1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi

85 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 530,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, cùng với chế định tội phạm, chế định về hình phạt là một chế định rất cơ bản và hết sức quan trọng của luật hình sự, bởi vai trò xã hội và hiệu quả của luật hình sự phụ thuộc r

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HOÀNG

HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự

Mã số: 838.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN HIỂN

HÀ NỘI - năm 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hoàng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8

1.1 Những vấn đề lí luận về hình phạt cải tạo không giam giữ 8 1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ từ năm 1945 đến năm 2015 21 1.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định trong bộ luật hình sự một số nước trên thế giới 26

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 29

2.1 Những quy định pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt cải tạo không giam giữ theo Bộ luật hình sự 2015 và thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hiện hành 29 2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại tỉnh Quảng Ngãi 38

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ Error! Bookmark not defined.2

3.1 Các giải pháp về tiếp tục hoàn thiện các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt cải tạo không giam giữ 622 3.2 Các giải pháp về kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp 644 3.3 Các giải pháp khác 67

KẾT LUẬN 722

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả thụ lý xét xử của Tòa án nhân dân nhân hai cấp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2015-2019 40 Bảng 2.2 Tình hình áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2015-2019 41

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật hình sự giữ vị trí quan trọng, là công cụ sắc bén để nhà nước trừng trị những hành vi vi phạm pháp luật hình sự Nói đến Bộ luật hình sự là người ta nói đến chế tài của luật (Hình phạt), một loại chế tài đặc biệt trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của nhà nước Hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong số bảy hình phạt chính của pháp luật hình sự Việt Nam Trong hệ thống hình phạt, hình phạt CTKGG có lịch sử lâu đời và có vị trí rất quan trọng Các quy định về hình phạt CTKGG được quy định là hình phạt chính trong tất cả BLHS Việt Nam,

từ BLHS 1985 cho đến nay hình phạt này vẫn tiếp tiếp tục phát triển và hoàn thiện ở BLHS 2015

Thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ

Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [10] và Chiến lược

cải cách tư pháp mới trong Tòa án nhân dân giai đoạn 2021-2030 [52] đã xác

định mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự là đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt CTKGG là việc làm cần thiết phù hợp với sự phát triển của đất nước cũng như phù hợp với yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Cùng với các loại hình phạt trong pháp luật hình sự, hình phạt CTKGG tham gia không chỉ vào việc trừng trị người phạm tội mà còn có ý nghĩa to lớn trong vấn đề cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa tội phạm và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế xã hội nước ta bước vào giai đoạn hội nhập sâu và rộng vào

Trang 8

2

nền kinh tế thế giới, đang có những chuyển biến mạnh mẽ bởi vậy mà BLHS

2015 đã có những quy định rất tiến bộ về hình phạt CTKGG Tuy nhiên, do BLHS 2015 mới bắt đầu có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 01.01.2018, cho đến nay việc áp dụng hình phạt này còn chưa phát huy được hết những vai trò và hiệu quả của nó đặc biệt việc áp dụng hình phạt CTKGG trong thực tiễn xét

xử các VAHS là rất ít, không đáng kể so với các loại hình phạt khác Bên cạnh đó sự hạn chế còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, còn có những điểm vướng mắc, mâu thuẫn từ trong chính quan niệm, sự không thống nhất,

ít được quan tâm hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền là những nguyên nhân làm cho hình phạt CTKGG chưa thật sự phát huy được vai trò của nó trong hệ thống hình phạt hiện nay

Quảng Ngãi là một thành phố lớn, tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, hàng năm số lượng các vụ VAHS được các cơ quan tiến hành

tố tụng phát hiện và đưa ra xét xử ngày càng tăng về số lượng nhưng việc áp dụng hình phạt CTKGG chiếm tỷ lệ % không đáng kể (2,83%), chưa có sự thống nhất Vì vậy, việc nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả hình phạt ngày có

ý nghĩa hết sức quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay Mặt khác, cùng với chế định tội phạm, chế định về hình phạt là một chế định rất

cơ bản và hết sức quan trọng của luật hình sự, bởi vai trò xã hội và hiệu quả của luật hình sự phụ thuộc rất lớn vào hình phạt nên việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề về hình phạt CTKGG và việc áp dụng hình phạt CTKGG trong thực tiễn; đồng thời, đưa ra những giải pháp hoàn thiện khắc phục những hạn chế góp phần nâng cao hiệu quả của loại hình phạt này là một nhu cầu đòi hỏi không chỉ những nhà làm luật, những người công tác trong hệ thống các cơ quan tư pháp (cơ quan nhà nước) mà còn cần có sự tham gia nghiên cứu của những đội ngũ của những người công tác trong lĩnh vực pháp luật như Luật sư, Luật gia, Trợ giúp viên

Trang 9

3

pháp lý

Từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Hình phạt cải tạo không

giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm

luận văn thạc sỹ luật là có tính cấp thiết, thời sự khoa học và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên tham khảo các công trình nghiên cứu sau đây:

* Các sách chuyên khảo:

- Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt

Nam, Đinh Văn Quế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 [24]

- Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Lê Thị Sơn, Nguyễn Ngọc Hòa,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001 [39]

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, do GS.TS Võ Khánh

Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2014 [60]

- Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa – TS

Phan Anh Tuấn (đồng chủ biên), Nxb Hồng Đức, Hà Nội 2017 [13]

* Các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sỹ:

- Luận án tiến sỹ: “Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam’’

của tác giả Nguyễn Sơn, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2003 [40]

- Luận án tiến sỹ: “Chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn miền Trung và Tây Nguyên” của tác giả Nguyễn Văn Bường, Viện

hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện khoa học xã hội, 2017 [1]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Hiền, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Khoa luật, 2007 [12]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Các hình phạt không tước tự do trong luật

Trang 10

tác giả Nguyễn Văn Cảnh, Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa luật, 2010 [2]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật Hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của

tác giả Lê Thanh Hùng, Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa luật, 2014 [17]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tỉnh Nam Định” của tác giả Phạm Đức Trung, trường

Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa luật, 2014 [53]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ”, của tác giả Nguyễn Thị Thu Ngân, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật,

2016 [22]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện khoa học xã

hội, 2017 [42]

- Luận văn thạc sỹ luật học: “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Phan Thị Minh Thái, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện khoa học xã

hội, 2018 [41]

Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng “Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những vấn đề cơ sở lý luận về hình phạt CTKGG và áp dụng hình phạt này trong xét xử hình sự

- Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt CTKGG thông qua các VAHS được xét xử và thi hành hình phạt này tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019, chỉ rõ ưu điểm lẫn những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của những hạn chế

- Đề xuất, luận giải các quan điểm, giải pháp đảm bảo áp dụng hình phạt CTKGG trong xét xử các VAHS và trong thi hành án hình phạt này tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự (Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự) có liên quan đến việc áp dụng và thi hành hình phạt CTKGG tại tỉnh Quảng Ngãi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ trong xét xử các vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2015 đến năm 2019

Trang 12

và hình phạt nói chung, về hình phạt CTKGG nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, cụ thể là các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, tổng hợp, thống kê kết hợp với khảo sát thực tế, đối chiếu giữa các qui định của pháp luật hiện hành; phân tích và so sánh các qui định của pháp luật

về công tác xét xử án hình sự; phương pháp nghiên cứu tài liệu, hồ sơ vụ án

và bản án hình sự, hồ sơ chấp hành án CTKGG; phương pháp sử dụng ý kiến các chuyên gia; phương pháp lựa chọn điển hình

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm phong phú hơn những vấn đề lý luận của hình phạt CTKGG theo luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nghiên cứu, học tập cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự hoặc yêu cầu nâng cao chất lượng của áp dụng hình phạt CTKGG trong hoạt động xét

xử HĐXX và trong thi hành hình phạt CTKGG của Cơ quan thi hành án hình

sự Nội dung của luận văn cũng có thể sử dụng nhằm xây dựng kỹ năng nghề nghiệp, nghiệp vụ xét xử các VAHS cho cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát, cho đội ngũ Luật sư, Luật gia khi tham gia bảo vệ đương sự (thân chủ - bị cáo)

Trang 13

7

trước phiên tòa và những người làm công tác thi hành án hình sự , trước yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay trong quá trình áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt CTKGG nói riêng có căn cứ và đúng PL

Những giải pháp luận văn đưa ra có giá trị tham khảo cho các cơ quan,

tổ chức trong xây dựng, phát triển hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện chính sách pháp luật đối với người vi phạm pháp luật hình sự hiện nay trong điều kiện đổi mới, phát triển ổn định, bền vững và hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử quy định hình phạt cải tạo không giam giữ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt cải tạo không giam giữ

Trang 14

8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH HÌNH PHẠT

CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lí luận về hình phạt cải tạo không giam giữ

1.1.1 Khái niệm, đăc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ

1.1.1.1 Khái niệm hình phạt

Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao trong

xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc, đấu tranh với tội phạm

là nhiệm vụ tất yếu khách quan đặt ra cho mọi nhà nước, cho dù nhà nước đó

là kiểu nhà nước nào Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của được nhà nước áp dụng và nó trở thành công cụ hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Trong lý luận của pháp luật hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, nội dung và mục đích của hình phạt Tuy nhiên, về cơ bản, hình phạt được coi là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội phạm Đây là một quan niệm tiến bộ và nhân đạo, hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa tội phạm Quan niệm này

về hình phạt thể hiện rõ nét phương châm kết hợp cưỡng chế và giáo dục cải tạo trong chính sách hình sự, cưỡng chế là không thể thiếu nhưng giáo dục, thuyết phục cũng có vai trò rất quan trọng, nó có ưu thế hơn cưỡng chế ở khả năng làm cho con người có thể tự nguyện tuân theo và trao cơ hội cho họ sửa chữa những lỗi lầm vi phạm, như vậy sự đồng tình đó mới thực sự bền vững Theo quan điểm này, mục đích cuối cùng được đặt ra là hạn chế, đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội

Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa,

kế thừa truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc, tiếp thu những tinh hoa tiến bộ

Trang 15

9

của luật hình sự thế giới; đồng thời, có xét đến thực trạng và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, luôn trao hình phạt, biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước cho Toà án áp dụng đối với người phạm tội ở từng giai đoạn khác nhau, những quy định của pháp luật Việt Nam về hình phạt cũng khác nhau nhưng đều thể hiện rõ tư tưởng: Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị đi đôi với giáo dục, cải tạo Trong các hình phạt được luật hình sự quy định, bên cạnh các hình phạt nghiêm khắc như tù chung thân,

tử hình , thì luôn có những hình phạt nhẹ hơn không tước bỏ tự do của người

bị kết án như phạt tiền, cảnh cáo, CTKGG và các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt v.v tạo điều kiện cho người bị kết án hoà nhập với cộng đồng, giảm chi phí phát sinh không đáng có cho xã hội đó là cái mà luật hình sự hướng tới Với tinh thần đó, hình phạt trong luật hình sự Việt Nam thực sự là công cụ hữu hiệu của nhà nước để bảo vệ chế độ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước

Bộ luật hình sự năm 1999 là văn bản pháp lý đầu tiên được quy định một cách chính thức khái niệm hình phạt trong một điều luật, làm cơ sở phân biệt hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước cụ thể:

Tại Điều 26 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội

Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định” [28]

Còn theo Điều 30 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng định về Khái niệm hình phạt

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước

được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người

Trang 16

bỏ hoặc hạn chế, một mặt trừng trị lên án người phạm tội, mặt khác nhằm răn

đe giáo dục họ trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội

1.1.1.2 Khái niệm hình phạt cải tạo không giam giữ

Trong Bộ luật hình sự không có khái niệm pháp lý nào về hình phạt CTKGG mà chỉ có các quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng, nguyên tắc áp dụng của hình phạt này

Dưới góc độ lý luận, thì hình phạt CTKGG được định nghĩa như sau: Phạt CTKGG, là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly với xã hội (không tước tự do), và buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền (khấu trừ thu nhập) nhất định do Tòa án quyết định ghi trong bản án Khái niệm này phản ánh đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt CTKGG

Dưới góc độ thực tiễn, thì hình phạt CTKGG được định nghĩa: Hình phạt CTKGG là một hình phạt được qui định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án

áp dụng thông qua việc xét xử đối với người phạm tội nhằm thể hiện trách nhiệm hình sự lẫn trách nhiệm về vật chất (bị khấu trừ thu nhập) của người đó đối với hành vi trái pháp luật hình sự mà họ đã gây ra cho xã hội

Hình phạt CTKGG được luật hình sự quy định do Toà án áp dụng đối với người phạm tội, nội dung pháp lý của nó chính là việc Tòa án giao họ cho

