Để làm rõ hơn những nội dung và giá trị chủ yếu trong quan niệm của Lão Tử về việc giải quyết các vấn đề chính trị- xã hội, đồng thời thấy được điểm độc đáo trong quan niệm này của Lão T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ THÙY
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CỦA LÃO
TỬ QUA SÁCH “ĐẠO ĐỨC KINH”
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI- 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ THÙY
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CỦA LÃO
TỬ QUA SÁCH “ĐẠO ĐỨC KINH”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số : 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI- 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….…… 2
NỘI DUNG……… …… ………….7
CHƯƠNG 1 TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA LÃO TỬ TRONG “ĐẠO ĐỨC KINH”……… ………7
1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng……….…….… 7
1.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội……… …… ……7
1.1.2 Tiền đề tư tưởng……… ………….14
1.1.3 Khái niệm tư tưởng chính trị - xã hội 18
1.2 Lão Tử và tác phẩm “Đạo đức kinh”……… ……….20
1.2.1 Vài nét về Lão Tử……… … ……20
1.2.2 Kết cấu và khái quát nội dung chính của “Đạo đức kinh”…… 26
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA LÃO TỬ TRONG “ĐẠO ĐỨC KINH”…… 48
2.1 Sự phê phán xã hội đương thời của Lão Tử……… ……….48
2.1.1 Phê phán nền luân lý của xã hội đương thời……….…………48
2.1.2 Phê phán trật tự tôn ti của xã hội đương thời……… … …….52
2.2 Một số chủ trương về chính trị- xã hội của Lão Tử……… 56
2.2.1 Chủ trương “vô vi” trong việc trị nước……… ……….56
2.2.2 Chủ trương về kinh tế và chiến tranh………62
2.2.3 Quan niệm về quan hệ giữa vua với bề tôi và với dân ……….71
2.2.4 Quan niệm về quốc gia lý tưởng………75
2.3 Một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử……….……76
2.3.1 Một số giá trị nổi bật……….………76
2.3.2 Một số hạn chế chủ yếu……….……78
KẾT LUẬN……….… ……….83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 86
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Trung Quốc, thời Xuân Thu kéo dài từ năm 722 đến năm
481 trước công nguyên với tình trạng chiến tranh liên miên, dân chúng lầm than, đạo đức xã hội suy đồi Chính trong điều kiện ấy đã xuất hiện nhiều triết gia với nhiều học thuyết, tư tưởng, quan niệm khác nhau Đặc biệt vấn đề chính trị được hầu hết các triết gia quan tâm và coi đó là trọng tâm trong học thuyết, tư tưởng, quan điểm của mình với mục đích giải quyết tình trạng loạn lạc, bế tắc của xã hội đương thời
Trong hoàn cảnh đó, tư tưởng của Lão Tử cũng hướng vào tìm kiếm con đường, phương thức xây dựng một xã hội ổn định, xây dựng đời sống hạnh phúc cho người dân Ông không để lại nhiều tác phẩm, nhưng theo nhiều
nghiên cứu thì chỉ có cuốn Đạo đức kinh với hơn 5000 chữ được coi là tập
trung toàn bộ tư tưởng của Lão Tử Nếu như Khổng Tử cho rằng xã hội cần đi theo lễ nghĩa, Hàn Phi Tử cho rằng cần phải thi hành luật pháp thì Lão Tử lại cho rằng, cần phải thực hiện “vô vi” để xây dựng một xã hội ổn định Có thể nói, Lão Tử đưa ra một phương cách giải quyết rất mới mẻ cho một vấn đề nan giải trong xã hội đương thời
Không những thế, đối với ngày nay, khi mà đời sống con người ngày càng văn minh hơn, con người cũng ngày càng có nhiều tham vọng hơn Do
đó, vô hình trung, những tham vọng đó đã tàn phá chính thế giới mà chúng ta đang sống Nên nhiều người trong thế giới ngày nay đang tìm đến lối sống hòa hợp cùng thiên nhiên mà lối sống này mấy nghìn năm trước Lão Tử đã khuyên con người nên thực hiện rồi
Trang 5Để làm rõ hơn những nội dung và giá trị chủ yếu trong quan niệm của Lão Tử về việc giải quyết các vấn đề chính trị- xã hội, đồng thời thấy được
điểm độc đáo trong quan niệm này của Lão Tử mà tác giả chọn Tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử qua sách Đạo đức kinh làm đề tài để nghiên
cứu trong bản luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tư tưởng của Lão Tử cũng như sách Đạo đức kinh đã được nhiều học giả nghiên cứu từ trước đến nay Sách Đạo đức kinh mặc dù chỉ hơn 5000 chữ
nhưng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới và được nghiên cứu rộng rãi
Ở Việt Nam, sách Đạo đức kinh cũng đã được một số dịch giả dịch và
diễn giải, và tư tưởng của ông cũng được nhiều người nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Trước tiên phải kể đến những công trình nghiên cứu về triết học Trung Quốc cổ trung đại và lịch sử triết học, trong đó có nghiên cứu về tư tưởng Lão
Tử của các tác giả khác nhau trong các sách tham khảo và giáo trình
Có thể kể đến một số cuốn sách dịch và diễn giải sách Đạo đức kinh như cuốn Lão Tử Đạo đức kinh(2013) của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, hay cuốn Lão Tử Đạo đức kinh(1992) của Nguyễn Hiến Lê… Trong các cuốn
sách này, các học giả đã dịch và giải thích các tư tưởng của Lão Tử theo các
cách hiểu khác nhau của mình Trong cuốn Lão Tử Đạo đức kinh của Thu
Giang Nguyễn Duy Cần, tác giả đã dịch và bình chú một cách khái quát từng
câu, từng chữ trong sách Đạo đức kinh của Lão Tử, trong đó cũng có tư tưởng chính trị- xã hội của ông Còn trong cuốn Lão Tử Đạo đức kinh của tác giả
Nguyễn Hiến Lê, ông đã trình bày một cách khá chi tiết về thân thế cũng như
Trang 6sự nghiệp của Lão Tử, ngoài ra ông còn trình bày một cách khái quát nội dung
tư tưởng của sách Đạo đức kinh sau đó mới là phần bình chú về sách Đạo đức
kinh
Trong cuốn sách “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc”(2002), các
nhà nghiên cứu như PGS.TS Doãn Chính, PGS.TS Dương Văn Chung, PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS Vũ Tình… đã trình bày khá cụ thể về thân thế, cuộc đời của Lão Tử Không những thế, các tác giả còn trình bày khái quát về nội dung tư tưởng của Lão Tử, trong đó có đề cập đến tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử, nhưng mới dừng lại ở khảo cứu một cách khái quát Việc nghiên cứu tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử trong cuốn sách này được đặt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của ông mà chưa đi sâu vào nghiên cứu nội dung này
Trong cuốn Tư tưởng Đạo gia(2008) của Hàn Sinh Tuyên, tác giả đã
trình bày những nội dung chủ yếu của phái Đạo gia, như tư tưởng về vũ trụ, tư
tưởng về nhân sinh,… Trong đó, tư tưởng của Lão Tử và sách Đạo đức kinh
được trình bày một cách khái quát, nằm trong dòng quan điểm của phái Đạo gia nói chung
Hay cuốn Lão Tử tinh hoa(2013) của Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã
nghiên cứu một số luận điểm trong tư tưởng của Lão Tử Trong cuốn sách
này, tác giả nghiên cứu sách Đạo đức kinh theo những luận điểm, trình bày
một cách ngắn gọn, súc tích các luận điểm này và có liên hệ với thực tế Nhưng cuốn sách này, cũng chưa trình bày một cách cụ thể về nội dung các quan điểm của Lão Tử
Tất cả các sách mà các học giả đã nghiên cứu về Lão Tử hầu hết là trình bày tư tưởng của ông một cách khái quát hoặc lý giải các quan niệm của
Trang 7ông theo những cách hiểu khác nhau Qua những công trình giới thiệu và nghiên cứu về tư tưởng của Lão Tử cho thấy, điểm độc đáo trong cách viết của Lão Tử là các luận điểm của ông đều trình bày với mục đích gợi mở là chính Trong khuôn khổ luận văn của mình, tác giả đi sâu nghiên cứu về tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử trên cơ sở tham khảo, kế thừa các tài liệu
có liên quan đến Lão Tử và sách Đạo đức kinh; đồng thời tác giả cố gắng
trình bày một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã hội của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Luận văn trình bày và phân tích một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử qua sách
Đạo đức kinh và qua đó, bước đầu chỉ ra những hạn chế và đóng góp của tư
tưởng này
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn giải quyết hai nhiệm
vụ sau:
+ Khái quát bối cảnh kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng của Trung Hoa thời
kỳ cổ đại cho sự ra đời tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử
+ Trình bày và phân tích những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã
hội của Lão Tử qua sách Đạo đức kinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng chính trị - xã hội của Lão Tử
- Phạm vi nghiên cứu: Sách Đạo đức kinh của Lão Tử
