Bài giảng môn Kiểm soát - Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát trình bày khái quát của kiểm soát trong doanh nghiệp, đó là khái niệm về kiểm soát, vai trò của kiểm soát trong doanh nghiệp, cách thức phân loại hoạt động kiểm soát.
Trang 1BÀI 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ KIỂM SOÁT
Hướng dẫn học
thảo luận trên diễn đàn
1 Nguyễn Ngọc Huyền (2015), Giáo trinh Kiểm soát, Nhà xuất bản Đại học Kinh
tế Quốc dân, Hà Nội
2 Vũ Hữu Đức (2010), Kiểm soát nội bộ, Nhà xuất bản Phương Đông
3 Victor Z.Brink và Herbert Witt (2000), Kiểm toán nội bộ hiện đại – đánh giá các
hoạt động và hệ thống kiểm soát, Bản dịch của khoa Kế toán – trường Đại học
Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất Tài chính Hà Nội
4 Anthony (2007), Management control systems, Nhà xuất bản McGraw Hill Higher Education
5 Kevin Adams (1997), Internal Controls and Auditing, Nhà xuất bản Prentice Hall Australia
6 COSO (1992), Internal Control Report
7 www.coso.org
8 www.internalcontrolsdesign.co.uk
qua email
Nội dung
Bài 1 trong Học phần Kiểm soát nghiên cứu những vấn đề khái quát của kiểm soát trong doanh nghiệp, đó là khái niệm về kiểm soát, vai trò của kiểm soát trong doanh nghiệp, cách thức phân loại hoạt động kiểm soát… Trên cơ sở đó, xem xét chức năng hoạt động kiểm soát và nội dung hoạt động kiểm soát trong kinh doanh cũng được trình bày
Mục tiêu
• Hoạt động kiểm soát;
• Giải thích vai trò của hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp;
• Các cách phân loại hoạt động kiểm soát;
• Giải thích chức năng kiểm soát trong doanh nghiệp;
• Nội dung hoạt động kiểm soát trong kinh doanh;
• Tìm hiểu thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam
Trang 2Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát
Vào sáng thứ hai, anh Bình, một quản lý văn phòng, nhận nhiệm vụ đối chiếu, ghi địa chỉ, kiểm tra, bỏ phong bì và gửi qua đường bưu điện 20.000 bản thông tin đến khách hàng Công việc phải thực hiện xong trước chiều thứ 6
Anh Bình khởi đầu khá tốt Anh lập một kế hoạch hoàn chỉnh cho nhiệm vụ này, lên thời gian cho từng phần công việc Anh giao việc cho bốn nhân viên và hướng dẫn họ kỹ lưỡng Công việc
sẽ được thực hiện theo các quy tắc và chuẩn mực được xác định trước cùng sự trợ giúp của các trang thiết bị văn phòng sẵn có
Anh Bình tự tin rằng anh đã thu xếp mọi công việc đâu vào đấy và công việc sẽ tiến triển như kế hoạch nên anh để mặc cho nhân viên làm việc
Vài ngày trôi qua, anh Bình thấy rằng, nhóm gửi thư vẫn đang làm việc tất bật Thứ sáu đã đến
và anh bất ngờ khi nhận ra rằng họ mới chỉ gửi đi được khoảng 13.000 thư Không còn cách nào khác anh phải yêu cầu nhân viên làm thêm giờ vào chiều tối thứ sáu và ngày thứ bảy để có thể gửi đi hết số còn lại – dù vậy vẫn chậm một ngày
đúng thời hạn?
