1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) tư tưởng thân dân của nguyễn trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở việt nam hiện nay

90 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 736,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thống quý báu ấy của ông cha ta đã được thể hiện trong các triều đại phong kiến tiến bộ mà đặc biệt là sự nhận thức của những tri thức Nho học, của quan lại triều đình với tư tưởn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………&………

BÙI THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ

Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

………&………

BÙI THỊ NGỌC LAN

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ

Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn : PGS.TS.Trần Đăng Sinh

Hà Nội – 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

8 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 7

1.1.Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự tồn tại và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 7

1.2.Tiền đề lý luận cho sự ra đời và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 18

1.2.1 Khái niệm “dân” và “tư tưởng thân dân” 18

1.2.2 Tư tưởng thân dân trong Nho giáo và Phật giáo trước thế kỷ XV ở Việt Nam 21

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

Chương 2.NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 43

2.1 Quan niệm về “dân” của Nguyễn Trãi 43

2.2 Tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi 47

2.3 Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi 54

2.4 Ý nghĩa tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 62

Trang 4

2.4.1.Tư tưởng trọng dân của Nguyễn Trãi đối với sự nghiệp cách mạng

là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong thời kỳ Đảng lãnh đạo

công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 63

2.4.2.Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi với quan điểm nhân nghĩa, đoàn kết toàn dân để làm nên những thắng lợi lịch sử 67

2.4.3 Phát huy mạnh mẽ vai trò của quần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay 72

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

cả đoàn kết trong nội bộ giai cấp thống trị để có sức mạnh trong chiến tranh

vệ quốc đã trở thành vấn đề trung tâm của tư tưởng thời đại

Tư tưởng lấy dân làm gốc là một dòng chảy liên tục trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Truyền thống quý báu ấy của ông cha ta đã được thể hiện trong các triều đại phong kiến tiến bộ mà đặc biệt là

sự nhận thức của những tri thức Nho học, của quan lại triều đình với tư tưởng đầy nhân nghĩa, yêu thương, quan tâm, chăm lo đời sống nhân dân mà Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng tiêu biểu nhất của xã hội phong kiến khi nó đạt tới tầm cao của thế kỷ XV Truyền thống ấy chứa đựng những tư tưởng nhân văn sâu sắc và còn nhiều giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay

Nguyễn Trãi có tình yêu quê hương, đất nước nồng nàn Tên tuổi của ông sáng chói trên cuốn sử vàng của dân tộc Dưới ách đô hộ của phong kiến nhà Minh, ông đã khảng khái đi vào con đường đánh giặc cứu nước Cùng với

Lê Lợi, ông đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ chống quân Minh Khi hòa bình, ông đề ra đường lối xây dựng đất nước nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, ông luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân coi đó là mục đích của đời mình

Để bảo vệ và phát triển đất nước cần phải có tư tưởng thân dân của những người đứng đầu, những thủ lĩnh của đất nước, những người “làm quan của trăm họ” Một khi những “quan phụ mẫu” hết lòng vì nước vì dân thì sức mạnh của dân tộc càng được phát huy hơn bao giờ hết, nó có thể nhấn trìm bè

Trang 6

2

lũ xâm lược và xây dựng đất nước có tầm vóc và uy tín Đây cũng là vấn đề đặt ra với thời đại ngày nay cần xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam mang tầm vóc quốc tế

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “nước lấy dân làm gốc; gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Chính sự nghiệp ấy có thắng lợi không là nhờ vào vai trò và sức mạnh của nhân dân Vì vậy phát huy sức mạnh của nhân dân là điều không thể thiếu trong thời đại ngày nay

Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay là công việc lâu dài và đầy khó khăn nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sự nghiệp ấy có thành công hay không thì một trong những yếu tố quan trọng là phát huy sức mạnh vật chất tinh thần của quần chúng nhân dân

V.I.Lênin đã chỉ rõ một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất đối

với một đảng cầm quyền là đảng đó quan liêu, xa rời, tự cắt đứt mối quan hệ

với quần chúng Chính vì vậy công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay cần phát huy hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân là vấn đề sống còn được đặt ra trong bối cảnh ngày nay để đi tới con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn từ những năm 20 của thế kỷ XX

Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” là đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Suốt nhiều trăm năm qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu

về tư tưởng Nguyễn Trãi trên nhiều phương diện chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật và triết học Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng triết học của

Nguyễn Trãi vẫn còn nhiều khoảng trống như trong Nguyễn Trãi một nhân

vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam tác giả Trần Huy Liệu viết: “Sự nghiệp của

Trang 7

3

Nguyễn Trãi là một kho tàng rất giàu, rất lớn, chắc chúng ta khai thác chưa hết; huống chi, nhắc nhở sự nghiệp và tư tưởng của vĩ nhân cũng giống như lấy bút tô đậm những cảm hoài đã đậm mà mỗi cháu con đều vinh dự mang trong quả tim khối óc của mình”[ 57, 164]

Nghiên cứu về dân và tư tưởng thân dân nói chung cũng như tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi nói riêng là một vấn đề lớn được nhiều người quan tâm và nghiên cứu Liên quan đến đề tài luận văn có thể khái quát một số công trình tiêu biểu như sau:

Trong cuốn “lịch sử tư tưởng Việt Nam”, tập 1, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1993 do Nguyễn Tài Thư chủ biên Tác giả dành hẳn một chương để khảo cứu Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng vĩ đại của thế kỷ XV và của lịch sử tư tưởng dân tộc” và khẳng định tư tưởng của Nguyễn Trãi đạt đến tầm cao của thời đại, đã khái quát lên được nhiều vấn đề có tính quy luật của công cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy dân tộc lên một trình độ mới Những lý luận của ông vừa có ý nghĩa đương thời, vừa có tác dụng sâu xa về sau Nói cách khác những tư tưởng của ông không chỉ có ý nghĩa đối với lịch

sử mà còn vượt qua giới hạn không gian, thời gian để chỉ rõ sức mạnh định hướng, chỉ đạo của lý luận với thực tiễn

Cuốn “Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam” của

tác giả Võ Xuân Đàn, Nxb Văn Hóa – Thông tin, Hà Nội, 1996.Từ góc tiếp cận lịch sử tác giả đã phân tích, trình bày có hệ thống tư tưởng của Nguyễn Trãi về chính trị, quân sự, đạo đức, giáo dục và mỹ học Đặc biệt trong tư tưởng về chính trị tác giả đã phân tích và làm nổi bật tư tưởng nhân nghĩa động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình phát triển lịch sử ở thời đại Nguyễn Trãi Đồng thời khẳng định vị trí, giá trị lịch sử và những đóng góp của

Nguyễn Trãi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Trang 8

4

“Nguyễn Trãi một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam” tác giả

Trần Huy Liệu, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tác giả đã chỉ rõ nguồn gốc gia đình, quê hương và con đường cứu nước với vai trò mưu thần chiến lược của khởi nghĩa Lam Sơn và nhà thiết kế cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau khi giành được độc lập của nhà Lê Sơ Trong đó lý giải về nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa, lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi được tác giả phân tích từ nhiều khía cạnh rất sâu sắc

Một số công trình nghiên cứu như: “Một số quan niệm về dân thời Lý – Trần” của tác giả Vũ Văn Vinh đăng trên tạp chí triết học, (số 1 – 1998), tr26 – 28; “Tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi” của tác giả Nguyễn Thu Nghĩa đăng trên tạp chí triêt học, (số 2 -1999), tr29 -30; (2005),

“Về mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, “Về quyết định của Nguyễn Trãi trong mối quan hệ với thiền phật giáo” của tác giả Trần Nguyên

Việt đăng trên tạp chí triết học, (số 7 – 2005), tr 23 – 29 và tạp chí triết học,

(số 8 – 2007), tr35 – 40 “Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của

nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi”, Luận án Tiến sĩ triết học của Triệu Quang Minh (2014), Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học

xã hội đã tiếp cận nghiên cứu tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi dưới những lát cắt khác nhau: Tư tưởng nhân nghĩa – trọng tâm của tư tưởng yêu nước, Phật giáo, Nho giáo với tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Ngoài ra liên quan đến luận văn còn có: Trong các văn kiện của Đảng ta như Nghị quyết Trung Ương 8 (khóa VI) ra nghị quyết 8B (ngày 27/3/1990) quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân, “Nghị quyết Trung Ương 3 (khóa 7), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại

X (2006) của Đảng, đại hội XI (2011) nhiều bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân (Nguyễn Văn Linh,

Trang 9

5

Đỗ Mười, ) nói về vai trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng và dân, và

về bài học “lấy dân làm gốc” trong sự nghiệp cách mạng và trong công cuộc đổi mới ngày nay

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nhìn nhận đầy đủ và khách quan về tư tưởng thân dân của Việt Nam trong lịch sử Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau, phạm vi khác nhau Nội dung

mà đề tài luận văn đề cập đến cho đến nay chưa có công trình nào trình bày và phân tích có hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học từ những công trình đã nghiên cứu, từ góc tiếp cận triết học, luận văn cố gắng phân tích một cách có

hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích của luận văn: Làm rõ nội dung tư tưởng thân dân của nguyễn

Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ của luận văn:

+ Phân tích tiền đề hình thành và phát triển tư tưởng thân dân trong lịch

sử Việt Nam trước thế kỷ XV

+ Phân tích và làm rõ nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

+ Từ những nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi thấy được ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng thân dân

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khai thác tư tưởng thân dân

của Nguyễn Trãi và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận: Quan điểm duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu: sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

lịch sử - logic, phân tích, tổng hợp, so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn khái quát, phân tích có hệ thống tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi; thấy được ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay; đồng thời nhìn nhận, đánh giá những tư tưởng đó dưới góc độ của chủ nghĩa duy vật lịch sử

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Những phân tích, luận giải của luận văn nhằm sáng tỏ

giá trị tư tưởng thân dân trong lịch sử dân tộc nói chung và tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi nói riêng nhằm phát huy những giá trị của nó trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham

khảo cho những ai quan tâm đến tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi Bên cạnh đó luận văn còn giúp cho đội ngũ cán bộ Đảng viên thấm nhuần tư tưởng thân dân để từ đó phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đổi mới

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương với 6 tiết

Trang 11

Nhà nước Phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV có những phát triển đạt tới trình độ khá cao và có những bước tiến dài trong công cuộc xây dựng đất nước và thịnh vượng trên nhiều mặt

Về kinh tế, Nhà nước phong kiến lúc này đặc biệt quan tâm đến sản xuất nông nghiệp Sức lao động của nông dân trên đồng ruộng, sức kéo trong nông nghiệp là trâu bò đã được nhà nước phong kiến bảo vệ Chủ trương khẩn hoang, xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi để ngăn chặn lũ lụt của nhà nước phong kiến đã được tầng lớp nhân dân hưởng ứng Nhiều đoạn đê quan trọng ở lưu vực sông Hồng và lưu vực sông lớn ở Bắc Bộ và Bắc trung

Bộ đã được đắp và thường xuyên tu bổ trong thời kỳ Lý – Trần

Nông nghiệp phát triển đã tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp Cho nên ngành thủ công nghiệp dù không được nhà nước Phong kiến coi trọng bằng nông nghiệp, nhưng cũng có bước tiến bộ lớn trong thời

Lý – Trần Lúc này ở nước ta, các nghề dệt lụa, nung gạch ngói, làm đồ gốm, luyện kim, đúc chuông và mỹ nghệ đều phát đạt Hàng thủ công thời kỳ ấy đạt chất lượng cao Gấm vóc có thể dùng để may lễ phục cho vua quan Đồ gốm vừa phong phú về loại hình, vừa đẹp, vừa tinh xảo Sự xuất hiện một số làng thủ công và sự phân chia thành khóm phường của thị dân ở Thăng Long càng chứng tỏ trình độ phát triển của thủ công ta hồi đó Trên cơ sở những sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp dồi dào như vậy, việc trao đổi hàng hóa ở trong nước và việc buôn bán với nước ngoài cũng được đẩy mạnh

Trang 12

Có thể nói nền kinh tế của nước Đại Việt đã phát triển với một sinh lực dồi dào và đạt tới trình độ khá cao trong khuôn khổ một chế độ sở hữu phong kiến đặc thù lúc bấy giờ

Từ thời Đinh cho đến giữa thời Trần, chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội Đại bộ phận ruộng đất trong nước lúc ấy

là công điền, công thổ của làng xã Nhưng ruộng đất này lại thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua Nhà vua lấy công điền, công thổ của làng xã phong cấp cho quý tộc quan lại Bên cạnh ruộng công của làng xã còn có ruộng quốc khố của triều đình, điền trang, thái ấp của quý tộc và ruộng của nhà chùa Ngoài ra lúc này, chế độ tư hữu về ruộng đất cũng đã xuất hiện và có xu thế ngày càng tăng lên vào cuối thời Trần Đó là ruộng đất của tiểu nông và địa chủ Phần đất phong cấp vĩnh viễn cho quan liêu quý tộc cũng trở thành ruộng đất tư hữu

Thích hợp với quan hệ kinh tế nói trên, các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần cũng có một kết cấu giai cấp tương ứng

Giai cấp phong kiến thống trị trước hết là tầng lớp quý tộc và quan liêu

mà đại biểu là nhà vua nắm giữa mọi quyền hành ở triều đình và trong xã hội Tiếp đó là giai cấp địa chủ, lúc đầu số lượng còn ít nhưng về sau tăng lên dần Tăng lữ là tầng lớp xã hội đáng kể và có một lực lượng đông đảo từ cuối thời Bắc thuộc đến đầu thời Trần Nhưng chỉ có những quý tộc đi tu và tầng lớp trên trong nhà chùa mới thực sự gia nhập vào hàng ngũ giai cấp phong kiến Nhà nước phong kiến đã sử dụng tăng lữ này với tầng lớp nho sĩ mới xuất

Trang 13

9

hiện đẻ duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực của triều đình Còn đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị thì gồm có người nông dân ở lành

xã lĩnh canh công điền công thổ hoặc ruộng của địa chủ Bên cạnh đó là nông

nô và nô tỳ trong các điền trang và các gia đình quý tộc Ngoài ra cũng phải

kể đến thợ thủ công và lái buôn nữa

Tất cả những giai cấp và đẳng cấp ấy đều đứng trước hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước lúc đương thời Cả hai nhiệm vụ này trước hết là nhiệm vụ giữ nước đã động viên tinh thần chiến đấu ngoan cường của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong những cuộc chiến tranh giữ nước ở các thế kỷ X, XI, XIII Quân và dân ta đã thực hiện nhiệm vụ cứu nước bằng những chiến công hiển hách về mặt quân sự Chính nhiệm vụ cứu nước đã làm cho các giai cấp đối kháng trong nước phải xích lại gần nhau để chiến đấu chống kẻ thù chung Do

đó mà mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến thống trị và nhân dân ta trong thời kỳ này chưa diễn ra một cách quyết liệt và sâu sắc bằng các thế kỷ sau Những mâu thuẫn đó vẫn âm ỷ và cuối cùng phát triển thành cuộc khởi nghĩa của nông dân vào cuối thế kỷ XIV mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ và Trần Tề

Cùng với những bước phát triển về kinh tế và chính trị, từ thế kỷ X trở

đi trong điều kiện của một quốc gia phong kiến độc lập tự chủ, nền văn hóa tinh thần của nước Đại Việt cũng phát triển mạnh Nhất là khi vương triều Lý được xác lập thì sự phát triển ấy đã đạt được những thành tựu rực rỡ Mấy thế

kỷ sau sự phát triển ấy vẫn tiếp tục, đặc biệt vào thời Trần sau khi nhân dân ta

đã ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông

Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy sự phát triển văn hóa ngay từ công việc giáo dục và thi cử Sự xuất hiện ở thời Lý một nền giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nước phong kiến quản lý khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa, thì điều đó có một ý nghĩa to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và

tư tưởng của Đại Việt Vì nó không những tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ tri thức dân tộc và sự tuyển lựa nhân viên cho bộ máy quan liêu, mà còn ảnh hưởng đến thế giới quan và những quy phạm chính trị và đạo

Trang 14

10

đức của con người Hơn nữa nó còn dẫn đến những biến đổi trong phong cách

tư duy, trong sáng tác văn học nghệ thuật và sáng tạo khoa học

Trên lĩnh vực văn học, ở thời Lý nhiều áng thơ văn đã xuất hiện Bên cạnh những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng văn chính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc trong đó tiêu biểu nhất là bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn Bước sang thời Trần hoạt động văn học sôi nổi hơn nữa Lúc này lực lượng sáng tác ngoài các nhà sư còn có quý tộc và nho sĩ Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần không những xoay quanh những vấn đề của đạo Phật, mà còn xoay quanh những vấn

đề của đạo Nho và nhất là của đời sống hiện thực Nhưng nổi bật hơn cả vẫn là những áng thơ văn thể hiện chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Không những thế văn học thời Trần còn có sự phong phú về thể loại Điều đáng lưu ý là đến thời Trần chữ Nôm được vận dụng rộng rãi trong văn học Điều đó chứng tỏ nền văn hóa

tư tưởng có tính chất độc lập của dân tộc ta đã phát triển tới mức vận dụng tiếng nói và ngôn ngữ dân tộc thì mới có thể vươn lên một cách mạnh mẽ

Chế độ phong kiến Việt Nam trong thời Lý – Trần đã tiến đến một thời

kỳ thịnh trị Nhưng đến cuối thế kỉ XIV sang đầu thế kỉ XV đã có những biến động mạnh mẽ tác động rất lớn đến vận mệnh dân tộc Trong khoảng thời gian 30 năm, từ năm 1390 đến năm 1428 đã có tới ba triều đại thay thế nhau