Trang 85 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là các nguyên lý cơ bản của triết học Mác- Lênin, các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam
về xã hội và con người
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn quán triệt và vận dụng phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp phân tích- tổng hợp, đối chiếu-
so sánh, phương pháp lịch sử triết học, phương pháp văn bản học v.v…
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ và hệ thống hóa những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử thông qua sách
“Đạo đức kinh” mà đến nay vẫn còn giá trị và bước đầu đưa ra một vài nhận xét, đánh giá về giá trị trong tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm và trình bày có hệ thống hơn những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu quan tâm đến triết học Trung Hoa cổ đại nói chung và tư tưởng của Lão
Tử nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI CỦA LÃO TỬ TRONG “ĐẠO ĐỨC KINH”
1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng
1.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội
* Thời Ân- Thương và Tây Chu
Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên thuận lợi, cả một vùng đất đai
phì nhiêu của lưu vực các con sông Hoàng Hà, Hắc Thủy, Nhược Thủy, Lạc Thủy của vùng Hoàng Hà Lục Tỉnh, các bộ lạc người Ân đã định cư ở đây và
có một nền kinh tế ổn định, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chăn nuôi và săn bắn phát triển ở trình độ cao
Về tri thức khoa học, sản xuất: Trong chế độ liên minh bộ lạc, người
Trung Quốc đã biết tạo ra khí giới và công cụ, vật dụng từ đá và xương thú, đất nung Đến thời kỳ nhà Hạ, họ đã biết khai thác, sáng chế và sử dụng công
cụ bằng đồng Đặc biệt thời kỳ nhà Hạ cũng có dấu hiệu bắt đầu xuất hiện văn
tự
Dưới triều đại nhà Thương, nền kinh tế xã hội đã có sự phân chia sâu sắc hơn giữa sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và sản xuất thủ công nghiệp Các công cụ bằng đồng đã được sử dụng góp phần phát triển sức sản xuất, do
đó gia tăng việc sử dụng số lượng lớn lao động tập trung Thời Ân – Thương, nông nghiệp trở thành ngành sản xuất chủ yếu của xã hội Nông dân các công
xã khai khẩn đất đai ở những vùng hạ lưu sông Hoàng Hà, đào nhiều kênh mương làm hệ thống dẫn nước tưới cho đồng ruộng Thời bấy giờ, nghề đúc đồng thau cũng đã đạt tới trình độ khá cao
Người đời Thương đã biết dùng mai rùa, xương thú để bói toán, xem điều lành dữ, may rủi và sáng tạo ra văn tự, gọi là “văn giáp cốt”, ghi việc bói
Trang 10toán và kết quả bói toán lên mai rùa, xương thú Họ cũng biết làm ra lịch pháp
để phục vụ cho việc xác định thời vụ trong sản xuất nông nghiệp Một năm được chia làm 12 tháng, gọi là một “tự”, cách mấy năm lại thêm một tháng nhuận Tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày Một tuần có 10 ngày, từ Giáp đến Quý ứng với mười can Họ cũng biết dùng hệ thống 10 can và 12 chi phối hợp với nhau để tính giờ, ngày, tháng và năm Can chi phối hợp với nhau theo chu kỳ 60 năm gọi là một “hội”
Người đời Ân cũng đã biết quan sát thiên văn, biết được sự vận hành của mặt trăng và vị trí của nhiều ngôi sao, giải thích được hiện tượng nhật thực và nguyệt thực, tính được chu kỳ nước dâng, tìm ra quy luật sinh trưởng của các cây trồng mà làm ra âm lịch
Về tín ngưỡng, tôn giáo: Trong thời kỳ nguyên thủy, chủ yếu trong đời
sống tinh thần của người Trung Quốc là tín ngưỡng tô tem và bái vật giáo Nhưng đến thời kỳ nhà Hạ, thay vào đó là những quan niệm sùng bái sức mạnh các lực lượng tự nhiên mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo duy tâm với các biểu tượng về thượng đế, chi phối vạn vật và vận mệnh con người, về
“linh hồn tổ tiên” và sự thờ phụng tổ tiên thịnh hành Từ những tài liệu sử học người ta đã xác nhận được rằng, trong ý thức của người Trung Quốc đã xuất hiện quan niệm về sự bất tử của linh hồn Sau khi con người ta chết đi, linh hồn vẫn tiếp tục cuộc sống độc lập của nó Hồn người chết có thể làm phúc hay gây họa cho người sống Người Trung Quốc còn sùng bái, tôn thờ uy thế của những lực lượng trong tự nhiên là biểu tượng cho ý chí, sức mạnh, huyết thống của tổ tiên bộ lạc mình
Đến giai đoạn xuất hiện chế độ phong kiến giai cấp phong kiến đã lợi dụng các biểu tượng tôn giáo để duy trì sự thống trị của mình Núp dưới cái
vỏ tín ngưỡng tôn giáo thần bí, giai cấp quý tộc chủ nô luôn tuyên truyền rằng, sự thống trị của họ đối với nhân dân trên mặt đất chẳng qua chỉ là sự thể
Trang 11hiện mệnh lệnh và ý chí của trời mà thôi Hơn thế nữa, trời còn có thể khen thưởng cho những ai làm điều thiện và trừng phạt nghiêm khắc những ai làm điều ác, dám chống lại mệnh trời
Về chế độ chính trị: sau khi chế độ thị tộc tan rã ở Trung Quốc, chế độ
tư hữu dần dần phát triển, trải qua nhiều đời vua cho đến triều đại nhà Hạ Căn cứ vào những bản văn cổ và những di vật khảo cổ đáng tin cậy có liên quan đến giai đoạn này có thể nói rằng, nhà Hạ là cái mốc đánh dấu sự biến đổi có tính nhảy vọt trong xã hội Trung Quốc cổ đại Đó là sự xuất hiện giai cấp và nhà nước, mở đầu chế độ chiếm hữu nô lệ của Trung Quốc Vào thời
đó, nhà Hạ chia nước ra thành chín châu Vua định lệ cống, phú cho các châu Cống phẩm tùy theo các sản vật của từng địa phương, quý tộc chủ nô bóc lột sức lao động của nông dân công xã một cách hà khắc Chúng sống một cuộc sống xa hoa trên xương máu của nhân dân Cùng với việc xây dựng bộ máy nhà nước để bảo vệ tài sản, địa vị xã hội của tầng lớp quý tộc, đàn áp sự phản ứng của quần chúng, nhà Hạ cũng tiến hành kiến thiết thành quách để đề phòng sự tấn công của các bộ lạc khác từ bên ngoài
Các di chỉ khảo cổ cho thấy rõ sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội Trung Quốc thời Ân Thương Trong mộ thường dân chôn theo người chết chỉ có dao đá, giáo mác, đồ gốm thường và một số vật dụng ăn uống Mộ của nô lệ thì hầu như không có gì, vì người ta quan niệm rằng, nô tỳ chết đi thì vẫn là nô tỳ, chỉ có hai bàn tay trắng và bổn phận của họ vẫn là kẻ phục dịch cho chủ nô quý tộc đã chết Trái lại, mộ của quý tộc thì rất lớn Bên trong chôn đủ các loại đồ dùng như khi còn sống, vàng ngọc, châu báu… số lượng nhiều hay ít tùy theo mộ lớn hay nhỏ Họ còn chôn theo cả nam nữ nô
lệ và võ sĩ để phục vụ cho quý tộc đã chết
Vào khoảng thế kỷ XII trước Công nguyên, ở phía tây đồng bằng Hoa Bắc rộng lớn là vùng cao nguyên đất vàng, một vùng dất đai phì nhiêu dọc
Trang 12theo hai con sông Kinh và sông Vị thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay, bộ tộc Chu đã nổi lên Đến khoảng thế kỷ XI trước Công nguyên, con của Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương đã nổi dậy diệt vua Trụ nhà Ân, lập ra nhà Chu, đóng đô tại Hạo Kinh Lịch sử gọi đó là thời kỳ Tây Chu
Dưới thời Tây Chu, lực lượng sản xuất của xã hội đã đạt tới trình độ cao hơn nhiều so với thời Ân Thương Việc sử dụng các công cụ, vật dụng bằng sắt bắt đầu xuất hiện đã thúc đẩy một số ngành thủ công nghiệp phát triển, từ đó làm cho kỹ thuật canh tác đất đai được cải tiến, hệ thống thủy nông dần hoàn thiện, quy mô sử dụng lực lượng lao động được mở rộng Chính sự phát triển của sản xuất đã thúc đẩy sự tiến bộ trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, lịch pháp, địa lý, y học, thiên văn và nhiều lĩnh vực khác
Hệ thống chính trị ngày một hoàn thiện hơn Thời Tây Chu, nhà Chu tự xưng là “thiên tử”, là lãnh chúa tối cao chiếm toàn bộ đất đai và thống trị thần dân trong nước Vua nhà Chu đặt ra các chức quan như tư đồ, tư mã, tư không, tư khấu chuyên phụ trách các công việc như tài chính, xây dựng, quân đội, hình pháp và giáo dục Chế độ giáo dục nhà Chu là chế độ mang tính chất thế tập “Thiên tử” phân phong đất đai, chức tước cho anh em, họ hàng và công thần làm chư hầu để họ dựng nước và trị dân các nơi Chư hầu lại phân phong đất đai, chức tước cho các bậc đại phu, quý tộc Vì thế, chế độ phong hầu kiến địa nhà Chu vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế và huyết thống Quyền hạn các chư hầu được định sẵn Chu hầu cũng
có quân đội riêng nhưng phải thuần phục mệnh lệnh của “thiên tử” nhà Chu Các chư hầu theo định kỳ hàng năm phải thực hiện chế độ triều cống, triều hội đối với nhà Chu Vì thế, các lãnh chúa lớn nhỏ ra sức bóc lột nông nô Nông
