Chẳng hạn: "Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Mai Hương; "Hoàn thiện pháp luật về lao động nữ ở Việt Nam hiện nay" của Dương Thị Ngọc Lan
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991 11
1.1 Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế 11
1.1.1 Khái niệm quyền phụ nữ 11
1.1.2 Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế 12
1.2 Lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ trước năm 1986 15
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về quyền phụ nữ 15
1.2.2 Xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ
18 1.2 3 Kết quả thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam thời kỳ trước 1986 19
1.3 Lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991 23
1.3.1 Chủ trương của Đảng 23
1.3 2 Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ 24
1.3.3 Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991 25
CHƯƠNG II: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012 31
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng 31
2.1.1 Bối cảnh những năm 1990 và yêu cầu mới về quyền con người và quyền phụ nữ 31
2.1.2 Chủ trương của Đảng 34
2.2 Chỉ đạo thực hiện quyền phụ nữ 45
2.2.1 Chỉ đạo đạo xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền phụ nữ 45
2.2.2 Chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy hoạt động vì sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ 57
Trang 44
2.2.3 Chỉ đạo xây dựng các chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm bảo đảm quyền
phụ nữ 61
2.3 Kết quả thực hiện quyền phụ nữ 66
2.3.1.Trong lĩnh vực chính trị 66
2.3.2.Trong lĩnh vực kinh tế, lao động 69
2.3.3.Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo 73
2.3.4 Trong lĩnh vực khoa học công nghệ 76
2.3.5 Trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao 77
2.3.6 Trong lĩnh vực y tế 80
2.3.7 Trong gia đình 82
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 85
3.1 Nhận xét 85
3.1.1 Thành tựu và những tác động 85
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 91
3.2 Một số kinh nghiệm 98
3.2.1.Về hoạch định chủ trương, đường lối 99
3.2.2 Về tổ chức thực hiện 102
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 5ĐBHĐND - Đại biểu Hội đồng nhân dân ĐBQH - Đại biểu Quốc hội
HĐND - Hội đồng nhân dân
LHPN - Liên hiệp phụ nữ
LHQ - Liên hợp quốc
UBND - Ủy ban nhân dân
VBQPPL - Văn bản quy phạm pháp luật UBQG - Uỷ ban quốc gia
XHCN - Xã hội chủ nghĩa
Trang 66
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền bình đẳng của phụ nữ là khát vọng chung của mọi thời đại Ngày nay, cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ đang trở thành một nội dung lớn, là mối quan tâm chung của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại Bởi lẽ, đời sống của phụ nữ là một bộ phận của đời sống xã hội, của đời sống gia đình Người phụ nữ không hề tách biệt với phần còn lại của thế giới mà trái lại gắn liền và chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình và xã hội Trải qua hàng trăm năm tranh đấu, ngày nay quyền của phụ nữ đã được thừa nhận và trân trọng trên phạm vi thế giới Nhiều văn kiện và văn bản pháp luật quốc tế đã xác định và đề cao quyền của phụ nữ, coi
đó như là một trách nhiệm của văn minh thế giới
Ở Việt Nam, phụ nữ hiện chiếm hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội Thực tế lịch sử đã khẳng định, phụ nữ Việt Nam là lực lượng quan trọng đóng góp vào sự phát triển toàn diện xã hội Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia tích cực trong nhiều hoạt động Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ xã hội
Tuy nhiên, là một quốc gia châu Á, nơi tư tưởng Nho giáo, “trọng nam, khinh nữ” in dấu đậm nét và hậu quả nặng nề trong đời sống xã hội gây ra tâm lý tự
ti, an phận của một bộ phận không nhỏ phụ nữ khiến khái niệm “quyền phụ nữ” còn
xa lạ và ít được nhắc đến
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (1945), quyền con người của phụ nữ Việt Nam ngày càng được nhận thức sâu sắc và được bảo đảm tốt hơn trên thực tế
Trang 7và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại
và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”
Trên cơ sở đường lối của Đảng, quyền của phụ nữ đã được thể chế hóa bằng pháp luật Nếu Hiến pháp năm 1946 bước đầu khẳng định của quyền phụ nữ Việt Nam, thì các bản Hiến pháp tiếp theo (Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992), các quyền của công dân nói chung, quyền của phụ nữ nói riêng không ngừng được bổ sung thêm quyền mới và được mở rộng về thêm về nội dung các quyền
Đến nay, pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tương thích với các công ước nhân quyền mà Việt Nam là thành viên Đặc biệt, quá trình tham gia và thực hiện
Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã
tạo thêm khung pháp lý và các điều kiện để phụ nữ Việt Nam được bảo đảm trên thực tế các quyền đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận Thực tiễn đổi mới đã chứng minh, phụ nữ đã tham gia ngày càng sâu rộng vào các hoạt động kinh tế, chính trị,
xã hội; nhiều người đã phát huy tốt sở trường, năng lực của mình Có thể khẳng định, việc thực hiện đầy đủ quyền phụ nữ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện quyền của phụ nữ Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Tệ phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn phổ biến ở mọi nơi, đã làm hạn chế sự đóng góp của phụ nữ trên các lĩnh vực chính
Trang 8phụ nữ ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tác giả đã chọn đề tài “Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ từ năm 1986 đến 2012” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp chương trình Cao học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quyền con người của phụ nữ ở Việt Nam là chủ đề ngày càng thu hút được
sự quan tâm của các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu từ các chuyên ngành khoa học khác nhau Nhiều chương trình, dự án khoa học và bài viết về chủ đề này đã được thực hiện và công bố Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây
Tiếp cận vấn đề quyền phụ nữ từ góc nhìn của khoa học luật có các công
trính nghiên cứu sau: Sách tham khảo của Văn phòng Quốc hội (2003), "Quyền của
phụ nữ và trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam"; các bài
báo khoa học viết về quyền phụ nữ trong các bản Hiến pháp, trong pháp luật quốc
gia và pháp luật quốc tế đăng trên Tạp chí Luật học; Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp Về các luận văn, luận án có: Luận văn Thạc sỹ Luật của Mai Thị Diệu Thúy
(2007), "Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực ở
Việt Nam" ; Luận văn Thạc sỹ Luật của Nguyễn Thị Mai Hiên (2008), "Quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam"; Luận án Tiến sỹ Luật của Trần Thị Quốc Khánh
(2012), "Thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam"; Luận văn Thạc sỹ Luật của Nguyễn Thị Ngọc Bích (2012), "Quyền bình đẳng của phụ nữ theo Công ước về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Luật bình đẳng giới ở Việt Nam Một số kinh nghiệm nước ngoài"
Ngoài các công trình nghiên cứu về quyền phụ nữ ở Việt Nam nói chung còn
có các công trình nghiên cứu về bình đẳng giới, về quyền phụ nữ trên các lĩnh vực
Trang 99
cụ thể của đời sống xã hội Chẳng hạn: "Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị
của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Mai Hương; "Hoàn thiện pháp luật về lao động nữ ở Việt Nam hiện nay" của Dương Thị Ngọc Lan; "Bảo vệ quyền phụ nữ theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam" của Bùi Thị Mừng
Nghiên cứu về quyền phụ nữ dưới góc độ khoa học lịch sử và lịch sử Đảng, cho đến nay chưa tìm thấy công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam, mới chỉ có các công trình nghiên cứu