đó là nhà Trần - Hồ - Lê Sơ, cùng với đó là những cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc chống lại quân xâm lược và nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình Bước vào nửa cuối thế kỉ XIV tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt rơi vào tình trạng khủng hoảng Chế độ điền trang, thái ấp mang nặng tính chất khép kín, ngày càng đè nặng lên các tầng lớp lao động trong xã hội và kìm hãm sự phát triển của sản xuất Sự mục nát của nhà Trần đã làm cho mâu thuẫn giữa quý tộc và nô tì, nông nô vốn đã âm ỷ nay càng thêm sâu sắc Nhân dân ngày càng bị bần cùng hóa và bị phá sản trên quy mô lớn Năm

Trang 15

tế đại điền trang quý tộc Nhưng so với nền kinh tế đại điền trang quý tộc thì nền kinh tế của địa chủ bình dân tiến bộ hơn Trong khi nô tỳ - nông nô ở các đại điền trang bị bóc lột vô hạn độ thì người nông dân lĩnh canh ruộng đất của địa chủ được tương đối tự do hơn do đó họ có hứng thú sản xuất hơn Sự phát triển của nền kinh tế của địa chủ bình dân đe dọa sự tồn tại của chế độ đại điền trang và chế độ nô tỳ Sự tình trên dẫn đến mâu thuẫn giữa địa chủ bình dân với quý tộc, mâu thuẫn giữa nô tỳ và quý tộc ở một chừng mực nhất định, lợi ích của nô tỳ nhất trí với lợi ích của địa chủ bình dân Tầng lớp địa chủ bình dân có đại biểu đắc lực của họ ở phương diện chính trị và văn hóa là lớp nho sĩ xuất thân từ bình dân Lớp nho sĩ này yêu cầu bãi bỏ các đặc quyền đặc lợi của quý tộc Sự khủng hoảng của chế độ đại điền trang và chế độ nô tỳ là nguyên nhân chủ yếu đẻ ra phong trào khởi nghĩa của nô tỳ rất phổ biến cuối đời Trần Tình hình sản xuất cuối đời Trần tỏ ra nền kinh tế địa chủ không những không có khả năng làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển mà còn có thể tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng không phát triển nữa Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển lại là tiền đề cho thương nghiệp phát triển

Như vậy, sự thủ tiêu chế độ điền trang và chế độ nô tỳ là điều kiện tiên quyết để cho xã hội Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ bước sang một giai đoạn lịch sử tiến bộ hơn Nói khác đi, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ

Trang 16

Trong những cải cách Hồ Quý Ly chính sách hạn điền và chính sách hạn

nô là đáng để ý Theo chính sách hạn điền thì chỉ có đại vương và trưởng công chúa thì ruộng đất không bị hạn đinh, còn thứ dân không được có quá mười mẫu ruộng Người nào ruộng quá hạn đinh thì phải nộp vào quan, người nào phạm tội được phép đem ruộng chuộc tội Chính sách hạn điền của Hồ Quý Ly nhằm đánh vào quý tộc, lãnh chúa Chính sách đó có lợi cho nhà nước phong kiến, làm cho Nhà nước có thêm nhiều ruộng đất để có thể làm những việc công ích như việc y tế, giáo dục Nhưng chính sách đó vẫn dành cho bọn đại quý tộc – đại vương và trưởng công chúa – nhiều đặc quyền, đặc lợi trong việc chiếm hữu ruộng đất Mặt khác, chính sách hạn điền lại làm cho kinh tế địa chủ khó phát triển Vì vậy, chính sách hạn điền, mặc dù có lợi cho

xã hội, nhưng không được tầng lớp địa chủ là lực lượng mới hoan nghênh Năm 1401 Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn nô Những người được phép dùng gia nô, cứ theo cấp bậc của mình mà dùng nhiều hay ít, số gia nô thừa phải đem sung công Những gia nô bị sung công biến thành quan nô, quan nô có thể đem dùng vào việc khai khẩn đất hoang cho Nhà nước hay dùng vào việc sản xuất nông nghiệp Quan nô cũng có thể đem dùng vào việc xây thành quách, làm đường sá chính sách hạn nô có lợi cho sản xuất xã hội trong một hạn độ nhất định, vì nó có tác dụng giảm bớt số người thoát ly sản xuất, giữ nông dân ở lại đồng ruộng để sản xuất Chính sách hạn nô chỉ biến tư nô thành quan nô mà

Trang 17

Chính quyền nhà Hồ mới thành lập chưa được củng cố, thiếu cơ sở xã hội vững chắc, mâu thuẫn xã hội từ cuối đời nhà Trần vẫn không được hòa hoãn Âm mưu xâm lược của nhà Minh ngày càng trở thành hiện thực

Lợi dụng khủng hoảng xã hội và sự chống đối của quý tộc Trần và triều đại Hồ Quý Ly, cuối năm 1406, nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt Chỉ trong vòng một thời gian ngắn cuộc kháng chiến của nhà

Hồ chống quân Minh, đã bị thất bại Nhà Hồ sụp đổ, quân Minh đặt ách thống trị lên đất nước ta, chúng thi hành nhiều chính sách dã man, tàn độc, chúng muốn thực hiện dã tâm đồng hóa nước ta, xóa bỏ vĩnh viễn đất nước ta Sau bốn thế kỷ độc lập, tự chủ, với thất bại của nhà Hồ, dân tộc ta rơi vào ảnh nô

lệ lầm than Chúng làm tàn lụi tận gốc rễ tất cả nguồn sống, những giá trị về vật chất, tinh thần, những giá trị văn hóa, biến nước ta thành quận huyện thuộc ngoại vi Trung Quốc

Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại không phải do nhân dân ta không có lòng yêu nước và không có tinh thần đánh giặc

mà do nhà Hồ không có đủ uy tín, không có đủ khả năng thu hút nhân dân tham gia cuộc kháng chiến đó Chính Hồ Nguyên Trừng – con trai Hồ Quý

Ly, người lãnh đạo quân đội của nhà Hồ cũng nhận ra rằng thất bại là khó có thể tránh khỏi nếu nhân dân không ủng hộ trong cuộc kháng chiến này và đã nói với Hồ quý Ly rằng: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi” Song cũng phải thật khách quan mà nhận định rằng, không thể

Trang 18

14

đổ mọi tội lỗi lên nhà Hồ mà kết quả này là do hậu quả của những năm trước

để lại Cuộc khủng hoảng cuối đời Trần đã làm suy yếu lực lượng tự vệ của triều đình và nhân dân, đồng thời làm tăng thêm mâu thuẫn vốn đã rất sâu sắc giữa nhân dân và giai cấp thống trị Chính cuộc cải cách của nhà Hồ cũng đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân và triều đình ngày càng sâu sắc

Nhà Hồ sụp đổ, nhà Minh tiến hành chính sách cai trị đối với nước ta Trong hai mươi năm đô hộ nước ta, nhà Minh đã thực hiện những chính sách hết sức dã man và tàn bạo, âm mưu đồng hóa nước ta, biến nước ta thành một

bộ phận của Trung Quốc Nhà Minh thi hành nhiều chính sách nhằm vơ vét của cải tài nguyên nước ta để đem về làm giàu cho Bắc quốc Chúng tìm mọi cách để hủy diệt nền văn hóa của Đại Việt như: đốt sách, trừ những bản kinh sách về Phật giáo và Đạo giáo, bắt những thợ thủ công lành nghề, những nghệ nhân nổi tiếng của ta về Bắc quốc để phục vụ cho triều đình nhà Minh, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, bắt nhân dân ta đi phu dịch Tội ác của giặc Minh đã được Nguyễn Trãi vạch ra: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”

Trước những chính sách đô hộ rất thâm hiểm của nhà Minh, vận mệnh dân tộc ta đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt, quyền lợi của mọi giai cấp, tầng lớp đều bị tước đoạt Lịch sử đặt vận mệnh dân tộc ta trước hoàn cảnh không

có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường đứng lên đấu tranh để giành lại độc lập tự do Và nhân dân ta với truyền thống yêu nước và tinh thần đánh giặc ngoại xâm đã đứng lên chống giặc Minh ngay sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại Hàng loạt các phong trào đấu tranh của nhân dân đã nổ ra ở khắp nơi trong cả nước:

Giữa năm 1407, nhân dân huyện Đông Lan và Trà Thanh - phủ Diễn Châu (Nghệ An) nổi dậy phá nhà ngục, giết bọn quan lại

Trang 19

15

Cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng lãnh đạo đã thu hút hàng vạn nhân dân tham gia và đã buộc nhà Minh phải dùng đến quân đội để đàn áp

Giữa năm 1410 có cuộc khởi nghĩa Đồng Mặc ở Thanh Hóa, khởi nghĩa của Lê Nhị ở Thanh Oai, Lê Khang ở Thanh Đàm, Phạm Tuân ở Đông Kết (Khoái Châu, Hưng Yên)

Ở miền núi, phong trào đấu tranh chống quân Minh phát triển mạnh Đó

là phong trào do các thủ lĩnh Ông Lão, Chu Sư Nhạn, Bùi Quý Thăng cầm đầu ở Thái Nguyên, Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn

Những cuộc đấu tranh của nhân dân ta bị thất bại là do phong trào thiếu tính tổ chức, mang tính tự phát, phần nhiều là chưa thu hút đông đảo nhân dân tham gia Duy chỉ có cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng là

đã tập hợp được khá đông nhân dân tham gia nhưng bản thân hai nhà lãnh đạo mất đoàn kết với nhau nên phong trào không thế lan rộng ra phạm vi cả nước Phong trào này thất bại cũng chứng tỏ một điều là vai trò và vị trí của nhà Trần đã không còn thích hợp với một thời đại mới của dân tộc Các cuộc đấu tranh của nhân dân ta thời kỳ này đều không giành được thắng lợi nhưng nó buộc nhà Minh phải lo lắng tới chính sách cai trị của chúng

Mặc dù thất bại trong đấu tranh và kẻ thù bị đàn áp dã man nhưng lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc của nhân dân ta vẫn luôn nóng bỏng trong lòng mỗi con dân Đại Việt Chính vì vậy khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa kêu gọi nhân dân nổi dậy giết giặc thì Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa của anh hùng hào kiệt bốn phương, của những người yêu nước từ khắp nơi tìm về mưu đồ sự nghiệp cứu nước Đó là những người dân của các bản làng xung quanh Lam Sơn và các châu, huyện vùng Thanh Hóa, bao gồm cả miền xuôi

và miền núi, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Đó là những người con ưu tú của dân tộc từ nhiều nơi xa xôi, vượt mọi trở ngại tìm đến tụ nghĩa Tất cả những người yêu nước ấy khác nhau về thành phần xã hội và dân tộc, về quê

Trang 20

16

quán và cuộc sống, nhưng cùng mối thù không đội trời chung với quân giặc

và cùng một lý tưởng quyết tâm đánh giặc cứu nước

Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với một lực lượng hết sức chênh lệch so với kẻ thù, có 2000 người trong đó lực lượng lòng cốt chỉ có

700 quân lúc đó như Nguyễn Trãi nói: cơm ăn chẳng no hai bữa, áo mặc chẳng phân đông hè, quân khi chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không (Thư gửi Vương Thông) Có những lúc vị minh chủ của nghĩa quân Lam Sơn phải hy sinh cả con ngựa chiến đấu đã vào sinh ra tử với mình để lấy thịt nuôi quân, phải ăn rau, ăn quả rừng, khó khăn không biết để đâu cho hết Nhưng với đạo quân chính nghĩa ấy, không có hiểm nguy nào có thể làm cho họ lo sợ bởi bằng đằng sau họ là nhân dân Đại Việt đang ngày đêm mong ngóng và khao khát độc lập, sẵn sàng hy sinh và hiến dâng cho nghĩa quân Nghĩa quân

đi đến đâu cũng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng và chào đón Chính vì vậy mà nghĩa quân từ một ngọn lửa nhỏ ở vùng núi Thanh Hóa phong trào đã phát triển và lan rộng ra khắp nơi; từ chỗ phải cố thủ trên núi để bảo toàn lực lượng mỏng manh của mình, từ chỗ phải nhún mình chịu hòa với quân giặc để chờ thời cơ, cuộc khởi nghĩa đã giành thế chủ động tấn công vào cuộc khởi nghĩa từ vùng núi Thanh Hóa đã lan rộng ra cả nước và trở thành cuộc kháng chiến của toàn dân tộc chống quân xâm lược nhà Minh Những chiến thắng vang dội lòng người, những thành công nối tiếp thành công với đỉnh cao là tốt Động - Chúc Động, chi Lăng – Xương Giang đã làm cho mộng bá chủ thiên

hạ và tham vọng biến Đại Việt của chúng ta thành quận Giao chỉ của vua quan nhà Minh tan thành mây khói

Đất nước của người Nam lại được trả về nguyên vẹn cho người Nam Sau 10 năm (1418 – 1428) “nếm mật nằm gai” “trằn trọc” đắn đo, từ cuộc khởi nghĩa đã trở thành cuộc kháng chiến của toàn dân đem lại cho đất nước hòa bình và độc lập Khúc khải hoàn ca đánh dấu một trang sử mới của dân

Trang 21

ta và gây nên ở đây muôn vàn tội ác Chúng đã biến nước ta thành quận, huyện của trung Quốc, đặt quan lại của chúng ở khắp mọi nơi, bắt nhân dân ta phải lao động vô cùng cực khổ để phục vụ chúng Chúng vơ vét vàng bạc, thóc lúa, bò, ngựa cùng mọi tài sản của nhân dân ta Kể cả sách vở và những sản vật văn hóa lâu đời Hàng vạn trí thức và thợ giỏi đã bị bắt và đưa về nước chúng Chúng cưỡng bức nhân dân ta bỏ hết phong tục cổ truyền, bắt cắt tóc, mặc quần áo theo kiểu Trung Quốc, ra sức đồng hóa nhân dân ta, hòng xóa hết mọi dấu vết của dân tộc ta trên mảnh đất này Trước nguy cơ diệt vong ghê gớm ấy, dân tộc ta chỉ có một con đường là kiên quyết chiến đấu Suốt nhiều năm trời, trên mảnh đất này, không có một nơi nào mà nhân dân ta đã không nổi dậy Hàng trăm cuộc khởi nghĩa, hàng ngàn cuộc chống trả đã liên tiếp diễn ra, nơi này bị dập tắt, nơi khác lại bùng lên Để duy trì sự thống trị của chúng, giặc đã phải liên tiếp tăng thêm viện binh từ Trung quốc, hết chục vạn người này đến chục vạn người khác Mặc dù đánh cho địch thiệt hại rất nhiều, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta rút cục vẫn không thành công Đó

là vì thiếu một phong trào quần chúng có tổ chức, thiếu những sách lược đúng đắn, thiếu những lãnh tụ tài năng Trong tình hình bế tắc ấy, phong trào Lam Sơn do vị anh hùng kiệt xuất là Lê Lợi lãnh đạo, đã tập hợp được đông đảo nhân dân từ khắp mọi nơi, vượt qua được khó khăn để đi tới thắng lợi cuối cùng Đi với phong trào Lam Sơn, Nguyễn Trãi con người văn võ song toàn,

có đủ nhân trí dũng đã đem hết tài năng và trí lực dâng hiến cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân

Trang 22

18

Như vậy, tình hình xã hội Việt Nam dưới chế độ chiếm đóng của quân Minh đòi hỏi phải có một lực lượng xã hội mới tiến bộ đứng lên lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc và sau khi làm xong nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thủ tiêu chế độ đại điền trang và chế độ nô

tỳ Chỉ như thế, xã hội Việt Nam mới có điều kiện để ổn định và phát triển Lực lượng xã hội mới tiến bộ nói đây là tầng lớp địa chủ bình dân đã xuất hiện từ cuối thời Bắc thuộc và trở nên đông đảo cuối thời Trần Lê Lợi là một nhà địa chủ bình dân, cho nên Lê Lợi có đủ điều kiện tập hợp được lực lượng dân tộc để đưa cuộc kháng chiến chống quân Minh đến thắng lợi Nguyễn Trãi là nho sĩ đại diện cho bình dân Ông đã trải qua cuộc đời nghèo khó, ông

đã cảm thông sâu sắc các nguyện vọng của nhân dân Do đó ông đã đề ra những chủ trương, chính sách hợp với nguyện vọng của nhân dân, lãnh đạo được nhân dân và đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi Lê Lợi và Nguyễn Trãi

là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhưng so với Lê Lợi thì Nguyễn Trãi tiến bộ hơn, Nguyễn Trãi không xuất thân từ địa chủ bình dân, ông chỉ là đại diện của địa chủ bình dân, do đó ông tiếp thu được nhiều đức tính ưu tú của nhân dân và hiểu rõ nguyện vọng và lực lượng của nhân dân Những đức tính ưu tú tiếp thu được của nhân dân kết hợp với phần tích cực của Nho giáo

mà Nguyễn Trãi lĩnh hội được, làm cho Nguyễn Trãi có những tư tưởng thân dân, tư tưởng trọng dân, tư tưởng nhân nghĩa rất độc đáo và phong phú trong thời đại ông trưởng thành và hoạt động

1.2.Tiền đề lý luận cho sự ra đời và phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

1.2.1 Khái niệm “dân” và “tư tưởng thân dân”

Dân là một khái niệm rất cơ bản trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Khái niệm này đã xuất hiện từ xa xưa, được sử dụng rất phổ biến trong các di sản văn thơ của ông cha ta, trong văn học dân gian qua các thời kỳ lịch

Trang 23

19

sử Nó còn được dùng thường xuyên trong ngôn ngữ đời thường, trong báo chí và cả trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước ta hiện nay Tuy nhiên để làm rõ được một khái niệm, nhất là một khái niệm có nội hàm rộng như khái niệm “Dân” là không hề đơn giản Trước tiên tác giả sử dụng cuốn

từ điển Triết học và từ điển Tiếng việt để thống nhất định nghĩa về “dân” Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên Nxb Khoa học xã hội, 1967) có trình bày cả hai khái niệm “Dân” và “nhân dân” Hai khái niệm này về cơ bản là giống nhau Tuy vậy, chúng không đồng nhất tuyệt đối và không thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp Ví dụ: không thể thay thế cụm từ “vấn đề dân” bằng “vấn đề dân cày” Vì vậy cần tìm hiểu cả hai khái niệm đó

