62 2.3 Một số giải pháp chủ yếu để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tư tưởng Đức trị trong Nho giáo Khổng – Mạnh đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG ĐỨC TRỊ CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH 9
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng Đức trị 9
1.2 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh 16
1.3 Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh 38
Chương 2: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG ĐỨC TRỊ TRONG NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 43
2.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay 43
2.2 Những yếu tố tích cực và tiêu cực của Đức trị trong Nho giáo Khổng – Mạnh đối với việc xây dựng đạo đức mới 62
2.3 Một số giải pháp chủ yếu để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tư tưởng Đức trị trong Nho giáo Khổng – Mạnh đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay 69
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là hệ thống tư tưởng đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt hiện thực của đời sống xã hội và con người Trong hệ thống Nho giáo bao gồm nhiều học thuyết, nhiều tư tưởng, nhiều nội dung: triết học, chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục…Những tư tưởng, những nội dung này đan xen, xâm nhập vào nhau trong một hệ thống tương đối hoàn chỉnh Trong đó, học thuyết đạo đức nói chung và tư tưởng Đức trị nói riêng được coi là hạt nhân của Nho giáo nói chung và Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng - giai đoạn đầu trong lịch sử Nho giáo Trung Quốc
Tư tưởng đức trị trong học thuyết Nho giáo là một trong những thành tựu lớn trong kho tàng tư tưởng của Trung quốc cổ đại nói riêng, nhân loại nói chung Hơn 2000 năm qua, tư tưởng đức trị không những chỉ chi phối đời sống chính trị, đạo đức, văn hóa của đất nước Trung Hoa mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều quốc gia trong khu vực Nhiều quan điểm của tư tưởng Đức trị đã dần trở thành tập quán, phong tục truyền thống và có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng, văn hóa Do vậy, nó góp phần tạo nên truyền thống văn hóa Á Đông, trong
đó có Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập với thế giới và khu vực hiện nay, nước ta chủ động chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu với bên ngoài Vì vậy, ngoài nhiệm vụ phát triển kinh tế, vấn đề giao lưu về mọi mặt, trong đó giao lưu về văn hóa đóng một vai trò quan trọng Muốn thế, chúng ta một mặt, phải ra sức học tập, tiếp thu kho tàng tri thức hiện đại của nhân loại để tiến kịp với trình độ phát triển của thế giới, mặt khác, phải giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc
Trang 3Có thể nói, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong hơn hai thập kỷ qua đã đạt được nhiều thành quả to lớn Nhân dân ta đang tiếp tục phấn đấu nhằm đưa đất nước tiến nhanh vào thời kỳ phát triển mới Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn rất nhiều thử thách Thực tiễn đòi hỏi cả xã hội, từng gia đình, mỗi cá nhân phải nâng cao hơn nữa ý chí cách mạng, tiếp tục đổi mới tư duy; sáng tạo, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn do tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh những thành quả đã đạt được, trong cán bộ và nhân dân lại xuất hiện những biểu hiện tiêu cực trong cả nhận thức, tình cảm và hành động Tư tưởng thực dụng chạy theo đồng tiền bằng mọi giá làm cho một số người xa rời lý tưởng cộng sản, suy thoái phẩm chất đạo đức cách mạng Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính, tệ nạn xã hội phát triển nhanh chóng, nghiêm trọng và đều khắp trên phạm vi toàn quốc, tác động xấu đến sinh hoạt xã hội, đến sự phát triển Nhiều hiện tượng tiêu cực của xã hội, đạo đức nhân luân bị xuống cấp, bị xói mòn; kỷ cương, nề nếp từ trong gia đình đến ngoài xã hội không còn được tôn trọng Trước tình hình này, một số người cảm thấy luyến tiếc quá khứ, hoài niệm xã hội cũ khi Nho giáo còn thống trị trong đời sống xã hội, khi cha còn ra cha, con còn ra con, thầy còn ra thầy, trò còn ra trò, trường còn ra trường, lớp còn ra lớp; mọi người sống chan hòa tình cảm, luôn lo lắng cho nhau Họ mong “Bao giờ cho đến ngày xưa” Trong những chủ trương, biện pháp nhằm khắc phục tình trạng nói trên, đồng thời với sự đề cao vai trò của nhà nước pháp quyền trong tổ chức, quản lý, điều hành mọi mặt của xã hội, vấn đề thiết lập, xây dựng một bảng giá trị đạo đức xã hội,… nhằm đáp ứng được đòi hỏi của thời đại là một nhiệm vụ bức xúc Để xây dựng những nguyên tắc đạo đức xã hội, tất nhiên phải xuất phát
từ nhiệm vụ lịch sử, những tiền đề vật chất kỹ thuật, trình độ văn hóa hiện có của dân tộc Song, không thể không lưu tâm đến ảnh hưởng của truyền thống,
Trang 4phong tục tập quán từ quá khứ để lại Chúng ta đang xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa, một chế độ xã hội khác hẳn về chất so với các chế độ xã hội từng tồn tại ở nước ta Lý tưởng của người cộng sản hoàn toàn khác, thậm chí đối lập với mục tiêu của giai cấp phong kiến, nhà tư bản Vậy, liệu những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo đã được hình thành, tồn tại, ăn sâu và gắn chặt vào sinh hoạt của nhân dân hàng nghìn năm đến mức có nhiều người tự coi là đã
rũ sạch ảnh hưởng của Nho giáo, sẽ có giá trị như thế nào trong việc góp phần hình thành các giá trị đạo đức mới Liệu có thể kế thừa giá trị đạo đức của Nho giáo được không? Đây là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu xã hội ở nước ta quan tâm Theo chúng tôi, ảnh hưởng của tư tưởng đức trị của Nho giáo xét ở khía cạnh đạo đức đang là có tính vấn đề thời sự ở nước
ta Cần có sự đầu tư để đưa ra các kết luận khoa học
Việc nghiên cứu nội dung tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng –
Mạnh và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay sẽ cung cấp và luận chứng cho việc tiếp thu, kế thừa những yếu tố tích cực của nó để góp phần xây dựng nền đạo đức mới, hoàn thiện đạo đức con người và xã hội nhằm phát huy nội lực của con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước một cách vững chắc, tiến cùng thời đại,… đồng thời phê phán và khắc phục những biểu hiện tiêu cực của nó trong xã hội hiện nay Để góp phần vào việc tìm hiểu vấn đề đang cần được
nghiên cứu sâu rộng hơn này, tác giả lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Đức trị của
Nho giáo Khổng – Mạnh và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức
xã hội ở nước ta hiện nay” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Như chúng ta đã biết, tư tưởng Nho giáo về “Đức trị” là một đề tài thu hút được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và phương pháp tiếp cận khác nhau
Trang 5Trước hết là các công trình đi sâu vào nghiên cứu từng lĩnh vực hay
từng phạm trù cụ thể trong học thuyết Nho giáo Các tác giả đi theo hướng này thường đề cập đến các tư tưởng của Nho giáo về giáo dục, luân lý, đạo đức và vai trò của nó đối với xã hội và con người, trong đó đặc biệt chú ý đến các phạm trù Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín,…Có thể kể đến những công trình
nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Trong “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)”
của Nguyễn Thanh Bình, tác giả đã nghiên cứu Nho giáo chủ yếu với tư cách
là một học thuyết chính trị - xã hội, được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận và sử dụng làm hệ tư tưởng, công cụ cai trị và quản lý xã hội, trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị, thực tiễn đặt ra cho các triều đại phong kiến và dân tộc Tác giả cho rằng, học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo là căn cứ chủ yếu để hình thành đường lối Đức trị, xây dựng và thực thi pháp luật, kiến tạo và triển khai nền giáo dục - khoa cử Nho học Các cuốn
sách như: “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm; “Nho giáo và đạo đức” của Vũ Khiêu, “Nho học ở Việt Nam” và “Khổng Tử” của Nguyễn Hiến Lê,
“Đến hiện đại từ truyền thống” của Trần Đình Hượu, đã đề cập đến nội dung
cũng như vai trò của tư tưởng Đức trị với tư cách là điểm xuất phát, bản chất
của Nho giáo Đặc biệt, trong cuốn sách “Đức trị và Pháp trị trong Nho giáo”, Giáo sư Vũ Khiêu đã trình bày sự thống nhất biện chứng giữa Đức trị
và Pháp trị trong hệ tư tưởng Nho giáo, coi chúng như hai mặt của một vấn
đề Tác giả đã chú ý đến nội dung và ảnh hưởng của Đức trị trong đời sống của nhân dân, nhưng phần cơ sở lý luận, triết lý hầu như ít được đề cập
Thứ hai là những bài viết, bài tham luận trong một số hội nghị, hội thảo
quốc tế về Nho giáo tiêu biểu trong và ngoài nước như: Hội thảo Quốc tế lần thứ I về Nho giáo được tổ chức ở Nhật Bản (10/1987) Hội nghị tương tự đã diễn ra ở Trung quốc (8/1993) Trong hai hội nghị này, các tham luận đều khẳng định giá trị của Nho giáo trong nền văn hóa thế giới và đặc biệt thừa
Trang 6nhận vai trò to lớn của nó trong sự tiến hóa hiện nay của các quốc gia thuộc khu vực Đông Á Hai cuộc hội thảo (11/2003 tại Tứ Xuyên và 10/ 2006 tại Hà
Nam, Trung Quốc) đã được tổ chức với chủ đề “Luận bàn luân lý Nho gia và giáo dục đạo đức công dân khu vực Đông Á” - đã nghiên cứu sâu hơn nội
dung đạo đức Nho gia và vấn đề phát huy những giá trị của lý luận đạo đức
đó trong việc xây dựng đạo đức công dân ở giai đoạn hiện tại Ở Việt Nam cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế, đáng chú ý là: Năm 2004, một
