1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Kế toán quản trị - Bài 6: Kế toán trách nhiệm

20 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 503,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Kế toán quản trị - Bài 6: Kế toán trách nhiệm với các nội dung khái niệm và cơ sở hình thành trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp; đặc điểm và cách lập, phân tích báo cáo bộ phận; cách tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp và toàn bộ; phân bổ chi phí gián tiếp.

Trang 1

BÀI 6 KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

Hướng dẫn học

Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:

 Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn

 Đọc tài liệu:

1 Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

2 Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội

3 Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế TPHCM

 Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email

 Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học

Nội dung

Bài 6 trong học phần Kế toán quản trị 2, nghiên cứu trách nhiệm của nhà quản trị các cấp đối với nhà quản trị cấp trên như thế nào Đánh giá hiệu quả của các trung tâm chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tư Cách xác định giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp và toàn bộ Cách lập báo cáo kết quả kinh doanh theo 2 phương pháp xác định chi phí Cách lập báo cáo bộ phận và phân tích hiệu quả kinh doanh của từng bộ phận từ đó góp phần đánh giá trách nhiệm của nhà quản trị Đồng thời giới thiệu cho người học cách phân bổ chi phí gián tiếp như thế nào để tính giá đúng, đủ các đối tượng chịu chi phí, từ

đó có các thông tin chính xác về kết quả và hiệu quả kinh doanh của các bộ phận trong doanh nghiệp

Mục tiêu

 Yêu cầu người học hiểu về khái niệm và cơ sở hình thành trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp

 Đặc điểm và cách lập, phân tích báo cáo bộ phận

 Cách tính giá thành sản phẩm theo phương pháp trực tiếp và toàn bộ

 Phân bổ chi phí gián tiếp

Trang 2

T ình huống dẫn nhập

Tập đoàn điện tử Sam Sung

Tập đoàn Sam sung là một tập đoàn đa quốc gia, đa lĩnh vực của Hàn Quốc có tổng hành dinh đặt tại Samsung Town (Seoul) Samsung được sáng lập bởi Lee Byung-chul năm 1938, được khởi đầu là một công ty buôn bán nhỏ, tập đoàn này sẽ phát triển dòng sản phẩm Điện thoại SS2015 cạnh tranh với iphone6 Plus của Apple Tập đoàn thấy giá nhân công tại Việt Nam và dự định sẽ đặt nhà máy sản xuất dòng sản phẩm này tại Việt Nam và theo kế hoạch sẽ thu được khoản lợi nhuận lớn Tuy nhiên, khi đặt nhà máy tại Việt Nam thì lãnh đạo tập đoàn đang băn khoăn trụ sở chính tại Hàn Quốc rất khó trực tiếp điều hành công việc sản xuất tại Nhà máy Do vậy, phải thực hiện phân quyền quản lý

1 Nếu các nhà quản trị cấp cao tại Hàn Quốc, trực tiếp điều hành nhà máy tại Việt Nam, tập đoàn gặp thuận lợi và khó khăn gì?

2 Tập đoàn gặp khó khăn và thuận lợi gì khi phân quyền quản lý cho nhà quản trị tại nhà máy đặt ở Việt Nam?

3 Các nhà quản trị cấp cao của tập đoàn tại Hàn Quốc làm thế nào để quản trị tốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam?

Trang 3

6.1 Khái niệm và phân loại các trung tâm kế toán trách nhiệm

6.1.1 Khái niệm trung tâm trách nhiệm

Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ

chức hoạt động mà nhà quản trị bộ phận chịu trách

nhiệm về toàn bộ hoạt động của bộ phận mình đối với

nhà quản trị cấp cao Trong doanh nghiệp dựa trên cơ

sở phân cấp quản lý tài chính mà phát sinh nhiều loại

trung tâm trách nhiệm khác nhau như trung tâm chi phí

như phân xưởng, trung tâm doanh thu như cửa hàng,

trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư…

Trung tâm trách nhiệm được hình thành từ đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động của từng doanh nghiệp và nó phụ thuộc và đặc điểm của hoạt động kinh doanh theo từng ngành nghề cụ thể Trung tâm trách nhiệm phát huy tác dụng khi cơ chế quản lý tài chính được phân cấp cụ thể cho từng người, từng bộ phận gắn với trách nhiệm, nghĩa