ít nhiều có liên quan đến Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, như: Nghiên cứu về chủ trương, đường lối vận động phụ nữ của Đảng; Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của phụ nữ trong các giai đoạn lịch sử; sự nghiệp giải phóng phụ nữ của Đảng với các công trình tiêu biều sau: Sách
tham khảo của Lê Hải Triều (2007) với tiêu đề "Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới"; bài viết của Nguyễn Thị Ngân, Tạp chí
Lịch sử Đảng (2008), số 3, "Chủ trương của Đảng và Nhà nước về giải phóng phụ
nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam"; các luận văn Thạc sỹ Lịch sử "Đảng với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 2009" của Trần Thị Minh Hải (2010);
"Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh của phụ nữ miền Nam từ năm 1965 đến năm 1975" của Nguyễn Thị Huyền (2012); "Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996" của Trương Thị Thủy (2012);
"Giải phóng phụ nữ từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đến tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn ở nước ta" của Nguyễn
Thị Kim Loan và một số bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng về chủ
trương, đường lối của Đảng đối với phụ nữ trên một số mặt công tác và lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội
Như vậy, những công trình nghiên cứu về phụ nữ nói chung từ cách tiếp cận lịch sử, lịch sử Đảng còn khá mờ nhạt; chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng trong việc bảo đảm quyền phụ nữ, ở các giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ khi tiến hành đổi mới toàn diện đất nước Vì vậy
đề tài “Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam từ năm 1986 đến 2012”
Trang 1010
còn là một đề tài mới mẻ Mặc dù như vậy, tác giả vẫn có thể kế thừa được những thành quả nhất định từ các công trình nghiên cứu có liên quan
3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
* Mục đích của Luận văn
Luận văn nhằm làm sáng tỏ vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012; trên cơ sở đó rút
ra những bài học kinh nghiệm, nhằm củng cố thêm sự lãnh đạo của Đảng, trong đó
có việc lãnh đạo thực hiện quyền bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ của Luận văn
- Làm rõ quyền phụ nữ là quyền con người của phụ nữ; các quyền này được ghi nhận và bảo vệ thông qua hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người; làm
rõ trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm quyền con người của phụ nữ
- Nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về quyền của phụ
nữ thể hiện trong các văn kiện của Đảng
- Nghiên cứu việc Đảng chỉ đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam (thể hiện ở việc lãnh đạo Nhà nước quy định quyền phụ nữ trong Hiến pháp, pháp luật; chỉ đạo các cơ quan Nhà nước và hệ thống chính trị tổ chức, nhằm bảo đảm trên thực tế quyền của phụ nữ ở Việt Nam)
- Hệ thống hóa những thành tựu và hạn chế trong việc thực thi quyền phụ nữ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 11- Không gian: Trên phạm vi cả nước
- Thời gian: Giai đoạn từ khi bắt đầu sự nghiệp Đổi mới (năm 1986) đến năm
2012
5 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử làm cơ sở để xem xét, đánh giá các sự kiện trong giai đoạn lịch sử này
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp chung của các khoa học xã hội và khoa học lịch sử như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, so sánh Đồng thời còn sử dụng một số phương pháp chuyên ngành quyền con người như: Phương pháp tiếp cận quyền, phương pháp tiếp cận giới, lồng ghép giới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Thông qua việc phục dựng lại một lĩnh vực hoạt động của Đảng, trong một giai đoạn lịch sử gần 30 năm, Luận văn góp phần khẳng định mục tiêu nhất quán của Đảng cộng sản Việt Nam không có gì khác hơn là vì con người, vì quyền con người và giải phóng con người Việc bảo đảm quyền phụ nữ nói riêng, quyền con người nói chung là bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu phấn đấu của Nhà nước Việt Nam
Luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và làm các công tác khác quan tâm tới vấn đề quyền phụ nữ
ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương
Trang 1313
Chương I:
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG NHẰM THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991
1.1 QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm quyền phụ nữ
Để hiểu rõ khái niệm quyền phụ nữ trước hết cần hiểu rõ khái niệm quyền con người Theo cách tiếp cận của khoa hoc quyền con người "Quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ." [5, tr.27] Quyền con người có tính phổ biến cho tất
cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới Cho nên
về lý thuyết, con người nói chung có những quyền gì thì phụ nữ cũng có đầy đủ những quyền đó
Mặc dù về nguyên tắc, quyền phụ nữ là quyền con người của phụ nữ Phụ nữ
có quyền được hưởng trọn vẹn các quyền con người của mình như nam giới Nhưng trên thực tế loài người vẫn có xu hướng mặc định việc “vạch đôi” xã hội: Một nửa
là nam giới, nửa còn lại là nữ giới Sự phân biệt đối xử với phụ nữ còn tồn tại phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, từ gia đình đến xã hội đã loại trừ hoặc hạn chế việc phụ nữ hưởng thụ các quyền con người đã được ghi nhận Do đó, những quy định chung về quyền con người không đủ hiệu lực để bảo vệ người phụ nữ Để phụ nữ thực thi được đầy đủ quyền con người của mình trên thực tế, một mặt phải đấu tranh chống mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, mặt khác xây dựng thêm những quy phạm pháp luật có tính chất ưu tiên, hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ để phụ nữ có cơ hội thụ hưởng đầy đủ những quyền con người của mình Vì vậy có thể nói vấn đề
Trang 1414
trung tâm trong đấu tranh cho quyền phụ nữ là đấu tranh cho quyền bình đẳng thực
sự của phụ nữ để phụ nữ hiện thực hóa các quyền con người của mình
Xuất phát từ mối quan hệ tất yếu giữa quyền con người với quyền phụ nữ và đặc trưng riêng có của quyền phụ nữ, có thể định nghĩa quyền phụ nữ như sau:
Quyền phụ nữ là quyền của tất cả phụ nữ, được pháp luật ghi nhận, bảo vệ; bao gồm những quyền chung của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng xã hội và những quyền đặc thù riêng có của giới nữ
1.1.2 Quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế
1.1.2.1 Quyền phụ nữ trong Bộ luật quốc tế về quyền con người
Quyền con người, bao gồm cả quyền phụ nữ, đã được ghi nhận một cách
tổng quát trong "Bộ luật quốc tế về quyền con người" bao gồm Tuyên ngôn thế giới
về quyền con người (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966)
và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966)
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người là tuyên bố có tính cương lĩnh đưa ra
những nguyên tắc và chuẩn mực chung về quyền con người mang tầm vóc toàn cầu Tuyên ngôn tuyên bố, mọi người dù ở bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng đều được hưởng các quyền và tự do cơ bản về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, mà
"không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính "
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã thể chế hóa Tuyên ngôn, nhằm ràng buộc trách
nhiệm pháp lý đối với các quốc gia thành viên công ước
Hai công ước đã ghi nhận các quyền con người trên các lĩnh vực dân sự,
chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Đó là các quyền: Không bị phân biệt đối xử,
quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền được bảo vệ không bị bắt làm
nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền có tư cách pháp lý ở mọi nơi, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bồi thường khi bị vi phạm, quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ, giam cầm hoặc lưu đày một cách tuỳ tiện, quyền được xét xử bởi một toà án độc lập và không thiên vị, quyền được suy đoán vô tội, quyền được bảo vệ không bị áp dụng luật hồi tố, quyền về đời tư, quyền tự do đi lại, quyền có
