1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cạnh tranh địa chiến lược nga – mỹ dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực trường hợp khủng hoảng tại ukraine

179 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 623,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phân tích và nghiên cứu cạnh tranh ĐCL giữa Nga và Mỹ tạiUkraine qua cuộc khủng hoảng năm 2014 dưới lăng kính của Chủ nghĩa Hiện thựcCNHT sẽ góp phần làm rõ bản chất của cuộc cạnh t

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

-PHAN THỊ THU DUNG

CẠNH TRANH ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA - MỸ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC: TRƯỜNG HỢP

KHỦNG HOẢNG TẠI UKRAINE

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC

TẾ MÃ SỐ: 9310206

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

-PHAN THỊ THU DUNG

CẠNH TRANH ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA

-MỸ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC: TRƯỜNG HỢP KHỦNG

HOẢNG TẠI UKRAINE

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 9310206

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS VŨ DƯƠNG HUÂN

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ “Cạnh tranh địa chiến lược Nga - Mỹ

dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực: Trường hợp khủng hoảng tại

Ukraine” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, tài liệu trong

Luận án Tiến sĩ là trung thực, khách quan Kết quả nghiên cứu của Luận án Tiến

sĩ chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

NGHIÊN CỨU SINH

Phan Thị Thu Dung

Trang 4

Hoàn thành Luận án Tiến sĩ này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, Nghiên cứu sinh đã nhận được sự quan tâm sâu sắc, sự giúp đỡ chân thành,

sự hướng dẫn tận tình của nhiều thầy giáo, cô giáo, lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục, bạn bè và người thân.

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến người hướng dẫn khoa học đã tận tâm hướng dẫn, luôn ủng hộ và động viên Nghiên cứu sinh vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành công trình này.

Nghiên cứu sinh đặc biệt biết ơn người Cha, người Mẹ, người Chị gái cùng Gia đình Nhỏ của mình đã luôn đồng hành bên mọi khúc quanh của cuộc sống, những lúc căng thẳng sau sinh chăm con nhỏ mà lòng thì luôn canh cánh, mong mỏi bước đến cuối chặng đường đang dang dở Lời yêu thương chân ái nhất - xin cảm ơn thiên thần nhỏ của tác giả - động lực to lớn nhất đã đồng hành từ thời kỳ thai nghén với những định hình ý tưởng sơ khai của bản dự thảo Luận án cho đến khi chào đời đánh dấu kỉ niệm vòng bảo vệ đầu tiên để đến hôm nay Nghiên cứu sinh có được kết quả này.

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA – MỸ DƯỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC 17

1.1 Cơ sở lý luận và khuôn khổ phân tích 17

1.1.1 Lý luận về cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc theo thuyết Hiện thực 17

1.1.1.1 Khái niệm địa chính trị, địa chiến lược và cạnh tranh địa chiến lược 17

1.1.1.2 Quan điểm của thuyết Hiện thực về cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc 22

1.1.2 Khuôn khổ phân tích: cách tiếp cận hệ thống và cấu trúc phân bổ quyền lực của hệ thống 31

1.1.3 Khung phân tích cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc từ góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực 33

1.2 Cơ sở thực tiễn 38

1.2.1 Khái quát quan hệ cạnh tranh chiến lược Nga – Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh đến 2013 38

1.2.2 Tình hình thế giới và khu vực 39

1.2.3 Chính sách đối ngoại của Nga và Mỹ trong thế kỷ XXI 42

1.2.3.1 Chính sách đối ngoại của Mỹ 43

1.2.3.2 Chính sách đối ngoại của Nga 45

1.2.4 Tương quan so sánh thế và lực Nga – Mỹ 47

1.3 Thực tiễn cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ từ 2013 đến nay từ góc nhìn Hiện thực 48

1.3.1 Tiếp cận cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ từ góc nhìn Hiện thực 48 1.3.2 Nguyên nhân, động cơ, mục đích của cạnh tranh địa chiến lược

Trang 7

Tiểu kết chương 1 64

CHƯƠNG 2: CẠNH TRANH ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA – MỸ QUA CUỘC KHỦNG HOẢNG UKRAINE 2013-2014 67

2.1 Tổng quan về cuộc khủng hoảng Ukraine 67

2.1.1 Ý nghĩa địa chiến lược của Ukraine 67

2.1.1.1 Đối với Nga 67

2.1.1.2 Đối với Mỹ 70

2.1.2 Diễn biến 72

2.1.3 Nguyên nhân, bản chất 75

2.2 Chính sách, biện pháp Nga cạnh tranh với Mỹ 78

2.2.1 Các biện pháp Nga tiến hành tại Ukraine 78

2.2.1.1 Nga sáp nhập Crimea 78

2.2.1.2 Ủng hộ toàn diện lực lượng ly khai tại miền Đông Ukraine 80

2.2.1.3 Thực hiện các biện pháp răn đe quân sự đối với Ukraine 82

2.2.2 Điều chỉnh các học thuyết quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, coi NATO, Mỹ và phương Tây là mối đe dọa an ninh chính 84