nô hằng ngày bị thắt chặt vào ruộng đất của các lãnh chúa Lao động nặng nhọc, đời sống cực khổ đã đẩy nông dân công xã và nô lệ nổi dậy chống lại bọn thống trị sống xa hoa trên xương máu của nhân dân lao động
Trang 13Cùng với sự hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà Chu tiến hành cải cách quan hệ sản xuất, tiếp tục thi hành rộng rãi chế độ “tỉnh điền” Chế độ “tỉnh điền” là chế độ sử dụng ruộng đất trong đó đất đai được chia ra làm nhiều khu, mỗi khu do người ta đào mương dọc ngang hai bên là đường đi, chia cắt ruộng đất thành chín mảnh vuông, như hình chữ “tỉnh” Tám mảnh xung quanh do các gia đình nông nô cày cấy, còn mảnh ở giữa tám gia đình ấy phải cùng nhau canh tác, sản phẩm làm ra phải nộp cho nhà nước Ruộng đất canh tác tùy theo tốt xấu mà phân chia cho nông dân công xã theo một thời gian nhất định Nông dân phải nộp khoảng một phần mười tổng số lúa thu hoạch cho nhà nước, gọi là thuế “thập nhất” Ngoài việc nộp thuế, người dân còn phải đi sưu dịch, xây thành đắp lũy, làm đường xá, đào mương, đắp đập hay
đi chiến trận
* Thời Xuân Thu
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triều đại nhà Hạ, qua nhà Thương, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn Xã hội Trung Quốc trải qua một thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng Giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập Sự biến đổi toàn diện
về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo tiền đề cho sự giải phóng tư tưởng con người, thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống
Năm 781 trước Công nguyên, nhân vua Chu là U Vương phế hoàng hậu
họ Thân và thái tử Nghi Câu, phong Bao Tự làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu liên kết với giặc Tây Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu hủy kinh đô nhà Chu, giết chết U Vương dưới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Câu lên làm vua lấy hiệu là Chu Bình Vương Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây luôn bị
Trang 14giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung đe dọa, nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía đông, đến Lạc Ấp, nhường căn cứ Quan Trung cho Tần Tương Công Xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời Xuân thu
Về kinh tế: Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời
đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt
+ Về nông nghiệp: Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến.Thời kỳ này, hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ đó được mở rộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp Từ đó, người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa Giờ đây, công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô, cày cấy trong thời gian lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã Sau đó, chế độ tư hữu ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Trước kia, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho nông nô Nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho thôn xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu)
+ Thủ công nghiệp: Do việc sử dụng công cụ bằng sắt là phổ biến cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn,
Trang 15thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm…
+ Thương nghiệp: Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội
đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực Thương nhân đã có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất “nông bản thương mạt”, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ
Về chính trị xã hội, nếu như dưới thời Tây Chu, chế độ tông pháp,
“phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy với các nước chư hầu Thiên
tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của thiên tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu, đề ra khẩu hiện “tôn vương bài Di”, đua nhau động binh để mở
Trang 16rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên
hạ Đầu thời Tây Chu, có hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước
Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn đến sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, sự chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng gia tăng Đặc biệt, các nghi lễ tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng bị xem thường Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân Thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu
Trong thời Xuân Thu, ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước, trong từng nước cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau
Với những điều kiện kinh tế- xã hội có nhiều biến động, đặc biệt là sự rối loạn về chính trị, dẫn đến các cuộc chiến tranh liên miên, làm cho cuộc sống của người dân lâm vào lầm than Chính trong điều kiện này, đã thúc đẩy nhiều nhà tư tưởng hướng vào việc giải quyết thực trạng xã hội hiện tại và đưa xã hội trở lại an bình, thịnh trị, Lão Tử là một trong số đó
1.1.2 Tiền đề tư tưởng
Trong giai đoạn Lão Tử sống, do điều kiện đặc thù về chính trị- xã hội, xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, họ đều hướng học thuyết của mình nhằm tìm ra phương hướng khắc phục tình trạng rối loạn hiện thời của xã hội và tìm ra chính sách cai trị đất nước hợp ý nhất Nổi bật có hai trường phái đó là dùng
“đức trị” của Nho gia và dùng “pháp trị” của Pháp gia Mỗi một trường phái
Trang 17đều đưa ra những lý do, những luận điểm để xây dựng học thuyết của mình Nhưng Lão Tử cho rằng, cả hai trường phái đó đều sử dụng sai cách để cai trị đất nước Nếu sử dụng những biện pháp cai trị đất nước như vậy thì không thể nào loại trừ hết được tình trạng rối ren, tranh chấp như hiện thời
Trước hết, Lão Tử không đồng tình với quan điểm “đức trị” của Nho gia Nếu như theo quan điểm “đức trị” của Nho gia, muốn xã hội thái bình, thịnh trị thì nhà vua cần phải thực hiện được “chính danh” Họ đưa ra yêu cầu mỗi một người phải “chính danh”, đó là, mỗi người cần phải có phẩm chất tương xứng với vị thế xã hội của mình và suy nghĩ, hành động tương xứng với
vị thế ấy Một khi ai cũng “chính danh”, thì xã hội sẽ ổn định phát triển, không ai được làm gì vượt quá bổn phận của mình và bổn phận này do xã hội quy định (vua phải ra vua, quan phải ra quan…) Không chỉ vậy, con người đối xử với nhau phải theo “lễ”, “lễ” không chỉ là các chuẩn mực đạo đức trong quan hệ giữa con người với con người mà còn bao gồm cả các hoạt động tế lễ, các hình thức của lễ Mà theo nghĩa hẹp, thì “lễ” là những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ giữa người với người Họ yêu cầu mỗi một người trong xã hội cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức mà xã hội thừa nhận, không được làm trái với những chuẩn mực đạo đức này Ví dụ, trong quan hệ giữa vua với tôi, thì lấy đức trung làm đầu, nhiều trường hợp vua bảo thần tử chết mà thần tử không tuân theo thì bất trung Hay trong quan
hệ giữa cha với con, thì đức hiếu là quan trọng nhất Ngoài ra, Khổng Tử còn yêu cầu nhà vua phải bồi dưỡng, sử dụng người hiền tài trong xã hội để xây dựng đất nước Lão Tử không đồng tình với những quan điểm này, ông cho rằng, tất cả những chuẩn mực đạo đức đó thật rắc rối, ngoài ra bởi vì xã hội không có đạo đức nên mới cần đề ra việc phải tuân theo đạo đức, ông viết:
“Thất đạo nhi hậu Đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ, phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ, tiền thức giả,
Trang 18đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy” [30, tr.190] (Mất đức rồi mới có nhân, mất nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ, lễ chỉ là cái vỏ mỏng của lòng trung tín, mà cũng là đầu mối của hỗn loạn, tiền thức chỉ là hoa của đạo, mà cũng là gốc của ngu) Như vậy, Lão Tử phê phán việc trọng “lễ” của Khổng
Tử, ông cho rằng, “lễ” chỉ là cái vỏ mỏng manh của lòng trung tín và là đầu mối của loạn ly, do vậy, trong xã hội cần coi trọng là Đạo còn “nhân” “nghĩa”
“lễ” đều không cần thiết Mà đạo của con người theo Lão Tử là khi sinh ra con người đã có rồi, không cần phải dạy dỗ họ phải tuân theo đạo đức nữa Bởi vì theo ông, nếu mà bắt người ta phải làm thế này, không được làm thế khác thì không còn là đạo nữa mà chỉ là việc làm của một tầng lớp người vì lợi ích của mình mà đặt ra mà thôi Ngoài ra, ông còn viết: “Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội, tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ” [30, tr.110] (Dứt thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần, dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại thảo lành) Ông cho rằng, muốn cho dân không tham dục thì cần phải loại bỏ nguyên nhân dẫn đến
