Tuy nhiên, trong công tác huấn luyện VĐV cử tạ trẻ nói chung, lứa tuổi 15 – 16 nói riêng còn tồn tại những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo VĐV c
Trang 11
A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cử tạ là môn thi đấu theo hạng cân, yếu tố quyết định thành tích của VĐV cử tạ là năng lực sức mạnh Trong quá trình huấn luyện sức mạnh, việc lựa chọn bài tập, xác định cường độ, khối lượng vận động có vai trò quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV trong tập luyện và thi đấu Điều này đặt ra cho các nhà chuyên môn, các HLV và các nhà khoa học một nhiệm vụ quan trọng là phải nhanh chóng xác định được những phương pháp, phương tiện tập luyện thích hợp và hiệu quả đối với VĐV cử tạ, các lứa tuổi và trình độ khác nhau
Hiện tại trong lĩnh vực hẹp của huấn luyện và tuyển chọn trong môn
cử tạ đã có các công trình như: Đỗ Đình Du (2002, 2018), Vũ Đức Hoàng (2008), Ngô Ích Quân (2009, 2010); Đặng Thị Hồng Nhung (2012), Tuy nhiên, nghiên cứu về các tố chất thể lực cho VĐV môn cử tạ Việt Nam còn khá hạn chế
Tuy nhiên, trong công tác huấn luyện VĐV cử tạ trẻ nói chung, lứa tuổi 15 – 16 nói riêng còn tồn tại những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo VĐV cử tạ như: việc xác định các phương tiện (bài tập) cũng như lượng vận động huấn luyện còn căn cứ nhiều vào kinh nghiệm huấn luyện; Việc đánh giá trình độ tập luyện chưa thực sự triệt để, thiếu những tiêu chuẩn đánh giá về trình độ thể lực nói chung về sức mạnh nói riêng của VĐV…
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia”
Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông qua việc lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh cũng như sắp xếp lượng vận động theo các chu kỳ trong các giai đoạn huấn luyện và kiểm nghiệm hiệu quả của hệ thống bài tập này trong thực tiễn huấn luyện, sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, huấn luyện môn cử tạ đội tuyển trẻ quốc gia tại trường đại học TDTT Bắc Ninh
Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án tiến hành lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho VĐV cử tạ nam
Trang 22
lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia, nhằm nâng cao thành tích của VĐV, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, huấn luyện môn cử tạ đội tuyển trẻ quốc gia tại trường đại học TDTT Bắc Ninh nói riêng, công tác đào tạo VĐV cử tạ Việt Nam nói chung
Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định thực hiện 3 mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của
VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho
VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Mục tiêu 3: Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức
mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Giả thuyết khoa học
Giả thuyết rằng, công tác đào tạo VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng của VĐV do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là việc sử dụng các bài tập sức mạnh cũng như xác định lượng vận động chưa thực sự hợp
lý, khoa học Vì vậy, nếu lựa chọn được hệ thống bài tập phát triển sức mạnh cũng như phân phối lượng vận động hợp lý trong quá trình đào tạo
sẽ nâng cao thành tích của VĐV, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo VĐV cử tạ đội tuyển trẻ quốc gia
2 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án đã lựa chọn được 16 test, chỉ số thuộc 3 nhóm: hình thái, sức mạnh chung và sức mạnh chuyên môn, từ đó xây dựng tiêu chuẩn phân loại, bảng điểm và tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia Kết quả đánh giá thực trạng năng lực sức mạnh và sử dụng bài tập phát triển sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia cho thấy những hạn chế về năng lực sức mạnh cũng như trong việc sử dụng bài tập, từ đó luận án đã lựa chọn được 53 bài tập thuộc 4 nhóm: nhóm bài tập cử giật (14 bài tập); nhóm bài tập cử đẩy (16 bài tập); nhóm phối hợp cử giật và cử đẩy (18 bài tập); nhóm bài tập với chế độ khống chế và nhượng bộ của cơ bắp (05 bài tập) và xây dựng được kế hoạch thực nghiệm (tương ứng với kế hoạch huấn luyện năm 2014)
Quá trình ứng dụng các bài tập đã lựa chọn trên VĐV cử tạ nam lứa
Trang 33
tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia trong 1 năm tương ứng với kế hoạch huấn luyện năm 2014 đã cho thấy hiệu quả của các bài tập tới sự phát triển sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16, thể hiện ở sự khác biệt về kết quả kiểm tra các test, chỉ số trong quá trình thực nghiệm; kết quả phân loại sức mạnh của VĐV trước và sau thực nghiệm; sự biến đổi tích cực cấu trúc thành phần cơ thể VĐV theo xu hướng chuyên môn và thành tích cử