2.2.3 Đẩy mạnh tập hợp lực lượng với Trung Quốc, Ấn Độ chống lại sức ép từ Mỹ và phương Tây 86

2.2.4 Tăng cường tuyên truyền chống Mỹ, phương Tây 89

2.3 Chính sách, biện pháp Mỹ cạnh tranh với Nga 90

2.3.1 Ủng hộ lực lượng đối lập giành chính quyền, ủng hộ và hỗ trợ toàn diện cho chính quyền mới ở Kiev 90

2.3.2 Tăng cường sức ép đối với Nga 92

2.3.2.1 Tiến hành các biện pháp cấm vận và cô lập Nga 92

2.3.2.2 Tăng cường sức ép đối với Nga qua NATO 95

2.3.2.3 Đẩy mạnh tập hợp các nước phương Tây chống Nga 98

2.3.3 Tăng cường tuyên truyền chống Nga 99

2.4 Một số nhận xét về cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine từ góc độ hiện thực 101

Tiểu kết chương 2 105

Trang 8

ĐỘNG CẠNH TRANH ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA – MỸ ĐẾN NĂM 2024 107 3.1 Tác động của cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ qua khủng hoảng

Ukraine 2013-2014 107

3.1.1 Thế giới 108

3.1.1.1 Đối với luật pháp quốc tế và các cơ chế đa phương 108

3.1.1.2 Đối với an ninh thế giới 112

3.1.1.3 Đối với quan hệ các nước lớn 117

3.1.2 Khu vực 122

3.1.2.1 Đối với an ninh và nội bộ châu Âu 122

3.1.2.2 Đối với không gian hậu Xô Viết 124

3.1.3 Quốc gia 126

3.1.3.1 Đối với Nga 126

3.1.3.2 Đối với Mỹ 127

3.2 Xu hướng vận động cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ đến năm 2024 128

3.2.1 Cơ sở dự báo 128

3.2.1.1 Thuận lợi 129

3.2.1.2 Thách thức 130

3.2.2 Các kịch bản dự báo 134

3.3 Kiểm chứng lý thuyết 135

3.4 Hàm ý đối với Việt Nam 139

Tiểu kết chương 3 145

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

Trang 9

1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á

2 ADMM+ ASEAN Defence Ministerial Hội nghị Bộ trưởng Quốc

Meeting Plus phòng ASEAN mở rộng

3 AIIB The Asian Infrastructure Ngân hàng Phát triển hạ tầng

Investment Bank châu Á

5 ARIA The Asia Reassurance Initiative Đạo luật sáng kiến tái đảm

6 ARF Asian Regional Forum Diễn đàn Khu vực Châu Á

7 ASEAN Association of Southeast Asian Hiệp hội các Quốc gia Đông

8 ASEAN + ASEAN plus Hội nghị ASEAN với các

đối tác

9 ASEAN+1 ASEAN plus One Hội nghị ASEAN và từng

bên đối thoại

10 ASEAN+3 ASEAN plus Three Hội nghị ASEAN và Trung

13 BRICS Brazil, Russia, India, China, Khối bao gồm các nền kinh tế

South Africa mới nổi Brazil, Nga, Ấn Độ,

Trung Quốc, Nam Phi

14 CA - TBD Asia Pacific Châu Á - Thái Bình Dương

17 CPTPP Comprehensive and Progressive Hiệp định Đối tác toàn diện và

Agreement for Trans - Pacific Tiến bộ xuyên Thái Bình

21 EAMF Expanded ASEAN Maritime Diễn đàn Biển ASEAN mở

22 EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á

23 EU European Union Liên minh Châu Âu

Trang 10

26 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

27 INF Intermediate-Range Nuclear Hiệp ước Lực lượng hạt

Forces Treaty nhân tầm trung

tự xưng

30 NAFTA North American Free Trade Hiệp định Thương mại Tự

31 NATO North Atlantic Treaty Hiệp ước Quân sự Bắc Đại

Organization Tây Dương

32 NDB New Development Bank Ngân hàng Phát triển mới

40 TPP Trans - Pacific Partnership Hiệp định Đối tác xuyên

Agreenment Thái Bình Dương

41 UNESCO United Nations Educational Tổ chức Văn hóa, Giáo dục

Scientific and Cultural và Khoa học Liên hợp quốcOrganization

42 UNSC United Nations Security Council Hội đồng Bảo an Liên hợp

quốc

44 WB World Bank Ngân hàng Thế giới

45 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 11

Hình 1.1: Khung phân tích cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc từ gócnhìn của Chủ nghĩa Hiện thực 38Hình 1.2: Mô hình cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ từ 2013 đến nay từ gócnhìn Hiện thực 50