sự tham lam và dục vọng của họ, mà một trong những nguyên nhân cần loại
bỏ, chính là tôn sùng người tài, hay những bậc thánh nhân Do vậy, Lão Tử cũng bài bác chính sách “thượng hiền” của Khổng Tử, ông triệt để yêu cầu thực hiện “vô vi” cả trong việc học và trị nước
Lão Tử còn phê phán quan điểm dùng “pháp trị” để cai trị đất nước của Pháp gia Những nhà tư tưởng theo phái này yêu cầu cần phải dùng luật pháp
để cai trị đất nước, luật pháp được ban bố rộng rãi cho mọi người và bắt buộc mọi người dân phải thực thi Đi cùng với hệ thống luật pháp nghiêm minh là phải thưởng phạt một cách thỏa đáng, có như vậy mới răn đe được mọi người trong xã hội và xã hội sẽ không loạn Như theo Hàn Phi Tử, hình phạt nghiêm khắc sẽ loại bỏ được sáu hạng người: bọn hàng giặc chạy dài, sợ chết; bọn tự cao học đạo, tự lập ra các học thuyết và bọn lìa xa pháp luật; bọn ăn chơi xa xỉ; bọn bạo ngược, ngạo mạn; bọn dung thứ lũ giặc, giấu diếm kẻ gian; bọn
Trang 19nói khéo, khoe khôn, dối trá Dùng hình phạt nghiêm là để khuyến khích sáu loại người: những người lăn mình vào chốn hiểm nghèo, hy sinh, thành thực; những người ít nghe lời bậy, tuân theo luật pháp; những người dốc hết sức mà làm ăn, làm lợi cho đời; những người trung hậu, thật thà, ngay thẳng, hiền lành; những người trọng mạng mình; những người giết giặc trừ gian, làm sáng
tỏ lệnh trên Trái lại, Lão Tử lại cho rằng: “Thiên hạ đa kỵ húy, nhi dân di bần, dân đa lợi khí, quốc gia tư hôn, nhân đa kỹ xảo, kỳ vật tư khởi, pháp lệnh
tư chương, đạo tặc đa hữu” [Dẫn theo 30, tr.277] (Thiên hạ nhiều kiêng kỵ, thì dân chúng càng nghèo, nhân dân nhiều lợi khí, nước nhà càng tối tăm, người người nhiều tài khéo, vật lạ càng nảy sinh, pháp lệnh càng rõ rệt, trộm cướp càng sinh nhiều) Lão Tử phản đối việc dùng pháp luật để trị nước Ông cho rằng, càng cấm đoán nhiều thì người dân càng dễ vi phạm, trộm cắp càng nảy sinh nhiều Ông còn nói: “Kỳ chính muộn muộn, kỳ dân thuần thuần, kỳ chính sát sát, kỳ dân khuyết khuyết” [Dẫn theo 30, tr.285] (Chính lệnh lờ mờ, thì dân ôn hòa, chính lệnh rõ ràng, thì dân lỗi lầm) Lão Tử phê phán việc dùng luật pháp để cai trị nhân dân, bởi vì theo ông, chính vì có luật pháp và luật pháp càng rõ ràng bao nhiêu thì dân chúng càng dễ vi phạm luật bất nhiêu Do vậy, cần phải xóa bỏ pháp luật, không nên quá gò ép nhân dân vào khuôn phép, có như vậy, đời sống của người dân mới tốt đẹp được
Như vậy, Lão Tử phản đối mọi chính sách can thiệp vào cuộc sống của người dân, mà ông gọi đó là những hành động “hữu vi” Dù đó là dùng đạo đức, lễ nghĩa để cai trị dân chúng, duy trì trật tự xã hội hay là yêu cầu cần phải xây dựng và ban hành hệ thống luật pháp thật nghiêm minh, theo Lão Tử đều là không cần thiết và càng ngày sẽ càng làm cho đời sống của người dân thêm khó khăn, dân tình thêm “trá ngụy”, trộm cắp ngày càng nảy sinh nhiều Chính sách phù hợp nhất để xã hội thái bình, thịnh trị theo Lão Tử, là dùng
“vô vi” để trị, có nghĩa là nhà vua, người nắm chính quyền không nên can
Trang 20thiệp vào cuộc sống của người dân mà hãy để cho họ tự lo lấy cuộc sống của mình, hãy thuận theo tự nhiên mà sống Dựa trên nền tảng những học thuyết
về chính trị- xã hội đương thời, trong đó chủ yếu là phê phán chúng, Lão Tử
đã xây dựng lên quan điểm của mình về chính trị- xã hội có những nét độc đáo và cách lý giải riêng
1.1.3 Khái niệm tư tưởng chính trị - xã hội
Trước hết, chúng ta phải hiểu thế nào là tư tưởng? Theo định nghĩa phổ thông nhất, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là phản ánh mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh
Theo Từ điển triết học của M.Rodentan và P.Iudinh, tư tưởng là phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện của quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh Bất cứ tư tưởng nào cũng do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định [20, tr.877]
Tư tưởng là quan niệm, ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan Tư tưởng thuộc phạm trù ý thức, là sản phẩm chủ quan của con người Vì vậy, tư tưởng như thế nào phụ thuộc vào đối tượng, phản ánh, môi trường xã hội và trình độ nhận thức của chủ thể tư tưởng
Tư tưởng là một hệ thống những quan niệm, quan điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học (thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực
Mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó Trong lịch sử tư tưởng chính trị của nhân loại, có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về chính trị mà chúng ta khó có thể liệt kê hết được Bởi vì, mỗi một học thuyết chính trị, mỗi một nhà tư tưởng chính trị có
Trang 21những cách tiếp cận, cách cảm nhận, cách hiểu khác nhau về chính trị, trên cơ
sở những lợi ích, mục đích và trình độ tư duy của họ Chắc chắn chính trị là một lĩnh vực rất phức tạp bao hàm rất nhiều những quan hệ, khía cạnh khác nhau, thậm chí đối lập nhau Do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nhất định thì xã hội phân chia thành các giai cấp khác nhau và khi mâu thuẫn giữa các giai cấp dần dần trở nên gay gắt không thể điều hòa được thì nhà nước, chính trị mới ra đời
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế Đây không phải
là cách quan niệm của riêng chủ nghĩa Mác mà nói chung mọi tư duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tới, tìm ra và khẳng định thực chất của chính trị là như vậy Chính trị có logic vận động nội tại của nó và chịu sự quy định của kinh tế, đồng thời nó tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển
và tiêu vong như một hiện tượng lịch sử ra đời khi xã hội phân chia giai cấp
và mâu thuẫn giữa các giai cấp trở nên không điều hòa được Tuy nhiên, không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vẫn
đề khác nhau ở những cấp độ quan trọng khác nhau Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước là chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay khi
mà hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh của cuộc sống nhân loại Hai vấn đề đó có logic nội tại với nhau, trong
đó quyền lực nhà nước là công cụ cơ bản để thực hiện quan hệ với các giai cấp, các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho lực lượng nắm quyền Vì thế có thể thấy rõ trong thực tế, xoay quanh vấn đề quyền lực mà các chủ thể chính trị thực hiện quan hệ hợp tác, thỏa hiệp hay đấu tranh, xung đột… tạo nên toàn bộ sự phức tạp phong phú, đa dạng của đời sống chính trị
Trang 22Từ sự phân tích ở trên có thể định nghĩa: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ
và thực thi quyền lực nhà nước
Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan
hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau: Chính sách- các quyết định của các chủ thể chính trị, các thiết chế và thể chế chính trị, quan hệ con người chính trị- giới lãnh đạo chính trị với công dân
Tư tưởng chính trị- xã hội còn là hệ thống những quan niệm, quan điểm
về toàn bộ những vấn đề về chính trị- xã hội của một dân tộc, một đất nước của một học giả nào đó
1.2 Lão Tử và tác phẩm “Đạo đức kinh”
1.2.1 Vài nét về Lão Tử
Có khá nhiều truyền thuyết về Lão Tử, nhưng thực chất chúng ta không biết gì chắc chắn về cuộc đời ông Ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trước, mỗi một triều đại Trung Quốc đã có những sử quan ghi lại những diễn biến của triều đại Từ thời Tư Mã Thiên, đã có nhiều người tra cứu các sách sử cổ để tìm hiểu xem Lão Tử là người như thế nào, nhưng cũng chỉ đưa ra được những giả thuyết, đôi khi những giả thuyết này lại còn mâu thuẫn nhau làm cho người ta càng thêm rối Thậm chí, còn có học giả cho rằng, ông là một truyền thuyết không có thực
Cuộc đời của Lão Tử được ghi chép lần đầu tiên trong bộ Sử ký của Tư
Mã Thiên, phần Liệt truyện, thiên 63: Lão Tử, Trang Tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi Khái lược như sau:
Trang 23Lão Tử là người làng Khúc Nhân, hương Lệ, huyện Hỗ, nước Sở; họ Lí tên Nhĩ, tự là Đam, làm quan sử, giữ kho chứa sách của nhà Chu Khi Khổng