vụ và quyền lợi trong từng hoạt động cụ thể Báo cáo kết quả kinh doanh của từng bộ phận gắn với trách nhiệm của từng nhà quản trị cụ thể có giá trị rất cao đối với hiệu quả của các hoạt động trong hiện tại và tương lai Một tổ chức hoạt động phân cấp trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận: phòng, ban, phân xưởng… gắn với cơ chế tài chính khen thưởng, xử phạt thích đáng sẽ là động lực quan trọng trong quá trình tổ chức các hoạt động đạt hiệu quả cao Trong các tổ chức hoạt động khi phân cấp quản

lý tài chính mạnh mẽ, các nhà quản trị càng chủ động trong các quyết định điều hành doanh nghiệp Các nhà quản trị phát huy tính tư duy, sáng tạo trong các tình huống để tạo ra cái mới Khi đó nhà quản trị phải chịu trách nhiệm về các quyết định trong quyền hạn của mình Tuy nhiên việc phân cấp quản lý tài chính cũng có những hạn chế nhất định Việc phân cấp quản lý tài chính dẫn đến sự độc lập tương đối giữa các

bộ phận Khi nhà quản trị bộ phận đưa ra quyết định của bộ phận mình thường không xem xét sự ảnh hưởng đến các bộ phận khác như thế nào Mặt khác các bộ phận thường quan tâm đến mục tiêu của bộ phận mình mà coi nhẹ mục tiêu của bộ phận gắn với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Trong các tổ chức phân cấp quản lý tài chính, mỗi một bộ phận thường được coi là một trung tâm trách nhiệm, sự hoạt động của trung tâm gắn với trách nhiệm cụ thể của nhà quản trị

6.1.2 Phân loại trung tâm trách nhiệm và nội dung kế toán

Trung tâm trách nhiệm rất đa dạng và phong phú, vì nó phụ thuộc vào đặc điểm của hoạt động kinh doanh, phạm vi hoạt động, ngành nghề sản xuất, kinh doanh Song mỗi một trung tâm trách nhiệm cụ thể thường gắn với một nhà quản lý để xác định rõ trách nhiệm của các trung tâm trong việc tạo ra kết quả và hiệu quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp

Thông thường trong các đơn vị trung tâm trách nhiệm thường được chia thành những trung tâm sau:

 Trung tâm trách nhiệm chi phí Trung tâm trách nhiệm chi phí thường được hình thành tại các phân xưởng, đội sản xuất, tổ sản xuất gắn với trách nhiệm của quản đốc phân xưởng, tổ trưởng tổ sản xuất, đội trưởng đội sản xuất Mục tiêu của trung

Trang 4

tâm trách nhiệm chi phí là tối thiểu hóa chi phí Đầu vào của trung tâm là các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, tiền công và tình hình sử dụng máy móc thiết bị… có thể được đo bằng những thước đo khác nhau Đầu ra của trung tâm là các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất như số lượng và chất lượng sản phẩm, chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm…

Kế toán trách nhiệm chi phí có nhiệm vụ kiểm soát các khoản mục và yếu tố chi phí phát sinh theo các định mức và dự toán đã xây dựng Lập các báo cáo chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị Phân tích sự biến động của các định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung… Từ đó xác định những nguyên nhân ảnh hưởng và đưa ra các biện pháp nhằm giảm chi phí thấp nhất

 Trung tâm trách nhiệm doanh thu Trung tâm trách nhiệm doanh thu thường phát sinh tại các bộ phận bán hàng như cửa hàng, siêu thị, phòng kinh doanh… Trung tâm trách nhiệm doanh thu gắn với trách nhiệm của các cửa hàng trưởng, trưởng

bộ phận bán hàng, trưởng phòng kinh doanh Mục tiêu của trung tâm doanh thu là tối đa hóa doanh thu trên các thị trường Đầu vào của trung tâm doanh thu đó là số lượng và chất lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ chuẩn bị mang đi tiêu thụ Đầu

ra của trung tâm đó là các chỉ tiêu doanh thu bán hàng, tổng số tiền thu về thể hiện bằng thước đo giá trị