Trang 1515
quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, bảo vệ và trợ giúp gia đình, các quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong hôn nhân, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, quyền tự do ý kiến và biểu đạt, quyền tự do hội họp tự do lập hội, quyền tham gia chính quyền, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền có điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, quyền về công đoàn, quyền được nghỉ ngơi, giải trí, quyền có mức sống thích đáng, quyền giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hoá, quyền tự quyết dân tộc, quyền của trẻ em được bảo vệ và trợ giúp, quyền không bị đói, quyền về sức khoẻ, quyền có nơi lánh nạn, quyền có tài sản riêng, giáo dục tiểu học miễn phí, quyền được đối xử nhân đạo khi bị tước tự do, quyền được bảo vệ để không bị tù đày vì nợ nần, chỉ trục xuất người nước ngoài theo quy định của pháp luật, cấm tuyên truyền chiến tranh và kích động sự phân biệt đối xử, quyền của người thiểu số được có đời sống văn hoá riêng
Cả hai công ước trên đều quy định rõ rằng các quyền được ghi nhận trong các văn kiện đó được áp dụng cho tất cả mọi người, không có bất cứ sự phân biệt nào kể cả sự phân biệt về giới tính Thêm vào đó, các quốc gia thành viên đặc biệt cam kết bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền đề ra trong mỗi công ước
1.1.2.2 Khái quát về quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật quốc tế
Do phụ nữ là một nhóm xã hội hết sức quan trọng, chiếm hơn nửa dân số thế giới, nhưng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới phụ nữ luôn phải chịu một địa vị thấp kém hơn so với nam giới, chỉ bởi họ là phụ nữ Đó chính là lý do cùng với việc hoàn thiện những văn kiện quốc tế mang tính tổng quát về quyền con người, LHQ
đã ban hành những văn kiện riêng nhằm bảo vệ và hiện thực hóa các quyền con người của phụ nữ đã được ghi nhận
Năm 1953, LHQ thông qua Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ
Công ước này quy định phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh vực, có quyền bầu cử, ứng cử, quyền được nhận vào làm việc và giữ các chức vụ trong cơ quan
nhà nước Năm 1957, Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn được thông
qua Công ước này quy định phụ nữ không thể bị thay đổi quốc tịch một cách đương
Trang 1616
nhiên do kết hôn, do hủy hôn hoặc người chồng thay đổi quốc tịch Năm 1962,
Công ước về điều kiện kết hôn, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn được
thông qua Công ước này khẳng định phụ nữ có quyền được lựa chọn người phối ngẫu, phụ nữ được bảo vệ chống lại nạn tảo hôn và cưỡng ép kết hôn
Mặc dù thế giới đã có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ nữ như đã trình bày ở trên nhưng các văn kiện đó mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của phụ nữ ở những khía cạnh riêng lẻ trong tổng thể các quyền phụ nữ vốn tồn tại là một thể thống nhất Mặt khác, các công ước trên không đủ sức mạnh
để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang diễn ra rất phổ biến, vi phạm nghiêm trọng quyền con người của phụ nữ và hạn chế những đóng góp của phụ nữ cho sự phát triển của xã hội Do đó, cần phải có một văn bản đề cập đến quyền con người của phụ nữ một cách toàn diện và đề ra được những biện pháp cụ thể nhằm khắc phục những cản trở trong việc thực hiện các quyền của phụ nữ Vì lý do đó,
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
đã ra đời1
Nội dung cơ bản của Công ước CEDAW đề cập đến những vấn đề sau: định
nghĩa sự phân biệt đối xử với phụ nữ; nghĩa vụ của các quốc gia thành viên tiến hành những biện pháp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ mang tính toàn diện cả về pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; những biện pháp đặc biệt tạm thời để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ; sửa đổi khuôn mẫu văn hóa,
xã hội; loại bỏ việc buôn bán và bóc lột tình dục phụ nữ; bình đẳng cho phụ nữ trong đời sống chính trị, xã hội ở cấp độ quốc gia và quốc tế; bình đẳng về quốc tịch; bình đẳng về giáo dục; bình đẳng về lao động việc làm; bình đẳng về chăm sóc sức khỏe; bình đẳng trong đời sống kinh tế, xã hội; đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ nông thôn; bình đẳng về tư cách pháp lý trong quan hệ dân sự; bình đẳng trong quan hệ hôn nhân gia đình (Điều 1-16)
1 Công ước đã được LHQ thông qua ngày 18/12/1979 và có hiệu lực từ ngày 3/9/1981
Trang 1717
Khác với các điều ước quốc tế về quyền con người khác trong đó vấn đề bất
bình đẳng giới được quy định chung, Công ước CEDAW đã chỉ ra cụ thể những lĩnh
vực hiện đang tồn tại sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách nặng nề để từ đó xác định những biện pháp thích hợp nhằm loại bỏ hoàn toàn tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội Nói cách khác, đây là công ước chuyên biệt về chống phân biệt đối xử với phụ nữ, hướng đến mục tiêu xác lập địa
vị bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống, nhằm trao cho phụ nữ trên toàn thế giới những quyền con người đã được pháp luật quốc tế ghi nhận mà phụ nữ trên thực tế chưa được hưởng hoặc hưởng chưa đầy đủ bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ ở các quốc gia
1.2 LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TRƯỚC NĂM 1986 1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về quyền phụ nữ
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra con đường phát triển mới cho đất nước và dân tộc Việt Nam - con đường cả nước đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Ngay trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên Đảng đã xác định "nam nữ bình quyền" là một trong
những nhiệm vụ, mục tiêu cốt yếu của cách mạng Việt Nam Đó là một chủ trương nhân văn, tiến bộ của một Đảng mác xít chân chính Chủ trương đó đã góp phần tập hợp được đông đảo phụ nữ tham gia tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau năm 1945 nước Việt Nam mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Trong hoàn cảnh lịch sử đầy cam go thử thách, thực hiện những nhiệm vụ sống còn của dân tộc, trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951) và Đại hội lần thứ III (1960) bên cạnh việc bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng đáp ứng những yêu cầu căn bản và cấp bách của thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng CNXH Đảng vẫn khẳng định nhất quán chủ trương “đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các
Trang 1818
tầng lớp nhân dân” trong đó có phụ nữ “chị em phụ nữ cần được thiết thực giúp đỡ
để thực hiện nam nữ bình đẳng” [41] và "Đảng ta có trách nhiệm lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ và phát huy nǎng lực dồi dào của phụ nữ để xây dựng xã hội mới" [42] Những chủ trương đó đã tạo cơ hội, điều kiện để người phụ nữ được thực hiện đầy đủ các quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ của một công dân tham gia chiến đấu chống giặc ngoại xâm và dựng xây chế độ mới, cùng với nam giới giành độc lập và thống nhất hoàn toàn vào mùa xuân năm 1975
Sau năm 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân ta bước vào một thời kỳ mới - xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Trong vô số những việc cấp bách cần phải làm như: Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tiến hành công nghiệp hóa XHCN để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH và đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ ở Tổ quốc, Đảng vẫn tiếp tục giành sự quan tâm đặc biệt đến việc chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ Trong Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), Đảng nhấn mạnh những việc cần làm ngay đối với phụ nữ sau khi đất nước độc lập, thống nhất: "Phải tích cực giải quyết những khó khăn về đời sống của phụ nữ Phải đặc biệt chăm lo đời sống và sức khoẻ của phụ nữ ở những vùng bị tàn phá nhiều trong chiến tranh, những vùng bị Mỹ - nguỵ chiếm đóng lâu ngày" [43] Tại Đại hội Đảng lần V (1982), Đảng đã đề ra những chủ trương chỉ đạo mang tính chiến lược: "Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng, để phát huy hơn nữa vai trò và khả năng của phụ nữ trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, các cấp uỷ đảng cần làm cho quan điểm và chính sách vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong tất cả các tổ chức thuộc hệ thống chuyên chính vô sản Phải đấu tranh xoá bỏ những quan điểm phong kiến và tư sản trong việc đánh giá lực lượng và khả năng của phụ