Về khái niệm “nhân dân”, qua những định nghĩa của tác giả từ điển có thể rút ra mấy điểm chung về khái niệm “nhân dân” với ý nghĩa khoa học chặt chẽ như sau:

- Nhân dân là một khái niệm có ý nghĩa chính trị, hình thành trong xã hội đã phân chia thành giai cấp, thành các tập đoàn người có địa vị và lợi ích khác nhau

- Nhân dân không đồng nhất hoàn toàn với dân cư, nhân dân là khối người đông đảo trong dân cư chứ không phải toàn bộ dân cư

- Nhân dân gồm những người thuộc giai cấp và tầng lớp lao động không bóc lột, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, có khả năng tham gia giải quyết nhiệm vụ phát triển xã hội

Còn về khái niệm “Dân”, cách nêu của mỗi cuốn từ điển lại có sự khác nhau Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên – 1976) có nêu khái niệm dân với năm nghĩa như sau:

+ Từ dùng để gọi chung người trong một nước: như Dân Việt Nam; + Quần chúng đông đảo gồm có: công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có bóc lột;

Trang 24

20

+ Quần chúng đông đảo nói chung;

+ Công dân trong một địa phương như: Dân Hà Nội;

+ Những người thuộc một tầng lớp xã hội

Trong từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên – 1994) nêu khái niệm dân với ba nghĩa:

+ Người sống trong một khu vực địa lý hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy

+ Người dân thuộc tầng lớp đông đảo nhất, trong quan hệ với bộ phận cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội

+ Người cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh làm thành một lớp người riêng Nhìn chung, trong các cuốn từ điển tiếng Việt, nghĩa cơ bản của khái niệm “Dân” và “nhân dân” là giống nhau, nhiều trường hợp có nghĩa đồng nhất, có thể sử dụng thay thế cho nhau Điều đó phù hợp với thực tế trong khẩu ngữ và cả ngôn ngữ văn bản tiếng Việt

Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác nhau về Dân, ta có thể khái quát: “Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, dùng để chỉ những người lao động bình thường, đông đảo, không có chức quyền và tương phản với những người cầm quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định” Do đó, khái niệm “Dân” mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh được các mối quan hệ xã hội Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụ lao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà chế độ phong kiến Trung Quốc gọi là “thần dân” Thần, nghĩa đen

là bề tôi, là tầng lớp quan lại phải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xã hội, thần dân phải xếp dưới tầng lớp quan lại Điều này không phải ở phương Đông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước phương Tây, tình hình này cũng diễn ra tương tự Như vậy, dân với tư cách là

Trang 25

21

thần dân là những người thuộc sở hữu của vua Chỉ trong xã hội hiện đại: xã hội Tư bản và xã hội Xã hội chủ nghĩa vai trò của người dân mới được nhận thức đầy đủ Người dân được đặt trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với nhà nước Người dân có quyền bầu cử, bầu ra những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước, có thể đại diện cho quyền lợi của mình thì khi đó dân mới có tư cách là công dân

Từ định nghĩa về “dân” như trên, chúng ta đi vào tìm hiểu tư tưởng

thân dân Tư tưởng thân dân là một trong những tư tưởng lớn và quan trọng

của lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc và Việt Nam, được hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử nước ta “Thân dân” có nghĩa là gần gũi, gắn bó, quý trọng nhân dân Nhà nước lấy dân làm gốc, phải biết tin tưởng vào dân, dựa vào dân để xây dựng phát triển đất nước và phải biết quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân thì nước có đươc sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân

Như vậy, “thân dân” có nghĩa là hiểu dân, nghe được dân nói, nói được dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu, tình cảm, suy nghĩ, mong muốn của người dân Và người lãnh đạo, quản lý phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi suy nghĩ và hành động đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân

1.2.2 Tư tưởng thân dân trong Nho giáo và Phật giáo trước thế kỷ XV ở Việt Nam

Tư tưởng thân dân trong Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội được du nhập vào nước ta cách đây gần hai ngàn năm Đây là một học thuyết do Khổng Tử (Khổng Khâu: 551 – 479 tr CN), một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại của Trung Hoa sáng

Trang 26

22

lập Sau khi Khổng Tử mất, Nho giáo đã được các học trò của ông kế thừa và phát triển theo những khuynh hướng khác nhau Trong số những người kế thừa và phát triển nho giáo thì Mạnh Tử (Mạnh Kha: 372 – 289 tr CN) là một người có vai trò rất lớn tới sự lớn mạnh của học thuyết triết học này Trong các thời kỳ sau tùy theo đặc điểm chính trị - xã hội mà các nhà tư tưởng đưa Nho giáo phát triển theo những khuynh hướng khác nhau Tuy nhiên, dù được phát triển theo hướng nào thì Nho giáo luôn luôn song hành cùng với sự tồn tại và lớn mạnh của nhà nước phong kiến vì đây là học thuyết dạy người ta cách cai trị nhân dân và được nhà nước phong kiến coi là hệ tư tưởng chính thống của mình

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thông qua việc xác lập bộ máy cai trị và thông qua chính sách Hán hóa của các vương triều phương Bắc Tuy nhiên, khi giành độc lập và thành lập được nhà nước phong kiến thì Nho giáo lại trở thành công cụ cai trị xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Từ chỗ là công

cụ nô dịch của ngoại xâm, từ chỗ phải bắt buộc tiếp nhận, giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo và biến thành công cụ của chính mình Đó chính là lý do giải thích tại sao Nho giáo lại có thể tồn tại lâu dài và chiếm vị trí quan trọng như vậy trong xã hội phong kiến Việt Nam Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong xã hội Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo Sự ảnh hưởng của Nho giáo đã tác động trực tiếp và trở thành cơ sở cho tư tưởng về dân của ông Song dù bị ảnh hưởng của Nho giáo

tư tưởng về dân nhưng tư tưởng của ông không phải là sự lặp lại của Nho giáo Nho giáo luôn quan tâm đến dân và đặc biệt là vai trò của dân bởi các nhà Nho cho rằng, có xác định được đầy đủ vai trò của dân mới xác định được địa vị xã hội của họ và định ra được trách nhiệm của tầng lớp thống trị đối với dân

Dân trong kinh sách Nho giáo được đặt trong quan hệ đối lập với tầng

lớp khác đó là tầng lớp trị dân Tầng lớp trị dân được coi là người hiền, người

Trang 27

23

trí, người quân tử, còn tầng lớp bị cai trị được gọi là kẻ tiểu nhân Chính sự

khác nhau về đạo đức và tài trí giữa hai tầng lớp này mà dẫn tới sự khác nhau

về địa vị và vai trò xã hội của mỗi tầng lớp Người quân tử, người hiền, người trí ở địa vị người cai trị vì tầng lớp này nhận được mệnh trời, có chí tu thân, học tập mà có đạo đức, biết đem cái tài trí ấy cho mọi người noi theo Còn dân ở địa vị bị cai trị, bị sai khiến, là đối tượng của giáo hóa vì họ không bẩm thụ được cái “linh khí” của trời đất, không có trí khí và không hiểu đạo lý

Từ việc xác định được dân là ai, các nhà Nho đã đi đến chỗ nhận định vai trò của dân Trong quan niệm của Nho giáo, dân có vai trò hết sức quan

trọng Thứ nhất, đó là lực lượng to lớn trong xã hội, làm việc mệt nhọc trong

xã hội để nuôi sống chính bản thân họ, gia đình họ và nuôi cả tầng lớp “lao tâm”, cho nên Mạnh Tử đã gọi họ là kẻ “lao lực” Mạnh Tử nói: “Có người lao tâm, có người lao lực Người lao tâm làm công việc cai trị; người lao lực thì bị cai trị Người bị cai trị nuôi người, người làm công việc cai trị thì được

người nuôi, đó là đạo lý chung trong thiên hạ”[67;702] Thứ hai, dân là gốc

của nước, là nền tảng của nền chính trị: “dân là gốc của nước”, bởi nếu không

có dân thì không có nước, không có nước thì không có vua Họ không chỉ là người nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ vua Cho nên các nhà Nho đều khuyên vua hãy coi dân, lấy dân làm gốc, coi dân quý trọng hơn

xã tắc và nhà vua, như Mạnh Tử đã nói: “Nhân dân đáng quý trọng nhất, sau

đó đến xã tắc [67;758] Vai trò của dân trong tư tưởng “dân vi bang bản” của Khổng Tử và “dân vi quý’ của Mạnh Tử còn được biểu hiện khi các nhà Nho coi là một trong ba điều quan trọng nhất của nhà vua vì nó có ảnh hưởng trực tiếp tới sự thịnh suy của cả chế độ Tuân Tử nói: “Vua là thuyền, thứ dân là nước Nước chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền”[65; 64] Dân có vai trò

to lớn như vậy, nên các nhà Nho đều chủ trương phải giữ được dân vì như thế mới giữ được thiên hạ, giữ được ngôi vị của mình