cuộc hội thảo với chủ đề “Nho giáo ở Việt Nam” được diễn ra với sự tham dự
của nhiều học giả đến từ các nước Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Đài Loan,
Singapore Tháng 6 năm 2009, Hội thảo “Nho giáo Việt Nam và Văn hóa
Đông Á” đã thu hút nhiều chuyên gia đến từ các viện chuyên ngành thuộc
Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn – Triết thuộc Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Loan và Đại học Quốc gia Đài Loan Hội thảo đã thảo luận
và đi sâu phân tích những vấn đề lý luận chung về nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam dưới những góc độ khác nhau Trong đó, Hội thảo khẳng định, Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc và vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng trong xã hội hiện nay như coi trọng đạo đức, coi trọng giáo dục…Việc tiếp tục nghiên cứu Nho giáo nhằm khai thác những nhân tố tích cực và gạt bỏ những nhân tố tiêu cực là việc làm thiết thực
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, liên quan đến đề tài luận văn,
còn có nhiều luận án, luận văn và các bài viết trên nhiều tạp chí như “Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng”, “Tư tưởng về “Đạo trị nước” ở các nhà Nho Việt Nam”, “Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức Cộng sản” của Nguyễn Thanh Bình; “Từ đạo hiếu truyền
thống, nghĩ về đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị Thọ, “Tìm hiểu tư tưởng
đức trị trong Nho giáo” của Nguyễn Thế Kiệt, “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” của Nguyễn Đình Tường, “Tiêu chuẩn đạo đức của người
Trang 7cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay” của Trần Văn Phòng, “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay” của
Nguyễn Văn Lý, v.v
Nhìn chung, các công trình trên đều đi sâu vào nghiên cứu một cách khái quát, có hệ thống tư tưởng Đức trị của Nho giáo với các góc độ, mục
đích nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng Đức trị của
Nho giáo Khổng - Mạnh và đặc biệt là ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay chưa được nghiên cứu nhiều và nghiên cứu một cách có hệ thống và đánh giá một cách toàn diện Vì vậy, với khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ khoa học Triết học, chúng tôi thấy cần phải trình bày một cách có hệ thống và làm sáng tỏ một số nội dung chủ yếu của tư tưởng Đức trị Nho giáo Khổng – Mạnh và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung tư tưởng Đức trị trong Nho giáo Khổng – Mạnh, luận văn chỉ ra, đánh giá mặt tích cực, hạn chế cơ bản và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị của Nho
giáo Khổng – Mạnh
Thứ hai, phân tích những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng Đức
trị của Nho giáo Khổng – Mạnh, từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những giá trị
và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng Đức trị trong Nho giáo
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh và ý nghĩa của nó đối
với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Những quan điểm, quan niệm, luận điểm chủ yếu trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo thời Tiên Tần (chủ yếu tập trung vào tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử) và ảnh hưởng của nó trong việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên những quan điểm chủ yếu của triết học và đạo đức học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức, về con người và về xã hội; đồng thời có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, phương pháp lịch sử - cụ thể, đối chiếu, so sánh để trình bày những vấn đề đặt ra trong luận văn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh cũng như ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay Ngoài ra, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu lịch sử Nho giáo nói riêng và lịch
sử triết học phương Đông nói chung
Trang 97 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Bối cảnh ra đời và những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng-Mạnh, với 3 tiết
Chương 2: Ý nghĩa tư tưởng Đức trị trong Nho giáo Khổng-Mạnh đối với việc xây dựng đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay,với 3 tiết
Trang 10Chương 1 BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ
TƯỞNG ĐỨC TRỊ CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng Đức trị
Nho giáo với tính cách là một hệ thống xuất hiện ở Trung Quốc từ thời
Cổ đại do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập ra và sau đó được nhiều thế
hệ nhà Nho tiếp thu và phát triển
Xuân Thu và Chiến Quốc là hai thời kỳ lịch sử của xã hội Đông Chu Xét về niên đại, thời kỳ Xuân Thu được bắt đầu từ năm 772 đến năm 480 TCN và thời Chiến Quốc bắt đầu từ năm 479 đến năm 220 TCN
Theo nhiều tài liệu lịch sử, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển qua các triều đại nhà Hạ, Thương và đến cuối thời kỳ Tây Chu thì bắt đầu khủng hoảng và ngày càng suy tàn hơn Từ đây, xã hội Trung Quốc bắt đầu bước vào thời đế chế mà lịch sử vẫn gọi là thời Xuân Thu – Chiến Quốc Có thể xem đây là giai đoạn giao thời giữa hai chế độ nô lệ thị tộc và phong kiến, và cũng là giai đoạn mà những giá trị về tư tưởng và đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, những giá trị đạo đức mới đang hình thành, phát triển Chính vì thế, đã tạo ra sự biến đổi toàn diện và sâu sắc trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…
1.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định và phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định C.Mác cho rằng: “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [46, tr.15] Tư tưởng trị nước của mỗi thời đại bao giờ cũng phản ánh những dấu ấn của thời đại đó Với tính cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, một hình thái ý thức xã hội, Nho giáo (trong đó có tư tưởng Đức trị) cũng nảy sinh, tồn tại trên một cơ sở hạ
Trang 11Trên lĩnh vực kinh tế:
Xã hội Trung Quốc đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc, công cụ lao động chuyển từ thời đại đồ đồng sang công cụ bằng sắt đã xuất hiện, đưa lực lượng sản xuất lên trình độ cao hơn Vào thời kỳ này, với việc chế tạo những phát minh, sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ
và kỹ thuật sản xuất trong nông nghiệp Có thể nói, điều này đã đánh dấu sự thay đổi vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc Nếu như trước đây, tư liệu sản xuất (trong đó có ruộng đất) đều nằm thuộc quyền sở hữu của nhà Chu thì giai đoạn này đã có sự thay đổi, đó là việc biến ruộng đất của công thành ruộng đất của tư ngày càng nhiều dẫn đến sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” Về sau, pháp luật đã có sự thay đổi, đó là việc công nhận sự tồn tại của chế độ tư hữu ruộng đất Việc thay thế công cụ bằng đồng sang sử dụng công cụ bằng sắt lúc này ngày càng trở nên phổ biến và sự mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động trong nền sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn, rất nhiều ngành nghề đã được mở ra như nghề rèn, nghề mộc, nghề đúc…Điều này đã tạo nên sự cách biệt giữa những người làm nông nghiệp ở vùng nông thôn với những người làm nghề buôn bán ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những người làm nghề buôn bán
ở khu vực thành thị, bắt đầu có sự phân hóa giữa tầng lớp quý tộc với những người được coi là hèn mọn, tiểu nhân trong xã hội
Trên cơ sở phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước, tiền tệ đã xuất hiện Đây là thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp Trong thời kỳ này, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều thành thị thương nghiệp buôn bán, xuất nhập nhộn nhịp ở các nước Hán, Tề, Tần, Sở Thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi thành thị, thị tộc của quý tộc và dần trở thành những đơn vị, khu vực kinh tế của tầng lớp địa chủ mới lên
Trang 12Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến
các mặt của lĩnh vực chính trị - xã hội Nó làm xuất hiện một cục diện mới
trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đó là tình trạng các nước chư hầu nổi lên lấn át địa vị và quyền lực của nhà Chu Sự phát triển của sức sản xuất, kinh tế phát triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nhiều tầng lớp mới xuất hiện và ngày càng khẳng định vị trí của mình Mới, cũ cùng đan xen tồn tại Mỗi tầng lớp luôn đại diện cho những lợi ích riêng của mình Do đó, những mâu thuẫn giữa các giai tầng được hình thành và ngày càng phát triển, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị thống trị khác Nếu như, vào đầu thời Chu, “Đất đai và thần dân ở khắp dưới gầm trời này không đâu không phải là sở hữu của nhà vua” (Kinh thi) thì nay, cái quyền sở hữu tối cao (về đất và dân) ấy đã bị một tầng lớp người mới lên có sức mạnh kinh tế tấn công và chiếm lấy làm tư hữu Tầng lớp quý tộc, thị tộc – cơ sở xã hội của nhà Chu - do bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng
sa sút, vì vậy mà đương nhiên, địa vị và vai trò chính trị cùng ngôi thiên tử của nhà Chu ngày càng suy giảm và trên thực tế chỉ còn là hình thức Các nước chư hầu của nhà Chu không những không chịu phục tùng vương mệnh, không chịu cống nạp mà còn phát động chiến tranh thôn tính lẫn nhau, luôn tự xưng và tự cho mình là bá chủ thiên hạ Trong Sử ký, Tư Mã Thiên miêu tả