nữ, trong việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động nữ, cán bộ nữ, trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về đời sống của phụ nữ và trẻ em" [44]
Nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phụ nữ, trong thời kỳ trước đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về phụ nữ như: Nghị
quyết số 152 - NQ/TW ngày 10/01/1976 của Ban Bí thư Về một số vấn đề tổ chức
Trang 1919
công tác phụ vận; Nghị quyết số 153 - NQ/TW ngày 10/01/1976 của Ban Bí thư Về công tác cán bộ nữ; Chỉ thị số 44 - CT/TW ngày 07/6/1984 của Ban Bí thư Về một
số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ Đảng đã khẳng định quan điểm nhất
quán qua các chỉ thị, nghị quyết trên rằng "sự nghiệp giải phóng phụ nữ gắn liền với
sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp" và "tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng"
1.2.2 Xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ
Chủ trương bình đẳng nam nữ của Đảng đã nhanh chóng được thể chế hóa trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất đó là Hiến pháp ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta -
Hiến pháp năm 1946 đã quy định cụ thể: "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn
thể nhân dân Việt Nam không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo" (Điều 1) và "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9);
"Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử" (Điều 18)
Kế thừa những tư tưởng của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã cụ thể hóa
hơn các lĩnh vực mà phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới: "Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ
và của trẻ em " (Điều 24) và "Công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phân biệt nam nữ đều có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình Nhà nước đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó" (Điều 25)
Hiến pháp năm 1980, quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản
của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn quan trọng,
khẳng định quyền của phụ nữ Điều 52 quy định: "Mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật", là một quy định chung nhất cho tất cả mọi người thể hiện không
có sự phân biệt nam nữ trước pháp luật Điều 54 quy định: "Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và
Trang 2020
đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp" và "Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản" (Điều 64) "Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng" (Điều 65)
Trên cơ sở những nguyên tắc hiến định, Nhà nước đã ban hành nhiều VBQPPL mới hoặc sửa đổi, bổ sung có những quy định cụ thể hóa nguyên tắc quyền bình đẳng của phụ nữ như: Luật Lao động (1946); Luật Cải cách ruộng đất (1953); Luật Đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở,
đồ vật, thư tín của nhân dân (1957), Luật Hôn nhân và Gia đình (1959); Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội (1960); Luật Nghĩa vụ quân sự (1960); Luật Tổ chức Quốc hội
và Hội đồng Nhà nước (1981); Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng (1981); Luật nghĩa vụ quân sự (1982); Luật Tổ chức HĐND và UBND (1983); Bộ luật Hình sự (1985)
Đáng chú ý là Quốc hội khóa VII triển khai thực hiện Hiến pháp năm 1980
đã thông qua Nghị quyết ký phê chuẩn CEDAW ngày 30/11/1981 (sau khi Đại hội
đồng LHQ thông qua Công ước ngày 18/12/1979, Chính phủ ký tham gia Công ước ngày 29/7/1980) tạo cơ sở để Việt Nam từng bước thực hiện các cam kết quốc tế và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bình đẳng nam, nữ/bình đẳng giới
1.2.3 Kết quả thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam thời kỳ trước 1986
Trang 21cả nước có 89% cử tri đi bầu (nữ chiếm 48%); bầu được 333 đại biểu Quốc hội (có
10 đại biểu nữ, chiếm 3%) [68] Có nhiều phụ nữ được tín nhiệm bầu vào các chức
danh chủ chốt trong bộ máy chính quyền các cấp ở cả hai miền Nam - Bắc
Trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, khi nam giới lên đường nhập ngũ thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch thì phụ nữ là lực lượng chủ công trong các hoạt động nuôi giấu bảo vệ cán bộ cách mạng, làm giao liên đưa đón cán bộ, cứu thương, tiếp
tế, tham gia dân quân du kích Trong những năm tháng kháng chiến, thay cho nam giới lên đường tòng quân, chị em phụ nữ ở các địa phương đều thi đua học cày bừa, làm chủ đồng ruộng, đào mương, đắp đập, họ không chỉ là lực lượng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp mà còn là lực lượng chủ yếu trong sản xuất hàng tiêu dùng, thuốc men, sản xuất quân trang quân dụng, vũ khí phục vụ quân đội, cung cấp lương thực, nhu yếu phẩm cho cuộc kháng chiến Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng đã chủ trương thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng cải cách ruộng đất đã đem lại cho người nông dân nói chung, người phụ nữ quyền bình đẳng, quyền làm chủ đối với
đất đai thực hiện ước mơ "người cày có ruộng" của mình
Trên lĩnh vực văn hóa, thực hiện các quy định của Chính phủ về "Diệt giặc
dốt", mọi người dân không phân biệt nam, nữ tích cực hưởng ứng phong trào "Bình dân học vụ", tham gia các lớp học và dạy học chữ quốc ngữ cho nhau ở mọi nơi Dù
ở nơi nào thì phụ nữ cũng là lực lượng hăng hái nhất Vì vậy, chưa đầy một năm sau khi giành được chính quyền, bên cạnh số đông nam giới, cả nước đã có 2 triệu phụ
nữ thoát nạn mù chữ Đến năm 1948, con số này tăng lên 4 triệu Năm 1949 đã có
Trang 2222
70% phụ nữ biết đọc, viết [37, tr.146] Phong trào "Đời sống mới" được phát triển rộng rãi ở các vùng tự do với nòng cốt vận động, phát huy vai trò của phụ nữ trong thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, xây dựng nếp sống văn hóa mới, văn minh tiết kiệm, dân chủ hơn, chống mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu
Những kết quả thực hiện quyền phụ nữ trên các lĩnh vực đã khơi dạy và huy động được sức lực và trí tuệ của phụ nữ, góp phần cùng nam giới làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Tuy nhiên, ngay sau khi thực dân Pháp thất bại phải ký kết hiệp định Giơnever rút quân về nước, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng thế chân, tiến hành xâm lược miền Nam, biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của chúng Nước ta bị chia cắt thành hai miền, miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược việc thực hiện quyền phụ nữ
ở nước ta tiếp tục đạt được nhiều tiến bộ hơn so giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp Đồng thời việc thực hiện quyền phụ nữ ở giai đoạn này có sự khác nhau giữa hai miền Nam - Bắc
Quốc hội khóa II (nhiệm kỳ 1960 - 1964) là Quốc hội đầu tiên hoạt động hoàn toàn trong thời kỳ đất nước bị chia cắt, có 49 đại biểu nữ trong tổng số 362 đại biểu được bầu (chiếm 11,6% - tăng hơn so với Quốc hội khóa I chỉ có 3% là nữ) Quốc hội khóa III (nhiệm kỳ 1964 - 1971) bầu 366 đại biểu, trong đó nữ đại biểu được 62 người (chiếm 16,94% - tăng hơn so với Quốc hội khóa I (3%), khóa II (11,6%) Quốc hội khóa IV (nhiệm kỳ 1971 - 1975) bầu 420 đại biểu, trong đó số đại biểu nữ được tăng hơn so với khóa II và III, được 125 người (chiếm 29, 76%) [68] Giai đoạn 1954 - 1975 tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo các cấp tăng hơn trước
