Ở Việt Nam, phân loại đất được tiến hành khá sớm, đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia cho các vùng trên cả nước, trong đó có Tây Nguyên nhằm mục đích thống kê quỹ đất phục vụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
TRÀ NGỌC PHONG
ĐẶC ĐIỂM ĐẤT DƯỚI RỪNG DẦU NHIỆT ĐỚI
(DIPTEROCARPACEAE) VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI
TRỒNG CAO SU Ở TÂY NGUYÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
TRÀ NGỌC PHONG
ĐẶC ĐIỂM ĐẤT DƯỚI RỪNG DẦU NHIỆT ĐỚI
(DIPTEROCARPACEAE) VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI
TRỒNG CAO SU Ở TÂY NGUYÊN
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ số
liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi cũng xin cam đoan các tài liệu trích dẫn trong luận án đều được thống
kê trong phần tài liệu tham khảo; một số tài liệu tham khảo không trích dẫn
nhưng nghiên cứu sinh có tham khảo để củng cố một số nhận định liên quan đến
kết quả nghiên cứu trước đây và kết quả nghiên cứu của đề tài này cũng được đưa
vào tài liệu tham khảo
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày…….tháng…….năm 20…
Nghiên cứu sinh
Trà Ngọc Phong
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu chủ yếu được thực hiện tại Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp - nơi tác giả luận án công tác; Viện Quy hoạch và Thiết kế
nông nghiệp và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - những nơi tác
giả luận án gửi mẫu phân tích Để hoàn thành công trình này, chúng tôi đã nhận được sự chấp thuận, giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo Viện, Phân viện, Hội Khoa học Đất Việt Nam, các địa phương, quý thầy cô, các bậc đàn anh, các bạn đồng nghiệp, bạn bè thân hữu và gia đình
Tôi xin bày tỏ sự kính phục và biết ơn sâu sắc đến Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Phan Liêu - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, Viện trưởng Viện Địa lý Sinh thái và Môi trường - người thầy hướng dẫn chính cho công trình nghiên cứu này Thầy đã hướng dẫn xác lập phương pháp luận nghiên cứu đề tài, bồi dưỡng nâng cao kiến thức khoa học đất, đặc biệt là kiến thức về phát sinh học thổ nhưỡng, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và quan tâm, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Với sự kính phục và lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Đỗ Trung Bình - nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học Đất, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam - người thầy đã cùng với thầy hướng dẫn chính tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án Thầy đã bồi dưỡng nâng cao kiến thức khoa học đất, phân bón và dinh dưỡng cây trồng, Thầy luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Với sự kính phục và lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Quang Khánh - Phó Chủ tịch Hội KHĐVN, Thầy là người Thầy đầu tiên hướng dẫn tôi nghiên cứu
đề tài này ở cấp độ Thạc sĩ và Thầy cũng là người động viên, giúp đỡ tôi tiếp tục nghiên cứu ở cấp cao hơn (NCS) Thầy đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, tiếp cận nhiều kiến thức khoa học đất trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Trang 5iii Với lòng cảm phục và biết ơn sâu sắc đến KS Nguyễn Xuân Nhiệm là người Chú, người đồng nghiệp nhưng cũng là người Thầy tận tình giúp đỡ để bổ túc kiến thức về điều tra, khảo sát đất đai, xây dựng bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai
và các kiến thức liên quan đến phát sinh học đất; Chú đã đồng hành, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Lãnh đạo và chuyên viên các Phòng, Ban thuộc VAAS; Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (IAS) đã tạo mọi điều kiện tốt nhất và đã luôn đồng hành, động viên, giúp
đỡ và cho tôi nhiều cơ hội để hoàn thành Luận án tiến sĩ
- GS TS Phạm Văn Toản – Phó Giám đốc VAAS, TS Phạm Bích Hiên, ThS Trần Huệ Hương, TS Trương Vĩnh Hải, TS Nguyễn Quang Chơn, ThS Trần Văn Tưởng là những người Thầy, là người Anh, người Chị thân thiết đã luôn đồng hành, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành Luận án tiến sĩ
- PGS.TS Vũ Năng Dũng - Chủ tịch Hội Khoa học đất Việt Nam (KHĐVN), PGS.TS Lê Thái Bạt - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội KHĐVN, Tiến sĩ Nguyễn An Tiêm, Tiến sĩ Nguyễn Thế Bình và Tiến sĩ Nguyễn Trọng Uyên
là lãnh đạo Phân viện qua các thời kỳ đã chấp thuận, tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu sinh
- Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Quý Thầy, Cô thuộc các cơ quan Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Khoa Quản lý Đất đai trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Cần Thơ, Trung tâm Nghiên cứu Đất, Phân bón và Môi trường phía Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
- Thạc sĩ Tống Thị Thanh Thủy - Trưởng phòng Phân tích Đất và Môi trường, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Tiến sĩ Phạm Thị Thanh phòng Thí nghiệm Trọng điểm Vật liệu và Linh kiện Điện tử, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ tôi phân tích mẫu đất và đã có kết quả nhanh nhất để kịp phục vụ đề tài nghiên cứu
Trang 6iv
- Anh chị em đồng nghiệp công tác tại Phân viện và Viện Quy hoạch và Thiết
kế nông nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, động viên và đồng hành cùng với tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài luận án
Xin được gửi lời tri ân đến các bậc sinh thành, vợ, con và anh chị em, bạn hữu
đã động viên và giúp đỡ tôi học tập, làm việc và thực hiện luận án.
Trà Ngọc Phong
Trang 7v
TÓM TẮT
Ở Việt Nam, rừng dầu (người dân địa phương thường gọi là "rừng khộp") là rừng
nghèo kiệt rất đặc trưng với các cây họ dầu (Dipterocarpaceae) ưu thế Rừng dầu có diện
tích toàn quốc khoảng 933.000 ha, tập trung nhiều ở Tây Nguyên với 500.000 ha, chủ yếu
ở tỉnh Đắk Lắk Rừng dầu cũng rất phổ biến ở các nước Đông Nam Á: Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Philippines Đã có một số nghiên cứu về đất rừng dầu nhưng chỉ khảo sát sự phân bố, đánh giá các chỉ tiêu về độ phì và khả năng sản
xuất Có thể cho rằng, nghiên cứu này là công trình đầu tiên đi sâu phát sinh học (genesis)
đất rừng dầu và các điều kiện khai thác, chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cao su
Rừng dầu phát triển trong điều kiện khí hậu và địa hình khu vực đặc biệt: Có mùa mưa gây úng nước bề mặt và mùa khô bốc hơi mãnh liệt làm biến đổi đất đai sâu sắc
Về đặc điểm sinh thái học các cây họ dầu: Rừng này chỉ mọc trên các đất nghèo, khô hạn, có nhiều đá lẫn và kết von, tầng nước ngầm nông - nơi mà các cây rừng lá rộng thường xanh không phát triển được Hàng năm các cây họ dầu thường bị cháy làm huỷ hoại tầng thảm mục, tác động đến sự biến đổi, tích tụ và di chuyển các nguyên tố trong đất
Về cơ chất địa chất khu vực, rừng dầu đứng chân trên các mác ma axít (phần lớn
granite, phiến sét và đá cát, rất ít bazan và phù sa cổ)
Bằng khảo sát bề mặt kết hợp giải đoán ảnh vệ tinh và sử dụng công nghệ GIS để chồng xếp các lớp thông tin hiện trạng sử dụng đất đã xác định tổng diện tích đất dưới rừng dầu Tây Nguyên là 565.000 ha - vượt 65.000 ha so với con số 500.000 ha trước đây Đất rừng dầu phần lớn phân bố tại các huyện phía Tây của các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông, chủ yếu là các đất thuộc 4 nhóm (gộp thành nhóm theo đá mẹ/mẫu
chất) với tỷ lệ phân bố địa lý khác nhau, trong đó: Đất xám và đất vàng đỏ trên granite
chiếm 50,95% diện tích; đất đỏ vàng trên đá phiến sét và đất vàng nhạt trên đá cát chiếm 45%; còn lại 2 nhóm chiếm diện tích rất ít là đất trên bazan 3,65%, đất xám phù sa cổ chiếm 0,39%
Đất ở đây có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát chiếm hơn 60%; đá lẫn và kết von trong đất là phổ biến, làm giảm độ phì gây trở ngại lớn khi trồng cao su; các loại đất có tầng mỏng, ≤ 70cm chiếm đến 56,68% diện tích, đất có tầng ≥ 100cm chỉ chiếm 14,39%
Trang 8Về đặc điểm phát sinh đất rừng dầu: đã nghiên cứu điển hình 3 nhóm đất: đất vàng
đỏ trên đá granite, đất đỏ vàng trên đá phiến sét, đất xám trên phù sa cổ Từ số liệu thành
phần hóa học tổng số và tỷ lệ phân tử SiO2 : Al2O3 trong sét (phần tử < 0,001mm) tách từ
đất (< 1mm) đã phát hiện: đất rừng dầu chịu tác động của biến hoá sialit–alit (chỉ số
Harrassowits SiO2 : Al2O3 trong sét 3,1 - 3,6) và xuất hiện "sự tái tích tụ silic" làm cho đất
có biểu hiện sialit, mà ở đây do nguồn gốc từ nước cho nên được gọi là "sialit thuỷ
nguyên" (Hydrogenic sialitisation)
Đã chồng xếp 08 loại bản đồ đơn tính của 08 yếu tố đất đai: Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, mức độ đá lẫn – kết von, độ chua của đất (pHKCl), hàm lượng chất hữu cơ tầng đất mặt, độ dốc, tình trạng ngập úng và độ sâu mực nước ngầm để thành lập bản đồ đơn vị đất đai với 20 đơn vị đất đai và bản đồ thích hợp đất đai Mỗi đơn vị đất đai có thể
là gợi ý cho một mô hình sinh thái nông- lâm nghiệp Vì vậy, các bản đồ này cung cấp cơ
sở khoa học cho đánh giá tiềm năng đất đai đồng thời là căn cứ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch khai thác, bố trí, sử dụng trồng cao su hiệu quả
Công trình đã tái khẳng định tiêu chuẩn bắt buộc chỉ có thể trồng được cao su khi
độ dày tầng đất mặt > 70 cm và hàm lượng đá lẫn + kết von trong tầng đất không vượt quá 50% khối lượng đồng thời không bị kết chặt thành tầng cứng rắn bởi lớp sét bên dưới
Trang 9vii
ABSTRACT
In Vietnam, Tropical Dipterocarp Forests (abbreviated as TDF) are poor – exhauted
forests with very special trees belonging to the botanical family Dipterocarpaceae TDF
occupied a total area of around 933.000 ha in the country, of which 500.000 ha concentrated in the Central Highland (mainly in Daklak province) TDF are also very common in Asean countries such as in Cambodia, Thailand, Lao, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Philippines It has been several studies on TDF soils, but dealing with only the distribution, soil fertility and possibility for production It could be said that our study is the first one, which touching in depth thoroughly – the soil genesis and conditions for exploitation, especially rubber cultivation
TDF develop in the local climate conditions and special relief: One rainy season making soil surface waterlogged and one dry season caussing powerful evaponation to alter deeply the soil
On the ecological features of dipterocarp trees: TDF develop only on unfertile and dry soils with lots of mixed stones and concretions, the underground water stands shallowly – where the green larged-leaf trees could not be able to grow Dipterocarp trees often damaged under fire annually, by that the plant–residues on soil surface to be destroyed making the alteration, accumulation and moving of elements in the top soils
On the local geological substrate: TDF stand on acid magma (mainly granite; clayey shists, sand stones; very few basalt and old alluvium)
Based on the on-surface studies combining with remote sensing to decode satellite images, at the same time using GIS technology in overlaying information layers on present landuse, it has been defined the exact total areas of TDF soils in Central Highlands are 565.000 ha – surpassing 65.000 ha compared to the figure of 500.000 ha that existing before
The majority of TDF soils distributed in the western districts at the provinces of Daklak, Gialai, Kontum and Daknong These soils could be classified into 4 groups (based
on parent rocks) with different percentages: Grey soils and yellow–redish soils on granite occupied 50,95% of areas; red–yellowish soils on clayey shists and sandy rock – 45%; on basalt – 3,65%; and old alluvium grey soils – 0,39%
Trang 10viii
TDF soils have light soil texture with more than 60% of sand particle; mixed stones and concretions are common making soil fertility decreased when planting rubber It has been defined the soils with shallow top soil < 70 cm occupied 56,68% of the areas; the soils with top soil > 100 cm – only 14,39% In TDF soils the vertical leaching present very often and create the clay accumulated very tight/compacted Bt horizon Bt horizon holds water on it making a shallow layer underground water < 100 cm damaging rubber and other industrial plants TDF soils are poor in nutrients and organic matter, and CEC are very low, soil reaction very acid (OM < 1%, N < 0,1%, P2O5 < 0,06%, K20 <0,5%, CEC <
10 meq/100g, BS <45%, pHKCl < 4,4)
On the genesis of TDF soils: Based on analitical data of 3 profiles of soils under
dipterocarp forests, especially on Harrassowits index (SiO2 : Al2O3) in clay fraction (< 0,001 mm) separated from the soil (< 1 mm) it could be defined the TDF soils in the past
had been affected by sialit – alit process (SiO2 : Al2O3 - 3,1 – 3,6), but further it had
occurred “the reaccumulation of Silica” making the soils as siallit and formed by water regime, so to be called as “Hydrogenic Siallitisation”
With overlapping monocaracter maps of 8 characters of soils: thickness of top soil, soil texture, percentage of mixed stones - concretions, soil acidity (pHKCl), organic matter content of topsoil, sloping degree, waterlogged level and depth of groundwater has been established land unit map with 20 land units and the map of land suitability Each land unit could be a suggested as an ecological model of agroforestry These maps supply scientific background for evaluation of land potential to make the planning and plans of rubber plantations with success The study had reconfirmed obligatory criteria for possibility of rubber planting: 1/ thickness of top soil > 70 cm; 2/ content of mixed stones and concretions in soils < 50% of soil mass and not cohesived with the compacted clay bottom layer
Trang 11ix
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xii
DANH MỤC CÁC BẢNG xiv
DANH MỤC CÁC HÌNH xvi
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Ý nghĩa 2
1.3 Mục tiêu 3
1.3.1 Mục tiêu tổng quát: 3
1.3.2 Mục tiêu cụ thể: 3
1.4 Đối tượng và phạm vi 3
1.4.1 Đối tượng: 3
1.4.2 Phạm vi: 4
1.5 Đóng góp mới 4
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN 6
1.1 Các nghiên cứu về đất và phân loại đất 6
1.1.1 Các nghiên cứu đất trên thế giới 6
1.1.2 Những nghiên cứu đất ở Việt Nam 8
1.1.3 Những nghiên cứu đất vùng Tây Nguyên 9
1.1.4 Một số kết quả nghiên cứu về đất dưới rừng dầu nhiệt đới 14
1.1.5 Những nghiên cứu về khoáng sét 22
1.2 Khái quát về rừng dầu nhiệt đới 28
1.2.1 Trên thế giới 28
1.2.2 Ở Việt Nam 29
1.2.3 Một số đặc điểm lâm sinh của rừng dầu 29
1.2.4 Quy mô và phân bố rừng dầu 33
Trang 12x
1.3 Những nghiên cứu liên quan đến cây cao su 34
1.3.1 Sinh thái học cây cao su 34
1.3.2 Những kết quả nghiên cứu đánh giá đất trồng cao su ở Việt Nam 37
1.3.3 Những kết quả đánh giá, phân hạng đất rừng dầu chuyển đổi trồng cao su 38
1.4 Khái quát vị trí địa lý của vùng nghiên cứu 40
1.5 Nhận xét chung của NCS qua quá trình nghiên cứu tổng quan tài liệu 41
CHƯƠNG 2 44
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 44
2.1 Nội dung 44
2.2 Phương pháp 45
2.2.1 Cách tiếp cận (Approaching) 45
2.2.2 Phương pháp luận (Methodology) 46
2.2.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể (Methods) 46
2.2.4 Thu thập thông tin, khảo sát thực địa 50
2.2.5 Vật liệu và kỹ thuật nghiên cứu 52
CHƯƠNG 3 54
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 54
3.1 Phân bố địa lý đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên 54
3.1.1 Phân bố địa lý của cây dầu ở Tây Nguyên 54
3.1.2 Phân bố địa lý của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 56
3.2 Đặc điểm phát sinh đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 58
3.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các đặc tính của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 58
3.2.2 Phân loại đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 82
3.2.3 Đặc điểm quá trình phong hóa hình thành đất dưới rừng dầu 90
3.2.4 Đặc điểm hình thái phẫu diện đất dưới rừng dầu 103
3.3 Đặc tính lý, hóa học và độ phì của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 110
3.3.1 Đặc tính lý học của đất rừng dầu Tây Nguyên 110
3.3.2 Đặc tính hóa học và độ phì của đất rừng dầu Tây Nguyên 113
3.3.3 Đánh giá chung đặc điểm phát sinh, đặc tính lý, hóa học và độ phì của đất rừng dầu Tây Nguyên 118
Trang 13xi
3.4 Khả năng chuyển đổi đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên sang trồng cao su 119
3.4.1 Điều kiện để chuyển đổi đất rừng dầu sang trồng cao su 119
3.4.2 Khả năng mở rộng diện tích trồng cao su từ đất rừng ở Tây Nguyên 120
3.4.3 Khả năng sinh trưởng và phát triển cây cao su trên đất rừng dầu Tây Nguyên 122
3.4.4 Đánh giá thích hợp đất đai của đất rừng dầu trồng cao su ở Tây Nguyên 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 140
4.1 Kết luận 140
4.2 Kiến nghị 141
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
Trang 14xii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFD Agence Française de Développement Cơ quan phát triển Pháp ngữ
CEC Cation Exchange Capacity Dung tích hấp phụ (dung tích cation
DTA Differential thermal analysis
ESP Elementary Soil Processes Tiến trình hình thành đất cơ bản (các
quá trình thổ nhưỡng cơ bản) FAO/WRB
Food and Agriculture Organization of the United Nations/World Reference Base
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp Quốc/Cơ sở tham chiếu thế giới
GPS Global Positioning System Hệ thống Định vị Toàn cầu
IIASA International Institute for
Applied Systems Analysis
Viện phân tích Hệ thống ứng dụng quốc tế
IRB Internetional References Base Cơ sở tham chiếu Phân loại đất quốc
tế ISRIC International Soil resources
information center
Trung tâm thông tin Tài nguyên đất quốc tế
ISSS International Society of Soil
NIAPP
National Institute of Agricultural Planning and Project
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
Trang 15xiii
gian kéo dài từ 1,5 – 2 triệu năm
QII Middle pleistocene Pleistocene giữa – trung
khoảng 10.000 năm
SPP Specific Pedogenic Processes Các quá trình phát sinh đất đặc trưng
UNEP United Nations Environment
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
USDA United States Department of
VSSS Vietnam Society of Soil
WGS World Geographic System Hệ thống Địa lý thế giới
WRB World reference base for soil
resources
Cơ sở tham chiếu Tài nguyên đất thế giới
Trang 16xiv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các đơn vị phân loại đất Tây Nguyên (năm 1985) 12
Bảng 1.2: Thống kê diện tích đất Tây Nguyên (2015) 13
Bảng 1.3: Phân loại và quy mô các loại đất vùng dự án (năm 2009) 21
Bảng 1.4: Phân loại và quy mô các loại đất vùng dự án mở rộng (năm 2013) 22
Bảng 1.5: Thành phần và mức độ phân bố khoáng sét trong một số loại đất đỏ và đất xám vùng ĐNB 27
Bảng 1.6: Quan hệ giữa thành phần khoáng sét với các dạng kali trong đất 27
Bảng 1.7: Các trạng thái chính trong rừng dầu và các đặc trưng của chúng 32
Bảng 1.8: Đặc trưng đa dạng sinh học rừng dầu nhiệt đới Tây Nguyên 33
Bảng 1.9: Thang chuẩn đánh giá đất trồng cao su tại Việt Nam (tầng 0 - 30 cm) 36
Bảng 1.10: Bảng phân loại mức độ giới hạn các yếu tố chủ yếu của đất trồng cao su 36
Bảng 3.1: Phân bố địa lý đất dưới rừng dầu Tây Nguyên tổng quát 57
Bảng 3.2: Yếu tố khí hậu của một số trạm ở Tây Nguyên 59
Bảng 3.3: Khả năng xuất hiện cực trị của nhiệt độ ứng với các chu kỳ lặp lại 60
Bảng 3.4: Cán cân bức xạ ở Buôn Ma Thuộc Kcal/cm2/tháng 61
Bảng 3.5: Tỷ lệ mưa tháng so với tổng lượng mưa năm (%) 63
Bảng 3.6: Trữ lượng khai thác tiềm năng của khu vực trong tỉnh Đắk Lắk 75
Bảng 3.7: Tổng hợp hiện trạng thủy lợi vùng Tây Nguyên năm 2015 76
Bảng 3.8: Quan hệ giữa quần hợp thực vật với các yếu tố nhiệt ẩm ở vùng rừng dầu 78
Bảng 3.9: Diễn biến đất có rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 1995 - 2015 79
Bảng 3.10: Bảng phân loại đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 83
Bảng 3.11: Thống kê quỹ đất dưới rừng dầu Tây Nguyên theo độ dốc 85
Bảng 3.12: Thống kê quỹ đất dưới rừng dầu Tây Nguyên theo tầng dày 87
Bảng 3.13: So sánh kết quả phân tích thành phần khoáng vật trong một số loại đất chính vùng tập trung nghiên cứu với các đất cùng loại ở vùng ĐNB 91
Bảng 3.14: Thành phần tổng số (% trọng lượng nung) và các tỷ lệ phân tử SiO2 với R2O3, Al2O3, Fe2O3 trong đất dưới rừng dầu và trong sét tách từ khối vật liệu của đất 96
Bảng 3.15: So sánh kết quả phân tích thành phần tổng số trong các mẫu sét nung (<0,001mm) vùng tập trung nghiên cứu với các đất cùng loại ở vùng ĐNB 101
Trang 17xv Bảng 3.16: So sánh TPCG (07 cấp) một số loại đất chính vùng nghiên cứu với các
đất cùng loại ở vùng Đông Nam bộ 111
Bảng 3.17: Kết quả phân tích đặc tính hóa học của đất dưới rừng dầu Tây Nguyên 114
Bảng 3.18: Diện tích cao su trồng mới khu vực Tây nguyên từ 2009-2013 120
Bảng 3.19: So sánh sinh trưởng cao su trên đất dưới rừng dầu và đất khác (n=10) 125
Bảng 3.20: Các cấp phân vị và phân loại thích hợp đất đai 126
Bảng 3.22: Phân cấp các yếu tố sinh thái theo mức độ hạn chế đối với cây cao su 127
Bảng 3.23: Phân cấp mức độ thích hợp của các yếu tố sinh thái đất đối với cây cao su 128
Bảng 3.24: Phân bố các đơn vị đất đai của đất trồng cao su theo đơn vị hành chính tỉnh 129
Bảng 3.25: Kết quả đánh giá thích hợp đất đai của đất rừng dầu cho cây cao su 135
Bảng 3.26: Diện tích đất ở các mức thích hợp cho cây cao su chia theo đơn vị hành chính cấp tỉnh 136
Trang 18xvi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ các khu vực khảo sát nghiên cứu trong Chương trình Tây Nguyên
2, 1985 (Đề tài 48C- 05 -01) Nguồn [52] 11
Hình 1.2: Cấu trúc tinh thể khoáng kaolinite Nguồn: [23], [118] 25
Hình 1.3: Cấu trúc tinh thể các khoáng sét Montmorillonit (a) và Chlorites (b) 26
Hình 1.4: Sơ đồ vị trí vùng Tây Nguyên 41
Hình 3.1: Chồng xếp các lớp thông tin xây dựng bản đồ hiện trạng rừng dầu Tây Nguyên năm 2015 54
Hình 3.2: Phân bố địa lý rừng dầu ở Tây Nguyên 55
Hình 3.3: Mô hình chồng xếp các lớp thông tin xây dựng CSDL ban đầu và bản đồ gốc đất rừng dầu ở Tây Nguyên 56
Hình 3.4: Địa hình, địa mạo TN trên mô hình DEM tích hợp ảnh vệ tinh 65
Hình 3.5: Lát cắt địa hình dọc theo chiều thẳng đứng từ Cửa Khẩu Bờ Y tỉnh Kon Tum đến hết ranh Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng trên mô hình DEM (Thực hiện bằng AcrGIS) 66 Hình 3.6: Địa hình tỉnh Đắk Lắk trên mô hình số độ cao (DEM), thực hiện bằng phần mềm AcrGIS 67
Hình 3.7: Địa hình, địa mạo tỉnh Đắk Lắk trên mô hình số độ cao (DEM) có tích hợp ảnh vệ tinh 68
Hình 3.8: Lát cắt địa hình và mối quan hệ giữa chúng với mẫu chất/đá mẹ toàn vùng Tây Nguyên (dọc theo chiều thẳng từ Cửa Khẩu Bờ Y tỉnh Kon Tum đến hết ranh Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng) 69
Hình 3.9: Lát cắt địa hình và mối quan hệ giữa chúng với mẫu chất/đá mẹ vùng nghiên cứu tập trung (tỉnh Đắk Lắk) 72
Hình 3.10: Vùng tập trung của rừng khộp - Nguồn: [31] 77
Hình 3.11: Rừng dầu được bảo tồn tại vườn Quốc gia Yok Đôn và rừng dầu tái sinh 79 Hình 3.12: Phân bố địa lý đất rừng dầu ở Tây Nguyên 84
Hình 3.13: Bản đồ phân bố độ dốc đất rừng dầu ở Tây Nguyên 86
Hình 3.14: Bản đồ phân cấp độ dày tầng đất rừng dầu ở Tây Nguyên 88
Hình 3.15: Kết quả XRD mẫu số T-885 (đất Xa) 92
Hình 3.16: Kết quả XRD mẫu số T-887 (đất Fs) 92
Trang 19xvii
Hình 3.17: Quá trình tái tích tụ silic trong đất rừng dầu Tây Nguyên 93
Hình 3.18: Tỷ lệ phân tử SiO2 : R2O3 trong các loại đất vùng NC 102
Hình 3.19: Tỷ lệ phân tử SiO2 : Al2O3 trong các loại đất vùng NC 102
Hình 3.20: Cảnh quan nơi Đoàn phúc tra làm việc 103
Hình 3.21: Cảnh quan và hoạt động khảo sát tại nơi đào KT - 100 104
Hình 3.22: Phẫu diện KT-100 104
Hình 3.23: Phẫu diện CPƯ-08 và hoạt động nơi đào phẫu diện 105
Hình 3.24: Cảnh quan nơi đào PD ĐL - 60 106
Hình 3.25: Phẫu diện ĐL - 60 106
Hình 3.26: Phẫu diện GL - 90 và cảnh quan nơi đào phẫu diện 107
Hình 3.27: Phẫu diện DK - 325 108
Hình 3.28: Cảnh quan nơi đào PD DK - 325 108
Hình 3.29: Phẫu diện KT-30 109
Hình 3.30: Bình quân tỷ lệ cát - thịt - sét trong TPCG của các loại đất 110
Hình 3.31: So sánh tỷ lệ cát thô trong tầng đất mặt (tầng A) của các loại đất vùng nghiên cứu với mẫu đất ở vùng đối chứng/so sánh 112
Hình 3.32: So sánh tỷ lệ hạt sét trong tầng đất mặt (tầng A) của các loại đất vùng nghiên cứu với mẫu đất ở vùng đối chứng/so sánh 112
Hình 3.33: So sánh tỷ lệ thành phần cấp hạt trong tầng tích tụ (Bt) của các loại đất vùng nghiên cứu với mẫu đối chứng/so sánh vùng ĐNB 113
Hình 3.34: Giá trị bình quân pH ở các tầng đất của các loại đất vùng nghiên cứu 115 Hình 3.35: Giá trị bình quân CEC và Cation trao đổi của các loại đất 115
Hình 3.36: Bình quân OM% và đạm, lân, kali tổng số của các loại đất (các tầng) 116 Hình 3.37: So sánh TRB trong tầng B đất vùng nghiên cứu với các đất cùng loại ở vùng đối chứng/so sánh 117
Hình 3.38: Phân bố địa lý của cây cao su ở Tây Nguyên 121
Hình 3.39: Cao su trồng trên đất Fs nhiều đá lẫn 2-4 năm tại xã Ia Lâu, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai 122
Hình 3.40: Cao su đến năm thứ 4 bắt đầu chết ngọn tại xã Ia Lâu - Chư Prông - Gia Lai 123 Hình 3.41: Tăng trưởng cây cao su trên đất rừng dầu giai đoạn KTCB 124 Hình 3.42: So sánh năng suất (mô hình) mủ cao su trên đất rừng dầu và đất đỏ bazan 124
Trang 20xviii Hình 3.43: Chồng xếp các lớp thông tin xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng rừng dầu Tây Nguyên 129 Hình 3.44: Bản đồ đơn vị đất đai vùng rừng dầu Tây Nguyên 131 Hình 3.45: Bản đồ đánh giá thích hợp đất đai của đất rừng dầu trồng cao su ở Tây Nguyên 137
Trang 21là hoạt động không thể thiếu của Khoa học đất
Ở Việt Nam, phân loại đất được tiến hành khá sớm, đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia cho các vùng trên cả nước, trong đó có Tây Nguyên nhằm mục đích thống kê quỹ đất phục vụ đánh giá khả năng thích nghi đất đai để chuyển đổi cơ cấu cây trồng Trong các chương trình đó, nổi bật là Chương trình Tây Nguyên 1, 2, 3 Tuy nhiên các chương trình này chủ yếu đặt trọng tâm vào nghiên cứu phần đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, một khu vực rộng lớn đất dưới các thảm rừng, đặc biệt đất dưới rừng dầu nhiệt đới (sau đây gọi là rừng dầu) còn ít được
đề cập
Một trong những ưu tiên nghiên cứu đất nhiệt đới là nghiên cứu đất dưới
rừng nghèo kiệt (Soils under poor – exhausted forests) [186] Tiến hành nghiên cứu
những đất đó cần thiết xem xét quá trình phong hóa hình thành đất bởi ý nghĩa cơ bản của nó trong địa lý học và khoa học đất [166], [172], giúp đánh giá sự tiến hóa, phân loại và đề xuất hướng sử dụng các đất này một cách bền vững [72], [205] Ở Việt Nam, từ trước và gần đây đã có một số nghiên cứu về đất rừng nghèo kiệt nhưng thường chỉ khảo sát sự phân bố, đánh giá các chỉ tiêu độ phì và khả năng sản
xuất [31], [51] Việc chẩn đoán phát sinh học (genesis) các quá trình hình thành đất
đặc trưng (SPP) dưới rừng dầu đến nay chưa có số liệu đầy đủ
Rừng dầu ở nước ta người dân địa phương thường gọi "rừng khộp” là rừng nghèo kiệt rất đặc trưng với các cây thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae) chiếm ưu thế,
bao gồm các loài cây như Dầu đồng, Dầu trà beng, Cà chít và một số loài có giá trị khác như Cẩm liên, Căm xe, Giáng hương, Bằng lăng,… Rừng dầu phát triển trong một điều kiện đặc biệt: Luôn có một mùa mưa ngập úng và một mùa khô khắc nghiệt
Trang 222
[31], [51] Hiện nay ở nước ta loại rừng này có diện tích khoảng 933.000 ha, tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên với 500.000 ha [31] Chú ý rằng, rừng dầu cũng rất phổ biến ở các nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanma, Indonesia, Malaysia [89]
Triển khai thực hiện Chương trình của Chính phủ về phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên, năm 2009, tỉnh Đắk Lắk có chủ trương cho khảo sát khoảng 72 ngàn ha đất rừng nghèo kiệt dự kiến chuyển sang trồng cao su, trong đó chủ yếu là đất rừng dầu nghèo kiệt Việc chuyển đất rừng dầu sang trồng cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng và toàn vùng Tây Nguyên nói chung đã có nhiều ý kiến trái chiều Tuy vậy, các ý kiến nêu ra đều chưa có căn cứ khoa học, trong đó việc hiểu biết về đặc điểm đất dưới rừng dầu cũng như mức độ thích nghi của cây cao su trên đất rừng dầu
là vấn đề “nổi cộm”
Trên nền tảng đề tài đã nghiên cứu ở cấp thạc sĩ (2011), nghiên cứu sinh (NCS)
muốn nghiên cứu phát sinh học (genesis) đất dưới rừng dầu ở Tây Nguyên nhằm
phát hiện phân bố địa lý, đặc tính lý hóa học và độ phì của các loại đất, từ đó giúp đưa ra nhận định về khả năng chuyển đổi đất rừng dầu nghèo kiệt sang trồng cao su
Do vậy, đề tài nghiên cứu “Đặc điểm đất dưới rừng dầu nhiệt đới (Dipterocarpaceae) và khả năng chuyển đổi trồng cao su ở Tây Nguyên” được
thực hiện Kết quả của đề tài sẽ bổ sung cơ sở khoa học cho chiến lược quản lý, sử dụng tài nguyên đất hiệu quả, trong đó có đất dưới rừng dầu, đồng thời góp phần trả lời câu hỏi: “Có nên chăng việc chuyển rừng dầu nghèo kiệt sang trồng cao su ở Tây Nguyên Việt Nam”
Trang 233
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đặc điểm đất dưới rừng dầu vùng Tây Nguyên, và đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho cây cao su là cơ sở khoa học đề xuất các vùng đất có khả năng chuyển đổi trồng cao su, với các mức độ thích hợp khác nhau, qua đó cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà lãnh đạo, quản lý hoạch định chính sách, lựa chọn phương án quy hoạch sử sụng đất hợp lý, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo
vệ đất, bảo vệ môi trường, nhất là bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc biệt của Tây Nguyên - rừng dầu nhiệt đới
1.3 Mục tiêu
1.3.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu đặc điểm phát sinh học (genesis) đất dưới rừng dầu và đánh giá
mức độ thích hợp đất đai cho cây cao su làm cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi đất rừng dầu nghèo kiệt sang trồng cao su
có khả năng chuyển đổi trồng cao su
- Khoanh định những khu vực cần bảo vệ, khoanh nuôi và tái sinh rừng dầu Tây Nguyên
1.4 Đối tượng và phạm vi
1.4.1 Đối tượng:
- Đất dưới rừng dầu
- Các quá trình phát sinh đất đặc trưng, các yếu tố hình thành đất
- Hệ sinh thái rừng dầu, đặc biệt là cây họ dầu và các lâm phần của chúng
- Cây cao su và khả năng thích nghi với đất rừng dầu
Trang 244
- Người trồng cao su và các công ty, nông, lâm trường có liên quan
1.4.2 Phạm vi:
- Về không gian: Những khu vực rừng dầu ở Tây Nguyên thuộc các tỉnh Đắk
Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, trong đó tập trung nghiên cứu chủ yếu tại vùng
bình nguyên Ea Súp tỉnh Đắk Lắk và một số huyện như Chư Prông (Gia Lai), Ia
H’drai và Sa Thầy (Kon Tum) - nơi có loại rừng này tập trung nhiều nhất
- Về thời gian: Thông qua các chương trình, dự án mà Phân viện Quy hoạch và
Thiết kế nông nghiệp đã ký với các tỉnh Tây Nguyên, đặc biệt là tỉnh Đắk Lắk, NCS
đã tham gia thực hiện nghiên cứu về đất dưới rừng dầu Tây Nguyên từ năm 2009 -
2018, với khoảng thời gian 09 năm đủ để có một khối lượng tư liệu lớn, có độ tin cậy
cao giúp hoàn thiện luận án tiến sĩ
1.5 Đóng góp mới
Đề tài có những đóng góp mới như sau:
- Về nghiên cứu địa lý đất:
Bằng khảo sát bề mặt, kết hợp giải đoán ảnh vệ tinh và sử dụng công nghệ GIS
để chồng xếp các lớp thông tin hiện trạng sử dụng đất đã xác định tổng diện tích đất
dưới rừng dầu Tây Nguyên là 565.000 ha - vượt 65.000 ha so với con số 500.000 ha
công bố trước đây; với việc phát hiện thêm 65.000 ha đất rừng dầu và sự phân bố của
chúng ở từng địa bàn cấp huyện cụ thể sẽ giúp việc hoạch định các chính sách quản
lý, bảo vệ và quy hoạch sử dụng tài nguyên đất dưới rừng dầu có hiệu quả hơn
- Về nghiên cứu nguồn gốc phát sinh học đất:
Bằng những khảo sát hình thái học phát sinh (sự xuất hiện tầng A2l xám sáng
trong phẫu diện đất) và kết quả phân tích, đề tài đã nghiên cứu chỉ số Harrassowits
đất rừng dầu chịu tác động của biến hoá sialit–alit và xuất hiện "sự tái tích tụ silic"
làm cho đất có biểu hiện sialit, mà ở đây do nguồn gốc từ nước cho nên được gọi là
"sialit thuỷ nguyên" (Hydrogenic sialitisation) do đặc điểm địa hình và chế độ nước
đặc trưng Đây là điểm mới, bởi lẽ đất đồi núi nhiệt đới thường có sự tích tụ tương
SiO2
Al2O3
Trang 255
đối Fe, Al (Ferralitisation), nhưng trong đất dưới rừng dầu thì ngược lại, có sự tích
tụ SiO2
- Về nghiên cứu ứng dụng:
Đã xác định đất dưới rừng dầu đa phần là đất có tầng mỏng, nghèo dinh dưỡng;
đề tài đã xây dựng bản đồ thích hợp đất đai cho cây cao su trồng trên đất rừng dầu cho toàn vùng Tây Nguyên Công trình đã tái khẳng định tiêu chuẩn bắt buộc chỉ có thể trồng được cao su khi độ dày tầng đất mặt > 70 cm và hàm lượng đá lẫn + kết von trong tầng đất không vượt quá 50% khối lượng đồng thời không bị kết chặt thành tầng cứng rắn bởi lớp sét bên dưới Trên cơ sở đó khuyến cáo chỉ nên chuyển đổi đất dưới rừng dầu sang trồng cao su ở những nơi có đủ các điều kiện nêu trên; đồng thời xác định những vùng rừng dầu để khoanh nuôi bảo vệ
Trang 266
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Các nghiên cứu về đất và phân loại đất
1.1.1 Các nghiên cứu đất trên thế giới
1.1.1.1 Sự ra đời và phát triển của ngành khoa học phân loại đất
- Cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội, khi nền sản xuất chuyển từ săn bắn hái lượm sang giai đoạn chăn nuôi và trồng trọt thì người ta đã nghĩ đến việc nghiên cứu phân loại đất nhằm mục đích sử dụng hợp lý hơn và mang lại những kết quả cao hơn, sự ra đời và phát triển của phân loại đất là điều tất yếu [83]
- Xét về sự phát triển của quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn phân loại đất có thể phân chia tiến trình phát triển của ngành khoa học phân loại đất trên thế giới thành 4 giai đoạn: 1) Giai đoạn phân loại kỹ thuật; 2) Giai đoạn sáng lập
và phát triển thổ nhưỡng học phát sinh; 3) Giai đoạn phát triển phân loại định lượng; 4) Giai đoạn phát triển phân loại kết hợp phát sinh và định lượng [83]
1.1.1.2 Các hệ thống phân loại đất nổi bật:
a) Phân loại đất phát sinh:
Dokuchaev bắt đầu phân loại đất phát sinh năm 1883, tiêu biểu là các hệ thống phân loại đất quốc gia của Liên Xô, Australia và các nước XHCN Theo trường phái này, đất được xác định chủ yếu dựa trên nghiên cứu tổng hợp các yếu tố (theo phương trình của Dokuchaev: S = f(cl, o, p, r, t) đã được thế giới công nhận như là một phương
trình kinh điển về phát sinh học thổ nhưỡng, trong đó S (soil) - đất, f (funtion) - được xem như hàm số đa biến về tác động tổng hòa của các yếu tố (các biến): cl (climate) - khí hậu, o (organisms) - sinh vật, p (parent rock/materials) - đá mẹ/mẫu chất, r (relief) - địa hình, t (time) - thời gian [192]) và các quá trình hình thành đất, hình thái phẫu diện
đất và các kết quả phân tích lý hóa học đất [156], [83] Trong trường phái phân loại đất phát sinh, hệ thống phân loại đất của Liên xô là tiêu biểu nhất, phân thành hai hệ thống ứng với hai thời kỳ là:
- Hệ thống phân loại đất của Liên Xô cũ (1939 - 1969): Hệ thống phân loại đất này được thực hiện theo quan điểm phát sinh của Dokuchaev và Sibirtsev Các nhà thổ nhưỡng Xô Viết còn được gọi là “phát sinh sinh thái” [29] Theo đó, hệ thống phân loại
đất của Liên xô bao gồm 7 cấp phân vị: Lớp (class), lớp phụ (subclass), loại (type), loại phụ (subtype), hợp (genera), chủng (species) và biến chủng (varieties)
Trang 277
- Hệ thống phân loại đất Liên Xô theo FAO/Unesco (1990): Năm 1990, Vladimir Stolbovoi (Viện nghiên cứu hệ thống ứng dụng đất quốc tế-IIASA) đã xây dựng chú dẫn bản đồ đất Liên Xô theo phân loại đất thế giới Theo thống kê đầy đủ, trong số 28 nhóm đất chính theo phân loại của FAO trên thềm lục địa Liên Xô đã phát hiện được 20 nhóm Ở cấp phân vị thứ hai, đất Liên Xô có 71 đơn vị đất
b) Phân loại theo tính chất đất:
Theo trường phái này, việc phân loại đất được dựa vào chính bản thân đất, trên
cơ sở sự xuất hiện của các tiêu chuẩn chẩn đoán; gồm các tầng, vật liệu và tính chất chẩn đoán Các tiêu chuẩn này được định lượng cụ thể bằng những đặc tính có thể quan sát được bằng mắt hoặc đo đếm được bằng các phương tiện máy móc Vì vậy, phân loại đất theo chẩn đoán định lượng là phương pháp tiến bộ và có nhiều ưu điểm Nổi bật nhất là hệ thống phân loại đất của Mỹ [200]
Hệ thống phân loại đất của Mỹ được phát triển từ những năm 1950, công bố chính thức lần thứ nhất vào năm 1975 [194], lần thứ 2 vào năm 1999 [195]
Trong hệ thống phân loại đất của Mỹ năm 1975, gồm có 6 cấp phân vị: Bộ
(order), bộ phụ (suborder), nhóm lớn (great group), nhóm phụ (subgroup), họ (family) và biểu loại (series) Hệ thống các cấp phân vị này được cấu trúc theo sơ đồ
hình cây từ bộ đến biểu loại
c) Phân loại đất kết hợp phát sinh và tính chất đất - FAO/WRB:
Cơ sở tham chiếu Tài nguyên đất Thế giới WRB là một hệ thống phân loại đất được phát triển từ chú dẫn bản đồ đất thế giới của FAO/UNESCO/ISRIC với sự hợp tác của Trung tâm Thông tin Đất quốc tế (ISRIC), và được liên hiệp các nhà khoa học đất quốc tế (IUSS) và tổ chức FAO bảo trợ Nó thay thế cho các chú dẫn bản đồ đất thế giới của FAO trước đó [163], [177]
- Mục tiêu của WRB là: 1) Phát triển một hệ thống có khả năng chấp nhận quốc
tế cho phác họa tài nguyên đất, từ đó các phân loại quốc gia có thể tham chiếu và so sánh, đối chiếu Trong đó, cơ sở phân loại đất được nhấn mạnh vào các đặc điểm hình thái hơn là vào số liệu phân tích thuần túy; 2) Tạo thuận lợi cho việc thực hiện các thống kê đất và chuyển giao số liệu về đất; trao đổi thông tin khoa học và chuyển giao kỹ thuật sử dụng đất giữa các vùng [177]
- Về quan điểm phân loại: WRB đã kết hợp các quan điểm phân loại đất hiện đại, gồm phát sinh và theo tính chất đất
- Cấu trúc của hệ thống gồm 2 bậc phân vị (a two - tier system of soil classification): 1) Bậc 1: Nhóm đất tham chiếu (Reference soil groups), gồm 30
Trang 288
nhóm, tương đương với cấp giữa bộ và bộ phụ trong hệ thống phân loại đất của Mỹ;
2) Bậc 2 (level of subdivisions): Đơn vị đất (Soil unit) hoặc chi tiết hơn, đơn vị phụ (Soil subunit) và nhỏ nhất là dạng (phase) đã xác định được trên 120 đơn vị đất trong
30 nhóm đất đã nói ở trên [83], [177]
Theo chú dẫn bản đồ đất thế giới thì diện tích bề mặt của quả đất ước khoảng
51 tỉ hecta, trong đó: biển và đại dương khoảng 36 tỉ hecta, đất liền và hải đảo 15 tỉ hecta [162]
1.1.2 Những nghiên cứu đất ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình áp dụng các hệ thống phân loại đất ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có 3 hệ thống phân loại đất đang được áp dụng cho việc điều tra xây dựng bản đồ đất
a) Hệ thống phân loại đất quốc gia Việt Nam:
Được khởi xướng ở Việt Nam từ những năm đầu của thập kỉ 60, cùng với giai đoạn điều tra xây dựng bản đồ đất Miền bắc Việt Nam [5], [6], [19], [166]
Trên quan điểm phát sinh, việc phân chia đất theo phân loại Việt Nam được dựa trên cơ sở xem tổng hợp các yếu tố và các quá trình hình thành đất, hình thái phẫu diện và một số tính chất lý hóa học đất Bảng hướng dẫn phân loại đất cho bản đồ tỷ
lệ trung bình và lớn [19], gồm có 2 cấp phân vị, nhóm và loại đất; trong đó, đất Việt
Nam được chia ra 14 nhóm với 64 loại (Bảng 1.3) Ở mức chi tiết hơn, một số nhóm loại “đất tổ hợp” được tách cụ thể hơn, chủ yếu theo mẫu chất hình thành đất và mức
độ phèn mặn, đưa số nhóm, loại đất lên 15 nhóm và 86 loại [130]
Phân loại đất Việt Nam hiện nay [19], [42], [43] đã có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là về quan điểm phân loại đất, “đã kết hợp nguyên tắc phát sinh và tiêu chuẩn định lượng đối với các cấp, chú ý sử dụng các yếu tố phụ nhất là đối với phân loại cấp thấp” [177]
Bảng phân loại đất Việt Nam [42], [162], gồm 2 cấp phân vị, nhóm và loại đất; trong đó, phần tên đất Việt Nam có 19 nhóm và 54 loại đất, phần tên đất theo FAO/Unesco có 17 nhóm và 51 đơn vị đất So với bảng phân loại đất dùng cho bản
đồ tỷ lệ lớn (1984), đã bổ sung thêm 4 nhóm đất: Đất mới biến đổi (CM), đất đá bọt (RK), đất có tầng sét loang lổ (L) và đất nhân tác (N), các nhóm đất còn lại giữ nguyên tên đất trước đây
b) Áp dụng hệ thống phân loại đất của Mỹ ở Việt Nam:
Hệ thống phân loại đất của Mỹ [200] chủ yếu được áp dụng trong điều tra xây dựng bản đồ đất cho một số khu vực ở ĐBSCL từ 1980, 1990 [123]
Trang 299
c) Áp dụng hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO/WRB ở Việt Nam:
Từ những năm cuối của thập kỉ 80, hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO
đã được áp dụng vào Việt nam Do có những ưu điểm về quan điểm, cơ sở phân loại
và phạm vi phổ cập thông tin nên cho đến nay hệ thống phân loại đất của FAO/UNESCO/WRB đã và đang được áp dụng khá phổ biến trong nghiên cứu phân loại đất và điều tra lập bản đồ đất ở Việt nam
1.1.2.2 Những nghiên cứu về đất ở Việt Nam
Giai đoạn trước 1975: Công tác nghiên cứu đất được tiến hành với quy mô lớn
ở cả hai miền Nam và Bắc tập trung vào các vấn đề về phân loại đất và xây dựng các bản đồ ở những vùng có quy mô lớn
Những nghiên cứu sau năm 1975: Trong giai đoạn này trọng tâm công tác nhằm nghiên cứu xây dựng bản phân loại đất phục vụ cho tỉ lệ bản đồ đất các loại, nghiên cứu quy phạm điều tra đất phục vụ phát triển trên địa bàn cả nước Các công trình nghiên cứu về đất trong giai đoạn này đã có sự tham gia của các nhà khoa học đất hàng đầu Việt Nam như: Phan Liêu, Trần Công Tấu; Lê Thái Bạt; Tôn Thất Chiểu; Trần An Phong; Nguyễn Khang; Đào Châu Thu; Phạm Quang Khánh, kết quả của những công trình nghiên cứu đất nói trên trong giai đoạn này là cơ sở khoa học vững chắc cho việc quản lí và sử dụng tài nguyên đất quốc gia một cách hợp lí như: (1) Nắm đất và tài nguyên nông nghiệp đến mức sơ đồ tỉ lệ 1/50.000 - 1/25.000 tất cả các huyện miền Nam sau ngày giải phóng; (2) Xây dựng các vùng chuyên canh
và các vùng kinh tế mới nhằm mở rộng hàng triệu ha đất nông nghiệp
Theo Hội khoa học đất Việt Nam (1996), tổng diện tích tự nhiên (DTTN) của Việt Nam 33,1 triệu ha, trong đó diện tích sông suối, núi đá là 1,76 triệu ha, chiếm 5,33% DTTN, còn lại 31,34 triệu ha, chiếm 94,67% DTTN là các loại hình thổ nhưỡng được chia thành 14 nhóm đất
Đến nay, công tác điều tra, bổ sung xây dựng bản đồ đất tỉ lệ từ 1/100.000 - 1/50.000 cho các tỉnh trong cả nước do Viện QH&TKNN thực hiện cơ bản hoàn thành Các nghiên cứu nêu trên bước đầu đã hỗ trợ tích cực cho công tác thống kê tài nguyên đất để hoạch định chiến lược phát triển, quy hoạch và tổ chức lãnh thổ các
cấp huyện, tỉnh và cả nước[42]
1.1.3 Những nghiên cứu đất vùng Tây Nguyên
Những nghiên cứu trước 1975:
Giai đoạn 1009 - 1914 Hemtry, Maitre khảo sát cao nguyên bao biên giới (Đắk Nông, Đắk Mil và Di Linh) Năm 1902 Toàn quyền Paul Doumer cho thành lập các
Trang 3010
sở: Sở địa lý, Sở địa chất, Sở khí tượng, Sở canh nông, Sở thú y, Viện khảo cứu nông nghiệp, lâm nghiệp, đã có một số bài viết về độ phì nhiêu, về một số cây trồng như đậu đỗ, ngô, cà phê, bông, chè, … đăng trong Tập san kinh tế Đông Dương
Năm 1935, Saurin nghiên cứu địa chất vùng Đông nam Đông Dương, xây dựng bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1/500.000 đã phác họa khái quát về cấu trúc địa chất lãnh thổ Tây Nguyên (1935 - 1937 - 1944) [83]
Năm 1961 đáng chú ý là công trình nghiên cứu và lập bản đồ đất của chuyên
gia Liên hiệp quốc F.R.Moormann làm chủ biên, xây dựng bản đồ đất tổng quát Miền Nam Việt Nam tỉ lệ 1/1.000.000 (General Soil map of the Republic of V.N)
Dựa trên bản đồ này đã có một số bản đồ cấp tỉnh tỉ lệ 1/250.000 và 1/200.000 được xây dựng Bản đồ của Moormann là bản đồ tổng quát, tuy không phản ánh đầy đủ về phát sinh phân loại và đặc điểm các loại đất nhưng nó đã trở thành một cơ sở khoa học cho nhiều nghiên sau này [83]
Năm 1971 Thái Công Tụng có viết khái quát về đất Tây Nguyên và đất Đông Nam bộ nhưng không có bản đồ, và cũng có thể cho rằng đó là những nghiên cứu đất Tây Nguyên sớm nhất [122]
Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu phân loại đất Tây Nguyên trong giai đoạn này chưa được nghiên cứu toàn diện, mang tính khái quát, vì đây là khu vực nằm trong vùng chiến sự ác liệt, điều kiện đi lại khó khăn Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu ở giai đoạn này là cơ sở khoa học để nghiên cứu phân loại đất cho giai đoạn kế tiếp
Những nghiên cứu sau 1975: Những năm 1975 - 1985, trên cơ sở những tài liệu
của Moormann và Thái Công Tụng, để nắm được tài nguyên đất toàn Tây Nguyên đã
có nhiều công trình nghiên cứu ra đời như: Chú giải bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk 1979 [123]; Sơ đồ đất ba tỉnh Tây Nguyên tỉ lệ 1/100.000 năm 1977 - 1979 [51] Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu phân loại đất cho vùng chuyên canh và các nông trường cà phê, chè, dâu tằm tỷ lệ bản đồ 1/10.000 của Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh và Nguyễn Bá Nhuận [108] Trong chương trình điều tra cơ bản Tây Nguyên giai đoạn 1 (chương trình Tây Nguyên I-1978) đã xây dựng bản đồ đất tỷ lệ
1/500.000, Cao Liêm và Nguyễn Bá Nhuận chủ trì [64]
Năm 1985, trong chương trình điều tra cơ bản Tây Nguyên 48C giai đoạn 2,
đã nghiên cứu và lập bản đồ đất Tây Nguyên tỉ lệ 1/250.000 (tỷ lệ lớn hơn trước đó)
do Phạm Quang Khánh làm chủ nhiệm đề tài [56] Công trình này tác giả đã nghiên cứu phân loại một cách khá chi tiết đặc điểm một số loại đất chính theo quan điểm
“phát sinh học Xô Viết” mà đất là sản phẩm tổng hợp của 05 yếu tố: Khí hậu, sinh
Trang 31Vì những lý do đó, trong chương trình này chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát, phân loại đất ở tỷ lệ bản đồ lớn (1/25.000-1/10.000) cho các vùng đất đỏ bazan (các Cao nguyên bazan), khảo sát, phân loại đất ở tỷ lệ bản đồ trung bình - lớn (1/100.000 – 1/50.000) cho các vùng đất nông nghiệp không còn rừng phục vụ bố trí sản xuất nông nghiệp Riêng các vùng đất còn rừng, đặc biệt là những vùng rừng dầu ít quan tâm nghiên cứu
Cụ thể theo hình và chú thích dưới đây:
Hình 1.1: Sơ đồ các khu vực khảo sát nghiên
cứu trong Chương trình Tây Nguyên 2, 1985
(Đề tài 48C- 05 -01) Nguồn [52]
Trang 3212
Bảng 1.1: Các đơn vị phân loại đất Tây Nguyên (năm 1985)
Nguồn: [56]
Trang 3313
Cuối năm 2011, một Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước có tên gọi tắt là
Chương trình Tây Nguyên 3 với tên đầy đủ “Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011 – 2015”, được triển khai là chương trình khoa học tổng hợp liên ngành, phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên trong giai đoạn đổi mới của đất nước Trong đó, điều tra, khảo sát bổ sung xây dựng bản đồ đất vùng Tây Nguyên tỷ lệ 1/250.000 được tiến hành năm
2013 làm cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc xây dựng CSDL GIS và Atlas điện tử tổng hợp Tây Nguyên là những hợp phần quan trọng thuộc 2 trong 4 mục tiêu nói trên, kết thúc vào năm 2016 [34], [61]
Kết quả điều tra chỉnh lý cho thấy: Tài nguyên đất vùng Tây Nguyên có 5.366,3 ngàn ha, bằng 98,22% DTTN, gồm 11 nhóm, 29 đơn vị phân loại đất (bảng 1.2)
Bảng 1.2: Thống kê diện tích đất Tây Nguyên (2015)
tích (1.000ha) Tỷ lệ (%)
Trang 3414
tích (1.000ha) Tỷ lệ (%)
1.1.4 Một số kết quả nghiên cứu về đất dưới rừng dầu nhiệt đới
1.1.4.1 Trên thế giới
Bởi vì đây cũng là vấn đề rất mới đối với thổ nhưỡng học và đối với khoa học đất; vì là rừng dầu cho nên chỉ những tài liệu nghiên cứu các đất ở nhiệt đới mới đề cập mà thôi Do đó đã có những hạn chế nhất định về tài liệu, đặc biệt là các tài liệu liên quan ít, khó tiếp cận nên NCS chưa tham khảo được nhiều
Trang 3515
Quan điểm hiện đại về phát sinh đất dưới rừng dầu: Trong một tài liệu chuyên sâu về đất nhiệt đới (Khoa học đất nhiệt đới của S.V Zonn, 1986) đã có tổng kết khái quát về phát sinh đất ở rừng dầu, được tóm tắt như sau:
Theo Zonn, quá trình tích tụ silic, đó là sự phá hủy các khoáng silicate (SiO2), sản phẩm của sự phá hủy đó dưới dạng các oxyt sẽ được lôi kéo ra khỏi tầng đất và kết đọng lại ở một độ sâu nhất định cách bề mặt, ở đó sẽ tạo nên những điều kiện cho
sự kết đọng của chúng Quá trình này diễn ra lặp lại trong một thời gian dài và dần
tạo nên tầng đất có màu xám trắng chứa toàn các oxyt silic (SiO2), trong quá trình đó yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất là thảm thực vật Thảm thực vật tạo nên những axit hữu cơ trung hòa các kiềm và tạo thành các phức kiềm - sắt với một lượng lớn
đủ để các khoáng tránh khỏi sự phá hủy [205]
Trong quá trình rửa trôi, sự biệt hóa của phẫu diện, tức là nghèo sét ở tầng trên và giàu sét của tầng thứ 2, đôi lúc xuống tầng dưới nữa, phần tầng mặt lại giàu
quartz bởi sự rửa trôi quartz từ nơi khác đến - đó là quá trình đặc trưng Sự tích tụ silic yếu hay mạnh là do sự chuyển dịch sét sau khi bị phá hủy silicate Như thế cơ chế đặc trưng của quá trình rửa trôi silic khó có thể hình dung rằng đồng thời với quá trình Feralit hay alite trong khối đất nhiệt đới
Quá trình rửa trôi (lessivage) có liên quan đến sự di động các dạng sắt, nhôm
(Fe3+, Al3+) cũng như các hợp chất mùn - sắt đặc trưng cho các oxyt được tích tụ ở
đây Trước hết là các khoáng chứa silicate nguyên sinh trong đất có thành phần Feralit không thấy (chỉ có quartz), ưu thế axit humic được hấp thụ trên bề mặt của
các khoáng sét (chủ yếu là sắt - Fe3+, nhôm - Al3+) và được bảo vệ không bị phá
hủy tiếp theo Vì thế tầng trên “bắt chước” các tầng đất kiểu podzol (podzolic hay giả podzol)
Quá trình rửa trôi (lessivage) được xác định bởi sự “biệt hóa” (có nghĩa tách
ra các tầng đất khác nhau) kết cấu đất làm xuất hiện trong tầng trên (top soil) nằm
ngay phía trên tầng B (tầng tích tụ) ở dưới có sự quá ẩm đặc trưng cho sự khử oxyt sắt ở các dạng sắt hóa trị 2 (Fe2+), sự tích tụ và đi chuyển các vật chất trong mùa khô tạo nên một lớp kết chặt, thậm chí có kết von
Như vậy có thể thấy rằng sắt nằm ở tầng dưới, tầng tích tụ silic ở tầng trên, điều
đó làm cho đất có màu đỏ nâu ở tầng dưới, mặc dầu đất đó có chứa một lượng SiO2
Trang 3616
khá lớn ở trong đó và màu xám trắng ở tầng trên Song quartz sơ cấp là một vật liệu
vô ích, nó không tham gia vào quá trình hình thành đất nhưng trong đất nó lại tăng lên Phần sét trong tất cả các tầng đất được giữ ổn định và xuất hiện màu xám trắng của SiO2 Bởi vậy, trong những đất kiểu này, mặc dầu có màu xám trắng nhưng tầng
A2l bảo đảm được cấu trúc và đặc biệt là nghèo sắt Như thế cấu trúc và thành phần
đất được tạo thành bởi một quá trình tích tụ silic Trong trường hợp đó tạo nên trong
phẫu diện một tầng ký hiệu A2l (l-lessivage) nằm giữa tầng A1 phía trên và tầng Bt phía dưới [205]
Ngoài tài liệu nói trên có thể chú ý một số tài liệu nghiên cứu cụ thể cho các vùng có rừng dầu tập trung ở các nước Đông Nam Á như Malaysia, Campuchia, Thái Lan, Lào, Myanma và Indonesia Một số nghiên cứu có liên quan như sau:
Năm 1998, Schulte và D Ruhiyat (Eds) thuộc Trường Đại học Sinh Thái rừng Paderborn và Khoa học đất đã cho ra đời cuốn sách “Đất của hệ sinh thái rừng nhiệt đới: Đặc điểm, sinh thái và quản lý”; trong cuốn sách này, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng sự hiểu biết về các đặc điểm và hệ sinh thái của đất, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng ở vùng nhiệt đới ẩm Cuốn sách nói về sự đóng góp mà khoa học đất rừng
và sinh thái rừng trong việc sử dụng đất bền vững ở vùng nhiệt đới ẩm Bốn vấn đề chính được giải quyết: đặc điểm và phân loại đất rừng, thay đổi hóa học và thủy văn sau khi sử dụng rừng, quản lý độ phì của đất trong rừng trồng và hệ thống nông lâm kết hợp cũng như nghiên cứu hệ sinh thái từ khu vực rừng dầu ở Đông Nam Á
Các vấn đề trên cũng đã được đăng trên các bài báo mà nguồn tài liệu từ các bài thuyết trình tại "Hội nghị quốc tế về đất của hệ sinh thái rừng nhiệt đới/Hội nghị lần thứ 3 về đất rừng" được tổ chức tại Balikpapan, Indonesia [141]
Trong một nghiên cứu khác của nhóm nghiên cứu Irino, KO, Kang, YKenzo, T (2005) về “Hiệu suất của cây giống được trồng trong chậu của cây họ dầu với phân bón được kiểm soát sau khi cấy vào vùng đất canh tác nương rẫy (trước đây là rừng dầu) ở Sarawak, Malaysia Nghiên cứu này được thực hiện tại Khu bảo tồn rừng Niah, nằm ở 3°39′N, 113°42′E Vùng này được phân loại là vùng nhiệt đới ẩm ướt,
có nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 27° C, lượng mưa hàng năm là 2.800
mm Địa điểm nghiên cứu là ở một khu vực đồi thấp có độ cao 40 - 50m so với mực nước biển Độ dốc từ nhẹ đến trung bình, với độ dốc nhỏ hơn 25° Các vật liệu gốc
Trang 3717
của đất được lấy từ đá trầm tích của hệ tầng đá phiến Setap Địa hình này đã được lắng đọng ở vùng Tây Bắc Borneo Geosyncline, và bao gồm một chuỗi đá phiến dày
với đá sa thạch và một vài núi đá vôi Đá phiến thường là sét, mềm vừa phải Baillie
đã mô tả một khu vực của Khu bảo tồn rừng Niah liền kề địa điểm nghiên cứu, nơi đất chủ yếu bao gồm các đá bùn và đá phiến xám mềm vừa phải Đất được phân loại
là Kandihumults typic theo hệ thống phân loại đất USDA Tính chất hóa học đất chi tiết đã được báo cáo bởi Hattori et al [173] Thảm thực vật ban đầu bao gồm một khu
rừng dầu hỗn hợp Ba loại thảm thực vật được phát triển là kết quả của suy thoái rừng: đồng cỏ, rừng thứ sinh và rừng bị khai thác Nhóm nghiên cứu kết luận rằng rừng thứ sinh là loại thảm thực vật quan trọng nhất để phục hồi trong khu vực, bởi vì
tỷ lệ sống sót sớm của cây giống dầu là cao nhất ở đây [176]
Một nghiên cứu khác vào năm 2012, Kenzo và Tanaka thuộc Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp và Lâm sản Tsukuba, Nhật Bản nghiên cứuảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự tăng trưởng và tỷ lệ chết của các loại cây thuộc họ dầu -
Dipterocarpaceae được trồng trên các sườn dốc và thung lũng trong một khu rừng
nhiệt đới bị suy thoái ở Sarawak, Malaysia [182], nhóm nghiên cứu đã khám phá sự thay đổi cấu trúc rừng thứ sinh (sinh khối và mật độ) và điều kiện đất (dinh dưỡng và nước) ảnh hưởng đến tỷ lệ chết và tốc độ tăng trưởng của cây giống họ dầu trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2007 Các ô thí nghiệm đã được thiết lập trên các đặc điểm địa hình khác nhau (sườn và thung lũng) Sử dụng dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu đã chứng minh các cách thức trong đó các yếu tố môi trường, chẳng hạn như hàm lượng nitơ trong đất, liên quan đến tăng trưởng và tỷ lệ chết của cây trong
các khu rừng nhiệt đới bị suy thoái do các chi Macaranga, Ficus và Glochidion
thống trị Mật độ đứng và tổng sinh khối trên mặt đất của cây rừng thứ sinh thấp hơn đáng kể ở các ô thung lũng so với sườn, trong khi đó tổng hàm lượng nitơ và nước trong đất cao hơn đáng kể ở các ô thung lũng Trong bảy năm, tổng sinh khối của cây tăng lên, trong khi đó mật độ của cây rừng thứ sinh giảm ở tất cả các ô Dự trữ chất dinh dưỡng (nitơ, phốt pho, kali, canxi và magiê) trong đất tầng mặt (0 - 5 cm) cũng giảm trong bảy năm ở tất cả các lô Chiều cao, đường kính và tỷ lệ chết của cây giống được trồng ở các ô thung lũng cao hơn so với sườn dốc Hồi quy nhiều bước
đã chứng minh những tác động tích cực đáng kể của tổng hàm lượng nitơ và nước
Trang 3818
trong đất đến tốc độ tăng trưởng tương đối của cây con trong bảy năm Không có mối quan hệ đáng kể giữa tỷ lệ chết của cây giống và bất kỳ yếu tố môi trường nào được đo, bao gồm cả điều kiện đất Nhóm nghiên cứu kết luận rằng (1) sự tăng trưởng của cây con được tăng cường bởi tổng nitơ trong đất thay vì phốt pho hoặc kali có sẵn, và (2) cây giống được trồng tăng trưởng nhanh hơn và chết thường xuyên hơn ở các ô thung lũng so với sườn dốc [182]
Các công trình nghiên cứu nói trên đã bước đầu xác định khái quát về quá trình hình thành đất và các đặc tính của đất dưới rừng dầu, nhưng việc đi sâu nghiên cứu đặc điểm phát sinh học đất dưới rừng dầu hầu như rất ít được đề cập Tuy vậy, đây cũng là những liệu văn có giá trị để tham khảo và làm tiền đề cho những nghiên cứu
về sau
1.1.4.2 Những nghiên cứu đất dưới rừng dầu ở Việt Nam và Tây Nguyên
Trước năm 1975 Tây Nguyên của Việt Nam là nơi nằm trong vùng chiến sự ác liệt, điều kiện đi lại còn rất nhiều khó khăn như đã nêu trên, nên đa phần những kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức khái quát, sơ đồ tỉ lệ nhỏ, các đề tài chủ yếu nghiên cứu phân loại chung cho các loại hình sử dụng đất, còn phân loại đất dưới
rừng dầu hầu như chưa có công trình nào nổi bật
Từ sau năm 1975, đất nước được hoàn toàn giải phóng, lúc này bắt đầu có nhiều công trình nghiên cứu mang tầm quốc gia do Nhà nước chủ trì Riêng ở Tây Nguyên cũng đã có những công trình nghiên cứu bước đầu về đất rừng dầu: Năm 1978, Chương trình Tây Nguyên I đã tiến hành nghiên cứu đất rừng, đặc biệt là đất dưới
rừng dầu trong đó có lâm phần Cà chít Shorea obtusa Ngoài ra Đỗ Đình Sâm và
Hoàng Xuân Tý cũng đã điều tra nghiên cứu đất dưới rừng dầu vào năm 1986 trong Chương trình Tây Nguyên II [95]; trong nghiên cứu rừng dầu (nhóm tác giả gọi là rừng lá rộng rụng lá) ở Tây Nguyên, Hoàng Sỹ Động (1986, 2002) cũng có nhắc đến các loại đất kiểu rừng này nhưng không đi nghiên cứu sâu vì giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài [30], [31]
Những công trình trên đã phần nào chỉ ra được đặc trưng của các loại đất hình thành trên phạm vi phân bố của rừng dầu, kết quả nghiên cứu đã tổng kết được 3 nhóm đất chính với 10 loại đất đã được xác định Tuy nhiên, đối tượng đất (Soil) dưới rừng
Trang 3919
dầu mà các công trình đã thực hiện vẫn còn mang tính khái quát, còn ở cấp độ sơ đồ tỉ lệ nhỏ; các đặc điểm của đất chưa được tổng hợp đầy đủ cả về số lượng lẫn chất lượng 1.1.4.3 Những nghiên cứu đất dưới rừng dầu vùng tập trung
Phần lớn diện tích rừng dầu tập trung chủ yếu ở Đắk Lắk, nhiều nhất ở Ea Súp
và Buôn Đôn, một phần ở các huyện EaH’Leo, Cư M’ga Do đó các công trình nghiên cứu về đất rừng dầu thường tập trung ở các huyện này là chủ yếu Năm 1984, một công trình nghiên cứu đất vùng rừng dầu ở Ea Súp Tây Nguyên (gồm cả huyện
Ea Súp và Ea Hleo hiện nay) do kỹ sư Nguyễn Công Pho chủ trì [89], [90]
Theo tác giả, vùng rừng dầu ở Ea Súp nằm dọc ở phía Tây cao nguyên bazan Plâyku - Buôn Ma Thuột, kéo dài dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia trong địa phận hai tỉnh Gia Lai - Kon Tum và Đắk Lắk, để thuận lợi cho việc vẽ bản đồ, tác giả lấy ranh giới rộng ra trong khuôn khổ: đường 19 kéo dài đến đường 14, có tọa
độ 12030’ -13053’ Vĩ độ Bắc; 107030’ - 108015’ Kinh độ Đông Đề tài đã chia vùng nghiên cứu thành 03 vùng theo các dạng địa hình gắn liền với đá mẹ mẫu chất tạo đất khác nhau, bao gồm: (1) Thung lũng bằng rộng của sản phẩm bồi tụ; (2) Đồi thoải liền dải của trầm tích Jura; (3) Núi nhô cao trên đồng bằng bóc mòn Ea Súp
Qua việc phân chia vùng địa hình để nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng: Độ chia cắt ngang < 4 km/1km2 càng làm tôn thêm vẻ bằng phẳng của vùng Ea Súp, do đó nhìn chung mẫu chất, đá mẹ tạo đất ở đây ít phức tạp, phân bố thành những vùng tập trung,
có qui mô diện tích lớn Chính vì vậy mà đất cũng được phân bố tập trung, ít xen kẽ Mặt khác, theo tác giả đồng bằng bốc mòn Ea Súp có diện tích rất lớn, lại nhận được một lượng nước từ trên cao nguyên đưa xuống, với mật độ sông suối ít và địa hình ít dốc nên về mùa mưa tiêu thoát nước kém đã gây nên ngập úng nước từng thời kỳ Bên cạnh đất bị ngập úng do mưa tập trung, mùa lại khô kéo dài, khí hậu nóng bức cộng thêm vào
đó là hiện tượng cháy rừng thường xuyên vào mùa khô (đây là đặc trưng của rừng dầu nhiệt đới) càng làm cho nhiệt độ trong đất bị đẩy lên cao, làm cho đất bị nung nóng, là điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình laterite xảy ra nhanh và mảnh liệt hơn Vì mùa mưa đất bị ngập úng, mùa khô đất lại bị mất nước nhanh, quá trình này cứ tiếp diễn theo chu kỳ hàng năm nên đất dễ bị hóa đá ong Đây chính là điểm nổi bật của đề tài đã phát hiện các điều kiện tự nhiên (ngập úng và mất nước thường xuyên) có ảnh hưởng đến quá trình tạo đất dưới rừng dầu ở Ea Súp
Trang 4020
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đi nghiên cứu khá kĩ các đặc điểm về lý hóa tính của đất, độ phì của đất, các điều kiện hình thành đất Kết quả, tác giả đã phân loại đất rừng dầu Ea Súp thành 04 loại, 07 tổ, 09 chủng phát sinh đất; tương ứng với phân loại mới là: 04 nhóm đất phân thành 07 đơn vị loại đất
Tuy nhiên, do điều kiện lúc bấy giờ còn nhiều thiếu thốn: thiếu thốn về cơ sở vật chất, giao thông khó khăn, rừng núi hiểm trở; máy móc thiết bị còn hạn chế; thiếu
an ninh đã gây trở ngại không nhỏ đến quá trình nghiên cứu và kết quả không như mong đợi của tác giả (các phẩu diện lấy mẫu phân tích rất hạn chế, không đại diện hết cho vùng nghiên cứu)
Mặt dù vậy, nhưng đây là công trình nghiên cứu chính thống về đất rừng dầu
ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng, là tài liệu quí giá làm cơ sở khoa học
và là bước đệm cho những nghiên cứu về sau Vì thế để nối tiếp đề tài này và mở rộng ra địa bàn cả vùng Tây Nguyên, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề nêu trên nhằm phục vụ tốt hơn yêu cầu hiện nay
Đến năm 2009, một công trình nghiên cứu đất rừng dầu với quy mô lớn được triển khai trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích hơn 72 nghìn hécta do Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp thực hiện Mục tiêu của dự án là khảo sát, điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất và đánh giá khả năng thích hợp đất đai với cây cao su trồng trên đất rừng nghèo kiệt (đa phần là rừng dầu nghèo) Chủ nhiệm công trình - Phạm Quang Khánh, Thư ký - Nguyễn Xuân Nhiệm [87], [58] Đây là công trình nghiên cứu về đất dưới rừng dầu có quy mô lớn nhất từ trước đến nay và
cũng là công trình nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp“Nghiên cứu đặc điểm đất dưới rừng dầu trong vùng dự kiến chuyển sang trồng cao su trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” của NCS [58]
Trong dự án này, phân loại đất dưới rừng dầu cũng được dựa vào 2 nguyên tắc
cơ bản: dựa vào tính chất đất (đặc điểm hình thái phẫu diện và kết quả phân tích lý hóa tính) và phân biệt các quá trình hình thành đất cơ bản Dự án đã tiến hành khảo sát 1.412 phẫu diện (PD), gồm 194 PD chính theo tầng phát sinh; 661 PD phụ; và
557 PD thăm dò Trong đó, số phẫu diện được chọn phân tích là 105 PD, trong đó
25 PD phân tích theo tầng phát sinh (gồm 103 mẫu); 80 PD phân tích theo tầng mặt (gồm 80 mẫu Số khu vực cần khảo sát trong cả 03 tuyến là 16 khu vực với tổng
diện tích 72.814 ha