Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh .... Một số hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGÂN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGÂN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15 LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hồ Khang
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH
PHÚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 9
1.1 Vài nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử tỉnh
Vĩnh Phúc 9 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội 9 1.1.2 Truyền thống lịch sử 12 1.2 Công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Vĩnh
Phúc trước năm 1997 15 1.2.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 15 1.2.2 Khái quát về công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ cơ sở tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 1997 18 1.3 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác giáo dục lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm
2005 24 1.3.1 Đặc điểm tình hình và yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Vĩnh Phúc 24 1.3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 29 1.3.3 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh 38
Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CƠ SỞ TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 47
2.1 Yêu cầu mới trong công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ cơ sở của tỉnh và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 47 2.1.1 Yêu cầu mới trong công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 47
Trang 42.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 54
2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở 60
2.2.1 Chỉ đạo xây dựng chương trình hành động, kế hoạch và đề án về công tác giáo dục lý luận chính trị 60
2.2.2 Chỉ đạo hoạt động của Trường chính trị tỉnh và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện, thị xã 66
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 80
3.1 Nhận xét tổng quát 80
3.1.1 Một số thành tựu trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở 80
3.1.2 Một số hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 87
3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu 91
3.2.1 Hoạch định chủ trương giáo dục lý luận chính trị cần bám sát vào quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, yêu cầu, nhiệm vụ của tỉnh và đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 91
3.2.2 Phải có sự phối kết hợp của các ban ngành, đoàn thể để tiến hành công tác giáo dục lý luận chính trị một cách thực chất, tránh hình thức 93
3.2.3 Phải có sự chỉ đạo sát sao, nhạy bén để tạo lập đồng bộ các yếu tố cho việc nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị 95
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 111
Trang 5UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 61
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên là một bộ phận của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam Lãnh đạo thực hiện công tác GDLLCT là một khâu quan trọng trong lãnh đạo công tác xây dựng Đảng về tư tưởng Công tác tư tưởng muốn làm tốt trước hết phải làm tốt công tác GDLLCT V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [24, tr 32] và “Chỉ Đảng nào có lý luận tiên phong
hướng dẫn, thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [24, tr 32]
Trải qua hơn 80 năm hoạt động và trưởng thành, trong các thời điểm, hoàn cảnh khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chăm lo đến công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên Công tác GDLLCT đã góp phần quan trọng làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng và nền tảng tinh thần của xã hội; nâng cao tính tự giác chính trị của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong việc kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị của Đảng
Ngày nay, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan trọng Đất nước đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH Thực tiễn đó đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt nam Đó là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý luận khoa học của cách mạng, nền tảng tư tưởng của Đảng và của cách mạng Việt Nam Đó cũng là kết quả và thắng lợi của quá trình tổ chức giáo dục truyền bá hệ tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, trong đó GDLLCT giữ vai trò quan trọng nhằm nâng cao
Trang 7sự nghiệp cách mạng làm mất niềm tin trong nhân dân; một bộ phận cán bộ đảng viên vẫn còn mắc bệnh độc đoán chuyên quyền, phong cách làm việc thiếu khoa học, thiếu dân chủ Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới Để có thể giữ vững ổn định chính trị
và tiếp tục phát triển đất nước, nhất thiết Việt Nam phải tỉnh táo phán đoán,
xử lý kịp thời Điều đó đòi hỏi người cán bộ từ Trung ương đến cơ sở phải có trình độ LLCT để đáp ứng và giải quyết những yêu cầu nhiệm vụ được giao; bởi trình độ LLCT của người cán bộ là yếu tố “then chốt” cho mọi hoạt động nhận thức và hành động thực tiễn của họ, là khâu quyết định trực tiếp sự thành bại của cách mạng, gắn với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của
chế độ Trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc (viết năm 1947) Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công tác thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”;
“lý luận phải liên hệ với thực tế” Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, GDLLCT phải được đặt lên hàng đầu và trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong giáo dục về mọi mặt đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ sở Vì chính họ là những người trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở cơ sở Vấn
đề này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc-
Trang 8độ tư duy lý luận hạn chế, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn họ thường mắc phải bệnh kinh viện, giáo điều, điều hành công tác lãnh đạo, quản lý cũng như
xử lý công việc một cách máy móc, kém hiệu quả, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tổ chức thực tiễn ở địa phương
Trước tình hình ấy, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đúc rút kinh nghiệm từ quá trình đó, đang trở thành một yêu cầu cấp thiết Đó
là những lý do chủ yếu để chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài cho luận văn thạc
sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt nam
Trang 94
Trong những năm vừa qua, lĩnh vực này đã có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, tiêu biểu là những công trình sau:
- Các công trình tham khảo, chuyên khảo
“Thế giới quan khoa học và những vấn đề lý luận của việc xây dựng thế giới quan khoa học trong xã hội xã hội chủ nghĩa" (1975), V.I.Vaxilenco, Nxb Matxcova
“Một số vấn đề về công tác tư tưởng trong tình hình mới” (1995), Hữu
Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
“Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin" (2010),
GS,TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
“Tạo bước chuyển biến mới trong việc học tập lý luận chính trị của cán
bộ, đảng viên” của Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 1999
- Luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ
“Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ các bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị
Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ Triết học, năm 2001
“Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy Mác-Lênin ở các trường chính trị tỉnh” của Nguyễn Đình Trãi, luận án tiến sĩ Triết học,
năm 2001
Trang 105
“Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở miền núi từ năm 1996 đến năm 2006” của Lê Văn
Minh, luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng CSVN, năm 2009
“Quá trình đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong cuộc đấu tranh “chống diễn biến hòa bình” của Vũ
Ngọc Am, luận án tiến sĩ Triết học, năm 2002
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở như đề tài mà chúng tôi đã lựa chọn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hệ thống quan điểm của Đảng về công tác GDLLCT
- Làm rõ quá trình quán triệt, vận dụng hệ thống quan điểm của Đảng
về công tác GDLLCT của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc để đề ra chủ trương và những biện pháp, giải pháp chủ yếu đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phù hợp với thực tiễn địa phương
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở ở địa phương
- Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 11- Nội dung: Những chủ trương cơ bản, chủ yếu, những biện pháp,
những sự kiện quan trọng trong quá trình quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác GDLLCT
- Không gian: Luận văn nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng có
nghiên cứu ở mức độ nhất định các tỉnh lân cận để so sánh
- Thời gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc đối với công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2010, có phần liên hệ với thời gian trước để so sánh
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối của Đảng, nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác GDLLCT
5.2 Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác nguồn tư liệu chủ yếu là các văn kiện Đại hội Đảng, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị cũng như các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác GDLLCT từ năm 1997 đến năm 2010; những báo cáo tổng kết thực tiễn công tác GDLLCT của Ban
tư tưởng - văn hóa Trung ương và các cơ quan có liên quan
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn là kết hợp phương pháp lịch sử
và phương pháp logic để làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Ngoài ra, luận
Trang 127
văn còn kết hợp phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh để dựng lại bức tranh lịch sử về công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Để luận giải và rút ra những kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn, luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp logic - lịch sử, so sánh và hệ thống hóa
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác
GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010, trên cơ sở đó nêu rõ những thành tựu và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
- Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác GDLLCT, góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở thời gian tới
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền
về lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ đổi mới
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
Về ý nghĩa lý luận: Luận văn dựa trên những lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, áp dụng vào thực tiễn lịch sử để nêu lên những lý luận khoa học về công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc những năm 1997 đến năm
2010
Về ý nghĩa thực tiễn: Luận văn nêu lên cách nhìn vừa cụ thể vừa khái quát về chặng đường lịch sử của Đảng bộ tỉnh trong công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2010 Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn của tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới
Trang 138
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối
với công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác
giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 149
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH VĨNH PHÚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Vài nét khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội
Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng, thuộc Trung du và Miền núi phía Bắc, có tọa độ địa lý từ 21°08′-21°19′ độ vĩ Bắc và 105°109′-106°47′ độ kinh Đông Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có mùa đông lạnh Hàng năm có hai mùa nóng và lạnh rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 24 độ C Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, phía Bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang; phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông và phía Nam giáp với Thủ đô Hà Nội
Do vị trí nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng, là miền chuyển tiếp,
cầu nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội với các tỉnh đồng bằng Bắc bộ nên hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ khá phát triển Với tổng chiều dài đường bộ khoảng 1.500km, Vĩnh Phúc là điểm đầu của Quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (Quảng Ninh), tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, con đường xuyên Á chạy qua Cảng Cái Lân - Nội Bài - Vĩnh Phúc - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) dài hơn 40km; đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh; đồng thời có hệ thống giao thông đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc) Vĩnh Phúc có 4 con sông chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ bởi vậy giao thông đường thủy phát triển khá nhộn nhịp Tỉnh Vĩnh Phúc có chín đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị
xã Phúc Yên và bảy huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên,
Trang 1510
Vĩnh Tường, Yên Lạc và Sông Lô Trong đó thành phố Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh , cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25km
Quá trình phát triển KT-XH của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế, tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Đồng thời, sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp
và những thành phố lớn của quốc gia và quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 2, Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV Thủ đô Hà Nội
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi, trung du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: Vùng núi, Trung du và Đồng bằng Với diện tích tự nhiên 123.650,05 ha; đất nông nghiệp: 86.718,73ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: 50.365,99ha; đất lâm nghiệp32.688,66 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản: 3.590,21ha, đất nông nghiệp khác 73,8 ha; đất phi nông nghiệp 34.768,7 ha; đất chưa sử dụng 2.162,54ha Thiên nhiên, đất đai, sông nước đã ban tặng cho người dân Vĩnh Phúc những sản vật quý giá
Ngay từ buổi đầu lịch sử, thời các vua Hùng dựng nước, Vĩnh Phúc nằm trong địa phận bộ Văn Lang, trên hợp lưu của 3 con sông: Sông Thao, Sông Đà, Sông Lô… Từ năm 111-TCN, nhà Hán xâm chiếm nước ta, chia làm 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Nhân, Nhật Nam Khi đó, dưới quận là huyện, và Vĩnh Phúc bấy giờ thuộc huyện Mê Linh Trải qua nhiều biến động lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên lần lượt ra đời Đến ngày 12/2/1950 tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Yên