Kế toán trách nhiệm doanh thu, lập báo cáo về doanh thu các mặt hàng, ngành hàng, thị trường, thời gian… theo yêu cầu quản trị Từ đó phân tích doanh thu của từng mặt hàng, doanh thu theo thị trường, doanh thu theo cửa hàng, doanh thu theo thời gian… để xác định những nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu đưa ra các biện pháp nâng cao doanh thu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường

 Trung tâm đầu tư Trung tâm đầu tư thường phát sinh tại phòng đầu tư, ban giám đốc gắn với trách nhiệm là giám đốc doanh nghiệp, trưởng phòng đầu tư Đầu vào của trung tâm đầu tư đó là vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, vốn cho các phương án… Đầu ra của trung tâm đó lợi nhuận thu về từ kết quả hoạt động kinh doanh, các chỉ tiêu doanh thu và chi phí Để đánh giá trách nhiệm của trung tâm

đầu tư các nhà quản trị thường hay sử dụng chỉ tiêu ROI (return on investment)

Chỉ tiêu ROI được xác định như sau:

Lợi nhuận trước thuế + Lãi tiền vay ROI =

Vốn kinh doanh bình quân Chỉ tiêu này cho biết, sau một kỳ hoạt động kinh doanh hoặc kỳ vọng cho kỳ tới, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng vốn thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu sử dụng vốn càng tốt, thể hiện trình độ tổ chức các yếu

tố sản xuất của các nhà quản trị

Khi viết công thức tính ROI, ta có thể triển khai dưới dạng:

ROI =

Doanh thu 

Vốn kinh doanh bình quân Khi viết công thức ROI theo cách này sẽ làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sức sinh lời của vốn đầu tư của một trung tâm đầu tư

Trang 5

Hệ số lợi nhuận trên doanh thu được gọi là lãi trên doanh thu (sales margin) Chỉ

tiêu này cho biết khi thực hiện được 1 đồng doanh thu thì doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận bằng bao nhiêu phần trăm của một đồng doanh thu

Ngoài chỉ tiêu ROI, dùng để đánh giá hiệu quả của một trung tâm đầu tư, ta còn sử

dụng chỉ tiêu thu nhập thặng dư (residual income – RI)

Thu nhập thặng dư được định nghĩa là chênh lệch giữa lợi nhuận của một trung tâm đầu tư và mức lợi nhuận để đạt được tỷ lệ sinh lời tối thiểu tính theo vốn đầu

tư (giá sử dụng vốn của trung tâm đầu tư)

Thu nhập thặng dư (RI) là một chỉ tiêu tuyệt đối, không giống như ROI là một chi tiêu tương đối RI thực chất là lợi nhuận còn lại của một trung tâm đầu tư sau khi loại trừ chi phí sử dụng vốn đầu tư

RI của một phương án lớn hơn không (0), dự án sẽ được chấp nhận vì nó làm tăng tổng RI của trung tâm đầu tư Rất nhiều nhà quản lý cho rằng thu nhập thặng dư -

RI là một công cụ đánh giá hữu hiệu của trung tâm đầu tư RI thúc đẩy các nhà quản lý thực hiện đầu tư có lợi tính trên tổng thể của tổ chức, đảm bảo tính phù hợp giữa mục tiêu của các đơn vị với mục tiêu chung của tổ chức

Nhược điểm cách tính thu nhập thặng dư có một điểm hạn chế là hiệu quả hướng

về các bộ phận lớn thường có thu nhập thặng dư cao hơn các bộ phận có quy mô nhỏ, và dĩ nhiên không phải vì chúng được điều hành tốt hơn mà chỉ đơn giản là vì vốn được sử dụng nhiều hơn Để minh họa, chúng ta xem xét số liệu về thu nhập thặng dư của hai trung tâm đầu tư X và Y sau:

Bộ phận X và Bộ phận Y:

Thu nhập thặng dư Vốn đầu tư

20.000 100.000

15.000 25.000

Thu nhập thặng dư cao hơn là do quy mô vốn của nó lớn hơn chứ không phải do chất lượng quản lý tốt hơn Bộ phận Y có quy mô nhỏ hơn nhưng được quản lý tốt hơn vì nó có khả năng sinh ra thu nhập thặng dư gần bằng với thu nhập thặng dư của bộ phận X chỉ với số vốn bằng 1/4 vốn đầu tư của bộ phận X Nói tóm lại, ROI và RI đều có những hạn chế nhất định trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm đầu tư có qui mô khác nhau Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ sử dụng phối hợp cả hai phương pháp đánh giá này Ngoài ra, những tiêu chuẩn đánh giá khác, bao gồm cả những chỉ tiêu tài chính và phi tài chính như mức tăng trưởng doanh thu, thị phần… có thể kết hợp sử dụng

6.1.3 Hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm

Trong nội dung hệ thống kế toán trách nhiệm, báo cáo kế toán là phương tiện quan trọng để cung cấp thông tin, xác định trách nhiệm cụ thể của các nhà quản trị đối với từng bộ phận mà mình quản lý

Để cấp quản trị cao nhất trong một tổ chức có thể nắm được toàn bộ tình hình hoạt động của bộ phận, định kỳ các trung tâm trách nhiệm từ cấp thấp báo cáo lên cấp cao hơn trong hệ thống về những chỉ tiêu tài chính chủ yếu của trung tâm trong một kỳ gọi

là báo cáo thực hiện trách nhiệm

Trang 6

Một báo cáo thực hiện trình bày các số liệu dự toán, thực tế và số chênh lệch những chỉ tiêu tài chính chủ yếu phù hợp theo từng loại trung tâm trách nhiệm Thông qua các báo cáo thực hiện, nhà quản trị bằng các kỹ thuật nghiệp vụ sẽ kiểm soát được các hoạt động của tổ chức một cách hiệu quả

Các loại báo cáo kế toán trách nhiệm:

 Đối với trung tâm chi phí: Báo cáo tình hình thực hiện chi phí, giá thành sản phẩm…

 Đối với trung tâm doanh thu: Báo cáo tình hình thực hiện doanh thu theo yêu cầu

quản trị

 Đối với trung tâm lợi nhuận: Báo cáo kết quả kinh doanh theo lợi nhuận góp

 Đối với trung tâm đầu tư: Báo cáo kết quả kinh doanh theo lợi nhuận góp, chỉ tiêu

ROI và RI

Sự vận động thông tin trong hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm:

Trình tự báo cáo thông tin trong hệ thống kế toán trách nhiệm bắt đầu từ cấp quản trị thấp nhất trong tổ chức cho đến cấp quản trị cao nhất

6.2 Báo cáo bộ phận và phân tích báo cáo bộ phận

6.2.1 Khái niệm và đặc điểm của báo cáo bộ phận

Trong bất cứ một tổ chức hoạt động kinh doanh nào đều bao gồm các bộ phận cấu thành, mỗi một bộ phận đó thường gọi là một trung tâm trách nhiệm gắn với các nhiệm vụ kinh doanh và cơ chế tài chính cụ thể Để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận thường thông qua việc phân tích báo cáo bộ phận

sau một kỳ hoạt động hoặc dự đoán các chỉ tiêu kinh tế

cho kỳ tới

Báo cáo bộ phận hay còn gọi là Báo cáo kết quả kinh

doanh bộ phận nhằm phản ánh doanh thu, chi phí và

kết quả của từng bộ phận, cung cấp thông tin cho các

nhà quản trị để đưa ra quyết định phù hợp

Bộ phận của doanh nghiệp có thể được hiểu là sản

phẩm, dịch vụ, nhóm mặt hàng, cửa hàng, thị trường,

phân xưởng, thời gian…

Ví dụ: Báo cáo tình hình chi phí sản xuất, giá thành sản xuất sản phẩm của phân

xưởng nhằm đánh giá trách nhiệm của các cấp quản trị phân xưởng như quản đốc, đội trưởng đội sản xuất Báo cáo doanh thu của các cửa hàng, các thị trường, ngành hàng nhằm đánh giá trách nhiệm của cửa hàng trưởng, phụ trách bán hàng Báo cáo bộ phận của dịch vụ kinh doanh nhằm đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh của các trưởng

bộ phận từ đó đưa ra quyết định đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất…