Trang 17

11

môt cơ quan hoặc tổ chức quản lý giám sát và thực hiện tước bỏ một phần một khoản tiền (thu nhập hàng tháng) nhất định của người bị kết án Với nội dung đó hình phạt CTKGG là loại hình phạt có khả năng tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến cả đời sống lẫn kinh tế đối với người phạm tội, nó đặc biệt có hiệu quả trong việc đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XIV BLHS 2015), như tội Tội giết cố ý gây thương tích hoặc gây tổ hại cho sức khỏe người khác [Điều

134 BLHS 2015]; các loại tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự

do, dân chủ của công dân (Chương XV BLHS 2015), như Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật [Điều 157 BLHS 2015] và các loại tội phạm xâm phạm sở hữu (Chương XVI BLHS 2015), như Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [Điều 170, 172, 173, 174, 175 BLHS 2015]… và một số loại tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tài sản làm phương tiện hoạt động phạm tội, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự an toàn công cộng, trật tự quản lý hành chính mà chưa đến mức phải áp dụng những loại hình phạt nghiêm khắc hơn, đồng thời hạn chế việc tước tự do của người bị kết án khi không cần thiết Về mặt thời gian, hình phạt CTKGG đối với người phạm tội, thì nhà nước đã tạo cho họ một khoảng thời gian liên tục ở ngoài xã hội để họ tạo ra của cải vật chất cho gia đình và cho xã hội; mặt khác tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước giảm các chi phí xã hội phát sinh không cần thiết và vẫn đạt được mục đích làm cho người phạm tội thấy được trách nhiệm của mình đã gây ra mà từ đó tích cực cải sửa để làm người công dân tốt

cú ích cho xã hội Ngoài việc phải chịu sự quản thúc (giám sát) và bị nộp phạt một khoản tiền (khấu trừ thu nhập) nhất định người bị kết án không phải chịu bất cứ một sự ràng buộc hay trách nhiệm nào khác ngoại trừ việc mang án tích như các hình phạt chính khác

Trang 18

12

Khi áp dụng phạt CTKGG, Toà án cũng nhằm hướng tới những mục đích chung của hình phạt là trừng trị người phạm tội, giáo dục, cảm biến người phạm tội và răn đe phòng ngừa tội phạm chung Với những mức hình phạt có thể lên đến 03 năm CTKGG và khấu trừ thu nhập hàng tháng của người phạm tội lên đến 20% Khả năng trừng trị của phạt CTKGG, là tương đối nghiêm khắc, cho phép áp dụng đối với nhiều loại tội phạm có mức độ ít nghiệm trong và nghiêm trọng khác nhau

Việc quy định hình phạt CTKGG trong luật hình sự đã góp phần đa dạng hoá các hình thức hình phạt, đa dạng hoá các biện pháp xử lý hình sự trong hoạt động phòng và đấu tranh chống tội phạm hiện nay Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt đã rút ngắn, thu hẹp khoảng cách về mức độ nghiêm khắc giữa hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và hình phạt

tù có thời hạn mà khi xét xử Toà án có thể thực hiện nguyên tắc “Nghiêm trị

kẻ chủ mưu, cầm đầu, ngoan cố chống đối, lưu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có

tổ chức; đồng thời, khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội và có vai trò thứ yếu” Đó cũng là cơ sở pháp lý để Toà án thực hiện việc xét xử một cách công bằng đối với các trường hợp phạm tội Hình phạt CTKGG góp phần thực hiện nguyên tắc xử lý có phân biệt và nguyên tắc cá thể hoá hình phạt với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Chính sách hình sự của nhà nước đòi hỏi nghiêm trị phải kết hợp với khoan hồng; đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù Điều 50 BLHS 2015 quy định: Khi quyết định hình phạt, Toà án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự, vào nhân thân của người phạm tội [34] Tội phạm được thực

Trang 19

Hình phạt CTKGG khi được áp dụng sẽ tước đi sự tự do nhất định (người phạm tội phải chịu sự giám sát) và người phạm tội cũng có thể bị kết

án một khoản tiền nhất định để sung công quỹ nhà nước (khấu trừ thu nhập hàng tháng), người bị phạt CTKGG bị tước đi một phần sự tự do và một phần quyền lợi vật chất của họ, sự tước đi này tác động đến người bị kết án theo chiều hướng bất lợi Phạt CTKGG có thể coi là một loại hình quản chế (quản thúc) người bị kết án tại một nơi ở nhất định Cùng với việc áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng của người phạm tội, không phải là một biện pháp kinh tế thuần tuý, khả năng tác động về mặt kinh tế của hình phạt này chỉ là một thuộc tính vốn có của nó Mục đích mà hình phạt CTKGG nhắm tới khi áp dụng đối với người phạm tội cũng chính là mục đích của hình phạt Đó là cải tạo và giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, răn đe những người khác không bước vào con đường phạm tội; tuy nhiên, hình phạt CTKGG không đặt ra mục đích kinh tế, không xác định khấu trừ thu nhập hàng tháng của người bị kết án để tăng thu cho ngân sách nhà nước, mà việc sung công quỹ nhà nước một khoản tiền thu được của người bị kết án chỉ là

hệ quả do việc áp dụng một loại hình phạt được Bộ luật hình sự quy định Hình phạt CTKGG được quy định trong Bộ luật hình sự, chỉ do Toà án,

Trang 20

14

nhân danh nhà nước áp dụng đối với người phạm tội; khi chấp hành xong hình phạt CTKGG người bị kết án trở thành người có tiền án trong thời hạn 1 năm, nếu không phạm tội mới Đối với những người bị áp dụng hình phạt CTKGG, tuy có điều kiện và đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết như khấu trừ tiền lương, bán đấu giá tài sản vẫn không chịu chấp hành thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án do BLHS qui định Như vậy, để làm rõ hơn khái niệm hình phạt CTKGG, cần phải tìm ra một số nét đặc trưng:

Thứ nhất: Hình phạt CTKGG là tước đi một phần sự tự do của người bị

kết án và tước đi khoản tiền nhất định từ thu nhập hàng tháng của người bị kất

án (từ 5% đến 20%)

Thứ hai: Áp dụng hình phạt CTKGG và khấu trừ thu nhập hàng tháng

của người bị kết án, phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội gây ra, bên cạnh đó khi xem xét quyết định hình phạt còn phải xem xét đến tình hình tài chính (thu nhập hàng tháng) của người phạm tội cũng như điều kiện tham gia lao đông (việc làm) của người bị kết án