và Phúc Yên nhằm tăng cường sự chỉ đạo phong trào đấu tranh hậu địch Ngày 26/1/1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, lấy tên là Vĩnh Phú Sau nhiều lần thay đổi, đến tháng
Trang 1611
1/1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XI,
kỳ họp thứ 10 gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Vĩnh Yên và 5 huyện (Lập Thạch, Vĩnh Tường, Tam Đảo, Mê Linh) [51, tr 13]
Tháng 6/1998, huyện Tam Đảo được chia tách thành 2 huyện: Tam Dương và Bình Xuyên Ngày 9/12/2003, huyện Tam Đảo mới được thành lập
Từ 1/8/2008, Chính phủ ra Quyết định tách huyện Mê Linh sát nhập vào
thành phố Hà Nội, ngày 29/12/2008, huyện Lập Thạch được chia tách thành 2
huyện: Lập Thạch và Sông Lô Như vậy, hiện nay tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện với 137
hội XIII Đảng bộ tỉnh), tận dụng lợi thế về địa lý, khí hậu, nguồn nhân lực dồi
dào; với chính sách thông thoáng “trải thảm đỏ mời gọi đầu tư”, Vĩnh Phúc đã
có sự chuyển đổi rõ rệt về cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ Vốn là tỉnh thuần nông, hiện nay trên địa bàn Vĩnh Phúc đã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung như: khu công nghiệp Khai Quang, khu công nghiệp Bình Xuyên, khu công nghiệp Bá Thiện Công nghiệp, dịch vụ về Vĩnh Phúc kéo theo sự tiến triển của tiểu thủ công nghiệp, một số làng nghề thủ công nghiệp truyền thống được khội phục và phát triển ổn định Một số thị trấn, thị
Trang 1712
tứ mới được hình thành, tỷ trọng GDP công nghiệp, dịch vụ so với nông nghiệp đã dần chiếm ưu thế, tạo điều kiện cho nền kinh tế của tỉnh phát triển toàn diện và vững chắc, GDP năm sau cao hơn năm trước, bình quân 17,4%/ năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản Nếu như năm 2000, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng; dịch vụ; nông lâm nghiệp thủy sản lần lượt là: 14,1 %; 19% và 66,9% Đến năm 2005 tỷ lệ này là 18%; 20,7% và 61,3% Đến năm 2010, nông nghiệp chỉ chiếm 31,2 %; công
nghiệp, xây dựng 33,1 %; dịch vụ 35,7% [60, tr 12]
Song song với phát triển kinh tế, giáo dục và đào tạo tiếp tục được phát triển, đảm bảo cân đối về quy mô, loại hình và nâng cao chất lượng, từng bước được thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, lĩnh vực y tế dự phòng, tiêm chủng, bảo vệ sức khỏe trẻ em, khám chữa bệnh có nhiều chuyển biến tích cực Cơ
sở khám chữa bệnh được đầu tư và nâng cấp Hoạt động thể dục, thể thao, rèn luyện sức khỏe của nhân dân được chú ý phát triển Bộ máy chính quyền các cấp được kiện toàn theo hướng tinh giảm, nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều
hành quản lý xã hội
Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, không còn hộ đói; số hộ nghèo giảm từ 18,04% năm 2005 xuống còn 7% năm 2010 (theo tiêu chí mới); thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 31 triệu đồng, tương đương 1.630 USD, gấp 3,45 lần so với năm 2005 Phong trào đền ơn đáp nghĩa và giúp giúp đỡ các gia đình chính sách khó khăn đạt kết quả cao, góp phần ổn định đời sống các đối tượng bảo trợ xã hội [20, tr 23] Diện mạo của Vĩnh Phúc có sự thay đổi căn bản, tiềm lực và vị thế của tỉnh trong khu vực và cả nước ngày càng được tăng cường
1.1.2 Truyền thống lịch sử
Người dân Vĩnh Phúc có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, đoàn kết, anh dũng trong đấu tranh chống lại sự áp bức bất công của thế lực
Trang 1813
phong kiến và kẻ thù xâm lược Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước
và giữ nước, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc đã nêu cao ý chí quật cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù để bảo vệ quê hương đất nước
Vào buổi sơ khai lịch sử dân tộc, khi giặc Ân sang cướp nước Văn Lang, nhân dân vùng Vĩnh Phúc đã đứng lên giúp Vua đánh giặc cứu nước Đến thời An Dương Vương nhiều người Vĩnh Phúc đã giúp nhà Vua chống giặc ngoại xâm bảo vệ nước Âu Lạc
Trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân Vĩnh Phúc liên tục đứng lên chống lại ách áp bức, bóc lột và âm mưu đồng hoá của kẻ thù, giữ vững bản sắc dân tộc và độc lập tự do của tổ quốc Mở đầu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng những năm đầu Công nguyên Thế kỷ VI nhân dân Vĩnh Phúc tham gia ủng hộ nghĩa quân của Lý Bí chống quân Lương ở vùng hồ Điển Triệt (Tứ Yên - Lập Thạch) Thế kỷ X giúp tướng quân Nguyễn Khoan xây dựng thành Gia Loan chống giặc Thế kỷ XIII giúp vua tôi nhà Trần làm nên chiến thắng Bình Lệ Nguyên đánh giặc Nguyên Mông thắng lợi Thế kỷ XV có danh tướng Trần Nguyên Hãn giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, được phong tới chức tả tướng quốc Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trên đất Vĩnh Phúc
từ năm 1885 đến 1893, các thổ hào trong tỉnh gồm các ông Đề, ông Đốc, ông Lãnh (những chức quan thời Nguyễn) đã dấy binh chống lại xâm lược của thực dân Pháp, gây cho chúng nhiều thiệt hại Hoạt động ở vùng Bạch Hạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Lập Thạch có nghĩa quân của Đốc Khoát, Đốc Giang, Đốc Huỳnh, Đốc Thành Hoạt động ở cùng Kim Anh, Đa Phúc, Yên Lãng có Lãnh Giang, Đốc Két, Tuần Bốn
Những năm đầu thế kỷ XX nhân dân vùng Vĩnh Phúc lại đứng lên ủng
hộ nghĩa quân Đề Thám chống Pháp ở vùng núi Tam Đảo Tiếp theo là ủng
hộ cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên do Đội Cấn cầm đầu năm
1917, khi nghĩa quân về hoạt động trên đất Vĩnh Phúc Năm 1930, Nguyễn Thái Học quê ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc là lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng
Trang 1914
lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Bái, đã để lại tiếng vang và bài học về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ở Việt Nam Đặc biệt, trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống đế quốc Mỹ, quân dân Vĩnh Phúc đã liên tục giành được những chiến thắng vẻ vang, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, giữ vững được các khu du kích, đồng thời, lực lượng ta càng đánh càng thắng Trong 2 lần chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, quân dân Vĩnh Phúc
đã phối hợp với bộ đội chủ lực đáng 783 trận, bắn rơi 120 máy bay Mỹ, tiêu diệt hàng ngàn tên địch, phá hoại hàng chục căn cứ quan trọng của địch…
[51, tr 138]
Những truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Vĩnh Phúc qua hàng nghìn năm lịch sử, chẳng những tô thắm thêm truyền thống của quê hương mà còn là mảnh đất tốt để khi có hạt giống cách mạng của Đảng gieo mầm sẽ nhanh chóng phát triển
Nhìn lại chặng đường lịch sử mà Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc đã đi qua, nhất là trong hơn 15 năm tái lập tỉnh, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, có thể tự hào về những thành tựu to lớn mà Đảng bộ và nhân dân đã đạt được
Bên cạnh những thuận lợi, Vĩnh Phúc cũng có nhiều khó khăn, xuất phát điểm kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng còn kém, tuy chưa chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã khới sắc, nhưng nhìn chung vẫn là tỉnh thuần nông, sản xuất mạnh mún, hàng hóa nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao, công nghiệp nhỏ