Tử qua Chu, lại hỏi Lão Tử về lễ, Lão Tử đáp: “Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát cả rồi, chỉ còn lại lời của họ thôi Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kỹ vật quý, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dung mạo như ngu độn Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi” Khổng
Tử về bảo với môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn Đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được Hôm nay, ta gặp ông Lão Tử, ông ta là con rồng chăng?” [Dẫn theo 29, tr.6]
Học thuyết của Lão Tử chủ yếu ở chỗ giấu mình, ẩn danh Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi Đến cửa, viên quan coi quan là Doãn
Hỉ bảo với Lão Tử: “Ông sắp đi ẩn, hãy vì tôi mà viết sách để lại” Thế là Lão
Tử viết một cuốn sách gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của Đạo và Đức Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra sao, ở đâu
Có người nói: Lão Lai Tử cũng là người nước Sở, viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng Tử
Đại khái Lão Tử sống trên 160 tuổi, có người bảo trên 200 tuổi nhờ ông
tu đạo để kéo dài tuổi thọ
Sau khi Khổng Tử mất 129 năm, sử chép rằng, viên thái tử nhà Chu tên Đam, yết kiến Tần Hiến Công tâu: “Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp được 500 năm rồi thì tách ra, tách được 70 năm thì có một bá vương xuất hiện” [Dẫn
Trang 24theo 29, tr.7] Có người bảo Đam đó tức là Lão Tử, có người lại bảo là không phải
Ngoài ra, các bộ Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân
Thu cũng nhắc đến Lão Tử, nhưng chỉ phê bình học thuyết của ông chứ không
nói gì thêm về đời sống của ông, trừ việc cho rằng: Lão Tử là thầy học của Khổng Tử mà không ai có thể tin được
Phải đến khoảng hai thế kỷ sau khi bộ Sử kí của Tư Mã Thiên ra đời, chúng ta mới thấy được một tài liệu nữa trong bộ Tiểu đái kí, thiên Tăng tử
vấn, thuật lại việc Khổng Tử hỏi Lão Tử về lễ Tất cả gồm ba “cố sự” đều do
Khổng Tử kể lại lời của Lão Tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn cất, về việc để tang Duy có “cố sự” thứ hai là đáng chú ý: Lần đó Khổng Tử theo Lão Tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đường gặp nhật thực, Lão Tử bảo: “Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đường bên phải, ngưng tiếng khóc để đợi sự biến đổi” Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi Lão Tử nói:
“Như vậy là lễ”
Các bản Sử kí lưu hành hiện nay đều chép là Lão Tử gốc ở làng Khúc
Lí, hương Lệ, huyện Hỗ nước Sở Nhưng có người như Lục Đức Minh,
Khổng Dĩnh Đạt… lại bảo Sử kí chép là nước Trần, huyện Tương, hương Lại Vậy có nhiều bản Sử kí do người đời sau sửa lại, không biết được bản nào là
gốc; chỉ biết Tư Mã Thiên không đưa ra một giả thuyết nào khác, đa số học giả từ trước tới nay đều theo thuyết: nước Sở, huyện Hỗ, hương Lệ Thực ra,
về địa điểm các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có cách gọi là khác nhau Ví dụ nước Trần cũng là nước Sở: thời Xuân Thu là nước Trần, năm 478, tức sau khi Khổng Tử mất được một năm, Trần bị Sở diệt
Về địa điểm, mỗi cách gọi có một ý nghĩa quan trọng; gọi là Sở, là Hỗ,
có thể ngầm nhận ra rằng, Lão Tử là người thời Chiến Quốc, mà gọi là Trần, Tương có thể ngầm nhận ra rằng, ông là người thời Xuân Thu Nhưng chúng
Trang 25tôi cho rằng, Tư Mã Thiên có lẽ không dùng từ ngữ chính xác tới mức đó; vì một mặt ông khẳng định, Lão Tử là người nước Sở, huyện Hỗ tức dùng những tên thời Chiến Quốc; một mặt khác ông lại bảo Lão Tử gặp Khổng Tử ở thời Xuân Thu
Họ, tên và tên tự đó rất thông dụng từ xưa đến nay Tên là Nhĩ (tai), tự
là Đam (tai dài) thì rất hợp Theo truyền thuyết, Lão Tử lại rất thọ, cho nên người ta còn gọi là Lão Đam (ông già tai dài) và vì tôn trọng cho nên gọi là Lão Tử
Người đầu tiên bác bỏ thuyết này là Dư Bồi Lâm Như ông viết: “Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân Thu không có họ Lí, mãi đến thời Chiến Quốc mới có Lí Khối, Lí Khắc, Lí Mục…, như vậy đủ biết họ Lí xuất hiện rất trễ Lão Tử phải họ Lão Sách Tả truyện, năm 15 đời Thành công có Lão Tá, năm
14 đời Chiêu công có Lão Kì Luận Ngữ có Lão Bành, Dử kí có Lão Lai Không thể tra khảo xem Lão Tử có thuộc dòng họ những người đó không, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa thời cổ đã có họ Lão rồi Vả lại các triết gia thời Tiên Tần đều gọi bằng họ như Khổng Tử, Mặc Tử, Tuân Tử, Trang Tử, Hàn Tử, không nhà nào là không như vậy Lão Tử cũng không là ngoại lệ, gọi
là Lão Tử chứ không phải là Lí Tử, gọi là Lão Đam chứ không phải là Lí Đam Như vậy rõ ràng là, họ Lão chứ không phải họ Lí Họ Lão gọi nhầm ra
Lí vì hai chữ này đọc gần giống nhau” Giả thuyết này được Dư Bồi Lâm đưa
ra từ năm 1973, cũng có lý vì sự nhầm lẫn do cách đọc gần giống nhau là hoàn toàn có thể
Còn một số nghi vấn trong cuộc đời của Lão Tử, như Lão Tử có phải là Lão Lai tử hay không, Tư Mã Thiên cho là không phải Trong thiên “Trọng
Ni đệ tử”, ông bảo Khổng Tử vốn trọng Lão Tử ở Chu, Lão Lai tử ở Sở, như vậy ông coi Lão Tử và Lão Lai tử là hai người Trong truyện Lão Tử, ông viết: “Có người bảo: Lão Lai tử cũng là người nước Sở, viết mười lăm thiên
Trang 26sách nói về công dụng của Đạo gia, cũng đồng thời với Khổng Tử”; còn Lão
Tử viết hai thiên nói về Đạo và Đức, như vậy cũng khẳng định là hai người Ông bảo Lão Lai tử đồng thời với Khổng Tử, như theo Vũ Đồng thì sách Khổng Tùng tử bảo Lão Lai tử đồng thời với Tử Tư, cháu nội Khổng Tử, có lần vấn đáp với Tử Tư Vậy Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão
Tử ở ba điểm: cùng họ Lão, cùng là người nước Sở, cùng thuộc phái Đạo gia; không thể bảo Lão Lai tử là Lão Tử được
Còn về giả thuyết Lão Tử có phải là thái sử Đam không Thuyết này đã
có từ đời Tây Hán; nhưng tới thế kỷ XVIII mới được Tất Nguyên (trong Đạo
đức kinh khảo dị) và Uông Trung (trong Lão Tử khảo dị) chủ trương và người
theo thuyết này có học giả La Căn Trạch Ông đưa ra những lí do như sau: Cả hai đều làm sử quan nhà Chu Cả hai đều qua cửa Hàm Cốc vì thái sử Đam đã
có lần sang Tần yết kiến vua Tần Hiến Công Thuyết đó rất hợp với sự kiện này: hậu duệ đời thứ 8 của Lão Tử (tên là Giải) đồng thời với hậu duệ đời thứ
13 của Khổng Tử (tên Khổng An Quốc) Nhưng Dư Bồi Lâm cũng đưa ra những lí do để bác bỏ ý kiến của La Căn Trạch Thứ nhất, việc thái sử Đam qua yết kiến vua Tần Hiến Công, sử Chu và sử Tần đều có chép nhưng không
hề ghi đó là Lão Tử Thứ hai, thái sử Đam yết kiến vua Tần Hiến Công vào năm 106 chứ không phải 129 năm sau khi Khổng Tử mất, lúc đó Lão Tử khoảng 200 tuổi, sao mà sống lâu như vậy được
Vũ Đồng cũng đưa ra một lí do nữa để bác bỏ quan điểm của La Căn
Trạch Ông bảo, theo Sử kí của Tư Mã Thiên thì thái sử Đam đưa ra thuyết
Tần với Chu hợp rồi li, rồi sau có một bá vương xuất hiện, thuyết đó không hợp với tư tưởng trong sách Lão Tử
Về tuổi thọ của Lão Tử, do không biết năm sinh, năm mất, không biết ông sống ở thời nào nên không biết được tuổi thọ của ông Những lời đồn ông
Trang 27sống 160 tuổi, 200 tuổi, Tư Mã Thiên chỉ ghi cho đủ chứ không tin, có nhiều lắm cũng chỉ khoảng 90 tuổi mà thôi
Tóm lại, từ trước tới nay có hai trường phái chống đối nhau Một phái cho rằng, Lão Tử đồng thời với Khổng tử, lớn tuổi hơn Khổng tử, một phái thì cho rằng, Lão Tử phải sinh sau Khổng tử
Phái thứ nhất, chỉ căn cứ vào hai đoạn trong Sử kí ghi chép những lời
Lão Tử khuyên Khổng Tử, nghĩa là tin chắc rằng, Khổng Tử có qua Chu hỏi
Lão Tử về lễ Thiên “Tăng tử vấn” trong Lễ kí càng khiến cho người ta tin
tưởng hơn
Phái thứ hai, ngược lại, không tin những tài liệu đó vì căn cứ vào tính tình cũng như tư tưởng của hai người: Khổng Tử không thể nào coi trọng một người mạt sát lễ tới mức coi như thầy học của mình được, mà một người phê phán chính sách dùng lễ nhạc giáo hóa dân, chính sách trọng người hiền không thể nào ra đời trong thời Xuân Thu và trước Khổng Tử, Mặc Tử được; nghĩa là Lão Tử phải là người thời Chiến Quốc, sinh sau Khổng Tử và Mặc
Tử
Họ đưa ra vài chứng cứ sau:
Lão Tử sinh ra ở nước Sở, huyện Hỗ, chứ không phải nước Trần, huyện Tương, vậy là sinh sau khi Sở diệt Trần, sau khi Khổng Tử mất tức là thời Chiến Quốc
Theo gia phả hai nhà Khổng và Lão, thì đời 13 của Khổng Tử ngang với đời thứ 8 của Lão Tử; vậy Lão Tử kém Khổng Tử sáu thế hệ; vả lại con của Lão Tử là Tôn là người thời Chiến Quốc
Ngoài ra còn một phái nữa, muốn dung hòa hai phái trên cho rằng, ông