thời kỳ này là thời đại “vương đạo suy vi”, “bá đạo” cường thịnh, lấn át
Trang 13(Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống, Ngô, Việt) Chiến tranh càng dai dẳng và khốc liệt, nhân dân càng gánh chịu nhiều tổn thất Đời sống vốn đã cơ cực ngày càng lâm vào bế tắc “hỏi trời xanh thăm thẳm, bao giờ chúng tôi mới có được một nơi thái bình – Du du thượng thiên, hạt kỳ hữu sở” [54, tr.529] “biết ta như thế này, thà đừng sinh ra – tri ngã như thử, bất như vô sinh” [54, tr.1316] Thực chất, sự xuất hiện những tầng lớp mới, những mâu thuẫn về lợi ích giai cấp, những cuộc chiến tranh tàn bạo và quyết liệt nêu trên là những biểu hiện về mặt xã hội mang tính tất yếu khách quan của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc đại diện cho phương thức sản xuất cũ đã lỗi thời để giải phóng lực lượng sản xuất, tiến nhập vào xã hội phong kiến phân quyền đại diện cho phương thức sản xuất mới mới manh nha
Trong bối cảnh đó, luân lý, đạo đức xã hội rơi vào tình trạng băng hoại, khủng hoảng sâu sắc Mọi giá trị, chuẩn mực, đạo đức bị đảo lộn, trật tự, kỷ cương xã hội ngày thêm rối loạn, thiết chế chính trị, lễ nghĩa nhà Chu bị vi phạm và phá hoại nghiêm trọng Đây được coi là thời kỳ “Lễ hoại nhạc tan”, cảnh bề tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng bất hòa, chia lìa thường xuyên xảy ra, Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cương thường của
xã hội bị đảo lộn, các mối quan hệ giữa con người với con người bị biến dạng Cho đến thời điểm này thì cảnh chia ly không chỉ dừng lại trong gia đình mà đến cả đất nước vì “ngũ luân” không còn được coi trọng như trước nữa Khi nhận định về vấn đề này, Khổng Tử cho rằng, sự biến đổi của trật tự lễ nghĩa
nhà Chu đã diễn ra từ rất lâu chứ không phải là mới bắt đầu Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói về thời kỳ này rằng, “Thiên hạ loạn lạc như nước chảy
cuồn cuộn, khắp nơi đều như thế, còn mong cùng người nào làm thay đổi đây?” [14, tr.646]
Trong khi chế độ tông pháp đã tỏ ra quá lạc hậu với thời đại như vậy, thì những cơ sở cho sự định hình thể chế của xã hội mới lại chỉ mới manh nha Giữa cái cũ và cái mới, không cái nào đủ sức đại diện chân chính cho lịch sử
Trang 14Bị trói buộc trong trạng thái “giao thời” đó, các chuẩn mực, giá trị xã hội hầu như không được định hình
Xã hội Trung Quốc vào thời kỳ này trở nên hết sức rối ren, chiến tranh, thiên tai, lũ lụt… thường xuyên xảy ra, một bên là sự khốn cùng của tầng lớp lao động nghèo với một bên là sự giàu có của tầng lớp phong hầu kiến địa Nhân dân thường xuyên phải sống trong cảnh đói rét, khổ đau Trong khi đó, thế lực cầm quyền luôn tìm cách để gây thanh thế, cho nên thường xuyên diễn
ra các cuộc chiến tranh
Dường như, trong tiếng kêu than của tầng lớp nhân dân lao động nghèo
đó đã tiếp thêm sức mạnh cho nhiều nhà tư tưởng cùng với những học thuyết của mình ra đời với mong muốn sẽ đưa họ thoát khỏi kiếp trâu ngựa, xây dựng một đất nước thái bình, thịnh trị như mong muốn, khát khao của rất nhiều người
Trước thực trạng xã hội như vậy, đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp bách là phải thiết lập một hệ thống tư tưởng cũng như những nguyên tắc đạo đức, luân lý mới phù hợp với yêu cầu của thời đại để đưa xã hội tiến lên Do vậy, trong các nước thường xuất hiện những trung tâm, hay tụ điểm tập trung những “kẻ sĩ bàn ngang”, chuyên “bàn việc nước” Nhìn chung, họ đều đứng trên lập trường giai cấp của mình để phê phán xã hội cũ, đề ra mô hình và biện pháp xây dựng xã hội tương lai tốt đẹp Vì vậy, xuất hiện rất nhiều quan điểm, chính sách, chủ trương xã hội Lịch sử gọi đây là thời kỳ
“bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách gia tranh minh” (trăm nhà
đua tiếng) Từ đây đã sản sinh hàng loạt những nhà tư tưởng, những nhà chính trị suất sắc và hình thành nhiều tư tưởng triết học, chính trị - xã hội khá hoàn chỉnh như Nho giáo, Đạo gia, Pháp gia, Mặc gia,…Trong số “bách gia” xuất hiện thời Tiên Tần ở Trung Quốc thì Nho giáo là một trong những học thuyết
có sức sống lâu dài nhất Hơn 2000 năm, chế độ phong kiến Trung Quốc, đã trải qua bao triều đại khác nhau, bao biến động, thăng trầm của xã hội nhưng
Trang 15địa vị thống trị của Nho giáo trong thượng tầng kiến trúc vẫn được giữ vững Khác với các học thuyết, giáo phái khác, Nho giáo đặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức là công cụ, là phương thức cai trị, quản lý xã hội có hiệu quả nhất cũng như trong việc đưa xã hội từ “loạn” tới “trị” Các triều đại phong kiến Trung Quốc xem Khổng Tử là người thầy của muôn đời (Vạn thế sư biểu)
Khổng Tử cho rằng: xã hội loạn lạc là bởi con người “vô đạo”, cần đưa con người trở về “hữu đạo” bằng con đường giáo hóa “Đức trị” là một trong
những phạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo để giáo hóa con người góp phần ổn định trật tự xã hội Nối tiếp tinh thần trên, các nhà Nho đời sau như Mạnh Tử, Tuân Tử tiếp tục bổ sung và củng cố luận điểm đó của Khổng Tử Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thì vẫn chưa đủ cơ sở để giải thích sự hình thành tư tưởng Đức trị của nho giáo Khổng – Mạnh Vì cũng xuất phát từ cùng những tiền đề ấy lại đã nảy sinh nhiều quan điểm khác về chính trị - xã hội khác như chủ trương “vô vi nhi trị” của phái Lão Trang, “kiêm ái” của phái Mặc Tử, “pháp trị” của Hàn Phi Bên cạnh những điều kiện kinh tế - xã hội đã đề cập, nổi lên vai trò rất quan trọng của các tiền đề tư tưởng và sự tiếp thu các tiền đề ấy ở từng chủ trương trị nước trong tình hình mới của lịch sử Trong phạm vi của đề tài, luận văn sẽ trình bày những tư tưởng chính trị, đạo đức, tôn giáo của Trung quốc cổ đại
có ảnh hưởng đến việc Khổng Tử hình thành và hoàn thiện tư tưởng Đức trị
sau này
1.1.2 Tiền đề tư tưởng
Tư tưởng Đức trị của nho giáo Khổng – Mạnh là sự kế thừa và tiếp thu những yếu tố, tính chất trong tư tưởng chính trị, đạo đức, tôn giáo của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, nhất là dưới thời nhà Chu
Về tôn giáo: Như triết học Mác – Lênin đã chỉ rõ, tôn giáo hay tư tưởng
tôn giáo với tính chất duy tâm thần bí của nó luôn được giai cấp thống trị lợi dụng và sử dụng như là một trong những công cụ, phương tiện cần thiết để
Trang 16giai cấp thống trị, cũng như trong việc kiến tạo và duy trì cái xã hội luôn trong
“vòng trật tự” có lợi cho chúng Chế độ nhà Chu cũng vậy, nhằm những mục đích chính trị ấy, họ luôn đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thiên
- nhân hợp nhất” Theo đó, nhà Chu cho rằng, trời là lực lượng có uy quyền tối cao, tuyệt đối và do vậy, vì nhà Ân không những không biết vâng “mệnh trời” mà còn hành động trái với “mệnh trời” nên bị trời trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân Nhà Chu cho rằng: “mệnh trời không nhất định, thiện thì được, bất thiện thì mất – duy mệnh bất vô thường, đạo thiện tất đắc chi, bất thiện tắc thất chi hỷ” [3, tr.26] Khổng Tử nói riêng và Nho giáo nói chung tiếp nhận yếu tố duy tâm thần bí và phản động trong tư tưởng tôn giáo trên đây làm một trong những nội dung của tư tưởng trị nước,
để ràng buộc con người, nhằm tạo ra những con người luôn suy nghĩ, hành độngtheo ý trời, mệnh trời
Về chính trị: Tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc Chu là
“Nhận dân”, “Hưởng dân” và “Trị dân” Tư tưởng này được xuất phát từ quan niệm của nhà Chu cho rằng, vì nhà Chu biết và làm theo “mệnh trời”, tuân theo mệnh trời mà được “nhận dân” từ tay nhà Ân để “hưởng dân” và “trị dân” suốt đời Giai cấp quý tộc Chu cho rằng, kẻ chịu mệnh trời để thống trị thiên hạ là Thiên tử Thiên tử cùng sánh với trời và vì vậy, nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời” thì nhà Chu sẽ vâng mệnh trời và thay trời trừng trị, chém giết Vua là Thiên tử (con trời) được thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân
Rõ ràng, tư tưởng chính trị dưới thời nhà Chu là hết sức phản động nhưng lại được phủ lên một lớp son tôn giáo về “ý trời”, “mệnh trời”
Về đạo đức: Tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm
nòng cốt Xuất phát từ quan niệm tôn giáo về trời – người hợp nhất, nhà Chu cho rằng, tổ tiên của mình là bậc Tiên vương do luôn có đức mà được sánh cùng thượng đế, nhận được “mệnh trời” mà “hưởng nước”, “hưởng dân” Do vậy, các vua sau phải thành kính cái đức đó, mà giữ gìn và bồi đắp nó để con
Trang 17cháu được thừa hưởng lâu dài Hiếu là nhớ ơn tổ tiên, là phải luôn giữ gìn và làm sáng tỏ khuôn phép của tổ tiên để lại, có như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Rõ ràng, đây là quan niệm đạo đức duy tâm, bảo thủ và phản động nhằm tuyên truyền và củng cố địa vị thống trị vĩnh viễn của giai cấp quý tộc, thị tộc, bảo vệ nhà nước chuyên chính thị tộc Nhưng về sau, quan niệm này lại được nhiều nhà Nho tiếp nhận vào hệ thống Nho giáo nói chung và tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói riêng Chính điều này, một phần giúp chúng ta cắt nghĩa vì sao, ở Nho giáo, đạo đức
và chính trị gắn chặt với nhau, coi đạo đức còn là một trong những công cụ, phương tiện chính trị chủ yếu nhất của nhà vua, của người cầm quyền trong việc trị dân, trị nước, bình thiên hạ
Như vậy, tư tưởng Đức trị của Nho giáo được ra đời trên cơ sở phản ánh
và đáp ứng yêu cầu của thời đại Xuân Thu – Chiến Quốc Đó là mục tiêu đưa
xã hội “vô đạo” thành xã hội “hữu đạo” Nho giáo tiếp nhận vào hệ thống của mình nhiều tư tưởng tôn giáo để giáo hóa con người, buộc con người phải tuân thủ theo những quy tắc, chuẩn mực xã hội mà các nhà Nho đưa ra