bé, nguồn thu ngân sách còn hạn chế Đời sống nhân dân ở một số vùng còn gặp nhiều khó khăn, hàng vạn người thiếu việc làm, bộ máy tổ chức chưa hoàn thiện, đội ngũ cán bộ, viên chức còn thiếu, chưa đồng bộ, trật tự kỷ cương còn lỏng lẻo, năng lực lãnh đạo và quản lý, trình độ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức chưa đáp ứng được những đòi hỏi của giai đoạn mới, một bộ phận cán bộ, đảng viên tính chiến đấu giảm sút, suy thoái đạo đức
Việc chia tỉnh, tái lập tỉnh mới, nhìn chung cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi Song đây là việc lớn, tác động đến tâm tư, tình cảm, công tác,
Trang 20Khái niệm “cán bộ chủ chốt”, “cán bộ chủ chốt cấp cơ sở”
Theo định nghĩa của “Từ điển tiếng việt” thì chủ chốt là: “Quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào” [32, tr 184]
Theo định nghĩa trên khi xác định cán bộ lãnh đạo chủ chốt cần đặt người cán bộ trong một tổ chức nhất định để xem xét Có thể cán bộ ở tổ chức này trong mối quan hệ này là cán bộ chủ chốt, nhưng trong tổ chức khác, trong mối quan hệ khác không phải là cán bộ chủ chốt
Như vậy, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất ở mỗi tổ chức, có tác dụng chính chi phối tổ chức ấy
Vậy, cán bộ chủ chốt của mỗi cấp là những người đứng đầu các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và đứng đầu ban ngành của mỗi cấp, được gắn với tổ chức và chức danh cụ thể Họ là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống bộ máy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và các đoàn thể chính trị, xã hội ở cơ sở, có tác dụng chính chi phối việc chấp hành các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội trên địa bàn và lĩnh vực mà họ phụ trách
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở và tầm quan trọng của việc giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Trang 2116
Mặc dù còn hạn chế nhiều về mặt lịch sử, tổ tiên ta đã rút ra được quy luật khắc trên bia đá đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám: “Các bậc tiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử của một chỉnh thể Khi yếu tố này dồi dào thì xã hội phát triển phồn vinh Khi yếu tố này suy giảm thì đất nước bị suy thoái” [32, tr 63] Quy luật này không chỉ nghiệm đúng với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, mà còn đúng với các dân tộc trong thời đại ngày nay
Thật vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở là nhân tố có vai trò quan trọng, quyết định trong việc tổ chức lực lượng quần chúng nhân dân thành sức mạnh để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn
Cán bộ chủ chốt cơ sở là những người đem quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước giải thích cho viên chức cũng như quần chúng nhân dân hiểu rõ và thi hành Đồng thời nắm tình hình, tâm tư nguyện vọng của viên chức và nhân dân phản ánh cho Đảng, Nhà nước hiểu rõ, để đề ra đường lối, Nghị quyết, chủ trương, chính sách được đúng đắn và khả thi
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Việt Nam đang đẩy mạnh CNH, HĐH; vì vậy vấn đề cán bộ chủ chốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Càng đi vào kinh tế thị trường, càng hội nhập với khu vực
và thế giới, trong nền kinh tế tri thức, với sự bùng nổ thông tin thì nhiệm vụ cách mạng càng mới mẻ và đầy khó khăn, phức tạp Chúng ta càng phải ý thức sâu sắc hơn tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của vấn đề cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt của cấp cơ sở nói riêng Điều đó được thể hiện ở những phương diện sau:
Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở giữ vai trò quyết định trong việc
hiện thực hoá sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội ở cơ sở Họ là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, pháp luật của Nhà nước, tạo nên các phong trào cách mạng của quần chúng với những thành tựu kinh nghiệm có giá trị cho sự phát triển chung của đất nước
Trang 2217
Ngược lại những chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đúng đắn nhưng không được triển khai thực hiện hoặc không đến nơi đến chốn, nguyên nhân chính là do thiếu những cán bộ chủ chốt cơ sở có trình độ, năng lực, lãnh đạo, tổ chức, vận dụng, năng động sáng tạo vào điều kiện cụ thể của từng đơn vị, cơ sở
Thứ hai: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở giữ vai trò quyết định trong
việc xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy trong sạch vững mạnh và phong trào cách mạng sâu rộng của quần chúng nhân dân ở cơ sở Vì họ là người trụ cột, trung tâm đoàn kết, sắp xếp, bố trí điều hành, tập hợp lực lượng và là linh hồn của các tổ chức đó Họ tác động quyết định đến hiệu quả lãnh đạo, quản lý, công tác vận động quần chúng, và sự hoàn thành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức trong hệ thống chính trị
Do vậy, một mặt chỉ có thể đào tạo, bồi dưỡng, củng cố , kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở mới đảm bảo tăng cường được khả năng lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Mặt khác ở cơ sở cuộc sống đòi hỏi phải phát huy vai trò, sức mạnh, sự sáng tạo
và tinh thần làm chủ của nhân dân Nơi đây qua các phong trào cách mạng của quần chúng sẽ sàng lọc sản sinh ra những cán bộ tốt, đồng thời đào thải những cán bộ kém phẩm chất, năng lực, đổi mới cán bộ thúc đẩy những cuộc cải cách có giá trị và ý nghĩa cách mạng to lớn
Thứ ba: Đội ngũ cán bộ chủ chốt sẽ là nguồn cung cấp cán bộ cho cấp
trên Vì cơ sở là trường học thực tiễn sinh động, thiết thực và là nơi rèn luyện, trưởng thành của đội ngũ cán bộ
Thực tế cho thấy không ít cán bộ do chưa từng trải qua rèn luyện thực tiễn phong trào cách mạng ở cơ sở, khi được đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo ở những cấp cao hơn thường không thích ứng với công tác và gặp nhiều khó khăn Ngược lại không ít cán bộ tiêu biểu từng lăn lội ở cơ sở đã trưởng thành, thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước
Trang 2318
Từ những phương diện nêu trên, đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt và là những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại trong công cuộc phát triển Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhất là đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn
Như vậy: “Cán bộ chủ chốt là cái gốc của mọi công việc và công tác đào tạo , bồi dưỡng cán bộ là công việc gốc của Đảng” [39, tr 40] Có khẳng định đúng đắn, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ
sở thì mới có quan tâm và làm tốt công tác đào tạo cán bộ
Trong sự nghiệp đổi mới và CNH, HĐH đất nước như ngày hôm nay, muốn đạt tới thành công thì nhất thiết phải đầu tư thoả đáng cho công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ để có nhiều cán bộ chủ chốt tốt - tức cán bộ là vốn quý của Đảng, đào tạo ra nhiều “vốn” nhờ đó mà làm ra nhiều “lãi” cho nhân dân
Trên đây là những quan niệm về cán bộ, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt nói riêng, là cơ sở để xác định đối tượng đào tạo chủ yếu của trường Chính trị Tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Khái quát về công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 1997
Đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc đa số được trưởng thành trong kháng chiến, trong hoạt động sản xuất, một bộ phận trưởng thành từ thực tiễn, phong trào công tác đoàn thanh niên, phụ nữ, các đoàn thể ở địa phương; có ý chí tự lực, tự cường; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn kiên định lập trường mục tiêu lý tưởng XHCN, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