Lão Tử giảng lễ cho Khổng Tử là một người và ông Lão Tử viết cuốn Lão tử
là một người khác
Trang 28Phùng Hữu Lan cũng đứng ở giữa, nhưng có quan điểm khác: Lí Nhĩ là nhân vật có thật, làm “thủ lĩnh Lão học”, ở thời Chiến Quốc; còn Lão Đam chỉ là nhân vật truyền thuyết, mà Lí Nhĩ mượn tên để được người đời tôn
trọng học thuyết của mình Và ông chú trọng tác phẩm Lão tử hơn con người
Lão Tử, cho nên khi xét học thuyết, ông ghi rõ học thuyết trong Lão Tử chứ không viết là học thuyết của Lão Tử Giải quyết như vậy có vẻ hợp lý, nhưng không nhiều người đồng ý, bởi vì hơn hai nghìn năm nay, người ta vẫn gọi bộ
Mặc tử của Mặc Tử, bộ Mạnh tử của Mạnh Tử, bộ Trang tử của Trang Tử, bộ Tuân tử của Tuân Tử… mặc dù những bộ đó do môn sinh viết, hoặc có nhứng
thiên do người sau thêm vào Nên cũng không thể nói bộ Lão tử không phải
của Lão Tử được
1.2.2 Kết cấu và khái quát nội dung chính của “Đạo đức kinh”
* Kết cấu
Có nhiều bản Lão tử, bản dài nhất bao gồm 5200 chữ, bản ngắn nhất
không đầy 5000 chữ Bản lưu hành ngày nay dài hơn 5000 chữ, chia làm 81 chương ngắn, nhiều chương chỉ có trên 40 chữ, chương ngắn nhất là chương
40 chỉ có 21 chữ; những chương dài nhất như chương 20, 38 cũng chưa đầy
150 chữ
81 chương chia thành hai thiên, thiên thượng từ chương 1 đến chương
37 gọi là Đạo kinh; thiên hạ từ chương 38 trở đi gọi là Đức kinh; hợp lại
thành “Đạo đức kinh” Sự đặt tên thiên như vậy là bởi vì chương 1(chứ không
phải toàn bộ thiên thượng) nói về đạo và mở đầu bằng câu: “Đạo khả đạo phi thường đạo”; chương 38 (chứ không phải toàn bộ thiên hạ) nói về Đức và mở
đầu bằng câu: “Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức”, vì nội dung các thiên phức tạp và các chương không sắp xếp theo thứ tự nào cả
Cuốn Đạo đức kinh được Lão Tử viết theo hình thức câu dài ngắn khác
nhau, giàu âm điệu , súc tích Thể được dùng là cổ văn, một loại văn ngắn
Trang 29gọn, dễ thuộc lòng, nhưng không dễ hiểu Vì thế, nó có vẻ như chỉ gợi ý và bắt người đọc phải ngẫm nghĩ, tưởng tượng, lắng nghe tiếng dội lại từ lòng mình
Tác phẩm không thuần nhất cả về hình thức và nội dung Về hình thức, thể văn xét chung thì những câu hay về số chữ thường cân đối như câu đầu:
“Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh” Nhiều đoạn lại có vần, nhưng tiết điệu lại không đều, có những câu bốn chữ, nhưng cũng
có những câu sáu hay chín chữ Có thể cho rằng, những đoạn có vần có điệu
đó, là bước đầu của thể loại “từ phú” hình thành ở cuối thời Chiến Quốc, đầu
đời Hán, mà cũng là nguồn gốc của biền văn thịnh hành đời Lục triều Về nội
dung, chúng ta thấy có nhiều ý trùng lặp, có những chỗ tư tưởng dường như lại mâu thuẫn nhau, có những chương lại nói về thuật dùng binh pháp gia, có chương giọng lại gay gắt như giọng của Mặc Tử, Mạnh Tử, không phải giọng của Lão Tử
Trước đây, người ta tin Tư Mã Thiên cho rằng, chính Lão Tử viết do yêu cầu của Doãn Hỉ, như vậy là tác phẩm xuất hiện vào thời Xuân Thu Sang đến thế kỷ XVIII, mới có người nghi ngờ thuyết này, họ cho rằng, Lão Tử xuất hiện thời Chiến Quốc, người thì cho rằng, sau Mặc Tử trước Trang Tử,
kẻ thì bảo trong khoảng từ Trang Tử tới Tuân Tử; có người thì cho rằng, còn
muộn hơn nữa sau bộ Lã thị Xuân Thu và trước bộ Hoài Nam tử, nghĩa là vào
đầu đời Tần Hán, nhưng giả thuyết này không vững
Lý lẽ của họ dựa trên cả hai mặt nội dung và hình thức, đại khái có thể
kể ra như sau:
Xét về mặt nội dung của tác phẩm Bộ Lão tử phủ nhận trời là độc tôn,
mà trên trời còn có Đạo, Đạo mới là gốc của trời đất Thời Xuân Thu ngay cả đầu thời Chiến Quốc, ai cũng thờ trời, tôn trọng trời, không thể có thuyết này được Mặt khác, ông phủ nhận chính sách thượng hiền Mà theo họ, chính
Trang 30sách thượng hiền xuất hiện khá trễ, vào thời Mặc Tử cùng với giai cấp tân địa chủ và giai cấp “sĩ” do Khổng Tử đào tạo Phải có chính sách thượng hiền rồi thì Lão Tử mới đả kích nó được, do vậy Lão Tử phải xuất hiện sau Khổng Tử, Mặc Tử Ông còn bác bỏ lễ, tư tưởng này không thể xuất hiện trong thời Xuân Thu được, mà bác bỏ lễ, nhân tức là bác bỏ Khổng, Mặc, vậy nên Lão Tử theo
họ phải xuất hiện sau Khổng, Mặc
Các lý lẽ trên thì lý lẽ đầu còn có thể chấp nhận được, nhưng hai lý lẽ sau không vững lắm Vì các triều vua Trung Quốc đều có chính sách sử dụng người hiền tài, ngay từ thời nhà Chu, Văn Vương và Võ Vương đã dùng người hiền trong giới bình dân; rồi trước Khổng Tử khoảng trăm năm, Tề Hoàn Công cũng nhờ Quản Trọng, một người hiền trẻ nghèo khó, bán dầu,
mà lập nghiệp bá Lão Tử mạt sát lễ thì Mặc Tử cũng mạt sát lễ mà ngay từ thời Xuân Thu chắc cũng có nhiều người thấy lễ của nhà Nho là phiền phức đâu phải đến thời Chiến Quốc Không thể bảo chủ trương đó phải xuất hiện sau Khổng, Mặc
Còn về mặt hình thức thì các học giả cho rằng: Trước Khổng Tử không
có trường hợp nào tư nhân trứ thuật Vì theo Chương Thực Trai, một sử gia đời Thanh, thời đó các nhà cầm quyền giữ điển chương, còn các sử gia thì chép các việc xảy ra Họ đều là quý tộc có học thức, lo việc trị dân, đâu có thì giờ nghĩ đến việc viết sách, vả lại nếu họ có chủ trương gì mới thì có đủ phương tiện để thi hành, không cần phải viết sách Tới khi xã hội loạn lạc, một số quý tộc mất địa vị, suy vi, không được cầm quyền mà lại có học thức,
lí tưởng mới dạy học nghĩ cách cải tạo xã hội, lập ra học thuyết riêng Khổng
Tử là người mở đường cho việc trứ thư lập ngôn đó Vì vậy, bộ Lão tử không thể xuất hiện trước bộ Luận ngữ
Ngoài ra, Dư Bồi Lâm còn đưa ra lý do sau: Có người đã làm thống kê
thấy rằng, các sách thời Tiên Tần dẫn lời trong Lão tử khá nhiều, cuốn đầu
Trang 31tiên là Trang tử, nhưng chỉ trong Ngoại thiên, Tạp thiên chứ không phải trong
Nội thiên, nghĩa là trong những thiên không phải Trang Tử viết mà là của
người đời sau, môn đệ gần xa viết, có khi cũng không phải là môn đệ Chiến
Quốc sách dẫn hai lần Sách Hàn Phi tử ngoài những thiên Giải Lão, Dụ Lão còn dẫn một lần Lão Tử ở thiên Ngoại Trữ thuyết tả hạ, một lần ở thiên Lục
Phản Lã thị Xuân Thu dẫn bốn lần
Tất cả các lí do trên, nếu xét từng lí do một thì không đủ chắc chắn, nhưng nếu gộp cả lại thì cho ta kết luận một cách gần chắc chắn rằng, Lão Tử phải xuất hiện sau Khổng, Mặc và trước Mạnh Tử, Trang Tử
Còn về người viết bộ Lão Tử thì mọi người đều cho rằng do môn sinh viết Đọc các tác phẩm triết học thời Tiên Tần chúng ta không nên quên ba điều sau:
Có rất nhiều ngụy thư có nghĩa là sách do đời sau (Hán, hoặc sau đời
Hán) viết, ví dụ như bộ Quản tử, bộ Án thị Xuân Thu mà có người cho là của
đời Ngụy Tấn…
Ngay cả những bộ chân thư như Mặc tử, Trang tử cũng có nhiều thiên ngụy tác, như trong bộ Mặc tử chỉ có những thiên như Kiêm ái, Thượng đồng, trong Trang tử chỉ có những thiên như Tề vật luận, Tiêu dao du mới đáng tin
là của Mặc Tử, của Trang Tử, còn cả phần Mặc kinh và các phần Ngoại thiên,
Tạp thiên đều là của người sau cả Ngay những thiên đáng tin nhất đó cũng
chưa hẳn đã do chính Mặc Tử, Trang Tử viết, mà có nhiều phần chắc là do môn sinh viết Những sách thời đó, tới đời Hán lại được các học giả sắp đặt,
chỉnh lý lại nữa, và những bản Mặc tử, Trang tử lưu hành hiện nay, đời Tiên
Tần không có Khi chỉnh lý lại, họ thu thập tất cả các thiên họ cho là của một
học phái nào đó, gom cả vào một bộ gọi chúng là Mặc tử, Trang tử, Tuân
tử… để ngầm hiểu rằng, đó là tác phẩm của các phái Mặc, Trang, Tuân chứ
không phải của một người Họ tuyệt nhiên không coi trọng quan niệm tác giả
Trang 32như chúng ta hiện nay, mà chỉ chú trọng đến tư tưởng của mỗi phái Họ chỉ thu thập cho đủ, không chú trọng đến phê phán, hay đâu là thật đâu là giả, cho
nên trong Hàn Phi tử ta thấy có tư tưởng của Đạo gia; trong sách Trang tử ta
cũng thấy có tư tưởng của Nho gia
Bộ Lão tử cũng không phải do Lão Tử viết - vậy chuyện Doãn Hỉ yêu
cầu ông chép lại học thuyết trước khi qua ải chỉ là một truyền thuyết vô căn
cứ - mà của môn sinh viết Và có những chương do người đời sau thêm vào, đại khái nó xuất hiện khoảng thế kỷ thứ IV, nhưng có thể qua thế kỷ thứ III nó mới có hình thức như chúng ta thấy ngày nay Nhưng cũng có một nghi vấn ở đây: đó là nếu do môn sinh viết sao không thấy nhắc đến tên thầy, không ghi
“Lão Tử bảo” hoặc “thầy bảo” (như bộ Mạnh tử, Mặc tử…) hay là Lão Tử
đọc cho môn sinh chép, điểm này cũng chưa thể lý giải hợp lý được
Tuy cuốn Đạo đức kinh không phải do một người viết nhưng cuốn sách
này cũng không phải là một tập lục, thu thập hết tư tưởng Đạo gia; không kể khoảng mười chương do người đời sau thêm vào thì tư tưởng trong Lão Tử vẫn nhất quán, vẫn là của một bậc thầy mà môn đệ đã chép lại
Bậc thầy đó chúng ta không biết chắc chắn tên là gì, sinh năm nào, chết năm nào, nhưng chúng ta có thể cứ gọi là Lão Tử, hay Lão Đam như từ trước tới nay Đến đây chúng ta thấy rằng, bao nhiêu công trình nghiên cứu hai nghìn năm nay của cả trăm học giả đưa đến kết luận: gần hết những điều Tư
Mã Thiên viết về Lão Tử đều không đáng tin, chỉ giữ được một số thông tin
về quê quán, tên họ, dòng dõi, tư cách của Lão Tử
Các bản chú thích:
Nghiêm Linh Phong, một học giả Trung Hoa hiện đại đã thống kê các
thư mục về Đạo đức kinh, thấy rằng từ đời Hán đến thời cận đại đã có 283
cuốn chú thích là bàn them (hiện còn giữ được); ngoài ra còn có 282 cuốn nữa
đã thất truyền, chỉ còn ghi lại tên, đó là ở Trung Hoa Ở Nhật Bản có 192
Trang 33cuốn trứ thuật nữa, tổng cộng 755 cuốn Nếu kể cả những cuốn luận về học thuyết của Lão Tử thì con số đó lên đến 1600 hay 1700
Cho tới nay, Đạo đức kinh có hàng trăm bản dịch ra các thứ tiếng Anh,
Pháp, Đức, Tây Ban Nha… riêng trong tiếng Việt, có các bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Nghiêm Toản, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tôn Nhan…
* Khái quát về một số nội dung chính trong sách “Đạo đức kinh”
Hệ thống tư tưởng của Lão Tử trong sách Đạo đức kinh bao gồm nhiều
nội dung như: thế giới quan, nhân sinh quan, chính trị- xã hội và đạo đức, và chủ yếu đề cập đến những vấn đề xã hội và con người Trong phần trình bày
khái quát những nội dung chính trong sách Đạo đức kinh, luận văn chủ yếu
tập trung khái quát và làm rõ các nội dung chính như: quan niệm về vũ trụ, quan niệm về lập thân, quan niệm về tu dưỡng, quan niệm về xử thế của Lão
Tử Bởi những quan niệm này có quan hệ chặt chẽ và như là những cơ sở để hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của ông Việc luận văn trình bày khái quát những quan điểm ấy, theo thiển ý của tác giả luận văn cũng là để nhận thức đầy đủ hơn nội dung, tính chất tư tưởng chính trị- xã hội của Lão Tử
Thứ nhất, quan niệm về vũ trụ
Qua sách Đạo đức kinh cho thấy, Lão Tử tiếp nhận tư tưởng của Dương
Chu, của Âm dương Ngũ hành và phép biện chứng của Kinh Dịch Ông cho rằng, vũ trụ có “khởi thủy” và cơ hồ không có “chung”, như ông nói: “Thiên địa chi gian, kỳ du thác thược hồ! Hư nhi bất khuất, động nhi dũ xuất” [30, tr.57] (Cái khoảng giữa trời đất giống như ống bễ, tuy trống không mà vô tận, càng động lại càng hơi ra)
Ông cho rằng, vũ trụ là vô cùng vô tận “Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần” [30, tr.61] (Cốc thần bất tử đó là huyền tẫn Cửa huyền tẫn chính là gốc rễ của trời đất, miên man trường tồn dùng không bao giờ hết)
Trang 34Theo ông, cái Đạo của vũ trụ, của trời đất là rất nhiệm màu, nhưng con người không thể giải thích được mà chỉ có thể cảm nhận được, ông viết: “Đạo khả đạo, phi thường Đạo, danh khả danh, phi thường Danh Vô danh thiên địc chi thỉ; Hữu danh vạn vật chi mẫu” [30, tr.37] (Đạo mà có thể giảng giải được thì không phải là cái đạo thường hằng Tên mà gọi được không phải là cái tên thường hằng Không tên là khởi đầu của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật)
Trong quan niệm của Lão Tử, khởi nguồn của vạn vật là Đạo, nhưng đạo là cái gì thì ông không giải thích gì nhiều và cũng không giải thích một cách cụ thể Ông chỉ nói: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh, tịch hề liêu
hề, độc lập nhi bất cải, châu hành nhi bất đãi, khả vĩ di thiên hạ mẫu, Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo” [30, tr.137] (Có một vật hỗ độn sinh thành trước trời đất, yên lặng, trống không, đứng riêng mà không đổi, đi khắp mà không mỏi, có thể là mẹ thiên hạ, ta không biết tên, gọi đó là Đạo) Xét về mặt bản thể luận, “đạo” được Lão Tử trình bày theo ba mặt, đó là thể, tướng và dụng
Mặt “thể” của “đạo”, theo quan niệm của Lão Tử không đồng nghĩa
với phạm trù “bản thể” trong triết học Phương Tây “Thể” trong quan niệm của Lão Tử là để chỉ nguồn gốc tối sơ, nguyên thủy của vũ trụ, vạn vật Nó là cái “tổng nguyên lý” chi phối sự sinh thành và biến hóa của trời đất, là cái cực diệu, cực huyền cho vạn vật noi theo Nói về mặt thể của “đạo”, Lão Tử đã dùng nhiều thuật ngữ để diễn tả, như “đạo huyền”, “đại đạo”, “đạo thường”,
“một”, “cốc thần”… các thuật ngữ này đều đồng nhất với “đạo”, song chỉ những tính chất khác nhau của đạo Trước hết, đó là tính chất khách quan, tự nhiên, thuần phác của “đạo” Tính chất này được Lão Tử đưa lên hàng đầu Ông viết: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” [30, tr.138] (Nghĩa là: Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên [30, tr.139])
Trang 35Tính khách quan, tự nhiên của “đạo”, được hiểu là nó vốn như thế, mộc mạc, thuần phác, không bị nhào nặn, gọt giũa bởi con người và nó hoàn toàn độc lập với ý muốn, nguyện vọng của con người Nó sinh ra vạn vật, nhưng không có ý chí, không có dục vọng và mục đích “Đạo” sinh ra vạn vật nhưng không cho vạn vật là của mình Chính tính khách quan, tự nhiên đó mà trời đất hóa sinh phó mặc tự nhiên, không can thiệp, chẳng có lòng nhân, còn vạn vật cứ tự nhiên Tính tự nhiên trong “đạo” không giống như cách hiểu của triết học phương Tây là đối lập với ý thức, tư tưởng, mà “đạo” với bản tính tự nhiên chứa đựng và viên đồng hết thảy cả cái tồn tại và không tồn tại, cả cái tĩnh lặng và biến đổi, cả cái siêu hình và hữu hình Vì thế, không thể nói, Lão
Tử đứng trên quan điểm duy vật hay duy tâm để xem xét về “đạo” được
“Đạo” chứa ẩn tiềm tàng trong nó cả hai và cả hai chỉ có thể được biểu hiện ra trong quá trình vận hành của nó
Đề cao tính tự nhiên, thuần phác của “đạo”, Lão Tử không thừa nhận
sự biến hóa của thế giới tuân theo mục đích định sẵn của thế lực siêu tự nhiên nào đó Ông cũng phản đối việc lấy hành động tự giác và có ý chí của con người gắn cho tự nhiên Ông kêu gọi: “dứt thánh, bỏ trí”, “bão pháp tự nhiên”, kịch liệt chống lại tính chất “hữu vi” của các trường phái Nho, Mặc Quan điểm ấy của ông cũng chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm Ông đã
cố gắng tìm ra tính quy luật khách quan của vạn vật vận động và biến hóa, dạy mọi người phải hành động theo quy luật tự nhiên Nhưng ông lại cho rằng, con người chỉ có thể thích ứng với quy luật tự nhiên một cách bị động, đứng trước tự nhiên con người không cần làm gì Quan điểm này của ông mang tính hai mặt, một mặt nó cũng phù hợp với hiện nay khi mà con người can thiệp quá sâu vào tự nhiên, làm tự nhiên biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, gây tác động xấu đến đời sống con người Do vậy, ở một mức độ nào đó, người ta đang kêu gọi chúng ta hãy sống hòa hợp với tự nhiên Mặt khác,
Trang 36quan điểm thụ động đối với tự nhiên của ông cũng có hạn chế Nếu như con người cứ thụ động, không cần làm gì trước tự nhiên thì loài người làm sao có thể tiến bộ được, con người sẽ không có những thành tựu phát triển ngày hôm nay
Thuộc tính thứ hai của “đạo” được Lão Tử nói đến nhiều trong sách
Đạo đức kinh là tính chất lặng yên và trống không Ông thường dùng từ “cốc
thần” chỉ tính chất trống rỗng của “đạo”, “cốc thần” chỉ khoảng trống không giữa lòng hang sâu, không hình, không ảnh, không ngược, không trái Như vậy, sự yên lặng, trống rỗng của “đạo” là một định tính có tính chất căn bản
Sự trống rỗng này vô cùng, vô tận, chứa đựng muôn vật vạn loài mà chẳng bao giờ đầy, biến hóa khôn lường mà chẳng bao giờ kiệt Cái lặng yên, trống rỗng của “đạo” còn được Lão Tử diễn đạt bằng từ “vi diệu, huyền thông” Ông dùng chữ “huyền” với nghĩa sâu kín, huyền diệu, không danh tính, không hình thể, không thể nói ra được bằng lời để chỉ “đạo” biến hóa Xét về mặt khái niệm, Lão Tử không phải đi tìm những thuộc tính chung của vạn vật mà thực chất là tìm ra những nguyên nhân đầu tiên, tối sơ sinh ra vũ trụ, vạn vật
để trả lời cho câu hỏi truyền thống của triết học Trung Hoa cổ đại rằng, cái gì
là cái đầu tiên sinh ra vũ trụ vạn vật Và ông coi “đạo” là mẹ của muôn loài, là chủ của trời đất
Về mặt tướng của “đạo, Lão Tử đã dùng rất nhiều từ ngữ, hình ảnh để