Sau năm 1954 phụ nữ miền Nam tích cực đấu tranh chống Mỹ ngụy Tiêu biểu các hoạt động đấu tranh tẩy chay, lên án cuộc bầu cử "Quốc hội Việt Nam Cộng hòa", tham gia "Đội quân tóc dài", tạo thành phong trào Đồng khởi, tích cực đấu tranh cùng với bộ đội chủ lực đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ ngụy
Trang 2323
Phụ nữ miền Bắc tích cực thi đua lao động sản xuất trong tất cả các ngành
nghề với tinh thần "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt" để xây
dựng cơ sở vật chất cho CNXH và chi viện cho miền Nam, tích cực tham gia lực lượng dân công, tự vệ, tham gia công tác phòng không nhân dân cùng với nam giới đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Đồng thời, phụ nữ miền Bắc còn tích cực tham gia các lực lượng chi viện cho chiến trường miền Nam Những nỗ lực to lớn của phụ nữ cả nước đã thể hiện sinh động việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với tinh thần
"giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986, đất nước thống nhất, nước ta tiến hành xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước trong điều kiện hòa bình, thống nhất Việc thực hiện quyền phụ nữ trong giai đoạn này tiếp tục có những tiến bộ khẳng định được vai trò, vị thế của người phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam
Quốc hội khóa V nhiệm kỳ 1975 - 1976 là Quốc hội thống nhất đầu tiên khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, bầu được 424 đại biểu, trong đó có 137 đại biểu
nữ (chiếm 32,31%) Đây là tỷ lệ nữ đại biểu cao nhất trong 13 khóa Quốc hội kể từ năm 1946 đến nay Tuy nhiên, đến Quốc hội khóa VI nhiệm kỳ 1976 - 1981 bầu được 492 đại biểu nhưng chỉ có 132 đại biểu nữ (chiếm 26, 38%) Quốc hội khóa VII nhiệm kỳ 1981 - 1987 bầu được 496 đại biểu nhưng chỉ có 107 đại biểu nữ (chiếm 21,77%) [68] Phụ nữ tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện tham gia chính quyền các cấp trong bộ máy Nhà nước
Mọi tầng lớp công nhân, nông dân, lực lượng vũ trang, tiểu thương không phân biệt nam, nữ ra sức thi đua lao động sản xuất nhằm khôi phục nền kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng CNXH trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công thương nghiệp, văn hóa giáo dục đã bước đầu đưa đất nước vượt qua khó khăn, tạo ra khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc
1.2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
Trang 2424
Bên cạnh những thành tựu, việc thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới (1945 -1986) vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế
- Những chủ trương, chính sách của Đảng về quyền phụ nữ còn chung
chung, chưa đầy đủ, cụ thể Trong hoàn cảnh 30 năm đấu tranh bảo vệ nền độc lập
dân tộc và 10 năm xây dựng CNXH trước đổi mới, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lúc bấy giờ là tập trung vào việc giữ gìn, bảo vệ chính quyền, chống thù trong giặc ngoài, diệt giặc dốt, giặc đói, tăng gia sản xuất, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng CNXH Trong hoàn cảnh Đảng phải tập trung trí tuệ để đưa ra được những chủ trương, chính sách đúng đắn quyết định vận mệnh quốc gia dân tộc nên chưa có điều kiện quan tâm, nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh những chính sách cụ thể cho phụ nữ phù hợp với nhu cầu thực tế
- Hệ thống pháp luật về phụ nữ còn nhiều hạn chế Những VBQPPL về bình
đẳng nam, nữ thời kỳ này tuy đã tiếp thu được những tư tưởng pháp lý tiến bộ của thời đại nhưng cũng bị hạn chế bởi chính nhận thức chung, xu thế chung thời bấy giờ chủ yếu theo mô hình bình đẳng hình thức (quy định pháp luật hầu hết đều theo một tiêu chuẩn chung duy nhất dành cho cả nam và nữ chưa tính đến sự khác biệt về
giới tính trên các lĩnh vực) Do đó, với những hạn chế về thể lực, sức khỏe lại gánh
nặng đa mang vai trò xã hội phụ nữ không thể có được sự bình đẳng về cơ hội, bình đẳng thực sự trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
- Tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" ngự trị hàng nghìn năm trong xã hội chưa
dễ gì xóa bỏ được ngay trong mấy chục năm từ khi nhân dân ta giành được địa vị
làm chủ đất nước Tư tưởng đó đã ăn sâu bám rễ trong nhiều tầng lớp cán bộ, nhân dân nên ý thức chấp hành pháp luật về bình đẳng nam nữ trong xã hội còn hạn chế Bản thân người phụ nữ cũng cam chịu chấp nhận định kiến xã hội "nam tôn, nữ ti",
"phu xướng, phụ tùy" chịu nhiều thiệt thòi về phía mình
- Giai đoạn trước đổi mới (1945 - 1986) sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân
tộc và xây dựng CNXH phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách chưa có điều kiện để người phụ nữ có thể thụ hưởng đầy đủ những quyền đã được ghi nhận Từ
năm 1945 đến năm 1975 là 30 năm dân tộc ta phải tiến hành chiến tranh đánh đuổi
Trang 2525
những kẻ thù xâm lược đế quốc, thực dân lớn mạnh hơn mình nhiều lần Để dành thắng lợi cả dân tộc ta đã phải hy sinh một phần nào đó trên lĩnh vực quyền con người để tập trung sức lực vào mục tiêu đánh bại quân xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc Trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ và tổn thất của chiến tranh việc thụ hưởng quyền con người của cả dân tộc còn nhiều hạn chế, trong đó quyền phụ nữ cũng không ngoại lệ Năm 1975, sau khi giành độc lập, thống nhất Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến lên xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Xây dựng CNXH là một công cuộc chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, toàn Đảng, toàn dân phải vừa làm vừa học hỏi, vừa rút kinh nghiệm và có thể có những sai lầm, hạn chế là điều khó tránh khỏi
Do nhiều nguyên nhân, chủ yếu nhất là do những sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan trong cải tạo XHCN, trong tiến trình công nghiệp hóa và trong việc duy trì quá lâu mô hình quản lý kế hoạch hóa, tập trung quan liêu, bao cấp nên đã kìm hãm lực lượng sản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển dẫn tới đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân sa sút khó khăn, tiêu cực xã hội tràn lan Trong bối cảnh đó quyền con người trên thực tế chưa thực sự được đảm bảo, theo đó việc đảm bảo quyền phụ nữ tất yếu cũng còn nhiều tồn tại hạn chế
1.3 LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 ĐẾN
1991
1.3.1 Chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền phụ nữ
Vào những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, hệ thống XHCN thế giới bắt đầu lâm vào khủng hoảng Nguyên nhân chủ yếu là do mô hình quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung ngày càng bộc lộ rõ những khuyết điểm, yếu kém Các nước XHCN đã tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng thông qua quá trình biến đổi mang tính bước ngoặt với những tên gọi khác nhau như cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, cải tổ ở Liên Xô
Ở Việt Nam trong quá trình xây dựng CNXH do nhiều nguyên nhân, chủ yếu nhất là do những sai lầm trong sự lãnh đạo của Đảng đã duy trì quá lâu cơ chế quản
lý tập trung, bao cấp làm suy yếu nền kinh tế XHCN và đẻ ra nhiều tiêu cực xã hội
Trang 2626
làm cho đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Những diễn biến của tình hình trong nước và thế giới đã dẫn đến cuộc đổi mới toàn diện tại Đại hội VI (1986) Đổi mới là vấn đề sống còn của CNXH ở Việt Nam, nhằm đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội để tiến lên
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới với nội dung cơ bản là chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ
sở xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình hợp tác và phát triển Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới của Đại hội VI không chỉ là bước ngoặt mang tình cách cách mạng trong quá trình xây dựng XHCN mà còn là một bước ngoặt quan trọng tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực thi quyền con người ở Việt Nam trong đó có quyền phụ nữ