Trong những năm trước đổi mới, trước những biến động của tình hình thế giới, bên cạnh mặt tích cực, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu rèn luyện đã bị mặt trái của kinh tế thị trường tác động, đã có những biểu hiện dao động về tư tưởng, thoái hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống, quan liêu, hách dịch, xa dân, chạy theo đồng tiên, cơ hội, thực dụng, lợi dụng chức quyền và
Trang 2419
những sơ hở của cơ chế, chính sách để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính dẫn đến vi phạm pháp luật Một số cán bộ đã bộc lộ tư tưởng cá nhân, kèn cựa địa vị, cục bộ địa phương gây mất đoàn kết [39, tr 47-48]
Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80 (TK XX), trước sự phát triển của xã hội và yêu cầu của cách mạng, công tác GDLLCT đã bộc lộ một số bất cập, đòi hỏi cần phải khắc phục Vì vậy, năm 1983 Ban Bí thư Trung ương
(khóa V) đã ra Quyết định 15 - QĐ/TW, ngày 2/1/1983, “Về công tác trường Đảng”, nhằm sắp xếp lại hệ thống trường Đảng cho phù hợp với yêu cầu của
tình hình mới, tiếp tục thực hiện chủ trương cải tiến công tác GDLLCT
Quyết định nêu rõ: “Nhiệm vụ cách mạng hiện nay đòi hỏi phải tiến
hành cải cách giáo dục lý luận chính trị, trước hết là cải cách công tác đào tạo cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chủ chốt của Đảng và Nhà nước làm cho đội ngũ đủ phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực tổ chức
thực tiễn” [7, tr 395] Đồng thời, Quyết định chỉ rõ yêu cầu cải tiến chương
trình, nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp học tập, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GDLLCT
Tháng 12/1983, Ban Bí thư đã ra Quyết định số 30 - QĐ/TW “Về tăng cường công tác GDLLCT tại chức cho cán bộ, đảng viên”, đáp ứng yêu cầu
bối dưỡng cho đông đảo cán bộ, đảng viên ở cơ sở về chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng, nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn
BCH Trung ương còn quyết định chức năng của trường Đảng huyện, quận, thị xã vừa mở lớp tập trung vừa mở lớp tại chức bối dưỡng các đảng ủy viên và bí thư chi bộ cơ sở
Nhằm tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo, quản lý của tỉnh, Thành
ủy và UBND các tỉnh, thành phố đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
ngày 6 tháng 9 năm 1994, Ban Bí thư ra Quyết định số 88 - QĐ/TW về việc
“Thành lập Trường Chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”
Trang 2520
(gọi tắt là Quyết định 88) trên cơ sở thống nhất Trường Đảng và Trường Hành chính hoặc Trường Quản lý Nhà nước của tỉnh, thành phố, gọi là Trường Chính trị tỉnh, thành phố, có chức năng nhiệm vụ:
- Đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương: trưởng, phó phòng huyện; trưởng, phó, phó trưởng các ban, ngành cấp tỉnh và cán bộ dự nguồn các chức danh trên)
- Bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng trên về LLCT, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về quản lý hành chính Nhà nước và công tác vận động quần chúng
- Tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn ở địa phương [3,
tr 23]
Trên cơ sở Quyết định số 88 - QĐ/TW, ngày 6/9/1994 của Ban Bí thư,
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã cụ thể hóa ở địa phương Ngày 4/5/1995, Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh chính thức được đổi tên là Trường Chính trị tỉnh theo Quyết định số 720/QĐ-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phú Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh được thành lập ngày 4/11/1992 trên cơ sở hợp nhất
3 trường: Trường Đảng, Trường Hành chính và Trường Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, theo Quyết định số 1154/ QĐ-UB, ngày 4/11/1992
của UBND tỉnh Vĩnh Phú về việc thành lập Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ tỉnh Vĩnh Phú [25, tr 84]
Thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, từ năm 1992 đến năm 1996, Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phú đã đào tạo, bồi dưỡng được 8.098 học viên; trong đó đào tạo 2.868 học viên Trung cấp lý luận chính trị, 175 học viên trung cấp QLNN, 134 học viên đại học chính trị, 26 học viên cao học kinh tế; bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho 1.440 cán bộ chính quyền cơ
sở, 907 chuyên viên, 121 trung cao cấp QLNN, hơn 2.500 cán bộ chủ chốt các
cấp [25, tr 92]
Trang 2621
Trước nhu cầu về học tập LLCT của cán bộ, đảng viên ngày càng tăng,
bên cạnh Quyết định số 88 - QĐ/TW về việc “Thành lập Trường Chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, ngày 3/6/1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định số 100- QĐ/TW “Về việc tổ chức TTBDCT ở cấp huyện” Quyết định nêu rõ mục tiêu thành lập các TTBDCT cấp huyện:
Nhằm tăng cường công tác chính trị, tư tưởng thường xuyên bồi dưỡng đường lối chính sách của Đảng cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm tổ chức thực hiện các chương trình GDLLCT, nâng cao trình độ kiến thức và nghiệp vụ cho cán bộ đảng, chính quyền và đoàn thể trên địa bàn huyện [3, tr 323]
Theo Quyết định số 100 - QĐ/T, TTBDCT huyện (quận, thị xã, thành
phố) có nhiệm vụ và tổ chức như sau:
* Về nhiệm vụ:
- Tổ chức bồi dưỡng về LLCT, nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ trên địa bàn huyện( quân, thị xã, thành phố) không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của trường tỉnh, trước hết là bí thư chi bộ, trưởng thô, trưởng bản, các đối tượng phát triển đảng viên, đảng viên mới
- Tổ chức thông tin khoa học, thời sự, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở để thông qua đó thông tin cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện
- Thực hiện một số nhiệm vụ bồi dưỡng khác xuất phát từ nhu cầu thực
tế của địa phương, do cấp ủy quy định
* Về mặt tổ chức:
- Bộ máy TTBDCT có giám đốc (có thể bố trí trưởng Ban Tuyên giáo kiêm giám đốc trung tâm), giáo vụ, hành chính với biên chế gọn nhẹ không quá 5 người, điều chỉnh trong số cán bộ hiện có trong biên chế của cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị (không tăng thêm tổng số biên chế) Các Trung tâm có đội ngũ giảng viên kiêm chức và có chế độ mới cộng tác viên
Trang 2722
- TTBDCT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc huyện, thị ủy có vị trí tương đương các phòng, ban của huyện thị, có tài khoản và con dấu riêng Kinh phí hoạt động của Trung tâm thuộc ngân sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hằng năm và dài hạn của Nhà nước [17, tr 1]
Căn cứ vào Quyết định số 100 - QĐ/TW, ngày 3/6/1995, của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khóa VII), Hướng dẫn Liên ban số 08 HDLB/TCTW TTVHTW, ngày 26/8/1995, của Ban Tổ chức - Ban Tư tưởng văn hóa Trung
-ương “Về việc tổ chức trung tâm bối dưỡng chính trị cấp huyện”, Ban thường
vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số 128 - QĐ/TU, ngày 11/11/1996, “Về việc thành
lập trung tâm bối dưỡng chính trị cấp huyện, thị xã” [39, tr 1], theo đó, từ
ngày 01/12/1996, các huyện, thị xã đều thành lập TTBDCT trên cơ sở nâng cấp Trung tâm giáo dục chính trị (còn gọi là trường Đảng) huyện, thị ủy trước đây
Thực hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh, thời gian này các TTBDCT tập trung quán triệt các Nghị quyết của Đảng và Tỉnh ủy, cụ thể:
- Tham mưu cho cấp ủy tổ chức sinh hoạt chính trị sâu rộng, tham gia ý kiến vào các dự thảo Văn Kiện Đại hội VII