1.2 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh
Đường lối Đức trị là một trong những nội dung cơ bản nhất trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo Trong Nho giáo, học thuyết chính trị và học thuyết đạo đức quan hệ chặt chẽ với nhau, chính trị và đạo đức gắn chặt với nhau Nho giáo đặc biệt đề cao đạo đức trong trị nước, coi đó là công cụ
và phương tiện hữu hiệu nhất để hoàn thiện con người và ổn định, hoàn thiện
xã hội, đưa xã hội từ “vô đạo” thành “hữu đạo”
Tư tưởng Đức trị là những quan điểm về đường lối trị nước, quản lý xã
hội dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đó là hệ thống những chuẩn mực, những nguyên tắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong, các mối quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích
Trang 18cá nhân và lợi ích cộng đồng Đức trị phản ánh nhu cầu và lợi ích xã hội của giai cấp thống trị, được biểu hiện dưới hình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân lý, được mọi người thừa nhận
và chấp hành một cách tự giác Trên cơ sở đó, Nho giáo cũng khẳng định tính đúng đắn của quan niệm chính danh định phận trong xã hội, đề ra những nguyên tắc, tiêu chí làm chuẩn mực để người cầm quyền nhận thức đạo lý, giáo hóa hành vi, điều chỉnh hoạt động của mọi người
1.2.1 Vai trò của đạo đức và Đức trị
Như chúng ta đã biết, Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện
từ buổi bình minh của lịch sử loài người Nó được phát triển, hoàn thiện trên
cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao Trong quá trình phát triển đó, cùng với sự vận động biến đổi của tồn tại xã hội, đạo đức cũng có những biến đổi, đã tồn tại nhiều những quan niệm đạo đức khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong lịch sử
Theo quan niệm Mác xít, Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội; chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [11, tr.816]
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội Theo Mác và Ănghen, con người hoạt động tức đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân
lý học Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc của quan điểm về đạo đức con người Sự phát sinh, phát triển của đạo đức xét đến cùng là một quá trình do
sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định, chi phối
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm bảo
Trang 19đảm cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển Sống trong xã hội, mỗi người phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng Đạo đức đã trở thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội
Vai trò của đạo đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ bản của đạo đức: điều chỉnh hành vi, giáo dục, nhận thức
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Đạo đức thúc đẩy
sự phát triển xã hội, làm cho hành vi của con người phù hợp với sự phát triển xã hội
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đã trở thành đặc trưng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời, hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hóa tác động, chi phối con người Chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu, một mặt là “giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng", giữa cá nhân và cộng đồng; mặt khác là, sự " tự giáo dục" ở cả cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội
Nhận thức đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại vừa hướng nội Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mực, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc
và ý nghĩa cuộc sống Nhận thức hướng nội (tự nhận thức) lấy bản thân mình
- chủ thể đạo đức - làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với
Trang 20thể hình thành, phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay thụ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác …
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là rất lớn
Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự tự phê bình, tự đánh giá Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình - giá trị mà xã hội mong muốn Tự nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để hoàn thành trách nhiệm đó
Tóm lại, đạo đức là yếu tố cốt lõi của nhân cách con người, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó là một phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi của con người, làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển Chính vì thế mà các giai cấp, các tập đoàn xã hội tiến bộ bao giờ cũng
sử dụng đạo đức như là một trong những công cụ, động lực để thúc đẩy kinh
tế - xã hội phát triển
Qua nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của Nho giáo và các tác phẩm khác của một số nhà Nho tiêu biểu cũng như qua một số công trình nghiên cứu về Nho giáo cho thấy vai trò của đạo đức được các nhà nho từ Khổng Tử trở đi đều đặc biệt đề cao Bởi lẽ, một lần nữa phải nhấn mạnh rằng, đạo đức
là cơ sở, xuất phát điểm của để từ đó các nhà Nho xây dựng nên nhiều học thuyết nhằm thực hiện những mục đích chính trị Nó còn là căn cứ để các nhà Nho đưa ra những phương thức mà theo họ là hữu hiệu nhất nhằm đưa xã hội
từ loạn lạc, vô đạo trở về với hữu đạo, thái bình, thịnh trị
Vai trò nổi bật của đạo đức theo quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, đạo đức và thi hành đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng
nhất để hình thành và hoàn thiện đạo đức của con người, góp phần to lớn vào việc củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội
Trang 21Vấn đề con người không chỉ là nội dung chủ yếu nhất, bao trùm trong học thuyết Nho giáo mà Nho giáo còn là một trong số rất ít học thuyết, ngay
từ đầu và từ rất sớm đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người và vai trò của con người trong những diễn biến của lịch sử Nhưng khi đề cập đến vấn đề này, Nho giáo trước hết và chủ yếu dành sự quan tâm nhiều hơn đến vai trò của nhà vua, người cầm quyền và vai trò của đạo đức đối với con người và
xã hội
Trong Nho giáo Khổng – Mạnh và Nho giáo nói chung, mẫu người lý tưởng – cần có của xã hội và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị chủ yếu là con người đạo đức; và xã hội lý tưởng – cần có mà các nhà Nho mơ ước và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị là xã hội có đạo đức Vì vậy
mà, để có thể tạo ra những con người và xã hội ấy, các nhà Nho đưa ra nhiều chuẩn mực đạo đức để con người, mỗi người học tập, tu dưỡng nhằm hoàn thiện đạo đức của mình; đưa ra nhiều quy phạm đạo đức để khuyên răn, ràng buộc và điều chỉnh mọi suy nghĩ, hành vi của con người trong mọi mối quan
hệ xã hội – chính trị của con người Theo sách Tứ thư, những chuẩn mực đạo đức đó là Nhân, Nghĩa, Lễ, Hiếu, Trung, Trí, Tín…Những chuẩn mực đạo đức này cũng chính là những quy định đạo đức và là những phương thức cơ bản để con người đạt đạo, đạo đức
Con người lý tưởng – cần có theo quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh là con người quân tử - có đạo đức và tài trí, trọng Nghĩa hơn Lợi, luôn học tập, tu dưỡng và thực hành cái đức của mình Để có cái đức, cái tài trí ấy, tức là để trở thành người quân tử, theo Khổng Tử và Mạnh Tử, họ phải trải qua quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức lâu dài và với một nỗ lực bền bỉ Như
trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử đã nói: “Người quân tử tiến sâu (về đức hạnh)
nhờ vào đạo lý, muốn rằng tự nắm bắt được đạo lý Nắm bắt được thì ở yên với đạo, ở yên thì nhờ đó càng thâm sâu, đã thâm sâu thì mặc sức mà sử dụng, dường như đã tới cội nguồn” [14, tr.1069] và để cho cái đức, cái trí ngày càng
Trang 22giàu thêm và bền vững, người quân tử không chỉ “tồn đức”, “dưỡng đức” mà còn phải “tận tâm” tu dưỡng cái đức ấy ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh
“Quân tử dựa vào điều nhân để tồn tâm, dựa vào lễ để tồn tâm Người nhân yêu người, người có lễ kính trọng người Yêu người thì người ta thường yêu lại, kính trọng người thì người ta thường kính trọng lại” [14, 1088], Về điểm
này, trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử đã chỉ rõ: “Người quân tử chẳng bao
giờ rời bỏ điều nhân, dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn, dẫu trong cơn vội vàng hay trong lúc nghiêng ngả chao đảo, người ấy vẫn ở với điều nhân” [73, tr.280] Không chỉ vậy, điều cần hơn và quan trọng hơn đối với người quân tử là, họ phải làm gương trong việc tu dưỡng và thi hành cái đức của mình, phải đem cái đức ấy để giáo hóa mọi người, bổ hóa khắp thiên hạ Như Khổng Tử nói: “Người nhân là người muốn gây dựng điều gì cho mình cũng gây dựng cho người điều đó, muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến cho người được thông đạt như vậy” [14, tr.341], còn Mạnh Tử chỉ rõ hơn: “Chỉ dựa vào lòng thiện (của mình) để thu phục người khác, thì chưa có ai thu phục nổi Phải dạy người bằng điều thiện, rồi sau mới có thể thu phục thiên hạ Thiên hạ không tâm phục mà dựng nên vương nghiệp là chuyện chưa từng có” [14, tr.1071] Có cái đức và cái năng lực ấy, theo Mạnh Tử, với người quân tử thì “phú quý bất năng dâm; bần tiện bất năng di; uy vũ bất năng khuất” [14, tr 971] và mới có thể cai trị nhân dân được
Nho giáo Khổng – Mạnh cho rằng, để loại trừ tình trạng rối loạn, không