Trang 31.1 Các vấn đề chung về kiểm soát
Kiểm soát đã tồn tại từ khi xuất hiện các hoạt động
kinh doanh Hoạt động kinh doanh càng phát triển thì
kiểm soát lại càng chiếm một vị trí quan trọng trong
quá trình quản lý doanh nghiệp Thông qua các hoạt
động kiểm soát, nhà quản trị đánh giá và chấn chỉnh
hoạt động của doanh nghiệp mình với mục đích là giữ
cho tổ chức đi đúng con đường mà họ mong muốn và
bảo vệ được tài sản trong kinh doanh
Khái niệm kiểm soát lúc đầu được sử dụng như một
phương pháp giúp kiểm toán viên xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập
kế hoạch kiểm toán, đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống quản trị doanh nghiệp Không có định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ này mà tùy vào góc độ khác nhau, có các định nghĩa khác nhau
Theo Schoderbek, Peter P Richard A Cosier and John C Aplin (1988), kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa lệch lạc từ tiêu chuẩn Với định nghĩa này có thể thấy kiểm soát chính là việc xây dựng các tiêu chuẩn, sau đó sẽ đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đã được thiết lập và cuối cùng sẽ chỉnh sửa các sai lệch (nếu có) Ở đây mặc dù
đã nói đến các hoạt động trong quá trình kiểm soát nhưng lại không chỉ chi tiết xem tổ chức cần dựa vào đâu để xây dựng tiêu chuẩn này
Theo Jones and George (2003), kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Ở đây kiểm soát là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và quá trình kiểm soát là phương tiện nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình Với định nghĩa này mặc dù đã đưa ra các mục tiêu cần đạt được nhưng lại không đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để giúp doanh nghiệp đánh giá các hoạt động của mình
Theo H.Fayol trong kinh doanh, kiểm soát được hiểu là việc đo lường và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp và mọi bộ phận của doanh nghiệp để tin chắc rằng các mục tiêu và giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra vẫn đang được hoàn thành Với tư cách một chức năng quản trị, kiểm soát được hiểu là: “Quá trình xác định thành quả đạt được trên thực tế, so sánh nó với những tiêu chuẩn đã xây dựng; trên cơ sở đó phát hiện ra sự sai lệch và nguyên nhân của sự sai lệch đó; đồng thời đề ra các giải pháp cho một chương trình hành động nhằm khắc phục sự sai lệch để đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã định” Từ định nghĩa trên, có thể thấy những điểm nổi bật
Kiểm soát là một chuỗi hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó là phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đã định
Trang 4Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát
Kiểm soát không chỉ đơn thuần là những chính
sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm những
con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị,
Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban
Kiểm soát cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ
không đảm bảo tuyệt đối hóa các mục tiêu được
thực hiện Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm
soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con
người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện, kiểm soát chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo là chúng không thể xảy ra Như vậy, có thể thấy hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu:
Cung cấp thông tin đáng tin cậy: cung cấp các thông tin đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời nhằm giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất
Bảo vệ tài sản và sổ sách: mọi tài sản của doanh nghiệp kể cả sổ sách chứng từ kế toán phải được bảo vệ dể tránh bị mất mát, hư hỏng hoặc bị lạm dụng
Tăng tính hiệu quả trong hoạt động điều hành: ngăn ngừa mọi sự chồng chéo hoặc vượt quá thẩm quyền, ngăn ngừa và phát hiện mọi hành vi lãng phí, gian lận, sử dụng tài sản không đúng mục đích, sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực
Đẩy mạnh và khuyến khích việc thực hiện các chế độ, quy định đã đề ra của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, từ đố nhằm giúp mọi thành viên trong đơn vị tuân
thủ các chính sách và quy định đã đề ra của doanh nghiệp
Để một doanh nghiệp luôn đi đúng hướng, cần kiểm soát dài hạn và ngắn hạn, kiểm soát ngay trong quá trình hình thành mục tiêu (kiểm soát tương lai) và kiểm soát hướng các hoạt động theo mục tiêu (kiểm soát thực hiện), kiểm soát hoạt động kinh doanh (sản xuất cái gì, cung cấp cho ai, ở thị trường nào,…) và kiểm soát hoạt động quản trị kinh doanh (hoạt động định hướng, tổ chức và kiểm soát nguồn lực,…) Nhiều nhà quản trị cho rằng kiểm soát là một trong các chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp: định hướng – tổ chức – phối hợp – điều khiển – kiểm soát Trong hoạt động quản trị kinh doanh kiểm soát liên quan đến mọi hoạt động quản trị khác nhằm đảm bảo được kết quả thực tế phù hợp, nhất quán với kết quả đã được hoạch định Tuỳ theo quy mô cũng như từng lĩnh vực hoạt động quản trị cụ thể mà hoạt động kiểm soát có nội dung cũng như đòi hỏi phải sử dụng các tiêu chuẩn, phương pháp và công cụ thích hợp
Theo quá trình phát triển của khoa học quản trị kinh doanh, kiểm soát luôn được coi là một chức năng của quản trị doanh nghiệp và là một trong các chức năng quản trị cơ bản dù trước đây quan niệm quản trị doanh nghiệp gồm 5 chức năng (định hướng, tổ chức, phối hợp, điều khiển, kiểm soát), quan niệm quản trị doanh nghiệp có 3 chức năng (định hướng, tổ chức và kiểm soát) hay ngày nay có tác giả quan niệm 4 chức năng pha trộn (định hướng, tổ chức, quản trị nhân lực, kiểm soát)
Kiểm soát với tư cách một chức năng của hoạt động quản trị hoàn toàn không tách rời
mà luôn luôn gắn liền với các chức năng quản trị khác Chính sự gắn liền chức năng kiểm soát với các chức năng quản trị khác đã làm cho hoạt động kiểm soát tiến hành
một cách liên tục
Trang 51.1.2 Lịch sử phát triển
Thuật ngữ kiểm soát đã được nhắc đến từ rất sớm Ở Anh khái niệm kiểm soát được
sử dụng ở lĩnh vực quản lí nhà nước từ thế kỉ 15
Ở Mỹ năm 1778 đã xuất hiện nhân viên kiểm soát cân đối giữa ngân sách và nhiệm vụ của Nhà nước và năm 1863 xuất hiện trong lĩnh vực quản lí nhà nước nhân viên kiểm soát chỉ đạo kiểm soát ngân hàng Năm 1880 công ty
Đường sắt Mỹ là doanh nghiệp đầu tiên hình thành bộ
phận kiểm tra Bộ phận này có chức năng tổng hợp của
một “thư kí” và một chuyên gia Lúc này, nhiệm vụ
kiểm tra tài chính đóng vai trò nổi trội Doanh nghiệp
công nghiệp đầu tiên có nhân viên kiểm soát là công ty
General Eletric Trong những năm sau đó, kiểm soát ở