- Tổ chức Hội Nghị tập huấn 6 chuyên đề về nội dung các văn kiện Đại hội VII: Khẳng định con đường đi lên CNXH; những định hướng lớn trong chính sách kinh tế - xã hội; đổi mới hệ thống chính trị và vấn đề dân chủ XHCN; những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng; những vấn đề chủ yếu về Điếu lệ Đảng (sửa đổi); đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới (1991 - 1995)
- Tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII về đổi mới, chỉnh đốn Đảng, công tác quốc phòng và an ninh
- Tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 09 - NQ/BCH, ngày
18/02/1995, “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”
- Đồng thời, phối hợp với Trường Chính trị tỉnh mở các lớp trung cấp LLCT tại các huyện
Trang 28hiệu quả hơn, tránh tình trạng “lấn sân” giữa Trường và Trung tâm [13, tr 29]
Nếu như trước đây cả Trường Chính trị và các Trung tâm đều triển khai nghị quyết của Đảng sau mỗi kỳ Đại hội, mở lớp đối tượng Đảng thì nhiệm vụ này bây giờ chỉ giao cho các TTBDCT huyện, thị xã
Có thể nói Quyết định 88 và Quyết định số 100 của Ban bí thư đã tạo
một bước ngoặt trong công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở, phân công, phân nhiệm rõ ràng hơn, tạo điều kiện cho mỗi đơn vị hoạt động có hiệu
quả hơn Sự ra đời của các TTBDCT cấp huyện theo Quyết định 100 -QĐ/TW
và Quyết định 28 - QĐ/TU đã đáp ứng yêu cầu về thông tin và học tập LLCT
của cán bộ, đảng viên cơ sở ngày càng tăng lên, được các địa phương hoan nghênh đón nhận và nhanh chóng triển khai
Như vậy, nhờ sự định hướng tích cực của Tỉnh ủy, sự chủ động sáng tạo của các cấp ủy, Ban giám đốc Trường Chính trị tỉnh và Ban giám đốc Trung tâm các huyện, thị, công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn trước năm 1997 đã thu được những kết quả nhất định Những kết quả đó, mặc dù còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, song đã góp phần quan trọng thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra
Trang 2924
1.3 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 1997 đến năm 2005
1.3.1 Đặc điểm tình hình và yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Vĩnh Phúc
Bối cảnh lịch sử
Cuối thập kỷ 90 (XX), tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có những biến động với cả thuận lợi và khó khăn Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có những nét mới, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức
Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua
vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Các nước đều đứng trước những cơ hội để phát triển, nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước TBCN phát triển và các công ty đa quốc gia, cho nên các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức to lớn Chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng Cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ diễn ra gay gắt
Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo ), không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp tác đa phương
Trang 3025
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao Đồng thời, khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định [18, tr 77-78]
Tình hình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sống xã hội của Việt Nam
Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế và lực mới, đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ (01/1994) nêu lên vẫn là những thách thức lớn Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau Yêu cầu đặt ra lúc này là phải chủ động nắm bắt thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc; đồng thời, luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo phát triển đúng hướng
Sau khi tái lập, tỉnh Vĩnh Phúc đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức: Là tỉnh nghèo so với bình quân chung cả nước, với điểm xuất phát của nền kinh tế thấp GDP bình quân đầu người chỉ bằng 48% so với bình quân chung cả nước Kinh tế hàng hóa chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, 90% dân số sống ở nông thôn, công nghiệp, tiểu thủ công nghệp phát triển chậm; cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu, nguồn tài chính hạn hẹp, thu ngân sách chưa đạt 100 tỷ/năm; một bộ phận nhân dân còn nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, hàng vạn người thiếu việc làm, trật tự kỷ cương còn lỏng lẻo Đặc biệt, đội ngũ cán bộ thiếu, trình độ chuyên môn, lý luận còn có những bất cập chưa đáp ứng những đòi hỏi của giai đoạn mới
Bên cạnh đó, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có những thuận lợi cơ bản Trước tiên, việc tái lập tỉnh đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, tạo không khí hồ hởi, phấn khởi để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương Đường lối đổi mới và các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng bộ tỉnh đang ngày càng được đông đảo nhân dân đồng tình và hưởng ứng Trải qua hơn 15 năm đổi mới và quá trình chuyển
Trang 3126
đổi cơ chế chính sách, cùng với những biến động chính trị lớn trên thế giới, đội ngũ lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng Đây là đội ngũ cán bộ tích cực thực hiện công cuộc đổi mới, năng động sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, giữ gìn phẩm chất cách mạng có lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, luôn thể hiện cao trách nhiệm với công việc được giao, có ý thức tổ chức kỷ luật và được nhân dân tín nhiệm
Trong những năm Vĩnh Phúc tiến hành đổi mới, đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự trưởng thành về nhiều mặt Họ đã bước đầu làm quen với cơ chế mới, mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, đã có sự nhạy cảm về chính trị, tư duy chính trị ngày càng năng động nhạy bén, năng lực công tác ngày càng phát huy tác dụng Cán bộ cơ sở làm việc sát dân hơn, lắng nghe ý kiến của nhân dân trong việc xây dựng kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội Phương thức và lề lối làm việc theo hướng dân chủ công khai Hoạt động của Đảng, chính quyền dần đi vào nề nếp, khắc phục dần tình trạng làm việc tùy tiện, cảm tính Trước sự biến động của tình hình thế giới, sự tác động tiêu cực mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn của tình hình kinh tế địa phương đa số đội ngũ cán bộ cơ sở vẫn giữ gìn được đạo đức phẩm chất cách mạng, có lối sống lành mạnh chăm lo cho sự nghiệp chung, sống chân thật với quần chúng nhân dân, thực hiện những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, được quần chúng nhân dân tín nhiệm
Bên cạnh những mặt mạnh, trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác
Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc thời điểm trước năm 2000:
* Nguồn hình thành đội ngũ cán bộ cấp xã của tỉnh Vĩnh Phúc:
Có thể xác định nguồn hình thành đội ngũ cán bộ cấp xã ở tỉnh Vĩnh
Phúc từ 3 nguồn cơ bản, đó là:
- Một bộ phận hình thành từ bộ đội hết thời gian làm nghĩa vụ quân sự trở về địa phương tham gia sản xuất và công tác
Trang 32- Tuy họ đã được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn công tác, gần gũi với quần chúng nhân dân nhưng đa số họ còn ít được thử thách; chưa được đào tạo cơ bản; trước đòi hỏi của tình hình kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, về trình độ hiểu biết, tác phong và phương pháp công tác, năng lực tổ chức vận động quần chúng còn nhiều bất cập, việc giáo dục truyền thống cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh và nâng cao trình độ mọi mặt là cần thiết đối với họ