Báo cáo bộ phận thường có những đặc điểm sau:

 Báo cáo bộ phận thường lập theo cách ứng xử của chi phí Phân chia chi phí của doanh nghiệp thành biến phí và định phí, trong định phí chia thành định phí trực tiếp và định phí chung Việc xây dựng báo cáo này có tác dụng trong việc phân tích nhanh các thông tin nhằm đưa ra quyết định phù hợp

Trang 7

 Báo cáo bộ phận thường lập ở nhiều mức độ hoạt động khác nhau, ở nhiều phạm vi khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản trị và đặc điểm của hoạt động kinh doanh cụ thể của từng cấp Thông thường cấp quản trị thấp thì báo cáo bộ phận càng chi tiết, mức chi tiết giảm dần khi ở cấp quản trị cao

Ví dụ: Báo cáo bộ phận của từng phân xưởng thường được lập theo từng sản phẩm,

từng tổ sản xuất nhằm cung cấp thông tin cho quản đốc phân xưởng về tình hình sản xuất các sản phẩm và từng tổ sản xuất để có các quyết định phù hợp Nhưng báo cáo

bộ phận của doanh nghiệp thường lập theo từng phân xưởng, thị trường tiêu thụ để cung cấp cho giám đốc doanh nghiệp biết được tình hình sản xuất của các phân xưởng, tiêu thụ trên các thị trường để đưa ra các quyết định phù hợp

 Báo cáo bộ phận thường được lập theo một trong ba tiêu thức: Nội dung kinh tế của các hoạt động, địa điểm phát sinh và thời gian hoạt động Trong một số trường hợp báo cáo bộ phận xây dựng có thể kết hợp đồng thời cả 3 tiêu thức trên

 Báo cáo bộ phận không chỉ phản ánh chi phí trực tiếp phát sinh ở bộ phận mà còn bao gồm cả những khoản chi phí chung được phân bổ nằm ngoài tầm kiểm soát

của người quản lý cấp đó Ví dụ: Báo cáo bộ phận của các chi nhánh còn bao gồm

cả các khoản chi phí của công ty được phân bổ

 Báo cáo bộ phận nhằm cung cấp thông tin cho nội bộ trong từng cấp, doanh nghiệp để đưa ra các quyết định phù hợp

6.2.2 Phân tích báo cáo bộ phận

Một doanh nghiệp bao gồm nhiều bộ phận hoạt động

khác nhau Để đánh giá chính xác kết quả và hiệu quả

của toàn doanh nghiệp cần phân tích các báo cáo bộ

phận Trong quá trình phân tích cần thấy rõ được mối

quan hệ mật thiết giữa các bộ phận ảnh hưởng đến các

chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh doanh

 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của các bộ phận Doanh thu bán hàng, lợi nhuận góp đó là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả kinh doanh của từng bộ phận Song chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng của các bộ phận đó là số dư bộ phận hay lợi nhuận bộ phận

Số dư bộ phận là phần chênh lệch giữa lợi nhuận góp và định phí trực tiếp của

các bộ phận Đây chính là lợi nhuận của các bộ phận Chỉ tiêu này phản ánh quy

mô kết quả kinh doanh của từng bộ phận và là nhân tố quan trọng đóng góp lợi nhuận cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này là căn cứ để đưa ra quyết định đầu tư mở rộng, thu hẹp kinh doanh, giải thể nhằm để nâng cao hiệu quả kinh doanh chung cho doanh nghiệp

Nếu số dư bộ phận nào đó mà bị âm thì cấp quản lý cao hơn cần xem xét và có quyết định nên tiếp tục duy trì, hay chấm dứt hoạt động hoặc có biện pháp cải thiện hoạt động nhằm nâng cao kết quả của hoạt động này

 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của các bộ phận Tỷ lệ lợi nhuận góp là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh doanh của các bộ phận trong doanh nghiệp

Trang 8

Chỉ tiêu này cho biết các bộ phận thu được 1 đồng doanh thu thì trong đó có bao nhiêu đồng thuộc về lợi nhuận góp và chi phí khả biến Chỉ tiêu này càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư

Tỷ lệ số dư bộ phận là tỷ số giữa số dư bộ phận và doanh thu của bộ phận đó Chỉ

tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của từng bộ phận, cho biết các bộ phận thu

về 1 đồng doanh thu thì trong đó có bao nhiêu đồng lợi nhuận Trong trường hợp các bộ phận đều tăng một mức doanh thu như nhau, bộ phận nào có tỷ lệ số dư bộ phận cao thì tốc độ tạo ra lợi nhuận nhanh hơn, đó là nhân tố quan trọng để các nhà kinh doanh lựa chọn đưa ra các phương án tối ưu Ngoài ra để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các bộ phận ta có thể sử dụng các chỉ tiêu tỷ lệ số dư bộ phận so với chi phí, so với biến phí và định phí, tùy theo mục tiêu của quá trình phân tích

Phân tích báo cáo bộ phận theo doanh thu Doanh thu trên các báo cáo có thể phân

tích theo nhiều tiêu chức khác nhau Doanh thu có thể phân chia theo phạm vi hay

mức độ hoạt động, theo khu vực tiêu thụ, từng loại sản phẩm, dây truyền sản xuất,

thời gian tiêu thụ Mục đích chính của việc phân chia này là giúp các nhà quản lý thấy

rõ được mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận ở từng mức hoạt động hay

từng phạm vi kinh doanh khác nhau Từ đó các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng

đắn trong kinh doanh

Ví dụ 1: Công ty Thương mại “Hấp Dẫn” kinh doanh 2 dịch vụ cơ bản là ăn uống và

massage Trong dịch vụ ăn uống có 2 bộ phận kinh doanh nhỏ đó là ăn nhanh và giải

khát Các số liệu do kế toán tập hợp trong kỳ như sau (đơn vị tính: 1.000 đồng):

Yêu cầu: Hãy lập các báo cáo bộ phận theo từng cấp quản trị

Số liệu của toàn công ty:

Chi phí cố định trực tiếp 90.000 80.000

Chi phí cố định chung 25.000

Các số liệu của dịch vụ ăn uống:

Chi phí cố định chung 10.000

Bài giải: Báo cáo bộ phận của công ty theo dịch vụ (đơn vị tính: 1.000 đồng)

Trang 9

Chi tiết theo dịch vụ

Doanh thu tiêu thụ 500.000 300.000 200.000

Biến phí sản xuất 180.000 120.000 60.000

Lợi nhuận bộ phận (số dư bộ phận) 100.000 60.000 40.000

Báo cáo bộ phận của dịch vụ ăn uống theo bộ phận

Chi tiết

Lợi nhuận góp 120.000 70.000 50.000

Lợi nhuận bộ phận (số dư bộ phận) 50.000 30.000 20.000

Nhận xét: Căn cứ vào báo cáo bộ phận của toàn Công ty, ta thấy dịch vụ massage

đóng góp số dư bộ phận cao hơn dịch vụ ăn uống là: 20.000, chứng tỏ lợi nhuận của

doanh nghiệp chủ yếu do dịch vụ massage tạo ra Mặt khác ta thấy tỷ lệ số dư bộ phận

của dịch vụ massage: 60.000/300.000 = 0,2; tỷ lệ số dư bộ phận của dịch vụ ăn uống:

40.000/200.000 = 0,2 Ta thấy tỷ lệ số dư bộ phận của 2 dịch vụ là như nhau, trong

trường hợp cùng tăng một mức doanh thu thì tốc độ tạo ra lợi nhuận của 2 bộ phận là

như nhau

Nếu xét trong phạm vi dịch vụ ăn uống thì bộ phận ăn nhanh đóng góp số dư bộ phận

là 30.000, bộ phận giải khát đóng góp số dư bộ phận là 20.000, như vậy lợi nhuận của

dịch vụ ăn uống chủ yếu do bộ phận ăn nhanh tạo ra Mặt khác ta thấy tỷ lệ số dư bộ

phận của bộ phận ăn nhanh là: 30.000/125.000 = 0,24; tỷ lệ số dư bộ phận của bộ

phận giải khải là 20.000/75.000 = 0,267 Như vậy tỷ lệ số dư bộ phận của dịch vụ giải

khát cao hơn ăn nhanh Trong trường hợp cùng tăng một mức doanh thu thì dịch vụ

giải khát có tốc độ tạo ra lợi nhuận nhanh hơn

Trang 10

6.3 Phân bổ chi phí gián tiếp cho các bộ phận

6.3.1 Sự cần thiết phải phân bổ chi phí gián tiếp cho các bộ phận

Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì không chỉ có các bộ phận trực tiếp sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, mà còn có các bộ phận phục vụ cùng hỗ trợ để sản xuất ra sản phẩm Bộ phận này có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng nội bộ doanh nghiệp Để hoạt động, bộ phận này cũng phát sinh các chi phí Các chi phí này mặc dù không liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh chính nhưng có ảnh hưởng đến kết quả chung của toàn doanh nghiệp Vì vậy, chúng được coi là một phần của chi phí sản xuất hay thực hiện dịch vụ Do vậy để đánh giá chính xác giá thành, kết quả của sản phẩm, dịch vụ cần phải lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí phục vụ cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể, góp phần nâng cao độ tin cậy của các

quyết định Ví dụ: Công ty may thường có các phân

xưởng sản xuất chính đó là phân xưởng cắt, phân

xưởng may và đóng gói tạo ra các sản phẩm may mặc

Bên cạnh đó còn có các bộ phận sản xuất phụ như tổ

cơ khí, tổ điện có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ cho

các phân xưởng sản xuất chính để tạo ta sản phẩm Do

vậy muốn đánh giá chính xác kết quả và hiệu quả kinh

doanh của các sản phẩm cần phải phân bổ chi phí của bộ phận sản xuất phụ như tổ cơ khí, tổ điện cho các phân xưởng cắt, may và đóng gói

6.3.2 Nguyên tắc và hình thức phân bổ chi phí gián tiếp

Việc phân bổ chi phí gián tiếp cho các bộ phận là cần thiết nhưng phải tuân theo một nguyên tắc nhất định, để không ảnh hưởng nhiều đến việc đánh giá kết quả và hiệu quả của các hoạt động tác động tới các quyết định kinh doanh Do vậy trước khi phân

bổ chi phí gián tiếp cần lựa chọn những tiêu thức khoa học nhằm đảm bảo độ chính xác của các khoản chi phí cho từng đối tượng Tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp thường bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí trực tiếp, thời gian lao động, diện tích mặt bằng sử dụng, số kw điện sử dụng, trọng lượng vận chuyển, số công nhân sản xuất…

 Tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp thường dựa trên những cơ sở khoa học sau:

o Tiêu thức đó phải đảm bảo tính đại diện của chi phí cần phân bổ, có nghĩa là khi sử dụng tiêu thức đó độ chính xác của chi phí sẽ cao hơn lựa chọn các tiêu thức khác Do vậy, cần phải hiểu biết bản chất của chi phí phát sinh từ đâu, những nhân tố nào tác động tới, khi đó mới lựa chọn được tiêu thức phân bổ khoa học

Ví dụ 2: Công ty Thương Mại X kinh doanh máy tính, trong tháng công ty mua

của nhà cung cấp Y 2 loại máy tính, giá hóa đơn giá trị gia tăng ghi như sau:

 Máy tính để bàn MT 21: 20 cái  7 triệu đồng/cái

 Máy tính xách tay XT 22: 20 cái  16 triệu đồng/cái

 Khối lượng của máy tính để bàn MT 21 là 8 kg/cái, khối lượng máy tính xách tay XT 22 là 2 kg/cái

 Chi phí vận chuyển cho cả 2 loại máy tính trên hết 3,2 triệu đồng

Ngày đăng: 09/12/2020, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w