Nhằm giải quyết những khó khăn trong đời sống của người phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ tham gia tích cực hơn vào sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXN, tại Đại hội VI, Đảng chủ trương: "Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng có những đặc điểm cần chú ý Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong
sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp Các cơ quan nhà nước, với sự phối hợp của các đoàn thể cần có biện pháp thiết thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khoẻ bà
mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật Hôn nhân và Gia đình Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc" [27, tr.123]
Thực hiện sự lãnh đạo của Đảng công cuộc đổi mới đất nước đã ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất đem lại những thành tựu bước đầu rất quan trọng, xác nhận
Trang 2727
khả năng tự đổi mới của nhân dân ta là hiện thực Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã bước đầu tạo ra những tiền về mọi mặt để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng về đảm bảo quyền phụ nữ ngày một tốt hơn
1.3.2 Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật về quyền phụ nữ
Từ năm 1986 đến năm 1991, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo,
số lượng các VBQPPL được ban hành nhiều hơn; nội dung các văn bản quy định quyền của công dân cũng ngày càng đẩy đủ hơn trong đó có cả những quy định về quyền phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày một hoàn thiện hơn như Luật Hôn nhân và Gia đình (1986); Luật Đất đai (1988); Bộ luật Tố tụng hình sự (1988); Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1989); Luật sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (1989); Luật Tổ chức HĐND và UBND (1989); Luật Bầu cử đại biểu HĐND (1989); Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) Đặc biệt Bộ luật Hình sự (1989) có quy định tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ Bên cạnh đó, Nhà nước còn có nhiều chính sách ưu tiên cho phụ nữ như: chế độ thai sản, chế độ bảo
vệ phụ nữ trong các ngành lao động độc hại, chế độ phụ cấp công tác phí, sinh hoạt phí khi đi công tác hoặc đi học dài hạn
1.3.3 Những thành tựu và hạn chế trong thực hiện quyền phụ nữ từ năm
Quốc hội khóa VIII nhiệm kỳ 1987 - 1992 bầu được 496 đại biểu trong đó đại biểu nữ (chiếm 18%) [68] Đội ngũ cán bộ nữ các cấp được Đảng, Nhà nước
Trang 2828
tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện tham gia vào các cấp ủy Đảng, Quốc hội và chính quyền các cấp Tính từ năm 1987 - 1992, số cán bộ nữ đã tăng hơn trước (có 12 ủy viên tham gia BCHTW Đảng; 182 tỉnh ủy viên; 1.380 huyện ủy viên (chiếm 10,57%); 1.895 đảng ủy viên cơ sở (chiếm 10%), 88 đại biểu Quốc hội (chiếm 17,7%); 4 bộ trưởng, 11 thứ trưởng, 84 vụ trưởng, vụ phó, 265 tổng giám đốc, phó tổng giám đốc và giám đốc 439 đại biểu HĐND tỉnh, thành phố (chiếm 12,17%); 2.630 đại biểu HĐND cấp huyện (12,26%), 37.972 đại biểu HĐND xã (13,23%) [36, tr.172]
Những năm đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện đổi mới toàn diện, tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách, giữ vững ổn định và từng bước đổi mới hệ thống chính trị Đông đảo các tầng lớp phụ nữ vốn giàu lòng yêu nước, gắn bó với Đảng hiểu rõ hơn về thực tế đất nước, đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, chủ động tìm cách vượt qua khó khăn, tích cực góp phần thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo Trong sản xuất nông nghiệp, phụ nữ nông dân đã tích cực vượt qua những khó khăn lúng túng trong chuyển đổi cơ chế, chủ động lo liệu vốn, giống, vật tư, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần to lớn làm tăng tổng sản lượng lương thực, thực phẩm không những đủ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đẩy mạnh xuất khẩu Trong ngành tiểu thủ công nghiệp, mặc dù thị trường bị thu hẹp, sản xuất gặp khó khăn, đình đốn, phụ nữ đã chủ động thay đổi mẫu mã, đưa công nghệ mới vào sản xuất, chuyển đổi mặt hàng Bằng khả năng sáng tạo, bàn tay khéo léo tài hoa, nhiều phụ nữ đã sản xuất được nhiều mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu Chị em làm nghề buôn bán dịch vụ cũng rất năng động, tháo vát, nhanh chóng thích ứng với cơ chế thị trường, trọng chữ tín, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Trong khu vực nhà nước, xóa bỏ bao cấp là một thử thách gay gắt Chị em nữ công nhân viên chức đã tiếp nhận cơ chế quản lý mới Nhiều chị em đã nêu cao ý thức chủ động lo liệu, bươn chải tần tảo, lo toan cuộc sống Trong quản lý, nhiều cán bộ nữ đã năng động sáng tạo, suy nghĩ tìm tòi nhiều phương án sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, mở rộng thị
Trang 2929
trường tiêu thụ tạo ra nhiều việc làm, ổn định và cải thiện đời sống công nhân Chị
em trong ngành y tế ngày đêm tận tụy phục vụ bệnh nhân; những cô giáo tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn thiếu thốn vẫn hết lòng vì sự nghiệp trồng người; những chị em hoạt động trong các ngành văn hóa nghệ thuật, bằng tài năng và tâm huyết
đã tạo ra những tác phẩm được đánh giá cao
Điều đáng chú ý là đội ngũ tri thức không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng Theo Tổng điều tra dân số năm 1989, phụ nữ chiếm tỷ lệ 56,26% trong tổng số người có trình độ trung cấp, 37,7% trong tổng số người có trình độ cao đẳng, đại học [33, tr.19] Công cuộc đổi mới là quá trình sàng lọc nghiêm khắc nhưng cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để người phụ nữ phát triển tài năng Tính đến năm 1992, cả nước có 143 chị được Nhà nước phong tặng danh hiệu giáo
sư và phó giáo sư, 23 chị là tiến sỹ khoa học, 14 chị được Hội đồng Bộ trưởng và
Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước khen tặng các chương trình và đề tài nghiên cứu [33, tr.20] Sự có mặt của đông đảo phụ nữ trí thức trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật, đánh dấu bước phát triển về chất của lực lượng lao động nữ, mở ra triển vọng tốt đẹp nhằm phát huy ngày càng cao vai trò bình đẳng của phụ nữ trên mọi mặt hoạt động xã hội
Trên mặt trận an ninh quốc phòng, chị em lực lượng vũ trang đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhiều chị em đã hy sinh thầm lặng, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh chống tiêu cực, phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ
Trang 3030
và tái mù chữ trong phụ nữ lên đến mức đáng lo ngại Theo tổng điều tra dân số năm 1989, cả nước ta có 5.617.196 người mù chữ, trong đó phụ nữ chiếm tỉ lệ 70,67% [33, tr.14] Trình độ văn hóa thấp dẫn đến sự lạc hậu về tư tưởng, hạn chế
về nhận thức Đó cũng là nguyên nhân cơ bản của những mặt non yếu khác của phụ
Những hạn chế trong thực hiện quyền phụ nữ những năm đầu đổi mới ở Việt
Nam do những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quyền phụ
nữ còn nhiều hạn chế Chủ trương, chính sách của Đảng về đảm bảo quyền phụ nữ
vẫn còn chung chung, chưa bám sát vào đặc điểm, tình hình và yêu cầu thực tiễn cụ
thể Hệ thống pháp luật tuy đã chú ý khắc phục hạn chế của "mô hình bình đẳng
hình thức" (tức đưa ra những quy định chung cho cả nam và nữ chưa tính đến sự
khác biệt về giới tính) thì thời kỳ này lại rơi vào "mô hình bảo vệ" (tức có tính đến
sự khác biệt giới tính giữa nam và nữ nhưng lại cho rằng những điểm yếu về thể chất của phụ nữ là không khắc phục được nên "ưu tiên" cho nữ giới giảm bớt các nghĩa vụ của họ), vô hình chung đã làm hạn chế một số quyền của phụ nữ Hơn nữa, công tác phổ biến giáo dục pháp luật về bình đẳng giới còn mới mẻ, chưa thực sự hiệu quả Năng lực trình độ, sự am hiểu pháp luật của nhiều cán bộ ở các cấp cũng như việc triển khai văn bản giáo dục pháp luật về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế
Trang 3131
- Định kiến giới "Trọng nam khinh nữ" vẫn tồn tại phổ biến trong suy nghĩ và