khu vực kinh doanh tư nhân chỉ lan tỏa ở phạm vi hẹp
Năm 1900 chỉ 8 trong số 175 công ty Mỹ có bộ phận kiểm soát Đến năm 1929, thuật
ngữ Kiểm soát được đề cập chính thức trong một công bố của Cục dự trữ liên bang
Mỹ, theo đó, kiểm soát được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để giám sát hoạt động của tổ chức Có thể thấy, từ những năm đầu thế kỉ 20 kiểm soát bắt đầu phát triển mạnh ở Mỹ vì:
Quá trình tập trung hóa đã làm xuất hiện các vấn đề về thông tin và sự phối hợp ở các doanh nghiệp lớn
Gắn liền với tự động hóa là sự tăng lên của chi phí kinh doanh cố định và giảm tính mềm dẻo của kinh doanh
Các công cụ quản trị mới được thử nghiệm trong thực tế
Sự phản ứng kém hiệu quả trước khủng hoảng kinh tế thế giới dẫn đến xuất hiện nhu cầu về công cụ quản trị có hiệu quả hơn
Trong bối cảnh đó tất yếu phải tăng cường nhiệm vụ của kiểm soát Nếu như đến lúc
đó, các nhà kiểm soát mới chỉ thực hiện nhiệm vụ ở các giao dịch ngân hàng lớn thì từ lúc đó trở đi, họ đã đảm nhận nhiệm vụ kế hoạch hóa và phối hợp Ở các công ty kinh doanh lớn của Mỹ nhà kiểm soát thường là thành viên của ban lãnh đạo Nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của kiểm soát, năm 1931 đã thành lập Viện Kiểm soát Hoa Kì
và năm 1962 viện này được đổi tên thành Viện Hành pháp tài chính Nhiệm vụ của kiểm soát được mở rộng Hiệp hội của viện kết nạp 800 – 1000 doanh nghiệp lớn ở Hoa Kì Từ năm 1934 Viện xuất bản tạp chí “Kiểm soát” và từ năm 1962 xuất hiện thuật ngữ “Hành pháp tài chính”
Lịch sử phát triển chứng tỏ kiểm soát có nguồn gốc từ lĩnh vực kế toán tài chính và ở chức năng kiểm tra, kiểm soát tài chính Sau này, kiểm soát được hiểu với nhiều góc
độ khác nhau nhưng có thể đánh giá chung phạm vi kiểm soát càng ngày càng được
mở rộng Càng ngày, càng có nhiều doanh nghiệp chú ý đến và coi trọng hoạt động kiểm soát Mặc dù đến tận những năm 60 ở Mỹ chỉ xuất hiện kiểm soát ở khu vực nhà nước thì đến năm 1974 có tới 90% các doanh nghiệp lớn Mỹ thực hiện kiểm soát Trên cơ sở các nghiên cứu đã được công bố ở Đức, từ năm 1954 kiểm soát mới phát triển tích cực Vào những năm 80, số lượng các điểm kiểm soát ở doanh nghiệp đã
Trang 6Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát
phát triển mạnh Các phân tích cho thấy các điểm kiểm soát có liên quan đến các lĩnh vực hoạt động kinh tế, tính toán và kế hoạch
Kết quả nghiên cứu ở thời kì đó cho thấy sự thay đổi rõ rệt nhận thức về nhiệm vụ của kiểm soát: trong khi nhiệm vụ nổi trội của kế toán tài chính là lập bảng cân đối tài chính, đánh thuế, thì tư vấn và trợ giúp quản trị, các lĩnh vực báo cáo, lập và kiểm tra ngân sách, so sánh thực tế/phải đạt và kế hoạch hóa tác nghiệp cũng có ý nghĩa rất lớn
Kế hoạch hóa chiến lược cũng như hình thành các mục tiêu và chính sách kinh doanh nhích dần đến lĩnh vực kiểm soát Các nhiệm vụ của kiểm soát làm thay đổi cách nhìn
về khả năng kiểm tra
Thuật ngữ người kiểm soát được sử dụng ở 59 doanh nghiệp Ở thời kỳ này, 83% trường hợp các doanh nghiệp sử dụng người kiểm soát với tư cách nhà lãnh đạo Người kiểm soát được sắp xếp cùng với các nhà lãnh đạo khác vì họ chỉ được trao rất
ít quyền điều hành chuyên môn
Horvath/Gaydoul/Hagen đã thăm dò 6.900 doanh nghiệp thành viên của Hội đồng bảo trợ hợp lí hóa trong kinh tế đã rút ra các kết luận:
Khoảng 30 – 40% doanh nghiệp tổ chức bộ phận kiểm soát độc lập, ở các doanh nghiệp có hơn 5.000 lao động thì tỉ lệ này là trên 90%
Có mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và số lượng nhiệm vụ kiểm soát thực hiện
Có mối quan hệ rất rõ rệt giữa chuyên ngành và chức năng kiểm soát
82% doanh nghiệp được nghiên cứu có ít hơn 60% cho rằng kiểm soát là cần thiết
Ở các thời kỳ trước, nhiều người phê phán việc thử
nghiệm các nội dung kiểm soát trong thực tiễn để khái
quát hóa nó Một số nhà chuyên môn cho rằng việc
thừa nhận các cơ sở lí thuyết kiểm soát với tư cách một
môn học độc lập của quản trị kinh doanh là chưa đủ cơ
sở Đặc biệt họ đã nhìn nhận không đầy đủ – phù hợp
với kiến thức truyền thống – về kiểm soát
Gần đây các quan điểm khác nhau cho rằng kiểm soát
được xây dựng trên cơ sở lí thuyết và thừa nhận kiểm
soát với tư cách một lĩnh vực quản trị kinh doanh độc lập Cơ sở lí thuyết chỉ ra những vấn đề đặt ra liên quan đến chỉ đạo kinh doanh là đối tượng nhận thức của lí thuyết kiểm soát vì chúng được nghiên cứu không phải ở các lĩnh vực bộ phận khác của khoa học quản trị kinh doanh
Một quan niệm khác về vấn đề này là lí thuyết hệ thống và vận dụng chúng trong kinh doanh:
Hệ thống đầu vào và đầu ra với tư cách như là bộ phận riêng của các quá trình sản xuất sản phẩm
Hệ thống quản trị bao gồm rất nhiều hệ thống quản trị bộ phận
Trang 7Sự khác biệt này cho thấy các hệ thống bộ phận có thể “sai lệch” với hệ thống doanh nghiệp Hệ thống quản trị của doanh nghiệp có nhiệm vụ mô tả mục tiêu của doanh nghiệp và tạo ra hệ thống chỉ huy hướng theo mục tiêu đó Theo nhận thức truyền thống nhiệm vụ phối hợp này là đối tượng của các bộ phận quản trị
Trong hoạt động quản trị kinh doanh, kiểm soát là hoạt động mang tính tất yếu khách quan vì lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, nhu cầu kiểm soát của các đối tượng có liên quan
Trong quản trị, không nên quên câu nói nổi tiếng: “Thiếu kiểm soát, tức là không quản trị” Kiểm soát là một chức năng quản trị cơ bản Bạn hãy nhớ lại các mô hình quản trị, dù là mô hình nào vẫn cần chức năng kiểm soát và chức năng kiểm soát còn ngày càng quan trọng hơn
Bạn hãy chú ý đến ví dụ cụ thể: nếu bạn là tổ trưởng tổ bán hàng và giao nhiệm vụ cho một nhân viên của mình nhiệm vụ bán hàng tại một quận, huyện nào đó Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không biết được nhân viên của bạn trong 1 ngày, 1 tuần,… bán được bao nhiêu hàng, mặt hàng nào bán được nhiều, mặt hàng nào không có khách mua?
Hình 1: Hệ thống doanh nghiệp và các hệ thống bộ phận
Quản trị doanh nghiệp Định hướng Tổ chức thực hiện Kiểm soát
HỆ THỐNG CUNG CẤP THÔNG TIN
Nguồn lực
Nguồn lực
Nguồn lực
Khách hàng Khách hàng Khách hàng
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Cũng hoàn toàn tương tự điều gì sẽ xảy ra nếu tại một doanh nghiệp bạn đang ở cương
vị trưởng phòng kế hoạch được trao nhiệm vụ điều hành sản xuất hàng tháng Liệu điều gì sẽ xảy ra nếu sau khi triển khai kế hoạch sản xuất tháng cho các bộ phận sản xuất và cung ứng nguồn lực bạn không thể kiểm soát được hàng ngày kế hoạch đó đã thực hiện được đến đâu? Bộ phận nào diễn ra đúng như dự kiến, bộ phận nào không đảm bảo tiến độ kế hoạch và vì lý do gì?