làm bật lên hình dáng, trạng thái của nó Ông cho rằng, “đạo” là cơ sở đầu tiên của vạn vật, nó không phải là một thể đặc biệt cố định, mà là thực thể của khối hỗn độn, không có một tính quy định nào, ngoài tính chất khách quan, tự nhiên, chất phác, trống rỗng, huyền diệu Nó là cái tồn tại tuyệt đối, sâu kín, mập mờ, thấp thoáng, là thể thống nhất hòa hợp không phân chia giữa sáng và tối, hữu và vô Nó tuy không có hình trạng, nhưng “đạo” không bao giờ mất,
nó tồn tại đầy khắp cả vũ trụ, là đầu của trời đất, là mẹ của muôn vật Ở
Trang 37chương 25, sách Đạo đức kinh, ông viết: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa
sanh, tịch hề liêu hề, độc lập nhi bất cải, châu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên
hạ mẫu, ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết đạo”[30, tr.137] (Dịch nghĩa: Có vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất, yên lặng, trống không, đứng riêng mà không đổi, đi khắp mà không mỏi, có thể là mẹ thiên hạ, ta không biết tên, gọi
đó là đạo) Vì thế không thể diễn tả nó bằng lời được, không thể gọi nó bằng tên thường, mà nếu đã gọi được tên thì ắt tự nhiên có đối chọi, cân xứng với nhau như thiện với ác, tốt xấu, đầu cuối Nhưng Lão Tử cũng gượng đặt tên cho nó là “đạo”, gọi là “đạo vô danh” “Đạo vô danh” nhưng nó vẫn tồn tại
Sự tồn tại của “đạo” được biểu hiện trong mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại và biến hóa vô cùng vô tận Như vậy, “đạo” không chỉ một sự vật, hiện tượng cụ thể hữu hình nào, mà nó là cái tất cả mọi vật từ đó sinh ra và là cái tồn tại tiềm ẩn dưới những thay đổi của vạn vật Do đó, “đạo” vừa duy nhất,
vừa thiên hình vạn trạng, vừa bất biến, vừa biến hóa Ở chương 21, sách Đạo
đức kinh, ông viết: “Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt, hốt hề hoảng hề, kỳ
trung hữu tượng, hoảng hề hốt hề, kỳ trung hữu vật, yểu hề minh hề, kỳ trung hữu tinh, kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín, tự cổ cập kim, kỳ danh bất khứ,
dĩ duyệt chúng phủ” [30, tr.120] (Đạo sinh ra vật, thấp thoáng mập mờ, thấp thoáng mập mờ, trong đó có hình, mập mờ thấp thoáng, trong đó có vật, sâu
xa tăm tối, trong đó có tinh, tinh đó rất thực, trong đó có tín, từ xưa đến nay, tên đó không mất, gốc của vạn vật)
Đặc biệt trong Đạo đức kinh, Lão Tử thường lấy nước để diễn đạt trạng
thái của đạo Đó là tính mềm mại, linh hoạt và dễ thích ứng của nước Ông viết: “Dưới trời, mềm yếu, không gì hơn nước Không gì hơn nó được Không
gì thế đó được” [30, tr.384] Theo Lão Tử, dưới trời mềm nào bằng nước, rắn nào bằng đá, vậy mà nước chảy đá mòn, núi lở Nước lại giống đạo ở chỗ không thể chất, không hình dạng Nước không nơi nào không tới, làm yên
Trang 38tĩnh, bằng phẳng, êm ái ở khắp nơi Nó rất mềm yếu song không gì mạnh hơn
nó, không gì linh hoạt như nó, nên Lão Tử chủ trương lấy mềm thắng cứng, lấy nhu thắng cương
“Đạo” giống như nước chảy về nơi thấp, giống như sông dài, biển rộng,
to lớn mênh mông, nhưng nó là chỗ thấp nên trăm dòng chảy dồn về Nước mềm mại không tranh chấp, ganh đua vì nó nhún nhường, khiêm tốn cho nên
nó lan tràn và len lỏi khắp nơi, có thể “làm vua” các dòng nước vì khéo biết ở chỗ thấp Chỉ vì ở chỗ thấp nên trăm dòng dồn tới, chỉ vì ở chỗ thấp nên biển mênh mông, rộng lớn không có gì là không thể chứa đựng
Mặt dụng của “đạo” chính là công dụng, năng lực của nó Đó là trạng
thái vận động, biến đổi với năng lực sản sinh và huyền đồng vạn vật “Đạo”
có sức sáng tạo, bao quát, ngự trị trời đất Nhận được “đạo” tắm tưới, vạn vật hiển hiện ra trong trời đất bằng muôn loại hình dạng khác nhau Tuy “đạo” bao trùm, che chở và nuôi dưỡng vạn vật, nhưng nó không khoe khoang, ỷ thế
mà cứ thản nhiên như không làm gì Năng lực của “đạo” là ở chỗ không làm (vô vi), yên tĩnh, nhưng thực ra không có gì mà “đạo” không làm (vô vi nhi bất vô vi), không có gì mà không cậy đến “đạo” để phát sinh, tồn tại và nuôi dưỡng
Như vậy, ở đây ta thấy rằng, trong quan điểm của Lão Tử về đạo đã bao chứa quan điểm biện chứng chất phác Lão Tử cho rằng, toàn bộ vũ trụ, vạn vật do chi phối của “đạo” mà luôn luôn trong quá trình vận động, biến hóa không ngừng, không nghỉ Theo Lão Tử, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều bao hàm hai mặt đối lập dựa vào nhau, liên hệ, tương tác lẫn nhau Lão Tử còn khẳng định, chính sự liên hệ, tác động giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau trong sự vật, hiện tượng đã tạo ra sự vận động, biến đổi không ngừng của vũ trụ và nó biến đổi, vận động không phải hỗn loạn, mà chúng tuân theo những quy luật tất yếu – “đạo” Đây là những quy luật
Trang 39nghiêm ngặt, không có sự vật nào có thể tồn tại mà đứng ngoài quy luật đó, kể
cả trời đất, thần linh
Tử tưởng biện chứng của Lão Tử tuy đã khái quát đúng đắn bức tranh sinh động của hiện thực, nhưng về căn bản, nó vẫn mang tính chất tự phát, ngây thơ, dựa trên những kinh nghiệm có tính trực quan cảm tính và chủ yếu
là mô tả sự biến chuyển của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội Nó chưa có cơ sở để vạch ra bản chất bên trong của sự biến đổi
đó Đây không chỉ là sự hạn chế bị quy định bởi tính chất thời đại lịch sử mà còn do sự hạn chế bởi trình độ nhận thức còn thấp kém ở Trung Quốc thời bấy giờ
Thứ hai, quan niệm về lập thân
Theo Lão Tử, tuân đạo, quý đức, đạo và đức là quy luật của trời đất, con người cần phải tuân theo thì mới có thể sống yên ổn và phát triển được:
“Đạo sinh chi, Đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn Đạo nhi quý Đức” [30, tr.244] (Đạo sinh vạn vật, đức dưỡng chúng, vật chất cho chúng hình, hoàn cảnh tác thành chúng Cho nên vạn vật đều tôn đạo, quý đức)
Đạo và Đức được coi là có công sinh thành nên mọi vật, nhưng không kiêu căng, tự phụ mà làm như không làm, cho nên Lão Tử khuyên con người nên sống theo Đạo và Đức Có như vậy, theo ông mới là người hiểu Đạo, sống hợp với lẽ tự nhiên: “Đạo sanh chi, Đức súc chi … Sanh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể” [30, tr.245]
Ngoài ra, theo Lão Tử, con người còn cần phải loại trừ những cái xấu
xa gây hại cho bản thân, mà theo ông, muốn vậy cần phải loại trừ cái nguyên nhân gây nên cái xấu đó Hay nói cách khác, con người cần phải lường trước được những trường hợp xấu nhất và thấy được nguyên nhân của nó để loại trừ cái nguyên nhân đó, con người cần phải biết phòng xa Ông viết: “Ai biết cái
Trang 40đạo nhiếp sinh, đi đường không gặp thú dữ, vào trận không bị đao thương, tê không chỗ đâm, cọp không chỗ vấu, đao không chỗ phạm, cớ sao vậy? tại không có chỗ chết” [30, tr.240] Con người ta cần phải khéo giữ gìn sự sống, biết giữ vững tinh thần và có như vậy thì sẽ không sợ bị đẩy đến chỗ chết
Theo Lão Tử, bậc thánh nhân là những người mà từ bỏ sự xa xỉ, cao sang, sống gần với tự nhiên, với những gì thuần phác nhất: “Thị dĩ thánh nhơn khứ khậm, khứ xa, khứ thái” [30, tr.154], không nên tranh chấp với ai, vì mình không tranh với ai thì không ai tranh với mình: “Phù du bất tranh, cố vô ưu” [30, tr.68] Theo Lão Tử, con người cần giữ thanh tĩnh ở trong lòng, lấy tĩnh làm động: “Trọng vi khinh căn tĩnh vi táo quân” (Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chủ của động) [30, tr.141] vì có như vậy thiên hạ mới thái bình: “Bất dục dĩ tĩnh, thiên hạ tương tự định” [30, tr.185] có nghĩa là không ham muốn
để yên tĩnh, thiên hạ sẽ tự ổn định Đây cũng là điều mà ông hướng đến, lấy tĩnh làm động Ông cho rằng, con người ta ai cũng nên giữ yên tĩnh, ai cũng thế thì thiên hạ tự nhiên sẽ ổn định, không cần phải tranh giành hay sử dụng bất cứ biện pháp nào khác Ông coi đây là chuẩn tắc của thiên hạ: “Táo thắng hàn, tịnh thắng nhiệt Thanh tịnh vi thiên hạ chính” [30, tr.221] Ông đề cao cái tĩnh tại, ông yêu cầu con người không nên tranh giành với nhau mà nên thuận theo tự nhiên Có như vậy thì theo ông, thiên hạ sẽ thái bình thịnh trị, thiên hạ sẽ được yên ổn Hay nói cách khác, theo ông, con người nên “vô vi”
“Vô vi” theo quan điểm của Lão Tử không phải hiểu theo nghĩa đen của từ này là “không làm gì”, mà là hành động một cách tự nhiên, không làm trái với quy luật tự nhiên, không can thiệp vào guồng máy tự nhiên, không hành động
có tính giả tạo, gò ép, thái quá “Vô vi” còn là không làm mất cái đức tính tự nhiên vốn có của vạn vật, không ý chí, dục vọng, không ham muốn những gì trái với bản tính tự nhiên của mình