thói quen của nhiều cán bộ, nhân dân, kể cả đối với không ít phụ nữ đã hạn chế việc phụ nữ hiện thực hóa các quyền đã được ghi nhận của mình
- Điều kiện kinh tế - xã hội đảm bảo cho việc thụ hưởng quyền phụ nữ còn
hạn chế Trong những năm 1986 - 1991, công cuộc đổi mới được triển khai mạnh
mẽ Nhưng tình hình diễn biến phức tạp, có lúc khó khăn tưởng chừng khó vượt qua: ba năm liền từ 1986 - 1988 lạm phát ở mức ba con số; GDP tăng bình quân hàng năm thấp (trong thời kỳ 1986 - 1990 là 3,9 %); Từ giữa năm 1988 trở đi, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, đưa tới những thành tựu bước đầu quan trọng: Hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; xóa bỏ
về cơ bản cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; giảm tốc độ lạm phát; đáp ứng tốt hơn nhu cầu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng; tăng nhanh xuất khẩu và có bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, bước tiến đó chưa vững chắc Lạm phát
còn ở mức cao; sản xuất chưa ổn định; tiêu cực xã hội vẫn trầm trọng Đất nước
chưa thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội đời sống nhân dân vẫn còn nhiều
khó khăn Trong hoàn cảnh đó quyền con người ở Việt Nam nói chung và quyền phụ nữ nói riêng chưa được đảm bảo thực hiện đầy đủ
Giai đoạn 5 năm đầu sau đổi mới (1986 - 1991) Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam đã có bước tiến so với thời kỳ trước đổi mới Tuy nhiên,
Trang 3232
bước tiến đó chưa mang tính cách mạng, tính bước ngoặt Điều này thể hiện cả trong nhận thức, chủ trương của Đảng và chỉ đạo thực hiện Việc ghi nhận và thực thi quyền phụ nữ trong những năm đầu sau đổi mới, mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định nhất quán tư tưởng tôn trọng, bảo vệ quyền phụ nữ và tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách đảm bảo quyền phụ nữ Trong bối cảnh lịch sử đặc thù những năm đầu đổi mới, đất nước còn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, quyền con người chưa được đảm bảo thì những hạn chế trong việc thực thi quyền phụ nữ mang tính tất yếu
Mặc dù những thành tựu của Đảng ta trong lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ những năm đầu sau đổi mới còn hạn chế, nhưng những thành tựu đó rất đáng trân trọng nó phản ánh sự cố gắng của Đảng, nhân dân ta và sự nỗ lực vươn lên của bản thân giới nữ trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn thử thách để đưa công cuộc đổi mới xây dựng CNXH đi vào quy đạo ổn định Những thành tựu này sẽ là cơ sở, tiền
đề vững chắc cho Đảng lãnh đạo thực hiện quyền phụ nữ giai đoạn sau được tốt hơn
Trang 3333
Chương II:
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG THỰC HIỆN QUYỀN PHỤ
NỮ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012
2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
2.1.1 Bối cảnh những năm 1990 và yêu cầu mới về quyền con người, quyền phụ nữ
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ đã cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với các nước lạc hậu
về kinh tế như Việt Nam
Trong quá trình hình thành và phát triển, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hòa bình và cách mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Nhưng, do duy trì quá lâu những khuyết tật trong mô hình cũ của CNXH, chậm trễ trong cách mạng khoa học, công nghệ nên đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng Trong quá trình cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng cộng sản và công
Trang 3434
nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi Các thế lực đế quốc đã lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó để đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt dẫn đến sự sụp đổ của CNXH, làm cho cán cân quyền lực thế giới hoàn toàn thay đổi Trên phạm vi thế giới, CNTB đang tạm thời chiếm ưu thế, CNXH hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào Niềm tin vào sự tồn tại của CNXH trong lòng nhân dân thế giới lung lay nghiêm trọng Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa đế quốc
thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", tăng cường chống phá hòng tiêu diệt những
nước XHCN còn lại Chủ nghĩa đế quốc coi Việt Nam là một trọng điểm Chúng đã dùng vấn đề quyền con người làm vũ khí chính trị, tư tưởng, một mặt xuyên tạc bản chất chế độ XHCN và hệ thống chính trị do Đảng cộng sản cầm quyền (là độc tài vi phạm quyền con người ), mặt khác đề cao các giá trị quyền con người ở phương Tây Thông qua việc tuyên truyền những quan điểm này, các thế lực thù địch tìm cách nuôi dưỡng, xây dựng các lực lượng chống phá CNXH từ bên trong, nhằm tác động chuyển hóa các nước XHCN sang con đường TBCN Thực tiễn cuộc đấu tranh
tư tưởng - lý luận, chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có nhận thức khoa học về quyền con người
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh bảo vệ và thúc đẩy các giá trị tiến bộ của nhân loại đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Trong đó đấu tranh cho quyền con người là một nội dung trọng tâm, gắn với vai trò của LHQ Những thành tựu trong xây dựng và phát triển các chuẩn mực quốc tế về quyền con người của LHQ là sự ra đời của các tuyên ngôn, các công ước quốc tế về quyền con người nói chung và quyền con người của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nói riêng
Tính đến năm 1990 với việc gia nhập Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt
Nam đã là thành viên của các công ước quan trọng nhất về quyền con người Việc tham gia các chuẩn mực quốc tế về quyền con người là cơ hội để Việt Nam tiếp thu những giá trị tiến bộ, những tinh hoa của nhân loại về quyền con người Để hoàn
Trang 35cụ thể hóa quyền con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Những yêu cầu mới trong nhận thức về quyền con người chính là động lực trực tiếp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học về quyền con người
Thập kỷ 1990 đánh dấu sự bùng nổ hoạt động nghiên cứu khoa học về quyền con người, mà kết quả của nó làm tiền đề cho những nhận thức mới của Đảng, Nhà
nước về vấn đề này Cụ thể, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ năm
1991 là một cột mốc lớn mang tình bước ngoặt trong nhận thức của Đảng về CNXH
và quyền con người Cương lĩnh chỉ ra: kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong nước và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm
Chỉ thị 12/CT - TW ra ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta đã đề cập đến nội
dung cốt lõi nhất về quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề quan trọng này, trong đó quyền con người được nhìn nhận là giá trị chung của nhân loại, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của loài người; xem xét vấn đề này không
Trang 3636
thể tách rời phạm trù quyền dân tộc, chủ quyền quốc gia cũng như truyền thống văn hóa, lịch sử và trình độ phát triển của dân tộc Do đó, giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Mặt khác, quyền không tách rời nghĩa vụ; dân chủ phải đi đôi với kỷ cương Với cách hiểu cơ bản về quyền con người như vậy, Đảng ta khẳng định quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội Và quan trọng hơn cả, vấn đề quyền con người xuất phát từ chính mục tiêu của CNXH, từ bản chất của chế độ và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực Vì vậy, bảo vệ
và phát huy quyền con người là trách nhiệm chung của tất cả các cấp, các ngành và địa phương phải tích cực, chủ động thực hiện Để luật hóa những quan điểm lãnh đạo của Đảng,
Hiến pháp năm 1992 (Điều 50) lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ "quyền con
người" và khẳng định: "Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người
về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy đinh trong Hiến pháp và luật"
Có thể nói, Chỉ thị 12 - CT/TW của Đảng cùng sự hiến định về quyền con