Trang 28

24

Trong tư tưởng Nho giáo, điều quan trọng nhất có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh chính trị của nhà vua, của chế độ là phải nắm, phải giữ được nhân dân để mãi họ là kẻ bị thống trị Để làm được công việc này, thì theo các nhà Nho, Nhà vua, người cầm quyền phải được lòng dân, phải được dân tin theo Và muốn vậy, nhà vua phải có thái độ, trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà vua, người cầm quyền đối với dân Theo các nhà Nho tiên Tần, thân dân được thể hiện bằng “Dưỡng dân” và “giáo dân”

“Dưỡng dân” chính là nuôi dân, là khái niệm các nhà Nho chỉ rõ trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôi dưỡng dân, bảo vệ dân, coi dân như con

Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dưỡng dân, theo các nhà Nho là nhà vua và người cầm quyền phải luôn quan tâm, luôn chăm lo đến đời sống vật chất tối thiểu nhưng thiết thân của dân để dân không bị chết đói, chết rét, đủ điều kiện để như Mạnh Tử nói: “Trên đủ phụng dưỡng cha

mẹ, dưới đủ nuôi vợ con[24; 758] Muốn được như vậy, nhiệm vụ của nhà vua

là phải giúp dân làm giàu, phải làm cho dân có tài sản riêng và ổn định, sai khiến dân điều gì cũng không được trái thời vụ, mùa màng của dân, đồng thời phải giảm thuế khóa và những đóng góp khác của dân trong thiên hạ được an

cư lạc nghiệp

Dưỡng dân theo các nhà Nho, thì nhà vua, người cầm quyền không chỉ

có chính sách thích hợp để dân đủ sống, an cư lạc nghiệp mà phải biết giúp dân làm giàu Vì dân có giàu nước mới mạnh và để làm giàu cho dân thì nhà vua cần phải giảm nhẹ thuế khóa cho dân, đồng thời người cầm quyền phải có chính sách tiết kiệm trong tiêu dùng

Chính sách thân dân quan trọng nhất trong Nho gia đó là người cầm quyền phải thực hiện chính sách phân phối bình quân Thực hiện chế độ phân phối công bằng, thì người dân mới không bị bóc lột mà được no đủ, lòng dân

sẽ không oán, mọi người hòa thuận, nước sẽ yên, sẽ mạnh Trong chính sách

Trang 29

25

dưỡng dân, các nhà Nho còn yêu cầu người cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội Có như vậy, dân mới quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được Mạnh Tử nói rằng: “nếu như không có ai ham giết người, ắt dân chúng trong thiên hạ đều theo về, như nước chảy xuống chỗ thấp, ào ào ai mà ngăn

được”[24;735]

Để được lòng dân, bên cạnh chính sách “dưỡng dân”, Nho giáo chủ trương chính sách “giáo dục”, “giáo hóa” dân Khổng tử nói: “dạy dân là một cách yêu mình: mình muốn tự lập thì cũng phải thành lập cho người; muốn thành công thì cũng phải giúp người thành công Hơn nữa dân được giáo hóa thì dễ sai bảo dễ trị, công việc chính hình sẽ nhẹ đi nhiều; nếu kết quả của sự giáo hóa cực tốt thì nhà cầm quyền chẳng phải làm gì mà nước cũng trị”[25;170] Mục đích giáo dục”, “giáo hóa”, theo Nho giáo là để có được

Đạo làm người của mình Và để đạt được Đạo làm người theo các nhà Nho

chủ yếu là phải học, phải dạy những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức của nho giáo, đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiếu, trung Song kết quả của giáo hóa, theo các nhà Nho là khác nhau Người quân tử, người cầm quyền học Đạo là để trở thành người có đạo đức, để trở thành người cai trị dân, còn người dân, kẻ tiểu nhân học đạo là để sai khiến, để an phận là kẻ bị cai trị, để nuôi dưỡng người quân tử Và xét cho đến cùng thì mục tiêu giáo hóa của Nho giáo đối với dân cũng là để duy trì sự tồn tại lâu dài của chế độ phông kiến đương thời

Vậy biện pháp chung để giáo dục, giáo hóa dân của các nhà Nho tiên Tần là gì? Giữa biện pháp giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức và hình phạt, các nhà Nho tiên Tần đều coi trọng biện pháp đạo đức, còn hình phạt chỉ là biện pháp tạm thời để cứu vãn tình thế khó khăn trong việc giáo hóa, cai trị dân mà thôi Do đó, dễ lý giải rằng, vì sao các nhà Nho tiên Tần không phê phán nhà cầm quyền sử dụng hình phạt mà chỉ khuyên họ không lạm dụng hình phạt đối

Trang 30

26

với dân, không ham giết dân Như Khổng Tử nói: “Dắt dẫn dân bằng chính pháp, sử trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh được khỏi tội lỗi, chứ không có lòng hổ thẹn Nếu dẫn dắt dân bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì

dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục”[67; 245]

Có thể nói, chính sách giáo dân, trị dân như trên mà các nhà Nho tiên Tần đề xuất được gọi là Đức trị, Nhân trị, tức là trị dân không phải là chủ yếu bằng pháp luật mà chủ yếu bằng giáo hóa, bằng nêu gương đạo đức Không thể phủ nhận đó là một chính sách trị dân ít nhiều mang tính nhân đạo, có yếu

tố nhân đạo, với nhiều điểm tiến bộ so với thời đại, nhưng bên cạnh đó cũng

có nhiều khuyết điểm, hạn chế

Một mặt, nếu giáo dục, giáo hóa là phải dựa trên nền tảng coi “dân là gốc”, mọi chính sách đưa ra phải được lòng dân, vì dân Tuy nhiên ở Nho giáo, nội dung của giáo dục, giáo hóa trước sau cũng chỉ là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tam cương, Ngũ thường mà thôi Điều đó có nghĩa là, xét cho cùng, chính sách ấy (kể cả chính sách dưỡng dân) cũng chưa thực sự coi dân là chủ thể mà dân chỉ là phương tiện của nền chính trị đạo đức

Mặt khác, Đức trị là nền chính trị nhân đạo, lấy lòng dân Đức trị cần cho mọi xã hội, nhưng không phải là tất cả, là duy nhất trong nền chính trị Nếu chỉ dùng Đức trị để trị không thôi thì sẽ là ảo tưởng, đặc biệt là trong một bối cảnh loạn lạc, tranh giành nhau, cá lớn nuốt cá bé của thời Xuân Thu – Chiến Quốc Điều đó giải thích tại sao học thuyết của Khổng Tử nói riêng và các quan điểm của các nhà Nho tiên Tần nói chung không được trọng dụng vào thời điểm ra đời

Như vậy, quan niệm về dân và tư tưởng thân dân của Nho gia chứa nhiều yếu tố tiến bộ đã coi nhân dân là gốc của nước và cần “thương dân” đây là những tư tưởng nhân văn sâu sắc Tuy nhiên do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị nên Nho gia vẫn coi nhân dân, những người lao động chân tay

Trang 31

Tư tưởng thân dân trong Phật giáo

Phật giáo hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ V trước công nguyên Người sáng lập ra học thuyết này là Siddhartha con vua Suddhodana, trị vì bộ tộc Sakya ở miền bắc Ấn Độ Truyền rằng sinh năm

566 trước công nguyên, khi tròn mười sáu tuổi, Siddhartha lấy vợ, hạ sinh con trai đầu lòng và cũng là đứa con duy nhất, đặt tên là Ruhala Tuy sống trong cảnh nhung lụa và đầy hạnh phúc gia đình, nhưng đã nhận thấy lỗi khổ của con người với kiếp sống sinh, lão, bệnh, tử; bất bình trước sự phân chia đẳng cấp nhiệt ngã của xã hội Ấn Độ cổ đại Siddhartha, năm hai mươi chín tuổi đã quyết định ra đi tìm đường giải khổ cho bản thân và nhân loại Sau nhiều năm trời chu du khắp vùng thung lũng sông Hằng, tầm sưu, học đạo đến năm ba mươi nhăm tuổi Siddhartha đã đạt được ý nguyện của mình Theo ngôn ngữ của nhà Phật là ông Đại Ngô Từ đó, người đời tôn ông là Thích Ca Mâu Ni

Chữ Phật (Buddha) là danh từ không dành riêng cho một người nào

mà dùng để gọi tất cả những người đầy đủ từ bi, bắc ái và đã đạt đến trạng thái giác hạnh viên mãn, hoàn toàn không bị ngoại cảm chi phối Sau bốn

Trang 32

28

mươi chín năm hành đạo, Năm 486 trước công nguyên Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt Môn đệ của ông đã sưu tầm và sau nhiều lần thiết lập dưới hình thức hợp tụng, khoảng thế kỷ thứ I trước công nguyên và sau này nữa, những lời dạy của ông được lưu truyền bằng văn tự tạo thành tam tạng – kinh điển của phật giáo

Đạo phật truyền vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên và đã trở thành một trong những hệ tư tưởng – tôn giáo có sức sống lâu dài, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của dân tộc ta trong lịch

sử Đạo phật cho rằng đời người là khổ, nỗi khổ ở mỗi người là đầy nước mắt, ở nhân loại là biển nước mắt; “nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước các đại dương cộng lại” Khổ đó không phải là do áp bức giai cấp,

áp bức dân tộc mà ra, mà là do bản thân con người Khổ đó là do con người có sinh thì có già, bệnh và chết, do mong muốn mà không được, do thương yêu mà phải xa lìa nhau, do ghét nhau mà phải ở gần nhau, do ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) che lấp trí tuệ (khổ đế), do tích tụ thói xấu và dục vọng (tập đế), do sự thay đổi, do ở trong vòng luân hồi Muốn thoát khỏi thì phải tu luyện, phải trừ bỏ dục vọng (diệt đế), phải từ bi, nhẫn nhục, hỷ xả (vui vẻ hy sinh thân mình), phải nhận thức được tâm Phật, phải theo tám con đường đúng, (đạo đế) Và mục đích của tu luyện

là giải thoát, là thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, là đạt tới một cách nói riêng Với Phật giáo nói chung là lên tới cõi Niết Bàn, nơi tịch diệt, nơi không còn biến hóa, không còn sướng vui cũng như khổ đau; với Tịnh Độ Tông là về được nước Phật, là sang tây phương cực lạc, hoặc Tịnh Thổ, với Thiền Tông là nhận thức được tâm là Phật

Về thân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳng định: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơi hành vi của họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra”[57;203] Như vậy, Phật đã

Trang 33

29

xác định sự bình đẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũng không có ai là hạ tiện Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài Đức Phật mở rộng cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn hạ Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là nam hay nữ Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vị giác ngộ giải thoát “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát” [60; 176] Giải thoát là mục đích cứu cánh cho những ai tu theo Phật giáo Tất cả tam tạng kinh điển của Đức Phật đều giúp cho mọi người đạt đến giác ngộ và giải thoát Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp tu tập để đạt đến giải thoát nhưng tựu trung không ngoài bốn chân lý vi diệu, đó là Tứ diệu đế (Tứ Thánh đế hay bốn chân lý huyền diệu) Đây là quan điểm cốt lõi nhất và cũng

là định hướng cơ bản nhất của Phật giáo

Như vậy, Phật giáo không phân biệt đẳng cấp, sang – hèn, nam – nữ trong xã hội mà ở Phật giáo gọi chung tất cả là con người, chúng sinh Con người ấy sống trong xã hội đều có kiếp luân hồi, đau khổ Muốn giải thoát được khỏi sự đau khổ ấy cần đạt tới trạng thái Niết bàn

Phật giáo là tôn giáo được giai cấp phong kiến Việt Nam đề cao và

sử dụng tích cực trong nhiều thế kỷ sau khi nước nhà được giải phóng khỏi ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc

Tư tưởng từ bi, bác ái, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn đã gây được xúc động trong lòng người, trở thành một trong những nguồn gốc xâu xa của lòng thương người, của chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo thời kỳ này để lại những dấu ấn rõ rệt trong quan niệm và tình cảm về đạo đức của những người đứng đầu Họ không khỏi thông cảm xót thương những nỗi

Trang 34

30

đau khổ, cực nhọc của dân chúng và những khái niệm đạo đức đương thời như khoan hòa, nhân từ, phúc huệ Tầng lớp trên của xã hội đã thấu triệt tinh thần bắc ái, thương dân, đức hiếu sinh của nhà Phật, biết gác lại lợi ích vị kỷ của cá nhân một dòng họ mà bước vào sự nghiệp hòa đồng của dân tộc, vì sự nghiệp chung của dân tộc

Các vua Lý có quan hệ gần gũi với nhân dân, coi trăm họ trong bốn biển như con đỏ, chăm lo tới cuộc sống của dân, xót xa khi thấy dân khổ, vỗ về khi lòng dân không yên Các vua Lý đều có lệ thân chinh đi làm lễ cày ruộng tịch điền, xem dân chúng sản xuất, kinh lý nắm bắt tình hình cuộc sống của dân Trong những năm lũ lụt, hạn hán mất mùa nhà nước đều thực hiện cấp thóc gạo, tiền, lụa, giảm, xóa thuế cho dân chúng Năm 1010, sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ đại xá thuế khóa cho thiên hạ trong ba năm, những người già yếu, mồ côi, góa chồng thì được xóa thuế nợ Dường như lòng nhân ái của các vua quan triều Lý đã vượt ra khỏi danh giới giai cấp, địa vị xã hội, vượt qua không gian, xuyên suốt thời gian tồn tại của vương triều Thật cảm động khi Lý Thánh Tông thương xót và đồng cảm với nỗi khổ của những tù nhân trong mùa đông lạnh giá mùa đông năm Ất Mùi 1055, trời giá rét Lý Thánh Tông nói với các quan rằng ta ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét như thế này Ta nghĩ đến tù nhân bị nhốt trong lao tù, chịu trói buộc khổ sở, mà chưa biết phải trái ra sao Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân Vì gió rét, nên có kẻ chết không nơi nương tựa Ta thật thấy làm thương Ngay sau đó vua sai người mang chăn, chiếu cùng với hai bữa cơm mỗi ngày cho phạm nhân Vua Lý Nhân Tông thường hay mở hội Phật và tha cho những người có tội, còn

Lý Thần Tông thì không có việc gì cũng tha bổng cho những người mắc tội… Lòng nhân ái, thương người của các vua Lý không chỉ đối với nhân dân Đại Việt mà còn cả với những tù binh Chiêm Thành Năm 1010, Lý Thái Tổ đã tha cho 28 người Chiêm Thành bị Lê Ngọa Triều bắt trước đó Không những thế vua Lý còn sai người cấp thuốc men, quần áo, lương thực để họ trở về quê

Trang 35

31

hương Luật pháp là công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ trước hết là quyền lợi của họ Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đạo Phật, luật pháp triều Lý chứa đựng những nhân tố rất tiến bộ trong đó nổi bật là tinh thần nhân ái,

khoan dung đối với nhân dân, bảo vệ, chăm lo tới cuộc sống của dân “Yêu dân

như con” là đạo trị nước của triều Lý cho nên Tư tưởng nhân ái, từ bi của đạo

Phật hòa quyện với truyền thống “thương người như thể thương thân” của dân

tộc Việt Nam đã tạo nên cái tâm trị nước của triều Lý

Đến thời Trần các Tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ Năm 1284, trước thế xâm lăng

vũ bão của quân Nguyên, Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng Tới dự hội nghị không phải là các vương tôn công thần mà là các bô lão đáng kính trong dân gian Vua Nhân Tông khi đi ngoài đường gặp gia nhân các vương thần thì hay dừng lại để hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ Vua nói: “Lúc thái bình nhờ có thị vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm hoạn nạn, thì chính những người gia nhân ấy đi theo bảo vệ”

Nếu Nho giáo lấy “Vua thánh Tôi hiền” làm chuẩn mực cho một xã hội

lý tưởng,đạo đức thì Phật giáo tâm niệm sống từ bi, đạo hạnh theo Phật giáo

là chuẩn mực đạo đức cao nhất Một ông vua lý tưởng theo quan niệm của Phật giáo hầu như mang những đặc điểm, cốt cách của một ông Phật từ bi Theo đó, trong quan niệm của người Việt, một nhà cầm quyền muốn đem lại hạnh phúc thật sự cho nhân dân, cần thiết phải có tinh thần vô ngã, “tự giác giác tha” Có quên mình thì từ vị trí cao nhất trong xã hội, những người cai trị đất nước mới có thể thấu hiểu chân thực cuộc sống của dân chúng, thông cảm với nỗi vất vả, khó khăn của nhân dân… Và chính điều này thể hiện sâu sắc vai trò của Phật giáo trong việc giáo dục, đào tạo nên những con người có tài năng, phẩm chất đạo đức cho đất nước Nhờ đó mà với những nhà chính trị có

Trang 36

sự dân thì phải lấy cái muốn của dân làm của mình, phải lấy ý của dân làm của mình, trong khi đó không xao nhãng việc tu học của bản thân” Trần Thái Tông nói rằng: nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật trong xã hội (Giáo lý của đạo Phật chúng ta cần phải có các bậc tiên thánh để thực hiện trên đời - tựa Thiền Tông Chỉ Nam) Tuệ Trung “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm” (Thượng Sĩ Hành Trạng - Trúc Lâm ) Nhân Tông đi khắp thôn quê, phá trừ dâm tà, khuyên dân thực hành Thập Thiện Những tự viện trên núi tổ chức ẩn cư và kết hạ nhưng vẫn có liên hệ đến đời sống văn hóa, xã hội và chính trị quốc gia

Về phương diện văn hóa, Ưu điểm lớn nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan dung và tự do Phật Giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích Nho Giáo và Lão Giáo Phật Giáo đã để cho Nho Giáo và Lão Giáo tự do phát triển Chính các đặc tính khoan dung và mềm dẻo của phật giáo mà vua quan cùng dân chúng đã đồng tâm cộng tác trong chống ngoại xâm và xây dựng đất nước