Sẽ càng nguy hiểm hơn nếu bạn không kiểm soát được chiến lược mà doanh nghiệp bạn đang triển khai có đúng như ý đồ đã dự kiến? Như vậy, cả trong rất ngắn hạn, ngắn hạn và dài hạn bạn đều cần kiểm soát nếu muốn hoạt động diễn ra như ý muốn
Thứ hai, điều kiện đủ là sự phát triển của công cụ kiểm soát
Trước đây khi khoa học quản trị kinh doanh nói chung và khoa học kiểm soát nói riêng chưa phát triển, các doanh nghiệp không nhận thức về cần phải kiểm soát cũng như kiểm soát như thế nào
Hoạt động tạo ra sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiêp
Trang 8Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát
Hình 2: Chức năng, cấu trúc và công cụ kiểm soát
Đến khi xuất hiện kiểm soát, lúc đầu người ta nhận thức về kiểm soát cũng rất đơn giản thì hoạt động kiểm soát cũng đơn giản, phạm vi kiểm soát hẹp và hiệu quả kiểm soát không cao
Càng ngày, khoa học kiểm soát càng phát triển, hoạt động kiểm soát càng mở rộng, phức tạp Lúc đầu nói đến kiểm soát là người ta nghĩ đến kiểm soát tình hình tài chính Dần dần, người ta nhận thức kiểm soát trước hết là kiểm soát các hoạt động kinh doanh, phát triển các công cụ để kiểm soát xem kinh doanh đang diễn ra như thế nào? Sau nữa, người ta nhận thức rõ ràng để hoạt động kinh doanh tốt thì hoạt động quản trị phải tốt và do đó không thể không kiểm soát chính hoạt động quản trị; các công cụ cần thiết để kiểm soát hoạt động quản trị cũng được phát triển
Trước đây các công cụ kiểm soát chủ yếu là kiểm soát thực trạng và kiểm soát ngắn hạn; càng ngày, các công cụ kiểm soát dài hạn càng được phát triển Điều này dẫn đến kết quả là phạm vi về thời gian kiểm soát được mở rộng, kiểm soát đạt kết quả và hiệu
quả ngày càng cao hơn
Kiểm soát là một trong những chức năng của quản trị doanh nghiệp, từ nhà quản trị cao cấp đến các nhà quản trị cấp cơ sở trong một đơn vị Mặc dù quy mô của đối tượng kiểm soát và tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát thay đổi tùy theo cấp bậc của các nhà quản trị, tất cả mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu
đã đề ra Do vậy, kiểm soát có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, nó giúp hoàn thiện hơn các quyết định trong quản trị Ngoài ra, kiểm soát giúp các nhà quản trị thẩm định tính đúng sai của đường lối, chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án; tính tối ưu của cơ cấu tổ chức quản trị; tính phù hợp của các phương pháp mà cán bộ quản trị đã và đang sử dụng để đưa doanh nghiệp tiến tới mục tiêu của mình Như vậy:
Trang 9 Kiểm soát nhằm đảm bảo cho các kế hoạch được
thực hiện với hiệu quả cao nhờ việc chủ động phát
hiện kịp thời những sai lầm trước khi chúng trở nên
nghiêm trọng
Xác định, dự đoán những chiều hướng chính và những
thay đổi cần thiết trong các vấn đề như: thị trường, sản
phẩm tài nguyên, tiện nghi, cơ sở vật chất
Phát hiện kịp thời những vấn đề và những đơn vị bộ phận chịu trách nhiệm để sửa sai
Giúp doanh nghiệp theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường Thay đổi là thuộc tính tất yếu của môi trường Nhờ kiểm soát các nhà quản trị sẽ nắm được bức tranh toàn cảnh về môi trường và có những phản ứng thích hợp trước các vấn
đề và cơ hội thông qua việc phát hiện kịp thời những thay đổi đang và sẽ ảnh hưởng đến sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp
Tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới Với việc đánh giá các hoạt động, kiểm soát giúp các nhà quản trị xác định được những giá trị nào sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh Đồng thời, còn giúp cho các nhà quản trị bắt đầu lại chu trình cải tiến mọi hoạt động của doanhnghiệp thông qua việc xác định những vấn đề và cơ hội cho doanh nghiệp
Phổ biến những chỉ dẫn cần thiết một cách liên tục để cải tiến được hoạt động trong
doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu đặt ra
Theo lĩnh vực hoạt động tiếp có thể phân loại toàn bộ hoạt động kiểm soát thành kiểm soát kinh doanh và kiểm soát quản trị:
Kiểm soát kinh doanh thực chất là việc kiểm tra và điều chỉnh quá trình kinh doanh từ
khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ nhằm giảm thiểu rủi ro để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp Nói cách khác, kiểm soát kinh doanh chính là kiểm soát, đánh giá và điều chỉnh:
Sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường
Công nghệ – kỹ thuật sản xuất
gian cung ứng)
o
Kiểm soát quản trị thực chất là kiểm soát tình hình quản trị các hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp Để kiểm soát quản trị cần tiến hành kiểm soát các hoạt động theo chức năng quản trị: định hướng, tổ chức, phối hợp, kiểm soát hoạt động kiểm soát
Theo nội dung có thể chia thành các loại kiểm soát:
Trang 10Bài 1: Khái niệm chung về kiểm soát
Kiểm soát nguồn nhân lực và quản trị nhân lực thực chất là kiểm soát các hoạt động đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho các bộ phận nhằm đảm bảo cho nguồn lực này luôn được duy trì và phát triển để có thể đạt được mục tiêu của tổ chức
Kiểm soát hoạt động hậu cần và quản trị hậu cần kinh doanh thực chất là kiểm soát các hoạt động mua sắm, vận chuyển, dự trữ nhằm đảm bảo các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh kịp thời và có hiệu quả
Kiểm soát sản xuất và quản trị sản xuất thực chất là quá trình theo dõi việc kết hợp các yếu tố sản xuất trên từng nơi làm, từng bộ phận sản xuất sự phối hợp giữa chúng, trên cơ sở đó sẽ so sánh tiến trình thực tế với kế hoạch nhằm phát hiện những sai lệch để từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh kịp thời
Kiểm soát chất lượng và quản trị chất lượng là một
quy trình quản lý với mục đích điều khiển hoạt
động sản xuất sao cho luôn luôn giữ được trạng
thái ổn định
Kiểm soát hoạt động tiêu thụ và quản trị hoạt động
tiêu thụ thực chất là kiểm soát cách thức tổ chức và
triển khai hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong
doanh nghiệp
Kiểm soát tài chính và quản trị hoạt động tài chính thực chất là kiểm soát tính phù hợp và hiệu quả hoạt động tài chính trong doanh nghiệp
Tổ chức tuyển dụng
Quy trình tuyển dụng bao gồm các công việc: nhận hồ sơ xin việc, sơ tuyển qua hồ sơ, kiểm tra, phỏng vấn, thẩm tra hồ sơ, khám sức khỏe và ra quyết định tuyển dụng Dưới đây chỉ đề cập đến các nội dung công việc chủ yếu
Theo tiến trình thời gian có thể phân thành ba loại kiểm soát:
Kiểm soát lường trước là loại kiểm soát được tiến hành trước khi hoạt động thực
sự Kiểm soát lường trước theo tên gọi của nó là tiên liệu các vấn đề có thể phát sinh để tìm cách ngăn ngừa trước
Các nhà quản trị cần hệ thống kiểm soát lường trước để có thể nắm chắc những vấn đề nảy sinh Nhiều nhà quản trị thông qua những dự đoán cẩn thận và được lặp lại khi có những thông tin mới để tiến hành đối chiếu với kế hoạch đồng thời thực hiện những thay đổi về chương trình để có thể dự đoán tốt hơn Kiểm soát lường trước có mục tiêu ngăn ngừa sai phạm xảy ra
Kiểm soát đang thực hiện là loại kiểm soát được tiến hành trong khi hoạt động
đang diễn ra Hình thức kiểm soát đồng thời thông dụng nhất là kiểm soát trực tiếp Khi một kiểm soát viên xem xét trực tiếp các hoạt động đang diễn ra, thì họ
có thể đánh giá ngay được hoạt động của đối tượng kiểm soát, đồng thời điều chỉnh ngay các sai sót (nếu có) Nếu có trì hoãn của diễn tiến hoạt động do tác động điều chỉnh, thì mức độ trì hoãn hoặc chậm trễ thường chiếm thời gian ít nhất Kiểm soát đang thực hiện nhằm mục tiêu thu thập thông tin phản hồi nhằm có biện pháp can thiệp kịp thời