có trật tự và kỷ cương trong xã hội cũng như nhằm duy trì sự ổn định trong xã hội, trong gia đình thì phải thi hành các biện pháp mang nội dung đạo đức Tức là, phải bằng những nguyên tắc, quy phạm đạo đức để chi phối, ràng buộc mọi hành động của con người, mọi mối quan hệ xã hội của con người
Và có như vậy, mọi người mới có đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiếu, trung,…mới bảo tồn tính thiện, trừ bỏ được tính ác và “gia mới tề, quốc mới trị, thiên hạ mới bình” Nhưng để đạt được mục đích cuối cùng này, các nhà
Trang 23Nho đều khẳng định rằng, điều chủ yếu và có ý nghĩa quyết định là, mọi người trong thiên hạ từ thiên tử trở xuống phải thật sự tận tâm trong việc tu
dưỡng đạo đức, như sách Đại học đã chỉ rõ: “Từ thiên tử tới thường dân, ai
cũng phải lấy việc tu thân làm gốc” [14, tr.18] Cũng bởi vậy mà không phải ngẫu nhiên, Nho giáo Khổng – Mạnh luôn đòi hỏi mọi người phải được giáo dục, giáo hóa bằng đạo đức theo đúng tinh thần mà Khổng Tử đã định rõ là:
“Hữu giáo vô loại”[14, tr.508], “Phú nhi hậu giáo”[14,tr.504], vì như Mạnh
Tử đã khẳng định, “Giáo hóa tốt thu được lòng dân, còn hơn là chính trị tốt Chính trị tốt khiến dân sợ hãi, giáo hóa tốt được dân thương yêu Chính trị tốt
là đem tài sản cho dân, giáo hóa tốt thì được lòng dân” [14, tr.1297]
Thứ hai, đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất
của giai cấp thống trị trong việc cai trị và quản lý xã hội
Từ chỗ nhìn nhận xã hội thời Xuân Thu, Chiến Quốc là “vô đạo” mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cái “thực trạng” xã hội ấy là do những con người phi nhân, phi đạo và những hành động phi nhân, phi đạo tạo ra, các nhà Nho đã đề xuất ra đường lối “Đức trị” (hay còn gọi là Vương đạo, Nhân trị, Nhân chính, Lễ trị) Đường lối “đức trị” là đường lối trị nước, quản lý xã hội dựa trên cơ sở những chuẩn mực, những nguyên tắc, những quy phạm đạo đức theo tinh thần của Nho giáo Khổng Tử, Mạnh Tử và nhiều nhà Nho khác đặc biệt coi trọng và đề cao đạo đức, vai trò của việc thực thi đường lối Đức trị Theo đó, đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất, có hiệu quả nhất mà giai cấp thống trị cần sử dụng trong việc cai trị, quản lý xã hội nhằm những mục đích chính trị của mình Và thực hiện đường lối Đức trị, theo Nho giáo, có vai trò và ý nghĩa quyết định không chỉ trong việc đưa xã hội từ
“loạn” tới “trị” mà còn trong việc duy trì địa vị, vai trò thống trị và lợi ích của
giai cấp thống trị Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã nói rõ: “Dùng
chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giữ trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ trật tự, dân biết
Trang 24hổ thẹn mà tiến tới chỗ tốt lành” [14, tr.215] Khổng Tử còn nhiều lần cho rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất trong việc thu phục nhân tâm, nhân lực, trong việc “trị quốc, bình thiên hạ” Như ông nói: “Lấy đức để làm việc chính trị cũng ví như ngôi sao Bắc thần, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều
chầu về” [14, tr.214] Sách Mạnh Tử đã ghi lại nhiều chỗ thể hiện tư tưởng
của Mạnh Tử rằng, nhà vua và kẻ cầm quyền nếu thi hành đạo nhân, thực hành đường lối Nhân chính sẽ giữ gìn được bốn biển, bảo tồn được xã tắc, ngôi vị của con cháu mình được duy trì còn ngược lại, nếu thi hành đường lối
“bất nhân”, tàn bạo với dân thì nhà vua sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nhà nước sẽ bị diệt vong [14, tr.731, 754-755] Không dừng lại ở đó, Khổng Tử, Mạnh Tử và nhiều nhà Nho khác đều đề cao đến mức tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức, của đường lối Đức trị khi khẳng định rằng, đạo đức và thi hành đạo đức là vô địch
Ngoài ra, qua bộ Tứ Thư cho thấy rõ, theo Nho giáo Khổng – Mạnh đạo
đức và thi hành việc cai trị, quản lý xã hội mang nội dung đạo đức còn là biện pháp tốt nhất để loại trừ tình trạng phi nhân, phi đạo trong xã hội và những hành vi bất nhân, bất đạo của con người; là phương tiện hữu hiệu nhất để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định trong gia đình, ngoài xã hội Với Khổng
Tử, cái điều đáng sợ nhất là của một quốc gia, của một nền chính trị không phải là nước nghèo, của cải ít, mà là không có an ninh, không có phép tắc, không có đạo đức Còn Mạnh Tử thì nói: “Thành quách chẳng hoàn bị, binh pháp chẳng nhiều, chưa phải tai họa cho đất nước, ruộng nương chẳng mở mang, của cải chẳng tích tụ, cũng chẳng nguy hại cho đất nước; nhưng người trên không giữ lễ, người dưới không học hỏi, dân hung hăng dấy lên, thì nước mất chưa biết ngày nào” [14, tr.1015-1016]
Thứ ba, cũng cần phải nhấn mạnh một vấn đề chủ yếu trong học thuyết
đạo đức Nho giáo nói chung, quan niệm của Nho giáo về vai trò của đạo đức, của đường lối Đức trị nói riêng là, những vai trò trên của đạo đức đối với xã
Trang 25hội và con người chỉ trở thành thực tế là chủ yếu phụ thuộc vào nhà vua, người cầm quyền có đạo đức và luôn tu dưỡng, thi hành đạo đức
Từ chỗ đề cao đến mức tuyệt đối hóa địa vị, vai trò và quyền lực của nhà vua, người cầm quyền trong việc trị nước, trị dân, trong việc tạo lập duy trì
xã hội ổn định và phát triển, cũng tất yếu, Nho giáo càng coi trọng đến mức tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức và sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua, kẻ cai trị
Đề cập đến vấn đề này, trong học thuyết đạo đức của Nho giáo, các nhà Nho luôn cho rằng, để làm tròn trách nhiệm “thay trời trị dân và giáo hóa dân”, là “cha mẹ của dân” thì điều quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định nhất là nhà vua, kẻ cai trị phải có đạo đức và luôn tu dưỡng đạo đức Khổng
Tử, Mạnh Tử rất nhiều lần khẳng định, nếu nhà vua, người cầm quyền có đạo đức và thi hành đường lối nhân đức lâu dài mà có thể làm cho kẻ ác nhân trở thành thiện nhân [69, tr.445], không chỉ khiến cho mọi người theo mình, phục
vụ mình mà bản thân mình luôn giữ được chức vị [69, tr.281] và không bị lẻ loi, ít lầm lạc và không thất bại trong việc cai trị [69, tr.282] Có nghĩa là, theo những nhà Nho này, việc nhà vua, người cầm quyền có đạo đức và có thi hành đạo đức hay không gắn liền và có ý nghĩa quyết định đến sự thành - bại, thịnh - suy, hưng - vong của việc cai trị, của triều đại, của chế độ, của quốc gia Nhưng để đạo đức có vai trò to lớn như vậy, theo họ, lại phụ thuộc chủ yếu vào sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua, người cầm quyền
Trong học thuyết đạo đức của Nho giáo Khổng – Mạnh, đạo đức và tu dưỡng đạo đức gắn liền với nhau Muốn có đạo đức và luôn có đạo đức phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức Sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua, người cầm quyền phải thành, phải kính, phải tận tâm và trước hết tự mình phải tu dưỡng “Điều mà người quân tử phải giữ gìn là tu sửa thân mình, để trị yên thiên hạ” [14, tr.1367] Và có như vậy, theo nhà Nho, dân mới có đạo đức, mới tuân theo phép tắc, mới tự giác theo mình và nền cai trị mới vững vàng Như Khổng Tử nói: “Nếu người trên chuộng lễ, thì dân chẳng ai dám bất
Trang 26kính Người trên chuộng nghĩa, thì dân chẳng ai dám bất phục Người trên chuộng tín, thì dân chẳng ai dám không thật lòng Được như vậy dân ở bốn phương sẽ địu con mà theo về” [69, tr.444], còn “Tự mình không đúng đắn, thì dẫu ra lệnh, dân cũng không theo” [69, tr.480] Sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua, người cầm quyền phải thường xuyên, ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi mối quan hệ Và theo Nho giáo, có như vậy, trăm họ mới được yên trị, nền chính trị mới được thịnh vượng Cũng theo Nho giáo,
sự tu dưỡng đạo đức của nhà vua, người cầm quyền phải được thể hiện bằng những tấm gương đạo đức của họ và phải được nhà vua, người cầm quyền thi hành cái đức ấy trong việc cai trị, quản lý xã hội Có như vậy, cái đức của nhà vua, người cầm quyền mới được bổ hóa khắp thiên hạ, mới được mọi người noi theo để có được cái đức của mình và xã hội mới có đạo đức, trật tự, có kỷ cương và thật sự ổn định Mà nêu gương đạo đức, theo nhà Nho, là lời nói phải đi đôi với việc làm, tự mình tu dưỡng trước sau mới giáo dục, giáo hóa người Như Khổng Tử nói: “Trước hãy làm việc, rồi sau mới thu hoạch, chẳng là đề cao phẩm đức ư? Phê phán tội lỗi của mình chứ không phê phán tội lỗi của người khác, đó chẳng phải là sửa chữa lỗi lầm ư?” [69, tr.444] và
“Bề trên chuộng lễ, thì dân dễ sai khiến” [14, tr.558]
1.2.2 Cai trị theo “Nhân, Lễ, Chính danh”
Nhân và Lễ là hai phạm trù trung tâm và cơ bản nhất trong tư tưởng
đức trị nói riêng và của học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung.Đó còn là biện pháp để thi hành đường lối đức trị Về vấn đề này, sách
Kinh Lễ đã viết: “Đạo đức nhân nghĩa phi lễ bất thành” (nghĩa là: “đạo đức
nhân nghĩa, không do lễ không thành”) hay như Khổng Tử nói: “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không có lòng nhân, dùng nhạc sao được” [14, tr.239]
Trong Nho giáo Khổng – Mạnh, Nhân, Lễ, Chính danh là thống nhất với nhau trong tư tưởng đức trị, trong việc thực thi đường lối đức trị Trong
Trang 27đó Nhân là nội dung, là hạt nhân của Lễ, còn Lễ là hình thức thể hiện của Nhân và trên bình diện chính trị, sự thống nhất của Nhân và Lễ là Chính danh
Nhân là một phạm trù trung tâm của tư tưởng đạo đức, tư tưởng đức trị Nhân bao gồm hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, Nhân là một phẩm chất đạo đức cụ thể, cơ bản, nền tảng của con người, nó là chuẩn mực đạo đức để con người tự tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của mình Theo nghĩa rộng, Nhân bao gồm mọi đức cần có khác của con người Nói một cách khác, mọi đức khác của con người như Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Hiếu, Trung v.v., đều biểu hiện cụ thể của đức Nhân
Với tư cách là phạm trù chỉ mối quan hệ giữa con người và con người, Nhân còn được hiểu là quy phạm, nguyên tắc đạo đức chủ yếu nhất, có tính phổ quát nhằm chi phối, ràng buộc con người trong việc tu dưỡng, hoàn thiện đạo đức của mình và ràng buộc mọi hành vi, ứng xử trong các quan hệ giữa người với người và thái độ của con người trong mọi việc khác của con người, của mỗi một tầng lớp, giai cấp trong xã hội Như vậy, Nhân còn là phạm trù đạo đức có tính chất chính trị, là công cụ chính trị nhằm mục đích chính trị
Lễ cũng là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức Tuy nhiên,
trong Tứ thư, Ngũ kinh, Lễ được nhìn nhận chủ yếu từ phương diện chính trị,
Ở phương diện này, Lễ lại bao gồm nhiều nội dung cơ bản khác nhau nhưng thống nhất với nhau Trước hết, Lễ là phạm trù chỉ tôn ti, trật tự, kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải tuân theo
Theo sách Lễ ký, Lễ phân ra trật tự khác nhau để cho vạn vật có thứ tự phân
minh, thánh nhân mới nhân đó mà định ta lễ chế để phân biệt tôn ti trật tự…
để khiến dân giữ lòng hiếu ố cho vừa phải mà sửa lại cái đạo làm người cho chính vậy Theo đó, trong xã hội có vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, có người thân kẻ sơ, có việc trái việc phải, cho nên phải có lễ để phân minh rõ ràng
Thứ hai, Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu có tính bắt
buộc, ràng buộc đối với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối
Trang 28quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác của con người Theo đó, trong các quan hệ cơ bản của con người thì biểu hiện của lễ là nhà vua phải thương yêu bề tôi, bề tôi phải tận trung với vua, cha mẹ phải thương yêu con cái, con cái phải hiếu, kính cha mẹ, v.v., tức là, người có đức lễ cũng là người, phải là người có đức nhân, nghĩa, trí, tín, hiếu, trung, người có nhân là phải tự chế thắng mình để theo lễ (Khắc kỷ, phục lễ vi nhân), không được thái quá, không được bất cập trong việc thi hành lễ
Dù Lễ được nhìn nhận với nhiều nội dung như thế nào đi chăng nữa, song điều cơ bản mà Nho giáo quan tâm là mọi người, mọi giai cấp phải tôn
trọng, giữ gìn, học tập và hành động đúng lễ Có như vậy, như sách Kinh Lễ
đã chỉ rõ: Phàm người ta sở dĩ làm người, chính là nhờ lễ nghĩa và xã hội mới
có trật tự, kỷ cương và ổn định Với Tuân Tử thì Lễ không chỉ cải hóa được cái ác mà còn có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của xã hội và con người:
“người mà không có lễ thì không sinh, việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên” [33, tr.108] và “Thiên hạ theo lễ thì trị, không theo lễ thì loạn…theo lễ thì yên Không theo lễ thì nguy…theo lễ thì còn, không theo lễ thì mất” [33, tr.107] Ngoài ra khi so sánh Lễ với Hình trong việc trị nước, trị dân, Nho giáo Khổng – Mạnh cho rằng, Lễ hay hơn, tốt hơn “hình pháp” ở chỗ, “Lễ cấm trước khi xảy ra, còn hình phạt thì cấm sau khi đã xảy ra” Và chính từ quan niệm về vai trò, tác dụng của Lễ trong việc cai trị như vậy mà theo Khổng Tử, ở bất kỳ trường hợp nào trái lễ là xấu xa cần phải tránh, là trái “Đạo” cần phải ngăn chặn: Trái với lễ, đừng xem; trái với lễ, đừng nghe; trái với lễ, đừng nói; trái với lễ đừng làm [14,tr.472] Như vậy, Lễ cũng là một đức cần có của con người, thi hành lễ là một khâu trọng yếu của “đạo làm người” Lễ đã được cụ thể hóa thành những nguyên tắc đạo đức, không chỉ để đánh giá đạo đức của con người mà điều quan trọng hơn,
Lễ vừa có tính khuyên răn, vừa có tính chất ràng buộc con người, để hàng ngày, hàng giờ, mọi lúc mọi nơi trở thành thói quen đạo đức của cá nhân và
Trang 29vậy” Tính chất, vai trò, tác dụng của Lễ như vậy, cho nên Lễ là một trong những biện pháp chính trị cơ bản nhất để thi hành đường lối Đức trị Vì vậy
mà ở Nho giáo Khổng – Mạnh, "Đức trị" còn được gọi là “Lễ trị”
Rõ ràng, Nhân và Lễ trong tư tưởng đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh không chỉ là những đức cần có của con người mà điều quan trọng hơn
và về thực chất, Nhân, Lễ là công cụ, phương tiện có tính chính trị để thực hiện và bảo vệ xã hội đẳng cấp và duy trì xã hội đó có trật tự, có kỷ cương đáp ứng nhu cầu, mục đích cai trị của giai cấp thống trị mà thôi
Chính danh là một phạm trù, một nội dung cơ bản của tư tưởng đức trị,
là một trong những biện pháp chính trị để thi hành đường lối đức trị, lễ trị
Chính danh lần đầu tiên được Khổng Tử đặt ra Ông yêu cầu là phải đặt đúng tên sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó sao cho “danh” đúng với thực chất của sự vật Trong tư tưởng đức trị, Chính danh là yêu cầu mỗi người cần phải có một phẩm chất tương xứng với địa vị xã hội của mình và phải suy nghĩ, hành động đúng với ấy, không được tranh giành địa vị và bổn phận của người khác, giai cấp khác Nếu không xã hội sẽ loạn Khổng
Tử đã từng khuyên “Người quân tử, suy tính cũng không ra ngoài chức vị của mình” [14, tr.546]
Xuất phát từ việc cho rằng, trong xã hội, mỗi người, mỗi đẳng cấp đều
có vị trí và bổn phận riêng của mình, các nhà Nho đều khẳng định rằng, để loại bỏ tình trạng rối loạn, để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội thì điều có ý nghĩa tiên quyết là phải thực hành biện pháp Chính danh
Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Danh không chính thì lời nói
chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hưng vượng; lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” [14, tr.498 – 499] Bởi vậy, “người quân tử đã nêu được tên gọi ắt nói được ra lời, đã nói được ra lời ắt làm được” [14, tr.499]
Trang 30Từ chỗ đề cao vai trò của Chính danh, các nhà Nho đều cho rằng, biện pháp tốt nhất để thi hành Chính danh là phải dựa vào Lễ, Nghĩa Cái mà Khổng Tử nói “ngôn chi tất khả hành” thì Tuân Tử nói rõ hơn: “theo nghĩa
mà định danh phận thì sẽ hòa thuận, hòa thuận thì sẽ thống nhất, thống nhất thì sẽ nhiều sức lực, nhiều sức lực thì sẽ mạnh, mạnh thì sẽ thắng mọi vật và:
Lễ từ đâu mà ra? – Rằng: người ta sinh vốn có thèm muốn; thèm muốn mà không được… thì sẽ không thể không tranh giành; tranh giành nhau thì sẽ loạn; loạn thì sẽ khốn cùng Các bậc tiên vương sợ sự loạn ấy, cho nên đặt ra
lễ nghĩa để định danh phận, để thỏa mãn những thèm muốn của loài người” [75, tr.262 - 263]
Như vậy, Nhân, Lễ, Chính danh trong tư tưởng đức trị của Nho giáo không chỉ là những nội dung mà còn là những biện pháp chính trị để thực hiện đường lối đức trị, nhằm mục đích duy trì, bảo vệ trật tự, kỷ cương của chế độ phong kiến và phục vụ những yêu cầu, lợi ích của giai cấp thống trị xã hội mà thôi
1.2.3 Vai trò của dân trong việc thực hiện đường lối Đức trị
Trong tư tưởng của mình, Khổng Tử, Mạnh Tử luôn quan tâm đến dân
và đặc biệt là vai trò của dân Vì theo các nhà Nho Khổng – Mạnh, có xác định đầy đủ vai trò của dân mới xác định được địa vị xã hội của họ và hơn nữa là định ra trách nhiệm, thái độ của tầng lớp thống trị đối với họ
Vai trò của dân trong quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh biểu hiện
ở những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất: Dân là một lực lượng to lớn trong xã hội, họ là những người
mà Mạnh Tử gọi là “lao lực”, tức là làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay
để tạo ra của cải vật chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp “lao tâm” cai trị người Theo đó, dân bao gồm ba hạng người: công, nông, thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ “nuôi dưỡng người”, chăm sóc kẻ “lao tâm”, phục vụ người “cai trị”
Trang 31Thứ hai: Dân là gốc nước, là nền tảng của nền chính trị Nhìn chung, từ
Khổng Tử, Mạnh Tử đến các nhà Nho sau này đều coi “dân là gốc của nước” Bởi dân không chỉ do trời sinh ra, mà điều cơ bản, họ là một bộ phận to lớn trong xã hội, họ là đối tượng của cai trị, không có họ thì cũng không thể tồn tại mặt đối lập – đó là giai cấp thống trị Theo đó, không có dân thì không có nước, không có vua Dân không chỉ là những người nuôi dưỡng, phụng dưỡng
mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị Cũng bởi vậy mà các nhà Nho này đều khuyên vua hãy coi dân, lấy dân là trời, coi dân còn quý trọng hơn cả xã tắc và nhà vua Vai trò của dân trong tư tưởng “dân vi bản” của Khổng Tử, “dân vi quý” của Mạnh Tử còn được biểu hiện khi các nhà Nho coi dân là một trong ba điều quan trọng nhất của nhà vua, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thịnh suy, hưng vong của cả chế độ “Ba việc chính yếu của dân: lương thực, việc tang và việc tế tự Khoan dung thì được lòng dân, thành tín thì được dân tín nhiệm, siêng năng thì có kết quả, công binh thì dân vui lòng” [14, tr.683] và Khổng Tử nói rằng: “(phải để ý tới ba điều): lương thực cho đầy đủ, binh lực cho đầy đủ và được dân tin cậy” [14, tr.478-479] Tuân Tử thì coi vai trò của dân có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của nhà vua, đến
sự thịnh vượng của nền chính trị: “Vua là thuyền, thứ nhân là nước Nước chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền” [71, tr.64] Khổng Tử cũng đề cao đức của dân còn hơn nước, lửa “đạo nhân đối với người dân còn cần thiết hơn là nước và lửa Với nước và lửa, ta từng thấy có người dẫm đạp lên mà chết, chứ chưa hề thấy ai giẫm đạp lên đạo nhân mà chết” [14, tr.586] Dân là gốc, là quý, là nước và có vai trò to lớn như vậy, cho nên các nhà Nho này đều chủ trương phải giữ được dân, vì có như vậy mới giữ được thiên hạ, giữ được ngôi
vị của mình
Như vậy, trong quan niệm về dân, vai trò của dân, Nho giáo là một trong ít học thuyết từ rất sớm đã nhận thấy vai trò của dân như là một lực lượng sản xuất to lớn và có ảnh hưởng nhất định đối với sự thịnh – suy, hưng
Trang 32– vong của chế độ chính trị, sự ổn định của xã hội Mặc dù vậy, do bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử, do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị và nhằm phục vụ địa vị, quyền lợi của giai cấp ấy, các nhà Nho chưa đi đến quan niệm rằng, dân không chỉ là sản phẩm của lịch sử mà còn là lực lượng sáng tạo và thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của lịch sử Và dù các nhà Nho đều coi dân là gốc, là quý nhưng trong học thuyết của Nho giáo, không phải bất
kỳ người dân nào cũng được coi là gốc, là quý Trong các sách Luận ngữ, sách Mạnh tử, Khổng Tử và Mạnh Tử nhiều lần cho rằng, những người dân
như kẻ tiểu nhân, những người chỉ ưa thích sự dũng cảm và hay làm chuyện loạn nghịch, không an phận, ghét cảnh bần cùng, ngu dốt không hiểu và làm theo mệnh trời, không nghe và làm theo giáo hóa, v.v., không bao giờ được coi là gốc của nước và nền tảng của xã tắc Với những người dân này, nhà Nho yêu cầu nhà vua, kẻ cai trị phải dùng hình phạt để đối xử, giáo hóa họ Chỉ những người dân nào luôn hành động theo mệnh trời, nghe và làm theo giáo hóa, bằng lòng với địa vị thống trị của mình,… mới được xem là “vi bản”, “vi quý” Mặt khác, dù có những yếu tố dân chủ khi coi dân là gốc, là quý nhưng dân là chủ, được làm chủ thì không được các nhà Nho thừa nhận
Tư tưởng “dân vi bản” đó cũng chỉ hình thành trên cơ sở và nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị, cho nên “dân không có cơ sở để đòi hỏi, pháp lý gì để đấu tranh cả” Về thực chất, dân là gốc, là quý, nhưng trong quan niệm của các nhà Nho này, dân chỉ là phương tiện để giai cấp thống trị đạt tới những mục đích chính trị, chứ không thể là mục đích của nền chính trị Cũng do vậy mà, ở Nho giáo tuy có yếu tố dân chủ (dù hết sức hạn hẹp) nhưng không thể có tư tưởng dân quyền, dù có yếu tố dân chủ nhưng cũng không thể phát triển thành chủ nghĩa nhân đạo, thành tư tưởng dân chủ được
Ở Nho giáo Khổng – Mạnh, vì dân không được trời phú cho bản tính thiện, hoặc có nhưng ngay từ đầu đã tự đánh mất, phẩm chất đạo đức thì hèn kém lại không có tài trí, do vậy họ mãi mãi là người bị cai trị, bị sai khiến và
Trang 33phải phục vụ tầng lớp cai trị có tài, có đức Như Mạnh tử nhấn mạnh: “Không
có quân tử, ai cai trị bọn quê mùa? Không có bọn quê mùa, lấy ai phụng dưỡng các bậc quân tử” [73, tr.570] Nhưng mặt khác, dân lại có vai trò, ảnh hưởng nhất định đối với sự tồn vong của xã hội, của chế độ Đây chính là cơ
sở, là điểm xuất phát để các nhà Nho đưa ra quan niệm về thái độ, trách nhiệm của nhà vua, kẻ cai trị đối với dân
1.2.4 Chính sách dưỡng dân và giáo hóa dân trong tư tưởng Đức trị
* Chính sách dưỡng dân
Dưỡng dân là khái niệm của nhà Nho chỉ rõ trách nhiệm của nhà vua,
người cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôi dưỡng dân
Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dưỡng dân là nhà vua
và người cầm quyền phải chăm lo đời sống vật chất của dân để dân không bị chết đói, chết rét, đủ điều kiện để trên đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới đủ nuôi
vợ con Muốn được như vậy, Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng, nhiệm vụ của nhà vua là phải giúp dân làm giàu, phải làm cho dân có tài sản riêng: “Thói thường người dân, hễ có hằng sản mới có hằng tâm, không có hằng sản thì không có hằng tâm Nếu không có hằng tâm, sẽ trở nên buông lung, càn dỡ, việc gì cũng dám làm…Vì thế đấng quân minh qui định điền sản cho dân, ắt phải lo sao cho dân trông lên đủ thờ cha mẹ, nhìn xuống đủ nuôi vợ con, luôn năm được mùa thì suốt đời no bụng, phải năm mất mùa cũng tránh khỏi chết đói, sau đó mới có thể thúc đẩy dân làm việc thiện, do đó dân tuân theo cũng
dễ dàng” [14, tr.758], phải “quy định điền sản cho dân, dạy dân biết trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn vợ con, khiến họ phụng dưỡng những người già trong gia đình” [14, tr.1308], sai khiến dân điều gì cũng không được trái thời vụ, mùa màng của dân, đồng thời phải giảm thuế khóa và những đóng góp khác của dân, lấy dân phải có hạn – tức là phải làm cho dân trong thiên hạ an cư, lạc nghiệp “Đừng vi phạm thời gian làm ruộng của dân, thì thóc lúa ăn chẳng hết Đừng cho quăng lưới nhiều lần vào hồ ao, thì cá, rùa ăn chẳng hết Rìu
Trang 34búa lên rừng núi (đẵn cây) phải lúc, thì gỗ tốt dùng chẳng hết Lúa gạo và rùa
cá ăn chẳng hết, gỗ tốt dùng chẳng hết, ấy là khiến dân có thể nuôi người sống, chôn cất người chết, chẳng còn hời oán gì Nuôi nổi người sống, chôn cất người chết, không còn hờn oán, đó là bước đầu của việc thi hành vương đạo vậy” [14, tr.722] Có như vậy, theo các nhà Nho này, nền chính trị mới được thịnh vượng, nhà vua mới được dân kính trọng
Trong chính sách dưỡng dân, Nho giáo còn yêu cầu nhà vua, người
cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội Có như vậy, dân sẽ quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được Không những thế , Khổng Tử còn yêu cầu nhà vua phải thương và quan tâm đến đời sống của những người già cả, thiếu niên Ông nói: “[Chí hướng của ta là] Người già cả thì khiến họ được an vui; bạn bè thì khiến họ tin ta; lớp trẻ thì chăm sóc đùm bọc họ” [73, tr.306] Còn Mạnh Tử thì đòi hỏi nhà vua phải đặc biệt quan tâm đến cuộc đời và thân phận của bốn hạng người mà theo ông chẳng có thể trông cậy vào ai được, đó
là quan (những ông lão không vợ), quả (những bà lão không chồng), độc (những ông lão, bà lão không có con phụng dưỡng), cô (những kẻ mồ côi cha mẹ) “Ông lão không vợ thì gọi là quan, bà lão không chồng gọi là quả, người già không con gọi là độc, trẻ thơ mất cha gọi là cô Đó là bốn hạng người cùng khổ trong thiên hạ mà không có nơi nương tựa Khi Văn vương phát chính lệnh thi hành nhân đức, ắt ngài quan tâm tới bốn hạng người đó trước nhất.” [14, tr.785-786] Tức là để được dân tin, để được lòng dân, từ đó mà sai khiến được dân, Nho giáo chủ trương nhà vua phải “cung kính, khoan dung, thành tín, cần mẫn và có ơn huệ” cho mọi người dân [14, tr.619]
Để được lòng dân, Nho giáo còn khuyên nhà vua phải “cùng dân cày cấy, nấu lấy cơm mà ăn đồng thời vẫn làm được công việc cai trị đất nước” [73, tr.700], cùng vui cái vui của dân, buồn cái buồn của dân Có như vậy, nền cai trị của nhà vua mới hưng thịnh Mạnh Tử nói: “Vui với niềm vui của dân
Trang 35thì dân cũng vui với niềm vui của mình, cùng lo nỗi lo của dân thì dân cũng chung lo nỗi lo của mình…như vậy mà vương nghiệp không thành thì quả thực là một việc chưa từng có vậy” [14, tr.778]
Nói tóm lại, trong Nho giáo Khổng – Mạnh, để được lòng dân, để thu phục dân tâm từ đó mà cai trị được thiên hạ, nhà vua, người cầm quyền phải
thi hành đường lối nhân nghĩa (còn gọi là đường lối Vương đạo, Nhân chính)
Như vậy, dưỡng dân của Nho giáo Khổng – Mạnh, trong điều kiện lúc bấy giờ là một tư tưởng tiến bộ Tuy nhiên, tư tưởng đó không phải xuất phát từ mục đích tự thân, không phải chủ yếu là vì dân, mà là vì địa vị, quyền lợi của
giai cấp phong kiến thống trị Chính sách dưỡng dân mà Nho giáo Khổng –
Mạnh đưa ra, xét về thực chất cũng chỉ là phương tiện để đạt đến mục đích chính trị của giai cấp phong kiến là duy trì vĩnh viễn sự tồn tại của chế độ phong kiến, duy trì vĩnh viễn cái trật tự mà trong đó, giai cấp phong kiến mãi mãi là kẻ bị thống trị, bị bóc lột Và trong những trường hợp dân phải chịu cảnh nghèo, cảnh đói khổ, thì các nhà Nho lại viện tới ý trời, cho đó là mệnh trời để khuyên họ hãy an phận, bằng lòng và vui với cảnh nghèo, cảnh đau khổ ấy
* Chính sách giáo dục, giáo hóa dân
Để được lòng dân, bên cạnh chính sách dưỡng dân, Nho giáo Khổng – Mạnh còn đề xuất chính sách giáo dục, giáo hóa dân Có thể nói, trong tư tưởng của Khổng Tử và Mạnh Tử, dưỡng dân và giáo dục, giáo hóa gắn chặt
với nhau, bổ sung cho nhau trong đường lối trị dân, trị nước của nhà vua, người cầm quyền
Xuất phát từ học thuyết tính người và quan niệm về dân và vai trò của
dân, Nho giáo Khổng – Mạnh khẳng định rằng, ngay từ đầu dân phải được giáo dục, giáo hóa Bởi vì, như Khổng Tử cho rằng, cái bản tính của con người ban đầu rất giống nhau (tính tương cận), nhưng có thể con người trở nên tàn ác nếu về sau không được giáo dục, giáo hóa; còn Mạnh Tử thì khẳng
Trang 36định, dù cái bản tính vốn có của con người là thiện và do trời phú cho đi chăng nữa, nhưng nó lại dễ mất đi, và thứ dân, kẻ tiểu nhân ngay từ đầu đã đánh mất đi “Người ta khác loài cầm thú có bao nhiêu đâu (Đó chẳng qua chỉ
là nhân nghĩa mà) người dân thường bỏ mất, người quân tử giữ được Vua Thuấn hiểu rõ mọi lẽ, xét kỹ mối giềng của con người, noi theo nhân nghĩa
mà thi hành, chứ chẳng phải ngài (miễn cưỡng) làm chuyện nhân nghĩa” [14, tr.1073]; Tuân Tử thì cho cái bản tính ấy của con người là ác, nếu không có giáo dục, giáo hóa thì họ không bao giờ thiện được, không bao giờ trở thành thiện nhân Vì vậy mà, Nho giáo Khổng – Mạnh coi giáo dục, giáo hóa là một
trong những nội dung chủ yếu và cơ bản của đường lối đức trị, là một trong