Tuy nhiên, Phật giáo bị hạn chế từ cuối thế kỷ XIV, đến đầu thế kỷ

XV thì suy yếu Uy thế của Phật giáo bị đả kích nặng nề, trong giới thượng lưu có nhiều người từ bỏ Tuy nhiên Phật giáo vẫn duy trì ở nông thôn, vẫn dựa vào làng xã

Đạo lý Phật giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ và lớn nhất thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn người Việt là giáo lý từ, bi, hỉ, xả, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh, Điều này càng được thể hiện rõ trong con người và tư tưởng của Nguyễn Trãi Có thể nói, Nguyễn Trãi đã khéo vận dụng đạo lý

Trang 37

họ hiểu như là nỗi khổ do sự thống trị của ngoại bang, do áp bức bóc lột,

do đời sống nghèo nàn lạc hậu, do những rủi ro không ngớt, Giải thoát trong quan niệm nhà Phật được họ hiểu như là giải thoát mọi sự khổ đau của trần tục Trong suy nghĩ, người dân không có thói quen tách bạch rõ ràng Theo Phật với họ là để tìm lối thoát Phật giáo lúc bấy giờ có vai trò nhất định: giáo lý của nhà Phật với các lý tưởng vươn tới: Niết bàn, Tịnh Thổ, Tây Phương ;các nguyên tắc từ bi, nhẫn nhục ; các giới luật: không sát sinh, không tà dâm, không nói bậy ; các lời khuyên: giới, định, tuệ, thực sự đã phát huy tác dụng trong xã hội còn nghèo nàn, còn nhiều lỗi bất công, còn chưa có ánh sáng của khoa học dọi tới Nó củng cố niềm tin vào điều thiện, nó điều hòa các hành vi, nó giữ thế cân bằng trong một

xã hội ít biến động, nó đảm bảo cục diện xã hội được tương đối thanh bình, yên ổn Nhờ đó rối loạn ít xảy ra, và nếu xảy ra thì cũng nhanh chóng được giải quyết

Cùng với dân tộc, cùng với lịch sử, Nguyễn Trãi đã biết chọn lọc để tiếp thu những giá trị tinh hoa của văn hóa, văn minh nhân loại để làm nên những giá trị lịch sử cho dân tộc Việt

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Sinh ra trong một gia đình tri thức, được sống trong nền giáo dục Nho học và nền văn hóa sâu đậm của dân tộc, Nguyễn Trãi đã học tập ở người cha đáng kính, người ông nhân từ, hiền hậu những kiến thức sâu rộng, tâm hồn cao đẹp hết lòng vì nước vì dân Với sự thông minh và được giáo dục tốt, cộng thêm đức tính cần cù quyết tâm dùi mài kinh sử, Nguyễn Trãi cũng đã tiếp thu được tư tưởng uyên bác của các nhà Nho trong lịch sử và đương thời,

Trang 38

34

rèn luyện ý chí cũng như lòng tự hào dân tộc, yêu nước thương dân Đây cũng

là một yếu tố góp phần hình thành nên tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

Thân thế của Nguyễn Trãi

Trong số những nhà tư tưởng yêu nước của đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi

là người xuất sắc nhất Tên tuổi của ông sáng chói trên cuốn sử vàng của dân tộc Có được vị trí này không những là do cuộc đời, đức độ và ý thức vì dân

vì nước của ông, mà quan trọng hơn là do tư tưởng của ông đạt tới tầm cao của thời đại, ông đã khái quát lên được, chỉ ra được tầm quan trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy của dân tộc lên trình

độ mới Những lý luận của ông vừa có ý nghĩa đối với đương thời, vừa có tác

dụng sâu xa về sau

Về bên nội, cha đẻ của Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh vốn là một người giỏi thơ văn và có tấm lòng “ái quốc ưu dân”, sâu nặng Tuy chưa được trọng dụng dưới triều Trần nhưng bảy năm làm quan ở triều Hồ cũng cho ông phần nào được thỏa chí làm việc cho dân cho nước Đặc biệt Nguyễn Phi Khanh có ảnh hưởng lớn đến người con thiên tài của mình là Nguyễn Trãi – người đã làm nên sự nghiệp cứu dân cứu nước vẻ vang, rạng ngời không chỉ cho dòng họ mà còn cho cả dân tộc Khi quân nhà

Hồ bị nhà Minh đánh bại, cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt có Nguyễn Phi Khanh Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng đến chỗ quân Minh giam giữ tù binh để tìm cha, rồi hai anh em theo đoàn xe tù lên ải Nam Quan, với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù Nguyễn Phi Khanh biết rằng ông đi chuyến này không bao giờ được về Tổ quốc nữa, cho nên nhân khi vắng người, ông nói với Nguyễn Trãi: “Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha Như thế mới là hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?”[66; 20]

Trang 39

35

Chính lời dặn của cha và truyền thống yêu nước của dòng họ đã hình thành tư tưởng ái ưu, trung hiếu, hết lòng vì dân vì nước của Nguyễn Trãi Bên ngoại Nguyễn Trãi là dòng họ quý tộc Trần Ông ngoại của ông chính là Trần Nguyên Đán – một tôn thất nhà Trần, cháu bốn đời của Chiêu minh đại vương Trần Quang Khải – con trai thứ của Trần Thái Tông, người sáng lập nhà Trần Và tới triều vua Trần Duệ Tông ông đã làm tới chức tể tướng Trần Nguyên Đán có con gái lớn là Trần Thị Thái Vì rất yêu quý tài năng của Nguyễn Phi khanh, ông đã gả con gái cho Nguyễn Phi Khanh Trần Nguyên Đán vốn dòng tôn thất nên được làm quan từ sớm, lại góp công dẹp giặc Dương Nhật Lễ; khôi phục đại đế nghiệp nhà Trần nên được trao cho chức Tư đồ phụ chính, ban tước Chương Túc Quốc thượng hầu Khi vua cả tin nghe theo Hồ Quý Ly, ông can gián không được, bèn từ chức về ở ẩn tại Côn Sơn, được 5 năm thì mất Trần Nguyên Đán là một vị quan hết lòng yêu nước thương dân, đặc biệt trong hoàn cảnh triều Trần suy vi

Như vậy cả bên nội và bên ngoại Nguyễn Trãi đều là những dòng họ lớn

có truyền thống yêu nước thương dân sâu sắc Và đây chính là điểm có ảnh hưởng sâu đậm nhất trong tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Trãi

Sự nghiệp Nguyễn Trãi

Mười lăm năm kể từ khi Nguyễn Trãi về ở cùng với cha tại Nhị Khuê, được thân phụ rèn cặp trong hoàn cảnh vô cùng chật vật khó khăn do chiến tranh tàn phá, kinh tế đình đốn, xã hội loạn lạc nhưng Nguyễn Trãi quyết chí học hành Tháng 8 năm Canh Thìn 1400, nhà Hồ mở khoa thi Thái học sinh đầu tiên ở kinh thành Tây Đô, Nguyễn Trãi đã ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) Lúc đó ông tròn 20 tuổi và được bổ làm quan trong Ngự sử đài với chức Chánh Chưởng Nguyễn Trãi đã cùng với cha ra làm quan cho Hồ với một hoài bão cao cả là đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân theo lý tưởng nhà Nho Hai cha con giúp Hồ Quý Ly thi hành chính sách cải cách kinh tế,

Trang 40

Năm 1417, thấy được sự dịch chuyển thế cục, Nguyễn Trãi đã từ bỏ lập trường giai cấp quý tộc để đến giai cấp bình dân tham gia vào phong trào khởi nghĩa Lam Sơn Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách” để vạch chiến thuật đánh giặc Minh lên cho Lê Lợi Nhận thấy tài thao lược của Nguyễn Trãi, Lê Lợi rất tin dùng, trọng dụng ông và phong cho ông chức “Tuyên phụng đại phu hàn lâm thừa chỉ” luôn cùng ông bàn tính mưu kế đánh giặc

Nhờ đường lối đúng đắn, đoàn kết được nhân dân, sau mười năm kháng chiến, khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Chiến thắng Lam Sơn, có phần đóng góp không nhỏ của Nguyễn Trãi với tư cách là khai quốc công thần, là quân

sư trên mặt trận đấu tranh chính trị, ngoại giao Kháng chiến thắng lợi, Nguyễn Trãi được Lê Thái Tổ ban thưởng và giao cho giữ chức “nhập nội hành khiển” kiêm “Thượng thư bộ Lại” Trong khoảng này, dưới triều Lê, Nguyễn Trãi được giao soạn nhiều chiếu biểu thay vua Lê Thái Tổ Đến thời vua Lê Thái Tông, cuộc đấu tranh trong nội bộ triều Lê đã dẫn đến vụ án Lệ Chi Viên Án chu di tam tộc đã đặt dấu chấm hết cuộc đời và phủ nhận công

Ngày đăng: 09/12/2020, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w