tạ của nam VĐV lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia tham gia thực nghiệm đạt được
3 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 138 trang bao gồm: Phần mở đầu (05 trang); Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (46 trang); Chương 2: Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu (14 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu và Bàn luận kết quả nghiên cứu (71 trang); phần Kết luận
và Kiến nghị (02 trang) Trong luận án có 39 biểu bảng, 8 biểu đồ Ngoài
ra, luận án đã sử dụng 86 tài liệu tham khảo, trong đó có 07 tài liệu bằng tiếng Nga, 04 tài liệu bằng tiếng Anh
B NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về sức mạnh trong TDTT
Trong nhiều môn môn thể thao, đặc biệt là trong môn cử tạ, sức mạnh là yếu tố quyết định thành tích của VĐV Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài, hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi
độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng
độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học, các trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh
Có nhiều cách phân loại sức mạnh, nếu căn cứ vào chế độ hoạt động
của cơ thì sức mạnh chia làm hai loại: Sức mạnh động lực và sức mạnh
tĩnh lực (đẳng trương và đẳng trường) Sức mạnh động lực lại được chia thành sức mạnh tối đa, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền
Thời kì mẫn cảm phát triển yếu tố sức mạnh tuổi thiếu niên là: nữ từ 11-15 tuổi, nam từ 12-16 tuổi
1.2 Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ
Đặc điểm, xu hướng phát triển của môn cử tạ
Trang 44
Phương tiện huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao
Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ
1.3 Lượng vận động trong huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV
cử tạ
1.3.1 Sự phụ thuộc của thành tích vào trọng lượng của VĐV
Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về môn cử tạ đã cho thấy
ý nghĩa quyết định của năng lực sức mạnh đối với thành tích của VĐV cử
tạ (đó là sức mạnh tốc độ, sức mạnh tối đa, sức mạnh bột phát) Các tốc chất vận động khác cũng có vai trò nhất định tới thành tích của VĐV song không lớn như năng lực sức mạnh
1.3.2 Lượng vận động trong huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ
Theo A.N Vôrôbiep, lượng vận động của các bài tập được ứng dụng nhằm nâng cao thể lực chuyên môn với từng đối tượng có trình độ khác nhau ở các thời kỳ huấn luyện
1.4 Phương pháp huấn luyện sức mạnh cho VĐV cử tạ
Căn cứ vào hình thức co cơ, luyện tập sức mạnh chủ yếu được chia thành hai loại chính: luyện tập sức mạnh động lực và luyện tập sức mạnh tĩnh lực Phương pháp luyện tập sức mạnh động lực do các yếu tố: cường
độ (trọng lượng phải gánh vác), số tổ, số lần lặp lại mỗi tổ, thời gian nghỉ giữa mỗi tổ tạo thành
Cùng với sự phát triển không ngừng của lý thuyết luyện tập hiện đại, luyện tập sức mạnh động lực đã trở thành hình thức chủ yếu nhất và cơ bản nhất để phát triển sức mạnh VĐV trong thi đấu thể thao
1.5 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 15 – 16 trong huấn luyện VĐV cử
tạ
1.5.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 15 - 16
1.5.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 15 - 16
1.5.3 Tác động của lượng vận động lên quá trình phát triển thể chất của VĐV cử tạ
1.6 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và nước ở môn cử tạ, tiêu biểu là các tác giả A.N Vôrôbiep, Dương Thế Dũng…
Trang 55
Ở Việt Nam, đó là các tác giả Đỗ Đình Du (2002, 2018), Vũ Đức Hoàng (2008), Ngô Ích Quân (2009, 2010), Đặng Thị Hồng Nhung (2012), Đinh Hùng Trường (2018)…
Các công trình nghiên cứu trong nước là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để luận án xác định các phương pháp, phương tiện huấn luyện
và đánh giá trình độ VĐV cử tạ trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam
1.7 Nhận xét chương 1
Cử tạ là môn thi đấu theo hạng cân, yếu tố quyết định thành tích của VĐV cử tạ là năng lực sức mạnh Trong quá trình huấn luyện sức mạnh cho VĐV, việc lựa chọn bài tập, xác định lượng vận động có vai trò quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV Để có thể điều khiển tốt việc sử dụng một cách có trọng điểm các bài tập phải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản trong từng giai đoạn huấn luyện và phải chú ý tới thời gian ảnh hưởng tối ưu của từng bài tập Muốn làm được điều đó trong quá trình HLTL cho người tập cần phải nắm vững các vấn đề sau: Nội dung bài tập thể lực; Hình thức của bài tập thể lực; Chất lượng bài tập thể lực; Cường độ của lượng vận động; Khối lượng của lượng vận động; Thời hạn của lượng vận động; Các phương pháp thực hiện lượng vận động; Cấu trúc của lượng vận động
Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ là các bài tập thể lực có động tác gần giống với động tác, kỹ thuật thi đấu cử tạ là
cử giật và cử đẩy, các bài tập phối hợp giữa cử giật với cử đẩy và các bài tập khống chế, nhượng bộ của cơ bắp
Phương pháp huấn luyện sức mạnh cho VĐV cử tạ: Căn cứ vào hình thức co cơ, luyện tập sức mạnh chủ yếu được chia thành hai loại chính: luyện tập sức mạnh động lực và luyện tập sức mạnh tĩnh lực Phương pháp luyện tập sức mạnh động lực do các yếu tố: cường độ (trọng lượng phải gánh vác), số tổ, số lần lặp lại mỗi tổ, thời gian nghỉ giữa mỗi tổ tạo thành Cùng với sự phát triển không ngừng của lý thuyết luyện tập hiện đại, luyện tập sức mạnh động lực đã trở thành hình thức chủ yếu nhất và cơ bản nhất
để phát triển sức mạnh VĐV trong thi đấu thể thao
Lượng vận động của các bài tập huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ phải phù hợp với từng đối tượng có trình độ khác nhau ở các thời kỳ huấn luyện, phải cụ thể hóa về số lần nâng tạ, tổng trọng lượng, khối lượng và cường độ thực hiện … trong từng dạng kế hoạch huấn luyện
Trang 66
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: là bài tập phát triển sức mạnh cho
VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
Đối tượng thực nghiệm: 10 VĐV cử tạ trẻ lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển
trẻ quốc gia và được tuyển lên từ các đơn vị tỉnh thành ngành trong cả nước Thông qua đối tượng này đề tài xác định được hiệu quả của hệ thống bài tập sức mạnh được lựa chọn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phân tích và tổng hợp tài liệu; phỏng vấn - toạ đàm; quan sát sư phạm; kiểm tra sư phạm; kiểm tra y – sinh; thực nghiệm sư
phạm và phương pháp toán học thống kê
2.3 Tổ chức nghiên cứu
Luận án được tiến hành nghiên cứu về bài tập sức mạnh của VĐV cử
tạ nam lứa tuổi 15 – 16 từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 5 năm 2017 tại Viện Khoa học Thể dục thể thao và Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của VĐV cử
tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
3.1.1 Nghiên cứu lựa chọn test đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
3.1.1.1 Phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Thông qua phân tích, tổng hợp các tài liệu chung và chuyên môn có liên quan, luận án đã xác định được 25 test, chỉ số đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia, cụ thể như trình bày tại bảng 3.1 Nhằm xác định cơ sở thực tiễn của các test, chỉ số, luận
án tiến hành phỏng vấn 31 giảng viên, HLV đang trực tiếp giảng dạy, huấn luyện môn cử tạ tại trường Đại học TDTT Bắc Ninh, trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội và các tỉnh, thành trong cả nước Kết quả phỏng vấn như trình bày tại bảng 3.1
Trang 77
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh cho
VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia (n = 31)
T
T Test, chỉ số
Kết quả phỏng vấn (điểm)
Ưu tiên 1
Ưu tiên 2
Ưu tiên 3
Ưu tiên 4
Ưu tiên 5
Trung bình
Trang 88
Với 25 test, chỉ số đưa vào phỏng vấn các chuyên gia, HLV, kết quả cho thấy có 16 test, chỉ số có đa số ý kiến lựa chọn (với điểm trung bình từ 4.74 đến 5.00), đó là các test, chỉ số:
Các chỉ số hình thái:
Rộng vai (cm); Chu vi lồng ngực (cm); Chu vi vòng hông (cm); Chu
vi vòng đùi (cm); Chu vi vòng cánh tay (cm);
3.1.1.2 Độ tin cậy của các test đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Luận án đã tiến hành xác định độ tin cậy của các test đã lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu, kết quả cho thấy: 16 test, chỉ số đưa vào xác định độ tin cậy trên khách thể là VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đều có hệ số tin cậy (r) đạt từ 0.805 đến 0.997 > 0.8
Như vậy, cả 16 test, chỉ số trên đều đảm bảo độ tin cậy thống kê cần thiết, có thể sử dụng được để đánh giá năng lực sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16
3.1.1.3 Tính thông báo của các test đánh giá sức mạnh của VĐV cử
tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Luận án xác định hệ số tương quan cặp (r) của Brave – Pison [64] giữa kết quả lập test với thành tích thi đấu nội dung sở trường của VĐV Kết quả cho thấy: 16 test, chỉ số đều có tính thông báo (r) đạt từ 0.705 đến 0.968 (ở nội dung cử giật) và đạt từ 0.701 – 0.914 (ở nội dung cử đẩy) và
có rtính của các test đều > rbảng với p < 0.05
Như vậy, cả 16 test, chỉ số đều đảm bảo tính thông báo cần thiết, cho phép sử dụng để đánh giá năng lực sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi
15 – 16
Trang 9Kết quả cho thấy: Tất cả các test kiểm tra đều có Cv < 10% và <
0.05 cho thấy số trung bình và độ lệch chuẩn có thể sử dụng được để xây dựng thang điểm và tiêu chuẩn đánh giá
3.1.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Đề tài phân loại từng chỉ tiêu đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ
nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia thành 5 mức: Tốt, khá, trung
bình, yếu, kém theo quy tắc 2 xích – ma
Đối với test Chạy 30m XPC, tiêu chuẩn phân loại được tính ngược lại, kết quả được trình bày thành ở bảng 3.6
3.1.2.2 Xây dựng thang điểm các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Để dễ dàng đánh giá và theo dõi sự phát triển thành tích của VĐV
ở từng chỉ tiêu, đồng thời có thể so sánh giữa các VĐV, đề tài quy các chỉ tiêu ra điểm theo thang độ C (thang điểm 10) trong đó số trung bình ứng với điểm 5 của thang điểm
Kết quả được trình bày tại bảng 3.7
3.1.2.3 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp sức mạnh của VĐV
cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Để đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia gồm 16 test Như vậy điểm đạt được tối đa ở VĐV là 160 điểm, tối thiểu là 16 điểm
Đề tài tiến hành xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia theo 5 mức: Tốt, khá, trung bình, yếu và kém và khoảng cách giữa các mức là: (Xmax – Xmin)/5 = (160 – 16)/5 = 28.8 (đ)
Kết quả như trình bày ở bảng 3.8
Trang 10Bảng 3.6 Tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh cho VĐV cử tạ nam
lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Trang 11Bảng 3.7 Bảng điểm đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
Trang 1210
Bảng 3.8 Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp sức mạnh của VĐV cử tạ nam
lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia
(điểm tối đa 160)
Luận án đã tiến hành lựa chọn các test, chỉ số đánh giá sức mạnh chung cả 2 tuổi 15 và 16 và không tiến hành nghiên cứu theo hạng cân vì một số lý do:
Đối tượng khách thể nghiên cứu của đề tài lựa là VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia ở hạng cân nhẹ, hạng cân 56 và 62kg,
cụ thể:
Đội tuyển trẻ cử tạ trẻ được Tổng cục Thể dục thế thao giao nhiệm
vụ chỉ tập tuyển chọn, đào tạo các VĐV ở nhóm hạng cân nhẹ, hạng cân
56 - 62 kg, vì chỉ có VĐV ở hạng cân này khi thi đấu quốc tế mới có cơ hội giành được huy chương Nên khi tập trung đội tuyển ban huấn luyện chỉ tuyển chọn những VĐV ở nhóm hạng cân này
3.1.3.2 Độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam trẻ lứa tuổi 15 - 16
Trang 1311
Tuy 16 test đã được lựa chọn qua phỏng vấn nhưng để đảm bảo tính khoa học khách quan, chúng tôi đã tiến hành xác định độ tin cậy và tính thông báo của chúng Kết quả xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test, chỉ số cho thấy, cả 16 test, chỉ số đều đảm bảo độ tin cậy và tính thông báo trên khách thể là VĐV cử tạ nam trẻ lứa tuổi 15 -16
3.1.3.3 Về tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh cho VĐV cử tạ nam trẻ lứa tuổi 15 - 16
Bảng tiêu chuẩn phân loại, bảng điểm và tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp tố chất sức mạnh cho VĐV nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia được xây dựng đảm bảo các yêu cầu khoa học, dễ sử dụng trong thực tiễn huấn luyện
3.2 Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia
3.2.1 Đánh giá thực trạng sức mạnh và sử dụng bài tập phát triển sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 -16 đội tuyển trẻ quốc gia
3.2.1.1 Đánh giá thực trạng sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 -16 đội tuyển trẻ quốc gia: Để đánh giá thực trạng sức mạnh của
vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia, đề tài tiến hành kiểm tra các VĐV lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia đang tập huấn tại trường Đại học TDTT Bắc Ninh Thời điểm kiểm tra là tháng 6 và tháng 12 năm 2013 Kết quả thu được như trình bày tại bảng 3.9 Đồng thời, tiến hành đối chiếu kết quả kiểm tra với tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp
để xếp loại trình độ sức mạnh cho các VĐV, sau đó xác định tỷ lệ % của từng loại như trình bày tại bảng 3.10
Bảng 3.9 Thực trạng sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16
đội tuyển trẻ quốc gia (n = 14)
TT Test, chỉ số
Kết quả kiểm tra
Tháng 6/2013 (x )
Tháng 12/2013 (x )