- Tuy họ có kinh nghiệm nhất định trong công việc đã qua nhưng chưa phải là lớp người đã có đủ bề dày kinh nghiệm để có khả năng nắm bắt thực tế
và thể hiện bản lĩnh của người lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở Nhất là trong tình hình hiện nay, nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, nhu cầu đào tạo cần thiết đội với họ là phải tăng cường kiến thức, nghiệp vụ công tác lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội Phải biết tổng kết thực tiễn để rút ra các bài học kinh nghiệm, xây dựng kế hoạch công tác khoa học nhẳmtiển khai thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
Trang 3328
nước để duy trì sự ổn định về chính trị, phát triển mọi mặt đời sông kinh tế -
xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương
Về trình độ: xem thêm phụ lục số 1
Đối với cán bộ cấp uỷ:
* Về tiêu chí giới tính, dân tộc và độ tuổi:
- Trong tổng số 1862 uỷ viên BCH Đảng uỷ có 187 người (chiếm 10%
là cán bộ nữ)
Về tuổi đời: 83 người (chiếm 4,5%) từ 30 tuổi trở xuống; 662 người (chiếm 35,6%) từ 31 đến 40; 992 người (chiếm 53,3%) từ 41 đến 50; từ 51 tuổi trở lên có 195 người (chiếm 10,1%) Tuổi đời bình quân của BCH là 41,3
- Trong số 544 uỷ viên Ban Thường vụ có 13 người (2,4%) là phụ nữ;
18 người (3,3%) thuộc dân tộc ít người Về tuổi đời : 01 người (0,2%) dưới
30 tuổi; 121 người (23,3%) từ 31 đến 40; 339 người (62,3) từ 41 đến 50; 83 người (15,3%) từ 51 tuổi trở lên Tuổi đời bình quân của BTV là 41,6
- Trong tổng số 137 Bí thư Đảng uỷ có: 05 người (3,6%) là nữ; 03 người (2,2%) thuộc dân tộc ít người Về tuổi đời: 09 người (6,6%) từ 31 đến 40; 77 người (56,2%) từ 41 đến 50; 29 người (21,1%) từ 51 tuổi trở lên Tuổi đời bình quân là 42
Nhận xét, đánh giá: Nhìn chung cán bộ cấp uỷ cơ sở ở Vĩnh Phúc thời
kỳ này có một số đặc điểm như: Tỷ lệ cán bộ là nữ và là người dân tộc thiểu
số còn thấp, tuổi đời trung bình cao, tỷ lệ cán bộ trẻ còn thấp
* Về trình độ:
- Đối với uỷ viên BCH có 27,1% phải cập nhật văn hóa PTTH; 80% phải được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; 64,6% phải được đào tạo TCLLCT; 89,2 % phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN
- Đối với Ủy viên BTV: 22,6% phải cập nhật văn hoá PTTH; 81,6% phải được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; 66,6% phải được đào tạo TCLLCT; 80% phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN
Trang 3429
- Đối với chức danh Bí thư Đảng uỷ: 36,5 % phải được cập nhật văn hoá PTTH; 75,2% phải được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; 48,4 % phải được đào tạo TCLLCT và 94,9 % phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh xét về mặt chất lượng, số lượng và cơ cấu nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Tuy vậy, ở một tỉnh mới tái lập như Vĩnh Phúc, thì ở từng nơi, từng lĩnh vực; sự hụt hẫng về cán bộ và trình độ lý luận của cán bộ là điều khó tránh khỏi Thực trạng trình độ lý luận đội ngũ cán bộ cơ sở và yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương trong tình hình mới đặt ra yêu cầu sau về GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở:
Một là, khắc phục khó khăn, phát huy, tranh thủ thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ,
vượt qua thách thức của tình hình thế giới, trong nước, địa phương để thực hiện tốt công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở trong giai đoạn 1997 - 2005
Hai là, công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở phải đáp ứng yêu
cầu và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
Ba là, kịp thời tuyên truyền, GDLLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở những vấn
đề mới về lý luận, nhằm khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ, thuận lợi thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, trong giai đoạn 1997 - 2005
1.3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 1996 là năm đất nước chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Do đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu một mốc mới trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII (1991), tổng kết 10 năm đổi mới; đề ra mục tiêu, phương hướng, giải pháp thực hiện CNH, HĐH đất nước đến năm 2000 và
2020 Ngoài xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đại hội còn đặt ra nhiệm vụ
đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Đại hội chỉ rõ: “… nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên” [18, tr 140] và “chăm lo xây
Trang 3530
dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt
đội ngũ cán bộ kế cận” [18, tr 51], trong đó phải chú trọng giáo dục, rèn
luyện, nâng cao bản lính chính trị, phẩm chất cách mạng và trình độ trí tuệ của cán bộ, đảng viên; uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm
mơ hồ, những biểu hiện giao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào CNXH
và sự lãnh đạo của Đảng; phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch Đại hội chỉ rõ rằng, mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phải gương mẫu học tập, rèn luện, phấn đấu nâng cao trình độ về mọi mặt, giữ gìn đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân [18, tr 141] Thực hiện mục tiêu đó, công tác lý luận có vai trò to lớn và nhiệm vụ nặng nề: “Công tác lý luận trước hết hướng vào nhũng vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm căn cứ khoa học của các giải pháp, dự báo xu hướng phát triển, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, làm cho ngày càng sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [18, tr 140] Điều đó đòi hỏi mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt, phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ LLCT Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiến Đồng thời, Đảng cũng quy định:
“Việc học tập của cán bộ phải được quy định thành chế độ và phải thực hiện nghiêm ngặt Mọi cán bộ phải thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện, trao đổi phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng,
ý chí kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ý thức tổ chức
kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích chung thì phải biết đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết” [18, tr 146]
Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã hết sức coi trọng công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Triển khai những định hướng đó của Đại hội VIII, xuất phát từ quan điểm “cán bộ là gốc của mọi công việc”, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [35, tr 269], Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 (khóa VIII) đã chú ý đến tiêu chuẩn cán bộ và
Trang 3631
chính sách cán bộ, đặc biệt chú ý đến công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ Một trong những tiêu chuẩn cơ bản của người cán bộ trong thời kỳ mới mà Nghị quyết đã đề ra là: “Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước” [19, tr 80] Nghị quyết đặt ra mục tiêu phấn đấu từ năm 2005 trở đi, nói chung những cán bộ chủ chốt dưới 45 tuổi, từ cấp huyện trở lên, ít nhất phải có trình độ đại học về
chuyên môn, cao cấp LLCT Hội nghị nhấn mạnh những nội dung: Một là,
phải nới rộng diện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị và các
tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế; Hai là, phải chú trọng bồi dưỡng chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các kiến thức về lịch sử, đạo lý, văn hoá, các kiến thức về QLNN, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, về khoa học công
nghệ; Ba là, phải đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt, khắc phục
tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo
Trong “Nội dung đào tạo và bồi dưỡng cán bộ”, Hội nghị chỉ ra những
yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cơ bản: 1) Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng thống nhất trong hệ thống các trường; 2) Nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối với từng loạt cán bộ; 3) Chú trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn; bối dưỡng kỹ năng cơ bản và kiến thức thực hành
Trong “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”, Hội nghị xác định: 1)
Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trở thành cán bộ chủ chốt [19, tr 80-90]; 2) Nguồn đầu tư để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ bao gồm nguồn từ ngân sách nhà nước cấp, kinh phí của các tổ chức Đảng, đoàn thể của doanh nghiệp, tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước [19, tr 80-90]
Như vậy, những quan điểm của Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) đã làm rõ thêm về công tác GDLLCT cho đội ngũ cán bộ và có tác dụng chỉ đạo đối với thực tiễn nâng cao chất lượng LLCT cho cán bộ
Trang 37- Cần thật sự đổi mới công tác GDLLCT ở trong Đảng và trong xã hội,
cả về chương trình, nội dung và phương pháp
- Cùng với sự đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục,
có những quy định cụ thể chế độ học tập LLCT đối với cán bộ, đảng viên
- Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan nghiên cứu lý luận, các
hệ thống trường của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và TTBDCT
- Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng các cơ quan thông tin đại chúng và hệ thống xuất bản trong việc thực hiện chức năng giáo dục tư tưởng, thế giới quan khoa học và cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” và các biểu hiện tiêu cực khác [19, tr 24-27]
Như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2, khóa VIII) đã nhận thức sự cần thiết phải đổi mới công tác GDLLCT và nêu lên những phương hướng cơ bản để đổi mới công tác này Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 là một bước tiến mới trong nâng cao chất lượng GDLLCT cho đội ngũ cán bộ
Triển khai thực hiện các Nghị quyết nêu trên, Thường vụ Bộ Chính trị
đã ban hành Quy định số 54- QĐ/TW, ngày 12/05/1999, “Về chế độ học tập
lý luận trong Đảng” Trên quan điểm “học tập là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 54- QĐ/TW đã quy định chế độ học tập LLCT đối với cán bộ, đảng viên, chương trình học tập bắt buộc đối
với cán bộ, đảng viên; đồng thời, quy định cụ thể vể tổ chức thực hiện, từ cơ
Trang 3833
sở đào tạo, đến nội dung chương trình, xây dựng đội ngũ giảng viên cho công tác đào tạo…
Như vậy, Quy định số 54 - QĐ/TW, ngày 12/5/1999 là căn cứ để các
cấp ủy Đảng, Học viện, Trường Chính trị tỉnh, TTBDCT huyện và tương
đương tiến hành đào tạo trình độ LLCT cho các đối tượng cán bộ khác nhau
Quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng CSVN và xuất phát từ
tình hình thực tiễn địa phương, Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc (khóa XII, 11/1997), đã xác định nhiệm vụ trung tâm trong điều kiện Đảng bộ vừa được tái lập, bộn bề công việc và khó khăn là phải nhanh chóng xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có kiến thức và năng lực, có uy tín cao đủ sức lãnh đạo nhân dân Vĩnh Phúc vượt qua khó khăn thử thách, đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH Vì vậy, chủ trương của Đảng bộ tỉnh là nâng cao trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ tỉnh nói chung, đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng, trên tinh thần:
Một là, coi trọng giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong Đảng, chống chủ nghĩa thực dụng, vô kỷ luật, bè phái trong nội bộ
Hai là, học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, Đảng viên và
được quy định thành chế độ của cấp ủy
Ba là, mở các trường, lớp phù hợp để cán bộ Đảng viên học tập nâng
cao bản lĩnh và nhạy bén chính trị, hiểu biết chuyên môn để nắm bắt cái mới,
có thái độ rõ ràng và xử lý đúng những vấn đề thực tiễn đặt ra ở mỗi cấp [14,
Trang 3934
Để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa
VIII) về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, trên cơ
sở đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của tỉnh, Tỉnh ủy
Vĩnh Phúc đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết trung ương 3 (khóa VIII), số 10, ngày 09/10/1997, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”
Về tiêu chuẩn cán bộ, Chương trình hành động coi trọng “cả đức và tài
trong đó đức là gốc để vận dụng xây dựng tiêu chuẩn cho từng loại cán bộ của tỉnh”, trong đó, cán bộ nhất định phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lập trường của giai cấp công nhân, trung thành với lý tưởng XHCN” và
“đã qua hoạt động thực hiện và học tập có hệ thống ở trường Đảng”; trên cơ
sở đó, Chương trình hành động đề ra yêu cầu, nhiệm vụ và những giải pháp
chủ yếu: 1) Các cấp, các ngành cần phải lập kế hoạch đào tạo cho từng loại cán bộ và mỗi cán bộ phải có kế hoạch tự học tập nhằm đáp ứng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương mình; 2) Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt, cán bộ nguồn dự bị, cán bộ cho các ngành kinh tế, cán bộ khoa học - kỹ thuật và đào tạo cán bộ trên đại học; 3) Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào yêu cầu công việc và tổ chức các loại cán bộ
để xây dựng chương trình, nội dung đào tạo; 4) Kiện toàn và sử dụng có hiệu quả hệ thống trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ giảng viên đủ tiêu chuẩn cho Trường Chính trị tỉnh và TTBDCT các huyện, thị
Trong yêu cầu về nội dung đào tạo, bồi dưỡng, Chương trình hành động nhấn mạnh phải coi trọng việc nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiến thức quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước, khoa học - công nghệ, khoa học nhân văn Trong đó xác định:
Trang 4035
Làm cho cán bộ, đảng viên nắm được những tri thức cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Giáo dục sâu rộng trong Đảng và trong nhân dân về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về CNXH, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng Vĩnh Phúc giàu đẹp, văn minh
Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tại Trường Chính trị tỉnh và các TTBDCT huyện; đổi mới nâng cao chất lượng học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cho cán bộ, đảng viên
Về tổ chức thực hiện, các cấp ủy, tổ chức Đảng phải nắm chắc trình độ
LLCT của cán bộ, đảng viên thuộc đối tượng mình quản lý và tình hình thực
hiện đưa thông tin đến cơ sở để có kế hoạch thực hiện Quy định 54 QĐ/TW của BCT, Thông báo 71-CP/TW của Thường vụ BCT và Chỉ thị 11-CT/TW
của BCT
Các ban của cấp ủy, Trường Chính trị tỉnh và các TTBDCT huyện, thị giúp cấp ủy, chính quyền hưỡng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tổ chức chính quyền có kế hoạch sắp xếp,
bố trí cán bộ cho Trường Chính trị tỉnh, các TTBDCT huyện, thị và các cơ