người đã tạo nền tảng chính trị và pháp lý cho sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong nhận thức và thực thi về vấn đề này ở Việt Nam
Những yêu cầu mới trong nhận thức về quyền con người nói chung tất yếu chi phối việc nhận thức quyền con người của các đối tượng cụ thể, trong đó có quyền phụ nữ Cuộc đấu tranh cho quyền phụ nữ ở Việt Nam không chỉ bị tác động bởi những nhận thức mới về quyền con người mà còn tiếp nhận những giá trị tiến
bộ, thành tựu trong cuộc đấu tranh quyền phụ nữ của thế giới Vào đầu những năm
90 của thế kỷ XX, cùng với quá trình giao lưu và hội nhập, bằng nhiều con đường
khác nhau, "quan điểm giới" được nhanh chóng du nhập và truyền bá vào Việt
Nam Sự xuất hiện của cách tiếp cận giới chính là bước đột phá quyết định sự phát triển mạnh mẽ và ấn tượng của khoa học nghiên cứu về phụ nữ, cùng với nó là sự biến đổi nhanh chóng quan niệm, thái độ, hành vi của xã hội và thực tiễn tạo lập bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới
2.1.2 Chủ trương của Đảng
Trang 3737
Từ nửa cuối những năm 1990, đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đã thật sự đi vào cuộc sống và đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng: Tình hình chính trị của đất nước ổn định; nền kinh tế có những chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; nguồn lực của xã hội được huy động tốt hơn; tốc độ lạm phát được kiềm chế bớt; đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy; quốc phòng, an ninh quốc gia được bảo đảm Đất nước đã từng bước thoát khỏi thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Những thành tựu nói trên đã chứng tỏ đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản
là phù hợp
Tuy nhiên cũng cần nhận thức đầy đủ những yếu kém và khó khăn lớn của đất nước sau 5 năm đổi mới đó là: Trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế - xã hội, vẫn còn nhiều khó khăn, bao trùm nhất là "Đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết"
Xuất phát từ tình hình nói trên và căn cứ vào mục tiêu của chặng đường đầu thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội VII (1991) xác định mục tiêu tổng quát từ năm
1991 - 1995 là "Vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản
ra khỏi tình trạng khủng hoảng" [27, tr.267]
Tại Đại hội, ngoài việc quyết định những công việc cách mạng trong nhiệm
kỳ, Đảng còn quyết định một số vấn đề về chiến lược lâu dài Đó là việc thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH thể hiện sự phát triển tư duy và nhận thức mang tính
cách mạng của Đảng ta về bản chất, đặc trưng của CNXH và con đường đi lên
Trang 3838
XHCN, trong đó khẳng định mục tiêu "xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" đồng thời "xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân" [27, tr.316,327] Đặc biệt trong Cương lĩnh, Đảng đã xác định một trong những phương hướng lớn của chính sách xã hội là: "Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng,
bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân " trên cơ sở đó "Thưc hiện bình đẳng
nam nữ về mọi mặt" [27, tr.321,324] Cương lĩnh năm (1991), được ví như ngọn đèn pha soi đường cho sự nghiệp xây dựng đất nước từng bước quá độ lên CNXH, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta trong những thập kỷ tới Trong đó "Thực hiện bình đẳng nam nữ về mọi mặt" vừa là mục tiêu của CNXH vừa là động lực phát huy sức mạnh của toàn dân, trong đó có phụ nữ tham gia xây dựng nước nhà thành một nước XHCN phồn vinh
Nhằm tiếp tục tăng cường và cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH, sau Nghị quyết Đại hội VII, Đảng đã ban hành một số nghị quyết, chỉ thị như: Nghị
quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị Về đổi mới và tăng cường
công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới khẳng định "Mục tiêu giải phóng phụ
nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình quyền Xây dựng người phụ
nữ Việt Nam có sức khỏe, kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm tới lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu" và "Đường lối giải phóng phụ nữ phải thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước" Sau Nghị quyết 04/NQ - TW của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 28/CT-TW ngày 19/9/1993 Về thực
hiện Nghị quyết Bộ Chính trị; đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Chỉ thị xác định: "Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ vị trí, vai trò
của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ
nữ, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị" Ngày 16/5/1994 Ban bí
thư tiếp tục ra Chỉ thị số 37/CT-TW Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình
Trang 3939
hình mới Chỉ thị đã tập trung vào các nội dung chính: Tiếp tục nâng cao nhận thức,
quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ nữ; có quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, ngành; xây dựng chính sách, tạo điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong phụ nữ Các chỉ thị và nghị quyết trên của Đảng đã nhanh chóng được triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi, huy động được trí tuệ và sức lực của phụ nữ tham gia vào sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH, giải quyết kịp thời những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ
Cho đến năm 1996, đất nước Việt Nam đã trải qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới Trong 10 năm đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ nội lực của dân tộc, kiên trì mục tiêu cách mạng XHCN vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, có lúc hiểm nghèo để vươn lên giành được những thành tựu to lớn Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ
là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã xác định nhiệm vụ tổng quát "Cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH" ra sức phấn đấu để đến năm 2020 "đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp" [27, tr.466] và "Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, đảm bảo
an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau" [27, tr.468] Trong bối cảnh đất nước đang có bước chuyển mình quan trọng, chị em phụ
nữ đứng trước nhiều thời cơ và thách thức, Đảng đã đề ra chủ trương "Đối với phụ
Trang 4040
nữ, xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
đến năm 2000 Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc
làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỷ lệ các bộ
nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành " [27, tr.506] Chủ trương của Đảng đối với phụ nữ tại Đại hội VIII vừa tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với công tác phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực thi quyền của mình trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, vừa bám sát vào nhiệm vụ trọng tâm đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, định hướng các nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng năng nghề nghiệp, sức khỏe để phụ nữ có cơ hội vươn lên đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, nâng cao địa vị của mình trong xã hội Trên cơ sở chủ trương của Đảng tại Đại hội VIII, ngày
04/10/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 882/TTG Về việc duyệt Kế
hoạch hành động quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 Kế
hoạch là sự cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ trong giai đoạn mới Với bản kế hoạch hành động này, vấn đề phụ nữ đã trở thành vấn đề mang tầm vóc quốc gia, nó phù hợp với xu thế chung của thời đại
Thế kỷ XX đi qua với bao sự kiện trọng đại đối với dân tộc Việt Nam và thế giới, bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam đứng trước nhiều thuận lợi, nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn và thách thức Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham gia Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình CNXH trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng