- Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi nội dung: Luận án tập trung làm rõ vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN trên các nội dung như: Quốc hội trong thực hiện vai trò đại bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS.TSKH Phan Xuân Sơn
2 PGS.TS Trần Kim Đỉnh
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có căn cứ khoa học, đƣợc trích dẫn từ nguồn tƣ liệu tin cậy Những kết luận khoa học của luận án là chính xác, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 9
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 9
5 Đóng góp mới của luận án……… 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ……… 11
7 Kết cấu của luận án ……… 12
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
1.1 Những nghiên cứu về xây dựng Nhà nước pháp quyền; lý luận và thực tiễn về Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ……… 13
1.2 Những nghiên cứu về thực trạng vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ……… 30
1.3 Những nghiên cứu về quan điểm, phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ……… 36
1.4 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án sẽ giải quyết ……… 40
1.4.1 Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài ……… 40
1.4.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết ……… 43
Tiểu kết chương 1……… 44
Chương 2: VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ………46
Trang 52.1 Quan niệm về nhà nước pháp quyền và đặc trưng của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ………46
2.1.1 Một số quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử……….46
2.1.2 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……….52
2.2 Những nội dung cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ……… 58
2.3 Vị trí, vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ………67
2.3.1 Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của toàn dân ………68
2.3.2 Vai trò của Quốc hội trong xây dựng hệ thống pháp luật ……….70
2.3.3 Vai trò của Quốc hội trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước ……… 76
2.3.4 Vai trò của Quốc hội trong thực hiện quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp …………78
2.3.5 Vai trò của Quốc hội với thực hiện các công ước, hiệp ước, hiệp định, các cam kết quốc tế ……… 82
2.4 Những nhân tố tác động đến vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ……… 84
2.4.1 Các nhân tố trong nước ……… 84
2.4.2 Các nhân tố quốc tế ……….88
Tiểu kết chương 2 ……… 91
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (2001 - 2018) ……… 93
Trang 63.1 Quốc hội trong thực hiện vai trò đại biểu cao nhất của toàn dân….93 3.1.1 Bầu cử đại biểu Quốc hội - một hình thức ủy quyền của Nhân dân……… 93 3.1.2 Đại biểu Quốc hội với việc phản ánh và thực hiện quyền, lợi ích, ý chí của Nhân dân ……… 96 3.2 Thực trạng vai trò của Quốc hội trong xây dựng hệ thống pháp luật theo yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ……….103 3.3 Thực trạng vai trò của Quốc hội Việt Nam trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước ……… 111 3.4 Thực trạng vai trò của Quốc hội Việt Nam trong thống nhất, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước 114 3.4.1 Quốc hội với việc thống nhất, phân công, phối hợp các cơ quan nhà nước trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp 114 3.4.2 Quốc hội với việc kiểm soát quyền lực trong thực thi quyền lực nhà nước 119 3.5 Thực trạng vai trò của Quốc hội với việc thực hiện các công ước, hiệp ước, hiệp định, các cam kết quốc tế 129 3.6 Một số vấn đề đặt ra đối với vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 132 Tiểu kết chương 3 137 Chương 4: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 139 4.1 Quan điểm và phương hướng phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 139 4.1.1 Quan điểm 139
Trang 74.1.2 Phương hướng 142 4.2 Giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 147 4.2.1 Đổi mới hoạt động bầu cử 147 4.2.2 Đổi mới nhận thức về đại biểu Quốc hội, tăng số lượng đại biểu chuyên trách 148 4.2.3 Nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội Việt Nam 150
4.2.4 Chế định rõ việc thống nhất, phân công, phối hợp các cơ quan nhà nước
trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tăng cường vai trò của
Quốc hội trong thực thi quyền lập pháp ……… 154
4.2.5 Nâng cao vai trò của Quốc hội với việc kiểm soát quyền lực trong thực thi quyền lực nhà nước 155 4.2.6 Nâng cao vai trò của Quốc hội trong thực hiện các công ước, hiệp ước, hiệp định, các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 165 Tiểu kết chương 4 168 KẾT LUẬN 170 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 173 TÀI LIỆU THAM KHẢO 174
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ( Association of
South East Asian Nations) CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền (NNPQ) là nhà nước mà chủ thể quyền lực thuộc
về Nhân dân, luật pháp của NNPQ phản ánh và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, quyền các cộng đồng và quyền của dân tộc Sự ra đời, phát triển của NNPQ phản ánh xu thế tiến bộ chung của nhân loại và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội Trong NNPQ, các cơ quan quyền lực nhà nước được tổ chức hợp lý, thống nhất, phối hợp và kiểm soát trong thực thi quyền lực nhà nước nhằm tránh sự chuyên quyền và lạm quyền Tính khách quan, giá trị phổ biến cũng như vai trò của NNPQ đã và đang thể hiện ngày càng rõ trong thực tiễn chính trị thế giới
Ở Việt Nam, quá trình hình thành nhận thức, chủ trương, tổ chức thực hiện xây dựng NNPQ trải qua nhiều giai đoạn Từ năm 1991, chủ trương “xây dựng Nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ Hai khóa VII Đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII tháng 1 năm 1994, cùng với các Đại hội VIII,
IX, X, XI, XII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định: “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và làm rõ thêm nhiều nội dung mới Luận điểm quan trọng này lần đầu tiên đã được thể chế hóa thành quy định tại điều
2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [68, tr 67]
Trang 10Đến Hiến pháp năm 2013, những nội dung này tiếp tục được khẳng định, đồng thời bổ sung luận điểm quan trọng về “kiểm soát quyền lực” giữa các cơ quan nhà nước trong NNPQ XHCN
Để xây dựng NNPQ cần phải có đầy đủ luật và luật tốt, các cơ quan nhà nước phải thực hiện được sự phân công và kiểm soát quyền lực trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; phải tạo được một trạng thái xã hội tốt; phải có một trật tự pháp quyền năng động, linh hoạt để có thể đáp ứng được những biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội Với tính chất của NNPQ, để có thể xây dựng thành công NNPQ với những nhiệm vụ cơ bản nêu trên, vai trò của Quốc hội rất quan trọng Đặc biệt, với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của toàn dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, Quốc hội thực hiện quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác và với chính mình Quốc hội cũng là nơi để Nhân dân vừa học vừa thực hành dân chủ
Trong những nhiệm kỳ qua ở nước ta, việc xây dựng và phát huy vai trò của Quốc hội một cách hiệu quả phù hợp với quá trình xây dựng NNPQ XHCN đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, có thể thấy trên tất cả các bình diện, chúng ta còn nhiều yếu kém trong việc đáp ứng các yêu cầu của một NNPQ Năng lực làm luật của Quốc hội còn hạn chế, luật pháp chưa đủ để điều chỉnh các hành vi của Nhà nước và xã hội, chất lượng hệ thống pháp luật còn thấp, tính khả thi của luật còn chưa cao và xung đột pháp luật còn nhiều Quốc hội nước ta trong những nhiệm kỳ gần đây đã có những tiến bộ ấn tượng, nhưng vẫn còn hoạt động hình thức, thiếu chuyên nghiệp, thực hiện vai trò đại diện, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao còn lúng túng, chưa thực sự hiệu quả
Việc nghiên cứu về chức năng, vai trò của Quốc hội nói chung, vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam nói riêng đã có khá
Trang 11nhiều công trình đề cập đến Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, yêu cầu xây dựng một nền dân chủ XHCN, yêu cầu của hội nhập quốc tế, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, đòi hỏi cần có những nghiên cứu mới nhằm làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong thiên niên kỷ mới
Với những lý do như trên, tác giả đã chọn đề tài: “Vai trò của Quốc
hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ, thực trạng thực hiện vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN, luận án đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN
ở Việt Nam hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
+ Làm rõ những vấn đề lý luận về NNPQ, NNPQ XHCN và về vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam
+ Nghiên cứu, làm rõ thực trạng thực hiện vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN từ năm 2001 đến năm 2018
+ Đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu vai trò của
Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nội dung: Luận án tập trung làm rõ vai trò của Quốc hội
Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN trên các nội dung như: Quốc hội trong thực hiện vai trò đại biểu cao nhất của toàn dân; vai trò của Quốc hội trong xây dựng hệ thống pháp luật, trong quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, trong thống nhất, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước và trong thực hiện các công ước, hiệp ước, hiệp định, các cam kết quốc tế
+ Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
+ Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN từ năm 2001 (lần đầu tiên luận điểm về
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001)) đến năm 2018
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và phương pháp luận chính trị học
Ngoài ra, luận án cũng thực hiện trên cơ sở các lý thuyết chính trị học
về nhà nước và pháp quyền, về quyền lập pháp và cơ quan lập pháp, về dân chủ đại diện
Trang 13- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án:
Để hoàn thành luận án, tác giả luận án đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…
Việc sử dụng phương pháp logic với mục đích là để tìm ra bản chất, tính tất yếu, quy luật của sự vật, hiện tượng thông qua hình thức lý luận trừu tượng
và khái quát Với việc sử dụng phương pháp logic, luận án đã nghiên cứu những lý thuyết về NNPQ, NNPQ XHCN để khái quát lên những đặc trưng
cơ bản của NNPQ XHCN Việt Nam; nghiên cứu quá trình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam để khái quát thành những đặc trưng của NNPQ XHCN ở Việt Nam; nghiên cứu thực trạng hoạt động của Quốc hội để luận giải, khái quát một cách sâu sắc những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay Do vậy, phương pháp logic giúp luận án khái quát những vấn đề lý luận về NNPQ, NNPQ XHCN; khái quát những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động của Quốc hội, từ đó thấy được vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN
Phương pháp lịch sử được hiểu là phương pháp miêu tả tiến trình phát
triển của các hiện tượng, sự kiện lịch sử với những tính chất cụ thể của chúng
Mục đích khi sử dụng phương pháp này là nhằm thể hiện cái lịch sử với tính
cụ thể, tính hiện thực, tính sinh động của sự vật, hiện tượng Từ đó có cơ sở
để nắm cái logic được sâu sắc, đúng đắn hơn Với việc sử dụng phương pháp lịch sử, luận án đã tìm hiểu những hoạt động cụ thể của Quốc hội Việt Nam từ năm 2001 đến 2018 để thấy được vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN như: Hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động quyết định những vấn
đề quan trọng của đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội, hoạt động giám sát, hoạt động thực hiện các cam kết quốc tế… Sự kết hợp giữa phương pháp logic và lịch sử giúp tác giả luận án khái quát những vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN hiện nay
Trang 14Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong luận án để phân tích, tìm hiểu các số liệu, tổng hợp những vấn đề lý luận về NNPQ, NNPQ XHCN, về lý luận và thực tiễn hoạt động của Quốc hội Việt Nam Từ đó, chỉ rõ những vai trò cơ bản của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN hiện nay
Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh, luận án đã so sánh các giai đoạn hoạt động của Quốc hội Từ đó, luận án khái quát những mặt tích cực, ưu điểm
và cả những hạn chế trong quá trình Quốc hội Việt Nam thực hiện vai trò của mình qua các giai đoạn khác nhau
Với việc sử dụng phương pháp thống kê, luận án đã tìm hiểu, thống kê các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án, thống kê những số liệu để minh chứng cho vai trò của Quốc hội qua các giai đoạn, từ đó, làm tăng tính khoa học, tính tin cậy của những nghiên cứu trong luận án
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về NNPQ, NNPQ XHCN
- Luận án góp phần hệ thống hóa và luận giải những vấn đề về vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN
- Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện vai trò của Quốc hội, luận
án góp phần làm rõ những ưu điểm và hạn chế của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN từ năm 2001 đến năm 2018
- Từ việc phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng thực hiện vai trò của Quốc hội Việt Nam, luận án góp phần làm rõ quan điểm, phương hướng
và giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Qua việc phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về
NNPQ, vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam,
Trang 15luận án góp phần làm rõ những đặc trưng của NNPQ XHCN theo tinh thần Hiến pháp 2013 Đặc biệt, luận án góp phần làm rõ một cách có hệ thống vai trò của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận án góp phần cung cấp những luận điểm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, giảng dạy lý luận về NNPQ, về vai trò của Quốc hội Đồng thời, luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận về NNPQ, về chức năng, vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
+ Những đề xuất về phương hướng, giải pháp được phân tích và trình bày trong luận án có thể để tham khảo trong hoạt động thực tiễn hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án được trình bày theo 4 chương 16 tiết
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong bộ máy của Nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Tổ chức và hoạt động của Quốc hội quyết định chủ yếu đến sự phát triển của đất nước, sự thành công của xây dựng NNPQ XHCN trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Với tầm quan trọng đặc biệt đó, vai trò của Quốc hội đã trở thành một vấn đề luôn được sự quan tâm của các nhà khoa học và giới nghiên cứu Các tác giả, các nhà nghiên cứu đã phân tích, luận giải, khái quát, đánh giá hoạt động của Quốc hội dưới nhiều góc độ, nhiều hướng tiếp cận khác nhau
1.1 Những nghiên cứu về xây dựng Nhà nước pháp quyền; lý luận
và thực tiễn về Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền
Liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng NNPQ đã
có nhiều nghiên cứu của các cá nhân và tập thể tác giả dưới dạng bài viết, sách chuyên khảo, tạp chí đề cập tới
Cuốn sách Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn của GS.VS.Nguyễn Duy Quý,
PGS.TS.Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên); NXB Chính trị quốc gia, 2010, đã
đề cập đến tổng thể các vấn đề lịch sử tư tưởng, lý luận và thực tiễn của quá trình xây dựng NNPQ trên thế giới nói chung và NNPQ XHCN ở Việt Nam nói riêng Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước, pháp luật, vai trò của pháp luật, pháp chế XHCN, được coi là nền tảng cho việc xây dựng NNPQ ở các nước XHCN sau này Các tác giả cũng dành sự chú ý nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và NNPQ Nói về NNPQ Việt Nam, đóng góp có thể nói là khá sớm của các tác giả là ở chỗ đã trình bày khái niệm, phân tích những đặc trưng cơ bản
và chức năng của NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân Công trình này là
Trang 17đã nêu lên bảy đặc trưng cơ bản của NNPQ XHCN Việt Nam, trong đó có hai đặc trưng mà theo tác giả luận án đây là hai đặc trưng mới so với các công trình cùng nghiên cứu về NNPQ XHCN ở cùng thời gian đó là:
Trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ chủ đạo trong xã hội, thể hiện vai trò của một nhà nước “phục vụ”, đồng thời thể hiện trách nhiệm của công dân trước nhà nước và xã hội; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn với một xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa [110, tr 167 - 171]
Những phân tích này đã giúp tác giả luận án củng cố thêm căn cứ để xác định nội hàm của NNPQ XHCN Việt Nam Những giải pháp mà cuốn sách đề xuất như: Đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước; đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NNPQ XHCN; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện pháp luật có hiệu quả là những nội dung có giá trị tham khảo đối với luận án
Cuốn sách sách chuyên khảo Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Đào Trí Úc (chủ biên); NXB Chính trị quốc
gia, 2005 đã nghiên cứu, tìm hiểu về NNPQ, xây dựng NNPQ XHCN như:
Cơ sở lý luận, vấn đề dân chủ, nhân quyền, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế XHCN Tác giả đã phân tích, luận giải những tiền
đề cơ bản cho quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam Đồng thời khẳng định, do đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quá trình xây dựng NNPQ XHCN phải vượt qua nhiều trở ngại, khó khăn, chịu sự chi phối của những yếu tố về lịch sử, kinh tế, văn hóa… Vì vậy, cần thiết phải có những phương hướng, biện pháp thích hợp để có thể xây dựng thành công NNPQ XHCN ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa:
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới,
NXB Chính trị quốc gia, 2006, bên cạnh chỉ ra tính tất yếu của quá trình xây
Trang 18dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, các tác giả đã nêu và phân tích những phương hướng để xây dựng NNPQ như: Đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội; hoạt động hành pháp của Chính phủ; tổ chức và hoạt động của các
cơ quan tư pháp; mối quan hệ giữa ba cơ quan nhà nước
Cuốn sách Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh, NXB
Lý luận chính trị, 2007 đã phân tích, luận giải những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về Đảng lãnh đạo nhà nước trong điều kiện xây dựng NNPQ Đặc biệt, tác giả đã phân tích vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng NNPQ ở Việt Nam: Nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật; Đảng và cán bộ, đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích những định hướng cơ bản, thực trạng, những giải pháp chủ yếu để phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay
Tác giả Lê Minh Quân với cuốn Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp
ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 đã khái quát lịch sử tư
tưởng về NNPQ trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội Đồng thời, tác giả đã phân tích và chỉ ra tính tất yếu của việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay trên phương diện lý luận và thực tiễn Để xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay, tác giả cũng đã nêu và phân tích một số phương hướng cơ bản như: Tăng cường dân chủ XHCN; đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…
Cùng đề cập đến nội dung như: Khái quát lịch sử hình thành và phát triển học thuyết NNPQ; khẳng định giá trị phổ biến của học thuyết NNPQ; phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về NNPQ; khái niệm, những đặc trưng cơ bản và chức
Trang 19năng của NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân và các yếu tố quy định, chi phối
đến quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam có các công trình: Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Văn Niên, NXB Chính trị quốc gia, 1996; Tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam của tác giả
Lý Thị Bích Hồng (chủ biên), NXB Lao động, 2003; Cơ sở lý luận và thực tiễn
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân của tác giả Trần Hậu Thành, NXB Lý luận chính trị, 2005; Một số vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta của tác giả
Trần Thành, NXB Chính trị quốc gia, 2009
NNPQ là vấn đề có tính thời sự, có tầm quan trọng đặc biệt, vì vậy đã
có nhiều luận án, luận văn lựa chọn chủ đề này làm đề tài nghiên cứu Luận
án tiến sĩ triết học Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam của tác giả Đào Ngọc Tuấn mã số 5.01.02 năm 2002 tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đã phân tích luận giải tính logic của sự hình thành và phát triển khái niệm NNPQ; chỉ ra tính phổ biến về đặc trưng của NNPQ:
“1 Tính tối cao của pháp luật; 2 Cơ chế phân công quyền lực trong sự chế ước lẫn nhau: hành pháp, lập pháp, tư pháp; 3 Sự hiện diện của một nền dân chủ; 4 Nhân quyền; 5 Năng lực giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa các điều ước quốc tế và luật quốc tế; năng lực làm tương thích giữa luật nội địa với luật quốc tế [129, tr 8]
Những đặc thù của NNPQ Việt Nam (1 đặc thù về truyền thống văn hóa: tinh thần yêu nước, văn hóa làng xã, tính cách người Việt; 2 Đặc thù về kinh tế - xã hội (đặc thù nổi trội nhất là quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa; 3 Đặc thù về chính trị (xây dựng NNPQ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) Đồng thời, tác giả đề xuất những giải pháp kết hợp giữa tính đặc thù và tính phổ biến trong xây dựng NNPQ ở Việt Nam
Trang 20như: 1 Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; 2 Chuyển dịch cơ cấu nhà nước theo các giá trị phổ biến của NNPQ (cơ chế phân công quyền lực nhà nước, về Quốc hội, Chính phủ và hệ thống tư pháp); 3 Từng bước xây dựng xã hội công dân
Một số luận án cũng đề cập đến những nội dung về NNPQ, xây dựng
NNPQ XHCN ở Việt Nam như: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ năm 1996 đến năm 2006,
Luận án tiến sĩ Lịch sử, mã số 62.22.56.01 của tác giả Hồ Xuân Quang, Hà
Nội, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008; Quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, mã số
62.22.80.05 của tác giả Trần Ngọc Liêu, Hà Nội, 2009, Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Triết
học mã số 62.22.80.05 của tác giả Hoàng Thị Hạnh tại Học viện Khoa học xã hội năm 2013
Nhiều bài viết đăng trên các tạp chí trong thời gian qua cũng đã đề cập
đến vấn đề NNPQ Tiêu biểu là: Sự hình thành và phát triển quan điểm Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới của tác giả Trần Thái Dương, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
2(202)/2005, tr 7, 11, 23; Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của tác giả Lê Hữu Nghĩa, số 15, tr 12 - 17, Tạp chí
Cộng sản, năm 2004; Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của tác giả Tô Huy Rứa, Tạp chí Cộng sản, năm
2005, số 22, tr 23 - 27; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Hồ Xuân Quang, Tạp
chí Lịch sử Đảng, 2008
Trang 21Trong những năm gần đây, đặc biệt khi Hiến pháp 2013 ra đời và có hiệu lực, đã có nhiều công trình nghiên cứu về NNPQ, NNPQ XHCN, tiêu biểu là các công trình như:
Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, NXB
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Công trình là tập hợp các bài viết, bài phát biểu của tập thể tác giả Đinh Thế Huynh, Trần Ngọc Đường, Lưu Kỳ Bảo, Lý Tuyết Cần, Đinh Xuân Thảo Đây là công trình tổng hợp các vấn đề về kinh nghiệm xây dựng NNPQ, NNPQ XHCN của Việt Nam và Trung Quốc Các tác giả đã tập trung phân tích những điều kiện, tiền đề, những đặc thù trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam Các tác giả cũng chỉ ra những yêu cầu, những vấn đề cơ bản trong xây dựng NNPQ XHCN như: Về xây dựng luật, xây dựng Đảng, xây dựng Chính phủ, Tòa án…
Tác giả Trần Ngọc Đường chủ biên cuốn Một số vấn đề về phân công,
phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2015 Bên cạnh
việc phân tích những vấn đề lý luận về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, tác giả đã tập trung nêu
và phân tích thực trạng của quá trình phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay Tác giả đã chỉ ra những
ưu điểm và hạn chế cũng như chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu trong khi thực hiện phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng NNPQ XHCN Từ đó, tác giả cũng đã nêu lên những phương hướng để xây dựng và hoàn thiện sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra còn có các công trình của các tác giả như: Hoàng Thị Ngọc
Loan (2015), Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường - Vấn đề và giải pháp,
Trang 22NXB Tư pháp, Hà Nội; Phạm Minh Tuấn, Hoàng Thị Ngọc Loan (2015), Xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Quan điểm và nhận thức, NXB
Tư pháp, Hà Nội; Hoàng Thị Hạnh (2016), Xây dựng Nhà nước pháp quyền
trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Những điểm mới trong Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, của
PGS.TS Đinh Xuân Lý, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2015, tr 30 - 34; Vũ Trọng Lâm (2017), Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2018), Cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội
Nhìn chung, những công trình kể trên của các tác giả về NNPQ, NNPQ XHCN đã được nghiên cứu một cách khá toàn diện, phong phú, từ quan điểm của các nhà kinh điển cho đến thực trạng xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Nhiều công trình, bài viết đã luận giải, đưa ra những kiến nghị, giải pháp đảm bảo cho việc xây dựng thành công NNPQ XHCN Với những nội dung trên, những công trình nghiên cứu được tổng quan ở mục này đã cung cấp những cơ sở khoa học tin cậy cho việc nghiên cứu về vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
Đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội Việt Nam
trong xây dựng NNPQ XHCN cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu với
nhiều nội dung khác nhau
Một là, các công trình nghiên cứu luận giải những khái niệm cơ bản
trong cơ cấu, tổ chức, hoạt động của Quốc hội như: Khái niệm hoạt động lập pháp, hoạt động giám sát, cơ chế giám sát của Quốc hội; tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát của Quốc hội; những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Quốc hội…
Trang 23Cuốn sách Bàn về Quốc hội và những thách thức của khái niệm của tác
giả Nguyễn Sĩ Dũng, được NXB Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản vào
tháng 8 năm 2017 đã phân tích về cơ sở lý luận, những khái niệm trong hoạt động của Quốc hội Tác giả đã nêu lên nhiều khái niệm cơ bản như: 1 Quốc hội trong khung khái niệm của việc tổ chức quyền lực nhà nước; 2 Đại diện như một chức năng; 3 Chức năng lập pháp; 4 Chức năng giám sát; 5 Hướng đến một Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp Bên cạnh việc thay đổi nội hàm các khái niệm, một loạt các thuật ngữ, các khái niệm chưa từng có
ở nền kinh tế tập trung được trình bày trong cuốn này đó là: Quy trình lập pháp, các quy tắc đề xuất ý kiến của các đại biểu, khi nào đề xuất của người đại biểu được Quốc hội đưa vào chương trình làm việc, khi nào thì không Tất cả những quy tắc đó được gọi là Luật Nghị viện, cho đến nay vẫn chưa có ở Việt Nam Tác giả đã đưa ra những quan điểm, những giải thích độc đáo, sáng tạo Đặc biệt, tác giả đã đưa ra sáng kiến khắc phục những hạn chế trong hoạt động của Quốc hội hiện nay bằng cách đưa ra cách thành lập đơn vị bầu cử thoát ly khỏi đơn vị hành chính địa phương Với những nội dung mà cuốn sách bàn tới, giúp chúng ta có thể hiểu sâu hơn về bản chất và quá trình chuyển dịch của Quốc hội Việt Nam; vai trò giám sát của Quốc hội trong vận hành bộ máy nhà nước; hay khái niệm “đại diện” của các đại biểu Quốc hội đối với các thành phần trong xã hội Cuốn sách đã có những đóng góp sâu sắc đối với việc nhận thức vị trí, vai trò của Quốc hội Việt Nam
Trên cơ sở tập hợp các bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp trong 5 năm (2000 - 2005), công trình Quốc hội Việt Nam - những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Văn phòng Quốc hội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005 tập
trung vào các vấn đề về quá trình đổi mới của Quốc hội trên phương diện lý
luận và thực tiễn Công trình đã đưa ra nhiều luận điểm khoa học và bài học
thực tiễn góp phần vào quá trình đổi mới của Quốc hội, đặc biệt trong các dịp
Trang 24sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 và các nghị quyết của Quốc hội về Quy chế hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội Nhiều vấn đề nêu lên trong công trình này được chấp nhận, được hiện thực hóa bằng mô hình tổ chức và quy trình hoạt động mới của Quốc hội Nhiều vấn đề đã và đang tiếp tục được nghiên cứu để vận dụng vào quá trình xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội
Cùng đi sâu phân tích, luận giải trên phương diện lý luận và thực tiễn
về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội đáp ứng yêu cầu
của thời kỳ đổi mới có Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Cơ cấu tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới đất nước” do tác giả
Nguyễn Văn Thuận làm chủ nhiệm đề tài, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội,
(2000 - 2004) và cuốn sách Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi
mới của PGS.TS Phan Trung Lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Các
tác giả đã phân tích, chứng minh tổ chức Quốc hội Việt Nam là sự thể hiện đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước Đồng thời, các tác giả đi sâu phân tích địa vị pháp lý của Quốc hội trong cơ chế quyền lực nhà nước Các công trình đã cung cấp một cách chi tiết những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong tổ chức, hoạt động của Quốc hội Việt Nam
Sách Quốc hội Việt Nam - 60 năm hình thành và phát triển, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, là công trình tập hợp gần 50 bài phát
biểu, các bài tham luận tại Hội thảo Quốc hội Việt Nam - 60 năm hình
thành và phát triển Các bài viết trong cuốn sách đã nêu bật được ý nghĩa
và những bài học kinh nghiệm về sự ra đời, hoạt động của Quốc hội; quá trình phát triển của Quốc hội; vai trò, vị trí và những vấn đề đang tồn tại đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay
Luận án Cơ sở lý luận của việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương
thức hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Thanh
Vân (bảo vệ năm 2003) chuyên ngành Lý luận Nhà nước và pháp quyền,
Trang 25mã số: 5.05.01, đã tập trung vào các nội dung như: 1) Nghiên cứu tổ chức quyền lực nhà nước, vị trí, tính chất của Quốc hội, đưa ra các khái niệm về
cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, vai trò của Quốc hội trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; 2) Phân tích, hệ thống hóa những giá trị lịch sử thông qua thực tiễn cơ cấu
tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội; 3) Trên cơ sở những lý luận và thực tiễn, công trình đã nêu lên những đánh giá, những giải pháp nhằm phục vụ trực tiếp cho quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và hoạt động của Quốc hội Việt Nam hiện nay Công trình đã có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng các khái niệm về cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội Từ đó, luận án chỉ ra những đặc điểm riêng trong phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam hiện nay như: Phương thức hoạt động của Quốc hội nước ta xuất phát từ đặc điểm của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; phương thức hoạt động của Quốc hội dựa trên nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất
có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; phương thức hoạt động của Quốc hội phụ thuộc và chi phối bởi nguyên tắc tập trung dân chủ, là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong quá trình tổ chức và hoạt động của nhà nước ta; phương thức hoạt động của Quốc hội xuất phát từ chính bản thân
vị trí, tính chất của Quốc hội trong điều kiện hình thức tổ chức nhà nước đơn nhất và Quốc hội hoạt động không thường xuyên; phương thức hoạt động của Quốc hội còn phụ thuộc vào những điều kiện đặc thù của nước ta: Trước đây phải trải qua các cuộc chiến tranh liên miên và ngày nay đang trong giai đoạn xây dựng và củng cố nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Hai là, các công trình nghiên cứu cho thấy bức tranh toàn cảnh về hoạt
động của Quốc hội, quá trình phát triển cả về tổ chức và hoạt động của Quốc
Trang 26hội từ khi thành lập đến nay Từ đó, các công trình đưa ra những đánh giá quan trọng về quá trình đổi mới về lý luận và thực tiễn hoạt động của Quốc hội
Cuốn Lịch sử Quốc hội Việt Nam (các tập), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội Công trình tổng hợp một cách đầy đủ và hệ thống về toàn bộ lịch sử, thực tiễn hoạt động của Quốc hội từ khi thành lập Công trình sử dụng phương pháp lịch sử để phân kỳ, qua đó đã tái hiện được toàn bộ hoạt động của Quốc hội Việt Nam từ năm 1946 đến nay Nhờ đó người đọc có thể thấy
rõ từng bước phát triển của Quốc hội gắn với những giai đoạn của cách mạng Việc sử dụng kết hợp các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, logic… trong công trình này đã góp phần đánh giá, nhận xét và rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn nhằm phục vụ cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay Đây là công trình khoa học lịch sử về Quốc hội được biên soạn nghiêm túc, khoa học, là nguồn tư liệu quý báu để tác giả kế thừa
Nhân dịp kỉ niệm 70 năm hình thành và phát triển Quốc hội Việt Nam,
Bộ Thông tin và Truyền thông đã phát hành cuốn sách Quốc hội Việt Nam -
70 năm hình thành và phát triển (2016) Cuốn tài liệu được biên soạn nhằm
tuyên truyền về quá trình 70 năm hình thành và phát triển về Quốc hội Việt Nam gắn liền với lịch sử cách mạng dân tộc, từ Quốc dân Đại hội Tân Trào - tiền thân của Quốc hội Việt Nam và cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 bầu
ra Quốc hội khóa I, đến các khóa Quốc hội tiếp theo; khẳng định vai trò quan trọng của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước CHXHCN Việt Nam Cuốn sách là tư liệu quý cung cấp những thông tin quan trọng về hoạt động của Quốc hội cũng như quá trình phát triển của Quốc hội trong 70 năm qua
Ba là, các nghiên cứu nêu và phân tích những đòi hỏi về lý luận và thực
tiễn của Quốc hội Việt Nam trong quá trình xây dựng NNPQ; những tiêu chí,
Trang 27yêu cầu, đòi hỏi quan trọng mà Quốc hội phải có để đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam; những kinh nghiệm rút ra trong hoạt động của Quốc hội
Cuốn sách do tác giả Nguyễn Đăng Dung chủ biên: Quốc hội Việt Nam
trong Nhà nước pháp quyền, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Tác giả tập
trung làm rõ những yêu cầu của quốc hội/nghị viện trong NNPQ Tác giả tập trung phân tích và lý giải về những đòi hỏi của Quốc hội Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân Đó là: Quyền lập pháp không chỉ bao gồm việc thảo luận và ban hành các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật, mà còn cả những hoạt động khác tạo nên nền tảng sinh hoạt hợp pháp của các cơ quan cấu thành của một nhà nước dân chủ; Quốc hội trong NNPQ là Quốc hội phải biết cách thực hiện chức năng lập pháp và lập pháp phải có mục tiêu gia tăng sự giàu có của dân tộc, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người; Quốc hội không những chỉ biết cách lập pháp - làm luật, phải còn biết cách thực hiện chức năng giám sát, với mục tiêu đảm bảo sự trong sạch
và tính chịu trách nhiệm của bộ máy nhà nước (nhất là bộ máy hành pháp); Quốc hội phải bao gồm những đại biểu không những chỉ được bầu ra một cách dân chủ, có khả năng thực sự cho việc đại diện quyền lợi của các cử tri,
mà còn phải có cơ cấu không áp đặt và phù hợp; khắc phục những điểm yếu tạo nên tính hoạt động hình thức của Quốc hội Việt Nam không chỉ về mặt kiến thức/nhận thức, mà quan trọng còn ở chỗ thiếu những quy trình, thủ tục hoạt động (luật nghị viện); Quốc hội trong NNPQ phải biết nắm và phân bổ túi tiền của Nhà nước; Quốc hội trong NNPQ phải biết phát huy chức năng đại diện; Quốc hội trong NNPQ với điều kiện một Đảng Cộng sản cầm quyền, phải biết phát huy vai trò phản biện của MTTQ Việt Nam; thực hiện sự phân công, phân nhiệm rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, các đại biểu Quốc hội không thể kiêm nhiệm các nhiệm vụ hành pháp hoặc tư pháp, hoặc các nhiệm vụ chuyên môn khác và dần dần phải trở thành đại biểu chuyên
Trang 28nghiệp có kỹ năng; trong NNPQ, rất khác với trước đây Quốc hội phải bị giới hạn quyền lực bằng hoạt động tư pháp
Đề cập đến những nội dung như: Vị trí, vai trò, thẩm quyền của nghị viện; cơ cấu tổ chức của nghị viện; các thủ tục hoạt động của nghị viện; quy trình lập pháp của nghị viện; vị trí pháp lý của đại biểu nghị viện… có công
trình Tổ chức và hoạt động của Nghị viện ở một số nước trên thế giới, của TS.Vũ Hồng Anh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Tác giả đã phân
tích, khái quát những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của nghị viện, những quy định của hiến pháp và pháp luật về tổ chức và hoạt động của nghị viện một số nước trên thế giới Đặc biệt, tác giả cũng đã đi sâu phân tích cơ cấu và hoạt động của Nghị viện ở một số nước tiêu biểu như: Anh, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ
Bốn là, các công trình đi sâu phân tích những vấn đề lý luận về các hoạt
động đặc thù của Quốc hội như: Lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Hồng Nguyên: Nâng cao chất
lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội, 2007; cuốn sách Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2008 do PGS.TS Lê
Văn Hòe chủ biên Với phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp với phương pháp xã hội học và phương pháp hệ thống, các tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động lập pháp và chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay Qua đó, các công trình đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng khái niệm “chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội”, xác định tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng
Trang 29hoạt động lập pháp của Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
Sách chuyên khảo Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc
hội do tác giả Trần Ngọc Đường chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2004 cũng đã đi sâu phân tích những cơ sở lý luận về hoạt động lập pháp (yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động lập pháp, đặc điểm của hoạt động lập pháp, tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động lập pháp) và quy trình lập pháp; lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam
Trong cuốn sách Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám
sát của Quốc hội, Hà Nội, 2009 của TS Trương Thị Hồng Hà, tác giả đã đưa
ra nhiều vấn đề lý luận cơ bản về quyền giám sát tối cao của Quốc hội như:
Cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội; những yếu tố tác động đến hiệu quả của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội (yếu tố chính trị, kinh tế, truyền thống, văn hóa, đạo đức, nhận thức và ý thức pháp luật, yếu tố tổ chức - pháp lý, yếu tố quốc tế) Đóng góp quan trọng của cuốn sách là làm rõ chức năng giám sát của Quốc hội từ lý luận đến thực tiễn; những yêu cầu khách quan của việc thực hiện chức năng giám sát và vai trò của các cơ quan, các ủy ban, của đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội
Tác giả Riccardo Pelizzo, Frederick Stapenhurst với công trình
“Parliamentary Oversight Tools: A Comparative Analysis” (Các công cụ giám sát của Nghị viện: Phân tích So sánh), NXB Routledge, 2012 Cuốn sách đã đi sâu điều tra năng lực của các nghị viện trong việc giám sát các hoạt động, chính sách và chi tiêu ngân sách của chính phủ Với phương pháp phân tích, so sánh, cuốn sách đã nghiên cứu làm rõ các công cụ giám sát của nghị viện và các điều kiện để các công cụ đó được sử dụng một cách có hiệu quả Dựa trên kết quả của sự hợp tác kéo dài 9 năm giữa các tác giả, cuốn sách là công trình khoa học được rút ra từ các phát hiện của dữ liệu điều tra do Ngân
Trang 30hàng Thế giới và Liên minh Liên đoàn Nghị viện thu thập, phân tích thông tin
từ 120 nghị viện trên thế giới Nội dung của cuốn sách thể hiện một nỗ lực nghiêm túc của các tác giả trong việc khẳng định: Chất lượng của nền dân chủ
và quản trị tốt có thể được cải thiện bằng cách tăng cường năng lực giám sát của các cơ quan lập pháp Đồng thời, cuốn sách còn nghiên cứu về các công
cụ sẵn có cho các nghị viện trên toàn thế giới và sử dụng cách tiếp cận so sánh xem những công cụ nào được sử dụng phổ biến, đạt được hiệu quả cao; đánh giá khả năng giám sát của các công cụ đó; năng lực giám sát có liên quan như thế nào đến các yếu tố thể chế và hiến pháp, chỉ ra yếu tố đảm bảo cho việc các công cụ giám sát được sử dụng có hiệu quả
Báo cáo POLICY REPORTS: The Role of Parliament in Promoting Good Governance (Vai trò của nghị viện trong việc thúc đẩy hoàn thiện nền quản trị
quốc gia) đăng trên trang:
http://www.uneca.org/publications/role-parliament-promoting-good-governance của Ủy ban Kinh Tế Châu Phi thuộc Liên Hiệp Quốc là một báo cáo có nhiều giá trị tổng hợp và ghi nhận những thành tố quan trọng nhất của cơ quan dân biểu để hình thành nên một thể chế dân chủ hoạt động tốt Báo cáo khẳng định, các nghị viện là một trong những thể chế chính yếu của nhà nước trong một hệ thống quản lý dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy dân chủ và quản trị tốt Với tư cách là đại diện dân cử của dân tộc, các nghị viện có nhiệm vụ là đảm bảo sự nghiệp của người dân Trên cơ
sở những khảo sát thực tiễn, báo cáo đã chỉ ra các chức năng quan trọng (chức
năng lập pháp, chức năng đại diện, chức năng giám sát/kiểm soát nhánh quyền
lực hành pháp) và những yêu cầu quan trọng đối với các chức năng của nghị viện Báo cáo cũng đưa ra các giải pháp để các nghị viện thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình Đó là: Các nghị viện cần tự tổ chức, thành lập các cơ quan
cụ thể gọi là ủy ban nghị viện hoặc ủy ban thường trực Các ủy ban nghị viện sẽ: a) Xem xét các dự luật được chính phủ trình lên; b) Điều tra quá trình sử dụng ngân sách của chính phủ thông qua việc gia nhập ủy ban ngân sách; và c) Chất
Trang 31vấn chính phủ với tư cách một nhóm hoặc một thành viên cá nhân của chính phủ trong các buổi chất vấn Có thể khẳng định báo cáo này đã cố gắng phân tích sự đóng góp của nghị viện để thúc đẩy một nền quản trị tốt và củng cố nền dân chủ
ở Châu Phi Nó tập trung vào vai trò đại diện của nghị viện, qua đó kiểm tra cách thức nghị viện phản hồi thông tin, trách nhiệm giải trình và cung cấp dịch vụ tốt hơn cho người dân Nó minh họa các lựa chọn khác nhau mà nghị viện có thể sử dụng để liên kết tốt hơn với công dân để hoàn thành vai trò đại diện Báo cáo sử dụng các ví dụ, sáng kiến và kinh nghiệm từ các quốc gia được lựa chọn để chỉ
ra cách thức đại diện của nghị viện đang phát triển như thế nào, cách nghị viện đáp ứng được kỳ vọng của công dân ra sao và vai trò đại diện của nghị viện có thể được tăng cường như thế nào sao cho công dân có thể tham gia tích cực và hiệu quả vào quá trình ra quyết định của nghị viện
Tác giả Magnus Blomgren, Olivier Rozenberg với cuốn “Parliamentary Roles in Modern Legislatures” (Vai trò của nghị viện trong Lập pháp hiện đại), NXB Routledge, 2012 Cuốn sách này tập hợp các tác giả có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu vai trò về lập pháp, vai trò của nghị sĩ trong các cơ quan lập pháp thời hiện đại Cuốn sách bình luận về những đánh giá, nhận xét của một số nghiên cứu về vai trò lập pháp Các vai trò của nghị viện như: Lập pháp và đại diện, đây là các vai trò chuyên nghiệp tạo ra sự kết nối giữa các nhà lập pháp với tổ chức của họ Dựa trên các nghiên cứu điển hình với khoảng 40 năm khảo sát, thu thập dữ liệu ở các nước như: Đức, Hà Lan, Anh, Áo, Hungary,
Úc, New Zealand và Nghị viện Châu Âu, cuốn sách này xem xét mối liên hệ giữa vai trò lập pháp, vai trò đại diện với các cơ chế tổ chức khác nhau và hành
vi của nghị viện, quá trình hoạt động của các nghị viện khi thực hiện các chức năng lập pháp và đại diện của nghị viện Cuốn sách lập luận rằng: Vai trò của các nghị sĩ phụ thuộc vào cử tri mà họ đại diện; giữa cử tri bỏ phiếu cho họ, đảng của họ, người dân của đất nước họ và cả chính họ, những xung đột về lòng trung thành cũng có thể xảy ra trong khi những nghị sĩ này thực hiện hoạt động lập
Trang 32pháp và đại diện Cuốn sách Vai trò của nghị viện trong lập pháp hiện đại dựa
trên nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu khác nhau, với tư liệu phong phú,
đã cung cấp cách nhìn mới, khoa học về vai trò của nghị viện trong lập pháp hiện đại
Tác giả Gareth Griffith với công trình “Parliament and Accountability: The Role of Parliamentary Oversight Committees” (Nghị viện và trách nhiệm giải trình: Vai trò của Ủy ban Giám sát Nghị viện), NSW Parliamentary Library Research Service, 2005 Trọng tâm của bài viết này là vai trò của các ủy ban giám sát nghị viện trong cơ chế kiểm tra giám sát Bài viết bắt đầu bằng việc cắt nghĩa chủ đề rộng hơn về trách nhiệm giải trình của nghị viện Mặc dù trách nhiệm giải trình của nghị viện quan trọng hơn bao giờ hết, nghị viện phải có ý thức chia sẻ công việc đó với các cơ quan khác Như Peter Barberis nhận định: “Điều quan trọng là phải thiết lập một mối quan hệ làm việc hợp lý giữa nghị viện và các cơ quan có trách nhiệm giải trình của nghị viện” Ủy ban Giám sát của nghị viện là một trong những cơ quan có trách nhiệm này, đặt nghị viện vào vai trò giám sát Công trình đưa ra quan điểm là phải có ít nhất năm loại ủy ban giám sát của nghị viện, có thể được xác định: (a) các Ủy ban Đánh giá lập pháp có nhiệm vụ rà soát dự thảo Luật Chính phủ và các luật khác; (b) Các Ủy ban Kế toán công cộng liên quan đến giám sát tài chính công; (c) các Ủy ban Đánh giá để kiểm tra sự phân bổ của các cơ quan Chính phủ; (d) các Ủy ban Thường trực khác liên quan đến việc kiểm tra chính sách và hành chính; và (e) các Ủy ban Giám sát đặc biệt được thành lập để giám sát các cơ quan điều tra độc lập Trách nhiệm của loại ủy ban thứ nhất là bảo
vệ chống lại hành vi xâm phạm pháp luật đối với các quyền cá nhân, loại thứ hai để bảo vệ túi tiền công cộng, loại thứ ba và thứ tư bảo vệ cho Ban chấp hành, và loại thứ năm để bảo vệ người giám hộ liêm chính Các ủy ban giám sát đặc biệt hiện nay được điển hình là của Nghị viện Úc Điều
Trang 33này đặc biệt xảy ra ở NSW (xứ New South Wales), nơi mà các ủy ban Nghị viện thực hiện giám sát hầu hết các cơ quan điều tra độc lập Trường hợp ngoại lệ ở đây là Ủy ban Tội phạm NSW, việc giám sát Ủy ban này không phải là trách nhiệm của một ủy ban nghị viện cụ thể nào Hiện tại, Nghị viện NSW có bốn ủy ban chung, được thành lập theo quy chế nhất định và chặt chẽ, để giám sát các tổ chức khác nhau Đó là: Ủy ban Thường trực chung; Uỷ ban Hỗn hợp cho khối Văn phòng Ombudsman và Ủy ban Cảnh sát liêm chính; Ủy ban Hỗn hợp cho khối Ủy ban Khiếu nại về Chăm sóc Y tế; Ủy ban Hỗn hợp về Trẻ em - Thanh thiếu niên Các ủy ban này hoạt động giám sát khá chặt chẽ và tạo nên vai trò đặc trưng của nghị viện
1.2 Những nghiên cứu về thực trạng thực hiện vai trò của Quốc
hội Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đề cập đến những nội dung của quy trình lập pháp, năng lực lập pháp,
hoạt động lập pháp của Quốc hội có các công trình như: Đề tài Đổi mới và
hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề tài cấp Bộ, mã số 99 - 98 - 169 năm 2001 của
Văn phòng Quốc hội do Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Vũ Mão làm chủ
nhiệm đề tài; cuốn sách chuyên khảo Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập
pháp của Quốc hội do tác giả Trần Ngọc Đường chủ biên, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2004; đề tài KX 04.05 năm 2005 của tác giả Vũ Đức Khiển
làm chủ nhiệm đề tài Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng các
yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân;
PGS.TS Lê Văn Hòe với đề tài cấp Bộ Tăng cường năng lực lập pháp của
Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung các công trình đều đã đánh giá những ưu
điểm và hạn chế của quy trình lập pháp, năng lực lập pháp, hoạt động lập pháp của Quốc hội
Trang 34Đánh giá về những ưu điểm trong việc thực hiện chức năng lập pháp, hầu hết các công trình đều có nhận xét:
- Quy trình lập pháp ngày càng được đổi mới theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tính chủ động, dân chủ và cụ thể trong văn bản pháp luật Việc điều chỉnh thời gian Quốc hội thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã góp phần rất lớn để tạo điều kiện để cho cơ quan soạn thảo, cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh có thời gian, tăng sự chủ động của các cơ quan trong việc chuẩn bị, xây dựng văn bản
- Quá trình bổ sung và sửa đổi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
đã được thực hiện ngày càng dân chủ và linh hoạt hơn
- Công tác soạn thảo, thẩm tra dự án luật được tiến hành chủ động và tích cực Cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp đã có sự phân công được rõ ràng hơn Quá trình chuẩn bị dự án cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có sự chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, thận trọng các hoạt động như: Chỉnh lý, hoàn thiện văn bản trước khi đem trình Quốc hội thông qua Việc xem xét và thông qua dự án luật cũng
đã từng bước cải tiến, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng, tiến
độ của các hoạt động này
Bên cạnh đánh giá những kết quả đạt được như trên, các công trình nghiên cứu đã đánh giá những hạn chế trong công tác lập pháp, quy trình lập pháp của Quốc hội trong thời gian qua:
- Hoạt động xây dựng một số luật và pháp lệnh nhiều khi chưa thực sự bám sát nhu cầu thực tiễn, từ đó luật phải chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần, làm ảnh hưởng đến sự ổn định và tính khả thi của hệ thống pháp luật
- Trong quy trình xây dựng luật và pháp lệnh nhiều khâu vẫn chưa thống nhất, đồng bộ và có điểm chưa hợp lý; việc thực hiện đôi lúc còn chưa thực sự nghiêm túc
Trang 35- Các ủy ban của Quốc hội thực hiện thẩm tra dự án luật còn hạn chế
- Trong nhiều văn bản luật và pháp lệnh được ban hành còn có những quy định mâu thuẫn hoặc có sự trùng lặp
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động bộ máy giám sát của nghị viện nước ngoài, nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội Việt
Nam, TS.Trương Thị Hồng Hà trong cuốn sách Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm
bảo chức năng giám sát của Quốc hội, Hà Nội, 2009, đã khẳng định hoạt động
giám sát của Quốc hội Việt Nam đã có những tiến bộ ấn tượng, hoạt động giám sát của Quốc hội đã khắc phục dần được tính hình thức Công tác giám sát của Quốc hội đã có những đổi mới nhất định trong các hình thức giám sát Bên cạnh
đó, tác giả cũng khẳng định, trên thực tế, hoạt động giám sát của Quốc hội còn nhiều bất cập, Quốc hội chưa phát huy được toàn diện các hình thức giám sát pháp luật cho phép thực hiện hoạt động giám sát một cách có hiệu quả trong một tổng thể thống nhất của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Nội dung của công trình nghiên cứu này phản ánh tương đối toàn diện, có hệ thống
về hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong những nhiệm kỳ qua, nhất
là thời kỳ đổi mới Bên cạnh những vấn đề lý luận về quyền giám sát, hoạt động giám sát của Quốc hội, những phân tích, đánh giá khách quan, khoa học về hoạt động giám sát của Quốc hội, cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội mà tác giả đề cập đến, đã góp phần cung cấp cho người đọc những luận cứ quan trọng đánh giá vai trò của Quốc hội Việt Nam trong hoạt động giám sát những năm qua Đây là một công trình nghiên cứu với cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, linh hoạt; những vấn đề nêu và phân tích thực sự là một tài liệu quan trọng
Đề tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Quốc hội quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội trong thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO” do TS Đinh Xuân Thảo làm chủ nhiệm năm 2010 Đề
tài đã đề cập đến thực tiễn Quốc hội quyết định những vấn đề về kinh tế - xã
Trang 36hội, nguyên nhân của những bất cập, hạn chế và những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này Về thực trạng hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO, đề tài đã khẳng định trong những năm từ 2000 đến 2010, Quốc hội đã dần thể hiện vai trò của Quốc hội trong việc sử dụng công cụ chính sách then chốt là tài chính, tiền tệ quốc gia nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm ổn định vĩ mô; quyết định dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách ngày càng sát với thực tế; quyết định các công trình quan trọng của quốc gia được chuẩn hóa, cân nhắc kỹ lưỡng về mọi mặt, đảm bảo quyền lợi của Nhân dân cũng như tính hiệu quả, tiết kiệm trong sử dụng ngân sách nhà nước Đối với kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm và hàng năm, Quốc hội xem xét các nội dung: Mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu lớn; các nhiệm vụ, giải pháp lớn; trách nhiệm tổ chức thực hiện Nội dung quyết định đã thay đổi với nhiều chỉ tiêu chủ yếu hơn, phân loại cụ thể, phù hợp với thực tiễn yêu cầu phát triển đất nước Công trình nghiên cứu cũng đánh giá, bên cạnh những mặt đạt được, hoạt động này vẫn còn tồn tại những hạn chế Trong việc quyết định chính sách tài chính, tiền tệ, Quốc hội chưa thực hiện đầy đủ các thẩm quyền, còn nhiều vấn đề cần phải được xem xét, quyết định một cách tổng thể như: Kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm; cơ cấu kinh tế dài hạn; quy hoạch phát triển kinh tế vùng, ngành; phân bổ nguồn lực của đất nước; các cân đối vĩ mô của nền kinh tế
Cuốn sách Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới của
PGS.TS Phan Trung Lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách được kết cấu thành 3 chương, trong chương 1, tác giả đề cập đến những vấn
đề lý luận trong tổ chức, cơ cấu của Quốc hội, toàn bộ chương 2 và chương 3, tác giả đã phân tích hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội, hoạt động của đại biểu Quốc hội Từ đó, tác giả cũng đã đưa ra những đánh giá về chất
Trang 37lượng hoạt động lập pháp, giám sát và hoạt động của đại biểu Quốc hội Đây
là một trong những cuốn sách chuyên khảo phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về Quốc hội
Quốc hội Việt Nam - 60 năm hình thành và phát triển, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội (2006) Bên cạnh những bài viết về những vấn đề lý luận, các bài viết chuyên đề về: Đại biểu Quốc hội, hoạt động lập hiến của Quốc hội trong 60 năm qua, thực quyền của Quốc hội trong quyết định các vấn đề kinh tế - tài chính, về giám sát của Quốc hội, về Quốc hội và quyền làm chủ của Nhân dân… đã có những cách phân tích chuyên sâu, đánh giá thực trạng hoạt động của Quốc hội Đây là nguồn tài liệu chuyên sâu phục vụ cho quá trình nghiên cứu của tác giả trong hiện tại và sau này
Luận án Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu
quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam, luận án tiến sĩ luật học mã số
62.38.01.01 của tác giả Trần Tuyết Mai, Đại học Quốc gia Hà Nội đã phân tích và luận giải những cơ sở lý luận về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; những quy định pháp luật về hoạt động giám sát Đồng thời công trình đã đánh giá thực trạng hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay
Luận án Quyền giám sát của Quốc hội đối với Toà án nhân dân - Viện
Kiểm sát nhân dân, luận án tiến sĩ luật học mã số 5.05.05 của tác giả Phạm
Văn Hùng, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 2004 Công trình đã phân tích về vị trí pháp lý của Quốc hội, sự hình thành, khái niệm, bản chất, đặc điểm quyền giám sát tối cao làm căn cứ cho việc hình thành quyền giám sát của Quốc hội đối với Toà án và Viện Kiểm sát nhân dân Đồng thời, công trình cũng đi sâu phân tích và đánh giá quá trình thực hiện quyền giám sát Quốc hội qua các thời kỳ đối với Tòa án nhân dân - Viện Kiểm sát nhân dân
Đó là: Chủ thể thực hiện quyền giám sát là Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa
có sự giải thích, hướng dẫn về yêu cầu cần thể hiện trong các báo cáo nên Tòa
Trang 38án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thường bị lúng túng trong việc chuẩn bị nội dung báo cáo Qua nhiều kỳ họp, Quốc hội chưa có lần nào ra nghị quyết riêng đánh giá chất lượng hiệu quả cũng như những vấn đề cần lưu
ý hoạt động của mỗi ngành mà thường ghi trong Nghị quyết chung của Quốc hội về kinh tế xã hội nhưng nội dung liên quan đến hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao còn mờ nhạt, chưa tạo động lực phấn đấu của mỗi ngành trong năm tiếp theo Luận án cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình chất vấn, trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, của Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân như: Có không ít chất vấn không mang tính giám sát mà chỉ là câu hỏi đề nghị cung cấp thông tin; cá biệt có chất vấn ghi không đúng đối tượng chất vấn hoặc nội dung chất vấn không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Việc trả lời chất vấn của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao vẫn còn sơ suất xảy ra làm cho nhiều
cử tri không đồng tình
Các bài viết trên các tạp chí như: Bài viết Không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội của tác giả Nguyễn Phúc
Thanh đăng trên Tạp chí Cộng sản, tr 32 - 34, 49, số 4, 2006; PGS.TS
Nguyễn Đăng Dung với bài Tăng sự cẩn trọng trong hoạt động lập pháp ở
Quốc hội, Nghiên cứu lập pháp 2004 số (2), tr 21 - 25; TS Phạm Tuấn Khải
(2005): Quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động xây dựng pháp
luật, Nghiên cứu lập pháp (8), tr 3 - 7; TS Phạm Tuấn Khải (2006): Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý nghĩa và thực trạng,
Nghiên cứu lập pháp (14), tr 20 - 24; Chức năng giám sát của Quốc hội của
GS.TS Nguyễn Đăng Dung, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3, 2008, tr 9 -
12, 20.… Những bài viết này đã đánh giá ưu điểm và hạn chế trong hoạt động giám sát, hoạt động lập pháp của Quốc hội Các bài viết cũng góp phần không
Trang 39nhỏ trong việc làm rõ vị trí, nhiệm vụ của Quốc hội Việt Nam trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam
Các tác giả Trần Ngọc Đường, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Văn Hiển,
Bùi Xuân Đức, Lê Hồng Hạnh với công trình Mô hình xây dựng pháp luật
trong Nhà nước pháp quyền - Từ lý luận đến thực tiễn, NXB Tư Pháp, Hà
Nội, 2017; Trương Thị Hồng Hà, Vũ Thị Hải Yến, Đào Trí Úc với công trình
Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2018 đã đi sâu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của mô hình xây dựng pháp luật trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, thực
trạng xây dựng hệ thống pháp luật ở Việt Nam Đặc biệt công trình Mô hình
xây dựng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền - Từ lý luận đến thực tiễn, đã
đưa ra những đánh giá về hệ thống pháp luật Việt Nam, mô hình xây dựng pháp luật Việt Nam Các tác giả cho rằng, mô hình xây dựng pháp luật Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của xây dựng NNPQ XHCN, vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế, mà nguyên nhân xuất phát cả từ phía chủ quan
và khách quan, trong đó, nhân tố về con người, trình độ là nguyên nhân quyết
định Trên cơ sở những khảo sát thực tiễn, các tác giả của công trình Mô hình
xây dựng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền - Từ lý luận đến thực tiễn, đã
nêu lên những nội dung nhằm đổi mới, hoàn thiện mô hình xây dựng pháp luật trong NNPQ hiện nay
1.3 Những nghiên cứu về quan điểm, phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Liên quan đến quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam đã có nhiều công
trình đề cập đến Tiêu biểu là các công trình sau: Đề tài Đổi mới và hoàn thiện
quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của Ủy ban Thường
Trang 40vụ Quốc hội, đề tài cấp Bộ, mã số 99 - 98 - 169 năm 2001 của Văn phòng
Quốc hội do Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Vũ Mão làm chủ nhiệm đề tài; đề
tài KX 04.04 năm 2005 Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động
của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta của PGS.TS Trần Ngọc Đường; đề tài
KX.04.05 năm 2005 của TS.Vũ Đức Khiển làm chủ nhiệm đề tài về Xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; PGS.TS Lê Văn Hòe làm
chủ nhiệm đề tài cấp Bộ năm 2006 về Tăng cường năng lực lập pháp của
Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay; cuốn sách Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội, Hà Nội, 2009 của TS Trương Thị Hồng Hà; tác giả
Lê Thanh Vân với cuốn sách Một số vấn đề về đổi mới tổ chức, hoạt động của
Quốc hội, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007; Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới của PGS.TS Phan Trung Lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010; tác giả Nguyễn Minh Đoan với cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; tác giả Đinh Xuân
Thảo chủ biên cuốn Tiếp tục đổi mới hoạt động của Quốc hội từ thực tiễn
hoạt động của Quốc hội khóa XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam,
NXB Hồng Đức, 2017… Nhìn chung các công trình đều cho rằng: Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội cần thiết phải đảm bảo tính ổn định, tính khách quan, gắn lý luận với thực tiễn, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng; đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Quốc hội
Các tác giả cũng khẳng định, để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay, cần thiết phải tập trung vào các vấn đề như: Quy trình lập pháp; cơ chế giám sát, cơ chế phân công và phối hợp trong việc kiểm