý luận và thực tiễn trong nước cũng như ngoài nước, phát hiện và giải quyết kịp thời, đứng đắn những vấn đề của thực tiễn cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, là phải đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết Người có đạo đức cách mạng là người phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân, việc gì cũng bàn bạc với nhân dân Yêu thương con người, quan tâm đến đời sống của nhân dân là cơ sở giúp cho cán bộ, đảng viên có mối quan

hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân Ngược lại, nếu không có tình thương yêu con người, không quan tâm đến đời sống của nhân dân, cán bộ sẽ không tránh khỏi rơi vào quan liêu với dân chúng

Tình thương yêu con người, luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân là

cơ sở giúp người cán bộ có khả năng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ Nó giúp cho cán bộ luôn có tinh thần dũng cảm, dám nói, dám làm, “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khắc phục” Người nói: “Cán bộ muốn trở nên người cán bộ chân chính không có gì là khó

cả Điều đó là hoàn toàn từ lòng mình mà ra Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến tới chỗ chí công vô tư Mình đã chí công vô tư thì

Trang 40

khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những đức tính tốt như sau ngày càng nhiều Nói tóm tắt, tính tốt ấy có năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [28, tr 251]

Những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng cũng là những yêu cầu của nhận thức khoa học Nó không chỉ giúp cho người cán bộ có khả năng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, không mắc sai lầm khuyết điểm, mà còn có khả năng phát hiện và giải quyết kịp thời, đúng đắn những vấn đề của thực tiễn cách mạng Hồ Chí Minh khắng định: “Người có đạo đức cách mạng là người không có việc tư túi nó làm cho mù quáng, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phương hướng Biết xem người, xem việc Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian” [28, tr 252]

Hồ Chí Minh là người sớm nhận thức thấy vai trò của đạo đức cách mạng Vì vậy, Người luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cho người cán bộ Người đòi hỏi nội dung giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cho cán bộ phải cụ thể, thiết thực, phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của cách mạng Theo Người, trong những hoàn cảnh khác nhau thì yêu cầu về đạo đức cách mạng đối với cán bộ ít nhiều có sự khác nhau Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, yêu cầu hàng đầu đối với cán bộ là sẵn sàng đấu tranh hy sinh quên mình vì độc lập, chủ quyền dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân Song trong thời kỳ hòa bình xây dựng, khi Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có nhiều phẩm chất và năng lực khác nhau, trong đó một trong những yêu cầu không thể thiếu là phải có hiểu biết về văn hóa, khoa học, không quan liêu, tham ô, lãng phí và dám đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tham ô, lãng phí, quan liêu

Cán bộ công tác ở những ngành, lĩnh vực khác nhau thì yêu cầu về đạo đức cách mạng cũng ít nhiều có sự khác nhau Song theo Hồ Chí Minh, dù làm công việc gì, cán bộ cũng là những người luôn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với sự lãnh đạo của Đảng, với lợi ích của nhân dân, luôn có mối quan hệ mật thiết với nhân dân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Tổ chức Trung ương Vụ cơ sở Đảng (2010), Cẩm nang công tác tổ chức - cán bộ xã, phường, thị trấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang công tác tổ chức - cán bộ xã, phường, thị trấn
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Vụ cơ sở Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2007): Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Tài liệu học tập trong cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (dùng trong các trường đại học, cao đẳng)
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
5. Bùi Đình Phong (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
Tác giả: Bùi Đình Phong
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
6. Bùi Kim Hồng (2006), Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tổ chức, cán bộ
Tác giả: Bùi Kim Hồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Cao Thị Hà (2006), Thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước ở tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước ở tỉnh Nam Định
Tác giả: Cao Thị Hà
Năm: 2006
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Cục thống kê (2010), Niên giám thống kê Nam Định, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Nam Định
Tác giả: Cục thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
10. Đặng Xuân Kỳ (chủ nhiệm đề tài) Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, chuyên đề khoa học cấp nhà nước KX.02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ
11. Đào Duy Quát (2004), Về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ Đảng viên hiện nay: thực trạng và giải pháp. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ Đảng viên hiện nay: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đào Duy Quát
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
12. Đào Thanh Hải (2003), Cẩm nang pháp luật về cán bộ công chức, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật về cán bộ công chức
Tác giả: Đào Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
14. Đảng bộ tỉnh Nam Định - Thành ủy Nam Định (2011), Báo cáo Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42- NQ/ TW ngày 30/11/2004 và Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị khóa IX, số 38-BC/TU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 42- NQ/ TW ngày 30/11/2004 và Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị khóa IX, số 38-BC/TU
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Nam Định, Thành ủy Nam Định
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCH TW khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCH TW khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu, khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu, khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn bản hướng dẫn thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, Nxb Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hướng dẫn thực hiện công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1999
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
19. Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ
Tác giả: Đức Vượng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
20. Đức Vượng (2010), Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài
Tác giả: Đức Vượng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
21. Hà Quang Ngọc (2010), Góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước hiện nay
Tác giả: Hà Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
22. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1997), Phân viện thành phố Hồ Chí Minh: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w