những biện pháp cai trị chủ yếu và hữu hiệu nhất nhằm những mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị
Đối với dân, vì họ là người hèn kém về đạo đức và tài trí, trọng lợi hơn nghĩa, nếu không được giáo dục, giáo hóa thì không có việc ác nào mà họ không dám làm, cho nên giáo dục, giáo hóa dân, trong quan niệm của các nhà Nho, còn là một biện pháp cần thiết, thường xuyên
Khổng Tử, Mạnh Tử coi nhiệm vụ của nhà vua, người cầm quyền không chỉ làm cho dân đông, dân giàu mà điều cơ bản là phải giáo hóa họ, vì dân không có giáo hóa thì chỉ là loài vật: “Lẽ thường của con người là như thế này: Cơm no áo ấm, rỗi rãi nhàn hạ mà không được dạy dỗ giáo hóa thì cách sống sẽ gần như loài cầm thú” [73, tr.703] và không có việc ác nào mà họ không làm
Mục đích giáo dục, giáo hóa, theo Khổng Tử, Mạnh Tử cũng như nhiều nhà Nho khác là mỗi người có được cái “đạo làm người” của mình Nhưng để
có cái “đạo” ấy, các nhà Nho khẳng định, trước hết và chủ yếu mỗi người phải học, phải được dạy những chuẩn mực, quy phạm đạo đức: nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín, hiếu, trung Nho giáo cho rằng, muốn dẫn dắt dân, trị dân, muốn dân tuân theo lễ nghĩa, phép tắc, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, lễ tiết,
Trang 37phải dạy lễ, nghĩa, tín, phải dạy đạo đức nhân luân: cha - con có tình thân, vua
- tôi có nghĩa, chồng - vợ có phân biệt, anh - em có trật tự, bạn bè có niềm tin
Mặc dù Nho giáo Khổng – Mạnh yêu cầu mọi người phải được giáo dục, được giáo hóa để có cái “đạo làm người” và đều phải học cái đạo nhân, nghĩa, lễ, trí v.v., nhưng mục đích của cái “đạo làm người” ở người quân tử,
kẻ cai trị với cái “đạo làm người” ở người dân, kẻ tiểu nhân là khác nhau Có nghĩa là trong Nho giáo Khổng – Mạnh, dù nội dung học tập, giáo hóa là
“Hữu giáo vô loại” [14, tr.588] nhưng mục đích của học tập, giáo hóa là khác nhau Nếu quân tử, người cầm quyền học “đạo” là để trở thành người có đạo đức, để hưởng lộc trời là trị dân, trị nước, trị thiên hạ, được người phụng dưỡng, thì với người dân, kẻ tiểu nhân học “đạo” là để dễ sai khiến, để an phận với cảnh nghèo, với địa vị là người bị cai trị, để nuôi dưỡng người
“người trên học đạo phải biết thương người, người dưới học đạo thì dễ sai khiến” [14, tr.615] Khổng Tử đã từng cho rằng, người dân học đạo thì việc nào cần làm thì nên khiến họ làm, không nên khiến họ biết đạo lý Mạnh Tử thì lại khẳng định, mục đích cơ bản của việc giáo dục, giáo hóa dân là, nên dẫn dụ cho họ theo mình, nên giúp họ trở nên chính đính, phải đưa họ vào khuôn phép để họ trở nên ngay thẳng, vững vàng Như vậy, mục đích của việc giáo dục, giáo hóa dân, theo Nho giáo là, tự giác hay không tự giác, người dân phải có thói quen là tuân theo cái tôn ti trật tự của chế độ phong kiến mà trời
đã sắp đặt Rõ ràng, ở Nho giáo Khổng – Mạnh, các chuẩn mực đạo đức đã trở thành những công cụ, biện pháp vừa có tính giáo dục vừa có tính chất bắt buộc, ràng buộc trong việc giáo hóa dân, trị dân Tuy nhiên, dưới chế độ phong kiến hà khắc và tàn bạo, người dân không phải bao giờ cũng suy nghĩ, hành động theo những chuẩn mực đạo đức ấy, không phải bao giờ cũng an phận, bằng lòng với cảnh nghèo, không phải bao giờ họ cũng sợ trời, thuận theo mệnh trời Trước thực trạng đó, nhằm bảo vệ tôn ti, trật tự, kỷ cương, phép tắc của chế độ phong kiến, các nhà Nho không chỉ viện tới ý trời, mệnh
Trang 38trời mà còn đề xuất biện pháp giáo hóa dân bằng pháp luật, hình phạt để buộc
họ phải tuân theo trật tự của chế độ hiện hành Như Khổng Tử đã từng cho rằng, người nông dân, kẻ tiểu nhân chỉ là những người hèn kém về đạo đức và tài trí, “ham dũng mà ghét nghèo, ắt làm loạn Người bất nhân, mà bị ghét bỏ quá, ắt làm loạn” [73, tr.360] và “không biết mệnh Trời nên không sợ; khinh nhờn bậc đại nhân; coi thường lời dạy của Thánh nhân” [73, tr.512] Vì vậy theo ông, một mặt, nhà cầm quyền phải thực hiện chính sách giáo hóa dân bằng các biện pháp đạo đức, phải làm cho họ bằng lòng với số phận; mặt khác, nếu không được, nhà cầm quyền phải dùng hình phạt Tuân Tử còn chỉ rõ: “Từ bậc sĩ trở lên thì phải dùng lễ nhạc mà đối đãi; đối với dân chúng trăm
họ thì phải dùng pháp lệnh mà cai trị” [75, tr.270] và “người nào lấy điều thiện đến với ta, thì dùng lễ mà đối đãi họ, người nào lấy điều bất thiện đến với ta thì dùng hình phạt đối đãi với họ” [75, tr.273]
Tuy nhiên, giữa biện pháp đạo đức và hình phạt, nhà Nho đều coi trọng biện pháp đạo đức, còn hình phạt chỉ là biện pháp tạm thời để cứu vãn những tình thế khó khăn trong việc giáo hóa, cai trị dân mà thôi Do đó các nhà Nho không phê phán nhà cầm quyền sử dụng hình phạt mà chỉ khuyên họ không lạm dụng hình phạt đối với dân, không ham giết dân Như Khổng Tử nói:
“Dắt dẫn dân bằng chính pháp, sửa trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh khỏi được tội lỗi, chứ không có lòng hổ thẹn Nếu dẫn dắt bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục” [73, tr.245]
Nhưng để thi hành việc giáo hóa dân, trị dân bằng đạo đức mà hạn chế được hình phạt, ngoài biện pháp dưỡng dân, các nhà Nho cho rằng, điều đó còn phụ thuộc vào việc tu dưỡng đạo đức và thi hành đạo đức của nhà vua, người cầm quyền trong việc giáo hóa, cai trị dân Như Tuân Tử đã nói: “Pháp luật không thể đứng một mình, công việc không thể tự nó thi hành được, có người tốt thì mọi cái đó còn, không có người tốt thì mọi cái đó mất” [75, tr.271]
Trang 39Như vậy, trong tư tưởng giáo dục, giáo hóa nói riêng và trong tư tưởng đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh nói chung là sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị Sự kết hợp này trong đường lối đức trị của Nho giáo cũng là tất yếu,
vì xét đến cùng, đạo đức hay hình phạt đều mang tính ràng buộc, bắt buộc đối với mọi hành vi, hành động của con người và đều nhằm duy trì, bảo vệ trật tự,
kỷ cương của chế độ phong kiến cũng như địa vị, quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị Thực chất của toàn bộ tư tưởng và đường lối đức trị của Nho giáo cũng để nhằm mục đích chính trị cuối cùng đó mà thôi Chính bởi vậy, hạn chế lớn nhất trong tư tưởng giáo dục là, nội dung giáo dục ở Nho giáo không bao giờ dạy con người tri thức về tự nhiên, về sản xuất, buôn bán
Do vậy mà, chính sách và đường lối giáo dục của Nho giáo là hết sức hạn chế
và không thể đào tạo ra những con người toàn diện được
1.3 Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh
Qua phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh, có thể rút ra những giá trị và hạn chế chủ yếu như sau:
1.3.1 Một số giá trị nổi bật, chủ yếu
Trong học thuyết Nho giáo Khổng – Mạnh nói chung và tư tưởng Đức trị nói riêng, các nhà Nho đã nhận thức được vai trò tích cực của đạo đức trong đời sống xã hội Nho giáo cũng đã nhìn thấy rằng, một trong những phẩm chất rất cơ bản của cá nhân nhà vua, của người cầm quyền là phải có đạo đức, phải là những tấm gương đạo đức, phải luôn luôn tu dưỡng đạo đức
và phải có năng lực đem những phẩm chất đạo đức ấy để “đạo đức hóa” toàn
bộ xã hội Khẳng định tính chính nghĩa của đường lối “đức trị”, Khổng Tử cho rằng, nhà cầm quyền mà theo đường lối “đức trị”, lấy cái đức của mình
mà cảm hóa mọi người thì cũng giống như sao Bắc đẩu tuy ở yên một chỗ mà mọi sao khác đều chầu về Các nhà Nho này cũng đã nhìn thấy mối quan hệ giữa nhận thức đạo đức và hành vi đạo đức cũng như vai trò sức mạnh của ý
Trang 40thức đạo đức cá nhân trong cộng đồng Xã hội sẽ ổn định, thịnh trị khi nền
“đức trị” được thực thi từ “thiên tử” đến “thứ dân”
Rõ ràng trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào thì đạo đức luôn giữ vị trí quan trọng, nó là cái để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan
hệ xã hội Xã hội sẽ hỗn loạn, sẽ không còn trật tự kỷ cương nếu không có đạo đức Nhiều khi đạo đức còn có sức mạnh, có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người hơn cả sức mạnh của pháp luật
Như vậy, Nho giáo Khổng – Mạnh đã nhận thấy vai trò tích cực của đạo đức, của những cá nhân có đạo đức trong việc cai trị xã hội, trong việc duy trì, củng cố trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội
Một giá trị nổi bật và đáng chú ý nữa là, trong tư tưởng đức trị, các nhà Nho đã xem xét, đánh giá con người thông qua các mối quan hệ xã hội, đặt ra những yêu cầu đạo đức tương đối cụ thể, chỉ rõ trách nhiệm đạo đức của cá nhân con người đối với gia đình, với mọi người và với bản thân Đặc biệt, Nho giáo đề cao đạo tu thân, coi đây là một yêu cầu quan trọng bậc nhất trong việc tu dưỡng đạo đức của mọi người từ bậc thiên tử xuống thứ dân Đối với bậc quân vương – những người cầm quyền có trọng trách cao cả là trị nước, giáo hóa dân và an dân, thì việc tu thân, sửa đức lại càng quan trọng hơn hết
Ở điểm này, tư tưởng đức trị có nội dung tiến bộ hơn hẳn các học thuyết chính trị - đạo đức đương thời như Mặc gia, Đạo gia Giá trị nhân bản cao nhất của đạo đức Nho giáo là ở việc thi hành nhân nghĩa, ở đạo tu thân dưỡng tính, và vì vậy, nó có vai trò to lớn là góp phần củng cố trật tự xã hội, xây dựng và hoàn thiện đạo đức xã hội
1.3.2 Một số hạn chế chủ yếu
Bên cạnh một số giá trị nổi bật, trong tư tưởng Đức trị của Nho giáo Khổng – Mạnh mà còn bộc lộ một số hạn chế chủ yếu sau đây:
Nho giáo quá đề cao vai trò quyết định của đạo đức, của những cá nhân
có đạo đức trong việc cai trị, quản lý xã hội cũng như trong những diễn biến