Thứ ba: Hình phạt CTKGG là một loại hình phạt chỉ do Toà quyết định

Từ những dấu hiệu trên đây có thể đưa ra khái niệm hình phạt CTKGG

như sau: “hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những biện pháp

cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do Bộ luật hình sự Việt Nam quy định, người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội mà được giao cho cơ quan,

tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục, khi họ phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng,

có nơi cư trú rõ ràng và Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội cũng đủ giáo dục, cải tạo họ thành người tốt”

1.1.2 Đặc điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ

Cũng giống như các loại hình phạt khác, hình phạt CTKGG cũng có các

Trang 21

15

đặc điểm vốn có của nó được biểu hiện như:

Thứ nhất, hình phạt CTKGG là 01 trong số biện 07 pháp cưỡng chế

nghiêm khắc trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế bằng các hình phạt chính đối với người phạm tội của pháp luật hình sự (Điều 32 BLHS 2015 quy

định về 7 hình phạt chính) [34] Tính nghiêm khắc của hình phạt CTKGG thể

hiện khả năng tiến hành trừng trị và giáo dục người phạm tội nhưng không buộc người bị kết án phải cách ly họ khỏi môi trường sống bình thường nới trước khi phạm tội họ sinh sống, công tác Tuy nhiên hình phạt CTKGG cũng tước đi của người phạm tội sự tự do (trong khoảng thời gian từ 06 tháng đến

03 năm) và một khoản thu nhập nhất định (từ 5% đến 20%) [Điều 36 BLHS 2015], người bị kết án phạt CTKGG còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý là mang lại án tích trong một thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt CTKGG [Điều 70 BLHS 2015]

Thứ hai, hình phạt CTKGG được quy định ở trong BLHS cả phần chung

và phần các tội phạm; phần chung quy định điều kiện, nội dung, phạm vi và nguyên tắc áp dụng hình phạt CTKGG, cách thức thi hành hình phạt CTKGG; thì phần các tội phạm, hình phạt CTKGG được quy định với tư cách là hình

phạt chính trong 175 Điều luật của BLHS 2015 [34]

Thứ ba, hình phạt CTKGG là một loại hình phạt, nên phải do Tòa án

quyết định đối với người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội mà BLHS qui định theo một trình tự riêng biệt Trình tự riêng biệt

đó là trong quá trình xét xử và quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục được quy định trong BLTTHS

Thứ tư, khác với các hình phạt chính khác, việc thi hành hình phạt

CTKGG không phải được giao cho một cơ quan chuyên trách thực hiện Mà thẩm quyền giám sát, giáo dục người phạm tội được giao cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức nơi người phạm tội làm việc, học tập như UBND cấp xã,

Trang 22

16

phường nơi người phạm tội cư trú và người phạm tội phải nộp (hàng tháng bị khấu trừ từ 5% đến 20% thu nhập) một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước trong những trường hợp do luật hình sự quy định Một khoản tiền nhất định là một khoản tiền cụ thể được Tòa án quyết định nằm trong khung hình phạt của BLHS có qui định là hình phạt CTKGG được đưa ra áp dụng Hình phạt CTKGG và khoản tiền buộc phải nộp, phải phụ thuộc vào tính chất, mức

độ nghiêm trọng của tội phạm, có xét đến tình hình công việc để kiếm ra thu nhập của người phạm tội, cũng như sự biến động của giá cả thị trường Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức

độ cũng như tình hình tài chính của người bị kết án và giá cả thị trường để đưa ra một quyết định phù hợp tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Ngoài ra người phạm tội có thể phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian thi hành hình phạt CTKGG

Thứ năm, hình phạt CTKGG là hình phạt chính và Tòa án chỉ được áp

dụng đối với trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng điều

đó thể hiện tính nhân văn của nhà làm luật đối với 2 loại tội phạm này

1.1.3 Vai trò của hình phạt cải tạo không giam giữ

Với vai trò là hình phạt chính, hình phạt CTKGG là một cơ sở pháp lý cần thiết, nó tạo nên sự đa dạng của hình phạt Hình phạt CTKGG được xác định nặng hơn hình phạt cảnh cáo, trục xuất và hình phạt tiền Nhưng nhẹ hơn hình hình phạt tù cho hưởng án treo, tù chung thân và tử hình Do vậy có qui định hình phạt CTKGG đã rút ngắn khoảng cách giữa các hình phạt với nhau, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật có nhiều sự lựa chọn để xử lý người có hành vi phạm tội đúng với tính chất hành vi phạm tội mà họ đã gây

ra cho xã hội Hình phạt CTKGG được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng không những đảm bảo tính trừng trị, răn đe, giáo dục riêng mà còn

Trang 23

17

mang tính phòng ngừa tội phạm chung Việc áp dụng hình phạt CTKGG thay

vì hình phạt tù đã tạo cơ hội cho người phạm tội không bị xáo trộn trong cuộc sống, được tự cải tạo trong một môi trường lao động xã hội, giúp đỡ gia đình tăng thêm thu nhập và ngân sách nhà nước có thêm một khoản tiền nhất định Việc lừa chọn hình phạt CTKGG là hình phạt chính áp dụng với người phạm tội đã tạo nên mặt tích cực là giảm áp lực cho các hệ thống trại giam nói riêng cũng như chi phí ngân sách nhà nước nói chung; đồng thời nâng cao tính nhân đạo trong chính sách hình sự mà vẫn đảm bảo được tính chất trừng trị của hình phạt

Với vai trò là hình phạt chính, hình phạt CTKGG đã tạo nên một sự công bằng trong áp dụng phát luật, nó có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, nó là một sự đòi hỏi cần thiết của xã hội như: Mọi hành vi phạm tội đều phải được xem xét một cách cụ thể, toàn diện và kỹ lưỡng, bên cạnh đó các cơ quan nhà nước phải đưa ra các quyết định chính xác, phù hợp thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung tội phạm Hình phạt CTKGG được qui định là hình phạt chính, đây là căn cứ pháp lý không thể thiếu để cơ quan pháp luật lựa chọn áp dụng đối với người phạm tội ít nghiệm trọng, nghiêm trọng được pháp luật quy định với các loại tội phạm được quy định trong BLHS

1.1.4 Phân biệt hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù cho hưởng án treo

Như đã nêu ở mục 1.1.1.2 của luận văn thì hình phạt “Cải tạo không giam giữ” được coi là nhẹ hơn hình phạt tù Hình phạt CTKGG được áp dụng

từ 06 tháng đến 3 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội Tòa án giao người bị phạt CTKGG cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính

Trang 24

18

quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó [Điều 36 BLHS 2015] Còn

“Án treo” là chế định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt

tù được quy định tại Điều 65 BLHS 2015 [34] Án treo được hiểu là việc

miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo

và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người

đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan,

tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó

Giữa “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” có sự khác nhau, tuy nhiên xét bản chất của “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” giống nhau ở chỗ: Người thụ án không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú

Mặc dù, giống nhau về bản chất trong việc giáo dục và quản lý người bị kết án nhưng thực tiễn áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” hay áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng “Án treo” đối với người phạm tội còn có những bất cập nhất định Nguyên nhân là do trong các quy định của pháp luật hình sự hiện hành không có quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ”, nhưng lại có quy định điều kiện về nhân thân của bị cáo để được áp dụng chế định “Án treo” Tại điểm b mục 6.1 Nghị quyết số 01 ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo để được áp dụng chế định

Trang 25

19

“Án treo” đòi hỏi bị cáo phải có nhân thân tốt: Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm

việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng [48] Và Hướng dẫn tại

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán

TAND tối cao về áp dụng Điều 65 BLHS 2015 về án treo [51]

Vì không có sự hướng dẫn về điều kiện nhân thân của bị cáo để được

áp dụng hình phạt CTKGG, nên thực tiễn xét xử dẫn đến tình trạng:

Bị cáo có nhân thân xấu (không đủ điều kiện để được hưởng án treo), với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội xét về mặt pháp lý cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau (yếu tố chủ quan) nên cơ quan có thẩm quyền muốn “bị cáo không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú” Để đạt được điều này, cơ quan có thẩm quyền đã không áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo (vì nếu áp dụng hình phạt tù trong trường hợp này sẽ không áp dụng được Điều 65 BLHS 2015 để cho bị cáo hưởng án treo do bị cáo có nhân thân xấu) mà áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” đối với bị cáo Trường hợp này, nếu so sánh bị cáo được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” với thực tiễn các bị cáo khác đã từng bị xét xử về cùng tội phạm, có cùng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhưng có nhân thân tốt (đủ điều kiện để được hưởng án treo) nhưng vẫn bị xử phạt hình phạt tù giam là không công bằng

Thực trạng này đang tồn tại tương đối phổ biến trong hoạt động xét xử, dẫn đến thiếu công bằng khi xử lý về hình sự đối với những người phạm tội (bị cáo có nhân thân xấu được xử lý nhẹ hơn bị cáo có nhân thân tốt); không

Trang 26

20

phù hợp với nguyên tắc áp dụng hình phạt, mục đích của hình phạt Hình phạt không chỉ để trừng trị người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS 2015)

Ví dụ như bị cáo Nguyễn Văn A bị Toà án nhân dân huyện B xử phạt

24 tháng CTKGG, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Điều 202 BLHS 1999, thể hiện được sự bất cập như đã nêu ở trên Vì trong vụ án này, sau khi xét xử sơ thẩm VKSND tỉnh QN nhận thấy: Để xảy ra tai nạn lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo A (điều khiển xe mô tô trên đoạn đường không bị che khuất tầm nhìn, bị cáo không giảm tốc độ khi gặp chướng ngại vật, không tránh xe về phần đường mà bị cáo được phép lưu thông, xử lý tình huống kém), hậu quả làm 01 người chết, gây thiệt hại về tài sản, bị cáo có 01 tiền án và để phục vụ tình hình chính trị địa phương đối với tội phạm về giao thông đường bộ xảy ra tại huyện B nói riêng, trên địa bàn tỉnh QN nói chung , nên đã kháng nghị phúc thẩm theo hướng áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo A nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng nghị và

tuyên y án sơ thẩm [62]

Rõ ràng, trong vụ án này việc chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của những thành viên Hội đồng xét xử, vì còn tồn tại những bất cập về mặt pháp luật như: Về thực tiễn xét xử loại tội phạm này tại tỉnh QN cho thấy có nhiều bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” có cùng tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ giống bị cáo A nhưng có nhân thân tốt vẫn phải chịu hình phạt tù giam (mặc

dù bị cáo có đầy đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS 2015 về án treo);

Trang 27

21

trong khi bị cáo A có nhân thân xấu lại được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, như vậy là không công bằng, thiếu thống nhất trong quyết định hình phạt Nhưng do pháp luật không quy định về điều kiện nhân thân của bị cáo

để được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 36 BLHS 2015 nên không có cơ sở pháp lý để bảo vệ kháng nghị

Theo học viên, vì giữa “Án treo” và “Cải tạo không giam giữ” đều giống nhau là: Người thụ án không phải cách ly khỏi xã hội mà họ được chung sống với gia đình như những người khác dưới sự giám sát của cơ quan,

tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người đó làm việc hoặc cư trú Tuy nhiên, “Án treo” là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, quy định về thời gian thử thách - trong thời gian thử thách nếu người được hưởng

án treo phạm tội mới thì phải chuyển hình phạt tù giam nên nặng hơn hình phạt “Cải tạo không giam giữ” Vậy nên, theo học viên các nhà làm luật cần phải đưa ra những điều kiện để được áp dụng hình phạt “Cải tạo không giam giữ” khắt khe hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ít hơn so với “Án treo”

1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985

Ngày 02.9.1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của nhân dân Việt Nam trong tiến trình giành độc lập, tự chủ Ngay sau khi thành lập Nhà nước Đảng và nhân dân đã gặp rất nhiều khó khăn, thử thách: Phải đối mặt với 3 thứ giặc “giặc đói”,

“giặc dốt” và “giặc ngoại xâm” Từ đó đặt ra cho Đảng và Nhà nước nhiệm

vụ trọng tâm cấp bách phải ban hành pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, vì chỉ khi pháp luật được ban hành Đảng và Nhà nước mới có nền tảng pháp lý để bảo vệ an ninh quốc gia, trấn áp tội phạm nói chung và để bảo

Trang 28

22

các lợi ích của Nhà nước và của nhân dân nói riêng

Nói về hình phạt CTKGG ở thời kỳ này, học viên nhận thấy các quy phạm pháp luật về hình sự khá đơn giản, cụ thể như việc các quy định về Hình phạt, cũng được chia thành: Hình phạt chính và hình phạt phụ (bây giờ hình phạt phụ được gọi là hình phạt bổ sung), trong đó:

- Về Hình phạt chính các nhà làm luật chỉ quy định có 5 hình phạt gồm:

Tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn (từ sáu tháng đến hai mươi năm), cảnh cáo; các hình phạt vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt phụ: quản chế (từ

1 năm đến 5 năm sau này ) và phạt tiền

- Còn về hình phạt phụ có: Tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, cư trú bắt buộc và cấm cư trú (từ 1 năm đến 5 năm), cấm thực hành một

số nghề nghiệp nhất định hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan đến tài sản xã hội chủ nghĩa Hình phạt CTKGG được đề cập lần đầu tiên trong Luật

Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981 [25]

Như vậy những đặc điểm cơ bản của hình phạt CTKGG được đề cập xuất hiện từ khá sớm, nó xuất hiện trước lần pháp điển hóa đầu tiên (BLHS 1985) là về thời hạn hình phạt CTKGG là từ 3 tháng đến 2 năm (hiện nay là từ

6 tháng đến ba năm

Tóm lại trong giai đoạn này, hình phạt CTKGG chỉ được quy định gói gọn trong 02 văn bản pháp luật với phạm vi áp dụng rất hẹp, bởi vì thời kỳ đó Việt Nam vẫn trong tiến trình đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm (chống Pháp, chống Mỹ và chống Trung Quốc) Cho nên các quy phạm pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng đều nhằm mục đích đích chính trị, đấu tranh giành độc dân tộc, giải phóng miền Nam Cho nên phần lớn các quy phạm pháp luật về hình sự trong giai đoạn này là để trừng trị, răn đe với hình phạt được chú trọng, quan tâm nhất là hình phạt Tù Cũng có những quy định về các hình phạt không phải là hình phạt tù như phạt tiền, cảnh cáo và đặc biệt là

Trang 29

23

sự việc quy định hình phạt CTKGG ở giai đoạn sau này (năm 1981), đã mở ra một cách nhìn nhận mới Đảng và Nhà nước về hình phạt và mục đích của hình phạt, cũng như hoàn thiện pháp luật hình sự trong giai đoạn tiếp theo

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

Đứng trước yêu cầu của lịch sử cần phải đẩy mạnh công cuộc cải cách của đất nước về kinh tế (năm 1986 là năm đánh dấu bước thay đổi từ nền kinh

tế tập chung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường) Ngày 27 tháng 6

năm 1985 Đảng và Nhà nước ta đã ban hành BLHS 1985 [26], đây là lần đầu

tiên các quy phạm pháp luật về hình sự được pháp điển hóa và có hiệu lực kể

từ ngày 01.01.1986 cùng với đó là rất nhiều những văn bản luật và dưới luật cũng được ban hành để thực hiện BLHS 1985

Tại Điều 21 BLHS 1985 đã ghi nhận hình phạt CTKGG là một trong sáu hình phạt chính, gồm:

1- Đối với người phạm tội, chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính sau đây:

Còn Điều 24 BLHS 1985, quy định về hình phạt CTKGG như sau;

“1- Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng

Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giam

Trang 30

24

bằng ba ngày cải tạo không giam giữ

2- Toà án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục

3- Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để xung quỹ Nhà nước

4- Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ, trong trường hợp Điều luật quy định hình phạt cải tạo không giam giữ thì áp dụng hình phạt cải tạo

ở đơn vị kỷ luật của quân đội quy định ở Điều 70” [26]

Và đến BLHS 1999 các nhà làm luật đã có những quy định mới rất quan trọng như:

Một là, hình phạt CTKGG trong BLHS 1999 được quy định tại điều 31

(BLHS 1985 quy định tại Điều 24) và vẫn giữ nguyên quy định là hình phạt chính, cùng với các hình phạt khác như: Cảnh cáo; phạt tiền; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình (bỏ hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội) Theo quy định tại Điều 31 BLHS 1999, thì CTKGG được áp dụng từ sáu tháng đến

ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc phạm tội nghiêm trọng

mà có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội

Theo quy định này, thì đối tượng để áp dụng hình phạt CTKGG bao gồm cả người phạm tội ít nghiêm trọng và người phạm tội nghiêm trọng, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 thì tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt là 7 năm tù chứ không phải là trên 5 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình như BLHS 1985 Ngoài ra BLHS 1999 còn quy định thêm điều kiện để người phạm tội được áp dụng hình phạt CTKGG là họ phải có nơi làm việc ổn định, hoặc có nơi thường trú

Trang 31

25

rõ ràng, trong BLHS 1985 chưa có quy định này Tuy nhiên kể cả trường người phạm tội có đủ các điều kiện theo quy định nhưng tại phiên tòa nếu Hội đồng xét xử, có căn cứ cho rằng nếu để người phạm tội tiếp tục chung sống trong cộng đồng là gây nguy hiểm cho xã hội Thì Hội đồng xét xử sẽ không

áp dụng hình phạt CTKGG đối với người phạm tội Vậy nên nếu người phạm mong muốn được áp dụng hình phạt CTKGG ngoài những điều kiện được quy định trong BLHS 1999 thì người phạm tội phải chứng minh bản thân có thể hòa nhập và sống có ích cho xã hôi (như việc có khả năng lao động để đảm bảo việc khấu trừ thu nhập) Về thời hạn tối đa đối với hình phạt cải tạo không giam giữ cũng được Bộ luật hình sự năm 1999 nâng lên 03 năm

Hai là, nếu người phạm tội đang bị tạm giữ hoặc đang bị tạm giam thì

thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt CTKGG, cứ một ngày bị tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày CTKGG So sánh với BLHS 1985, học viên nhận thấy BLHS 1999 đã mở hơn BLHS 1985 và BLHS 1985 chỉ quy định thời gian tạm giam mới được khấu trừ (Tuy nhiên thực tiễn xét xử các Hội đồng xét xử trên cả nước nói chung và các Hội đồng xét xử ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng khi thực hiện BLHS 1985 đều đã khấu trừ

cả thời gian tạm giữ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ) Do vậy có thể nói BLHS 1999 đã khắc phục được những thiếu sót và hạn chế của BLHS 1985, nhằm bảo đảm tính chính xác và nhất quán trong quy định cũng như trong áp dụng BLHS vào thực tiễn

Ba là, BLHS 1999 cũng đã có thêm những quy định mới về: Gia đình,

thân nhân người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người phạm tội, làm cho hình phạt CTKGG được áp dụng và thi hành đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó BLHS

1999 còn quy định những trường hợp được miễn khấu trừ thu nhập Đây là quy định mở và người có quyền quyết định miễn là HĐXX, vậy nên trong

Trang 32

1.3.1 Các quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ của Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Về cơ bản các quy định hình phạt CTKGG của BLHS Việt Nam và của nước Nga có những điểm tương đồng như các quy định trong các Điều luật

49, 50 và 53 của BLHS Nga trong đó có quy định hình phạt: Làm việc bắt buộc, nghĩa là người bị kết án CTKGG phải làm công việc thêm ngoài do cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương đặt ra (không phải công việc chính của người bị kết án) và không được trả công (nghĩa là không có thu nhập) Hoặc như các quy định về Lao động cải tạo và Hạn chế tự do Đối chiếu một số quy định này với nội dung áp dụng hình phạt về CTKGG của nước ta, học viên nhận thấy cả hai Bộ luật đều giống nhau ở việc buộc người

bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định nhưng không tước tự do của bị án, không cách ly bị án ra khỏi cộng đồng

Tuy vây cũng có những sự khác biệt nhất định, cụ thể như việc: Pháp luật hình sự về hình phạt và thi hành hình phạt CTKGG của nước ta không nêu công việc cụ thể và không có đòi hỏi cụ thể thì nghĩa vụ của người bị kết

án theo BLHS nước Nga lại quy định cụ thể bao gồm một công việc không được trả tiền và làm ngoài giờ lao động chính của người bị kết án, việc làm

Trang 33

27

ngoài giờ này có thời hạn từ sáu mươi tiếng đồng hồ đến hai trăm bốn mươi tiếng đồng hồ và không được quá bốn tiếng đồng hồ trong một ngày Việc làm ngoài giờ với tính cách là hình phạt không được áp dụng đối với người tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 8 tuổi, và cũng không được áp dụng với bị án là năm giới hơn sáu mươi tuổi, và nữ giới hơn năm mươi năm,

và đối với những người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự

Học viên nhận thấy các quy định của hình phạt lao động cải tạo của BLHS nước Nga, là hình phạt có nhiều quy phạm pháp luật tương đồng với với hình phạt CTKGG của nước ta nhất, cụ thể như việc: Cả hai Bộ luật đều

có quy định về việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án từ năm phần trăm đến hai mươi phần trăm để sung công quỹ Nhà nước

Điểm khác biệt rõ nét ở đây so với hình phạt cải tạo không giam giữ của nước ta là luật hình sự Liên bang Nga quy định phải có một cơ sở xác định để bắt người phạm tội phải có mặt ở đó Cơ sở này có thể là cơ sở được thành lập chỉ nhằm mục đích giữ những người bị giám sát này, nhưng đó không phải là trại giam và do đó hình phạt này không phải là tù có thời hạn vì

tù có thời hạn là cách ly người bị kết án khỏi xã hội Ngoài ra thì BLHS nước Nga quy định hình phạt CTKGG có thể từ hai tháng đến hai năm nhưng tại Việt Nam thì quy định từ sáu tháng đến ba năm (trong cả hai BLHS Việt Nam

1999 và 2015) [5, tr.41]

1.3.2 Những quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ của đất nước Trung Quốc

Tại Điều 42 BLHS Trung Quốc đã ghi nhận: Thời hạn cải tạo lao động

từ một tháng đến sáu tháng và Điều 43 BLHS Trung Quốc cũng ghi nhận: Cơ quan Công an gần nhất thi hành án cải tạo lao động đối với người bị kết án Trong thời gian chấp hành, hàng tháng người bị kết án cải tạo lao động có thể được về thăm gia đình từ một đến hai ngày, có thể tính mức thù lao cho người

Trang 34

28

bị kết án cải tạo lao động khi có tham gia lao động

Ngoài ra thì Điều 44 BLHS Trung Quốc cũng ghi nhận: Thời hạn cải tạo lao động tính từ ngày bản án có hiệu lực thi hành Thời gian tạm giam trước khi tuyên án được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo lao động, 1 ngày tạm giam bằng 1 ngày cải tạo lao động

Học viên nhận thấy tuy có tên gọi khác: Việt Nam gọi là CTKGG, còn Trung Quốc gọi là Lao động cải tạo (Luật của Trung Quốc và Luật nước Nga

có tên gọi giống nhau) nhưng về cơ bản các nội dung của Điều luật có nhiều nét tương đồng; Mặc dù vậy thì thời gian áp dụng hình phạt lại có sự khác biệt khá lơn: Trong khi BLHS Việt Nam quy định thời gian CTKGG thấp nhất là 6 tháng và cao nhất lên đến 3 năm nhưng BLHS của Trung Quốc lại quy định thời gian Lao động cải tạo lại rất ít, thấp nhất là một tháng và cáo

nhất là sáu 6 tháng [11, tr.41]

Tiểu kết Chương 1

Tại chương I của luận văn học viên đã đi sâu nghiên cứu và phân tích những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới như Trung Quốc và Nga về hình phạt CTKGG Trong đó học viên đã đưa

ra được các khái niệm về hình phạt nói chung và hình phạt CTKGG nói riêng;

Đã đưa được những đặc điểm, đặc trưng và vai trò của của hình phạt CTKGG

để từ đó có sở so sánh và đánh giá với hình phạt tù cho hưởng án treo Ngoài

ra học viên cũng đã nêu được quá trình hình thành và phát triển của các quy định về hình phạt CTKGG từ năm 1954 đến nay Trên cơ sở những phân tích

và đánh giá về hình phạt CTKGG tại chương I của Luận văn, học viên sẽ trình bày thực trạng công tác áp dụng hình phạt CTKGG trong giai đoạn từ 2015 đến 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh và các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Quảng Ngãi

Trang 35

29

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1 Những quy định pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt cải tạo không giam giữ theo Bộ luật hình sự 2015 và thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hiện hành

2.1.1 Những quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật hình sự 2015

Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ

Chính trị [8] và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [10] và qua thực tiễn

thi hành BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập Ngày 27 tháng 11 năm 2015, QH khóa XIII và ngày 20 tháng 6 năm

2017 Quốc Hội khóa XIV của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

đã thông qua BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thay thế cho BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2018 Hình phạt CTKGG được quy định rất cụ thể và chi tiết ở cả phần chung

và phần các tội phạm

Tại điểm c khoản 1 Điều 32 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), quy định Cải tạo không giam giữ là 1 trong 7 hình phạt chính, bao gồm: Cảnh cáo, Phạt tiền, Cải tạo không giam giữ, Trục xuất, Tù có thời hạn, Tù chung thân

và Tử hình) [34] Nếu sắp xếp theo hướng các hình phạt chính có mức độ

trừng phạt nghiêm khắc từ tưg hình phạt chính nhẹ nhất “Cảnh cáo” đến hình phạt chính cao nhất “Tử hình” theo số thứ tự từ 1 đến 7, thì hình phạt CTKGG xếp vị trí số 3 về mức độ từ nhẹ đến nghiêm khắc nhất là “Tử hình”

Còn tại Điều 36 BLHS 2015 quy định cụ thể về CTKGG như sau:

Trang 36

30

“1 Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ

01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ

2 Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người

đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó

3 Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án

Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự

4 Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ

có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh

Trang 37

31

hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự” [34]

Từ những quy định tại Điều 36 BLHS 2015 nêu trên Học viên nhận thấy: Cải tạo không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định, xét thấy không cần thiết phải tước tự do của người bị kết án, không cần phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội mà giao họ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục với khoảng thời gian từ 6 tháng đến 3 năm

Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có tính chất nghiêm khắc hơn so với hình phạt tiền và cảnh cáo nhưng nhẹ hơn hình phạt tù Do vậy, theo quy định của pháp luật Tòa án chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội khi thỏa mãn những điều kiện sau đây:

– Áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến

03 năm tù, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là bảy năm

– Người phạm tội phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú

rõ ràng

Thời hạn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 3 năm Riêng đối với người chưa thành niên phạm tội thì thời hạn cải tạo không giam giữ áp dụng với họ là không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định (Điều 73 BLHS năm 2015) Trong trường hợp người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam

Trang 38

32

bằng 3 ngày cải tạo không giam giữ

Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó

Như vậy, so sánh giữa BLHS 1999 và BLHS 2015, học viên nhận thấy

các quy định về hình phạt CTKGG của BLHS 2015 có một số điểm mới so với BLHS 1999 như sau:

Những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015

Xuất phát từ quan điểm cải tạo không giam giữ là loại hình phạt không nhằm tước tự do của người bị kết án mà tạo cho họ cơ hội được cải tạo tại môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giúp đỡ của chính quyền, gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng, quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ được sửa đổi, bổ sung trên tinh thần bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng cũng như tính chặt chẽ, khả thi nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hình phạt này

Về cơ bản, Điều luật kế thừa quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ của Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời có ba điểm sửa đổi, bổ sung:

Thứ nhất, cụ thể hóa nội dung cải tạo không giam giữ đối với người

không có việc làm, theo đó, người bị kết án không có việc làm ổn định hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một

số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong một thời hạn nhất định do Tòa

án quyết định Quy định này thể hiện quan điểm giáo dục cải tạo người phạm tội thông qua lao động

Xác định cụ thể thời gian lao động phục vụ cộng đồng là không quá 4 giờ/một ngày và không quá 5 ngày/một tuần Điều luật cũng quy định rõ:

Trang 39

33

không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với năm đối tượng người bị kết án cải tạo không giam giữ sau đây: (1) phụ nữ đang có thai; (2) phụ nữ đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi; (3) người già yếu; (4) người bị bệnh hiểm nghèo; (5) người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng Nhìn chung, đây là những đối tượng yếu thế, cần có chính sách bảo vệ đặc biệt

Thứ hai, bổ sung quy định không khấu trừ thu nhập đối với người chấp

hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, bởi lẽ, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự, người đó không có thu nhập (lương) hàng tháng mà chỉ có một khoản phụ cấp tiêu vặt để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân

Thứ ba, bổ sung quy định về cách thức khấu trừ một phần thu nhập của

người bị kết án cải tạo không giam giữ, theo đó, việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án sẽ được thực hiện hàng tháng với mức do Tòa án quyết định (từ 05% đến 20%)

Ngoài ra BLHS đã 2015 bổ sung quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ tại mục 4 điều 36 như sau: Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với một số trường hợp như phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng

2.1.2 Các tội phạm có quy định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

Thứ nhất, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ

Với bản chất là pháp luật của Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và

vì dân Các nhà làm luật luôn xác định con người là trung tâm của các mối

Trang 40

34

quan hệ xã hội nên hình phạt CTKGG được coi hình chính nhằm mục đíc tạo điều kiện tối đa để những người phạm tội thuộc Chương XIV của BLHS 2015

có cơ hội để được giáo dục cải tạo ngoài cộng đồng Do vậy các nhà làm luật

đã quy định 14 tội danh được áp dụng hình phạt CTKGG [34]

Thứ hai, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ:

Tại chương XV của BLHS 2015, các nhà làm luật đã quy định có 11

Điều luật áp dụng CTKGG [34]

Thứ ba, các tội xâm phạm sở hữu áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ

Cùng với việc bảo vệ tài sản của nhà nước, tài sản của công dân và của

tổ chức, Chương XVI của BLHS 2015 có 09 Điều luật quy định áp dụng hình

phạt CTKGG [34]

Thứ tư: Các tội phạm xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình quy định

về hình phạt cải tạo không giam giữ

Tại Chương XVII BLHS 2015 các nhà làm luật đã dành 6 Điều luật để quy định hình phạt CTKGG [34]

Thứ năm, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ

Trật tự quản lý kinh tế là hoạt động rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển đất nước, người xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế là những người chủ yếu nhằm vụ lợi vì mục đích vật chất Trong nhóm tội này, ngoài các loại hình phạt qui định nghiêm khắc ra, thì hình phạt CTKGG cũng đóng vai trò tích cực để xử lý đối với nhóm tội này Chương XVIII của BLHS 2015, các nhà làm luật đã áp dụng hình phạt CTKGG ở 32 Điều luật, đây là Chương và loại tội phạm được các nhà làm luật đã áp dụng rất nhiều Điều luật để quy

định về hình phạt CTKGG [34]

Ngày đăng: 09/12/2020, 07:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w