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (CTL), thuật ngữ địa chiến lược (ĐCL)được phản ánh khá rõ nét trong “chiến lược ngăn chặn” về quân sự và ý thức hệchính trị - tư tưởng giữa Mỹ và Liên Xô Tư tưởng và hành động ĐCL từ đó được

sử dụng khá phổ biến, bao trùm gần như toàn bộ chủ đề nghiên cứu trọng tâm vềquan hệ quốc tế (QHQT) trong thế kỷ 20 cho đến những năm 1990 – 1991 Tuynhiên, khoảng thời gian từ sau khi kết thúc CTL, đặc biệt cho đến tận thời điểmxảy ra cuộc khủng hoảng Ukraine - giai đoạn mà địa chính trị, ĐCL được cho rằng

bị suy thoái phần nào khi mà giới nghiên cứu QHQT không bàn nhiều đến vai tròcũng như tầm quan trọng của nó nữa một phần do sự phụ thuộc lẫn nhau ngàycàng cao, sự gia tăng của các công cụ quyền lực mềm, sự tiến bộ của khoa học kỹthuật khiến cho khái niệm địa lý cũng như tầm quan trọng của nó bị giảm dần.Nhiều người cho rằng, không nhất thiết phải kiểm soát trực tiếp vùng lãnh thổ,không gian địa vật lý hoặc vùng đệm nữa mà có thể tận dụng ưu thế của công nghệtiên tiến để thay thế Tuy nhiên, thập niên gần đây, chính sự trỗi dậy của TrungQuốc với “Sáng kiến Vành đai và Con đường” nhằm ý chí hiện thực hóa “Giấc mơTrung Hoa” cùng với một số hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, cạnhtranh chiến lược nước lớn ở Trung Đông… đặc biệt từ sau sự kiện khủng hoảngUkraine manh nha vào cuối năm 2013, bùng phát vào đầu năm 2014 (gọi tắt làcuộc khủng hoảng Ukraine 2013 - 2014) chứng kiến sự cạnh tranh ĐCL quyết liệtgiữa Nga và Mỹ đã đánh dấu sự quay trở lại mạnh mẽ hơn của lý thuyết ĐCLtrong ngành nghiên cứu QHQT Chính khủng hoảng Ukraine là một trong nhữngdấu mốc quan trọng đánh dấu sự quay trở lại của tư duy địa chính trị, ĐCL nhưngkhông phải mang dáng dấp của hình thù cũ mà đã có một diện mạo mới cùng với

sự bổ sung về tầm quan trọng của ĐCL không gian mạng – một phiên bản 2.0 củathế kỷ 211 Do tầm quan trọng ngày càng tăng của không gian mạng, gần đâynhiều quốc gia đã bổ sung nội dung này vào chiến lược An ninh quốc gia(ANQG) Đây là địa bàn tác chiến thứ 5 cùng với đất, biển, trời và vũ trụ [160]

1 Địa chính trị, ĐCL đã có những nội hàm mới, không chỉ đơn thuần bao hàm vai trò của yếu tố địa vật lý trong

tư duy chiến lược và chính sách đối ngoại của quốc gia mà nó còn được biến thành nghệ thuật, một logic quản trị và chi phối hoạch định chính sách đối ngoại Bên cạnh đó, địa chính trị, ĐCL 2.0 bổ sung thêm một nội hàm mới là không gian mạng – yếu tố về khoa học kỹ thuật tác động đến tư duy hoạch định chiến lược đối ngoại của các chủ thể

QHQT (Xem thêm: Đỗ Thị Thủy (2018), Chính trị quốc tế hiện đại, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, tr 173-187).

Trang 13

Quan hệ Mỹ - Nga là một trong những cặp quan hệ đóng vai trò quyếtđịnh trong các vấn đề quốc tế và định hình trật tự thế giới Từ sau CTL đến nay,mối quan hệ này đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm giữa đối đầu và hòahoãn, tuy khác nhau về mức độ nhưng bản chất vẫn là cạnh tranh chiến lược vàđối kháng lợi ích, sự mở rộng ảnh hưởng của nước này, trong cách tiếp cận củabên còn lại, sẽ thu hẹp lợi ích của bên kia Mỹ có mục tiêu chiến lược không đổi làduy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu và một trật tự quốc tế có lợi cho Mỹ, kiềm chế vàkhông cho Nga nổi lên thách thức vị thế của Mỹ Trong khi đó, Nga tìm cáchvươn lên trở thành một trung tâm quyền lực quan trọng, xây dựng một trật tự thếgiới đa cực mới, đối trọng và cạnh tranh trực diện với Mỹ Cạnh tranh ĐCL là mộtkhía cạnh nổi bật trong tổng thể mối quan hệ cạnh tranh chiến lược Nga – Mỹ hiệnnay với mục tiêu chủ đạo là cạnh tranh việc kiểm soát không gian quyền lực trênmột số chiến tuyến chủ yếu.

Ukraine là một trong những “chiến trường” chính điển hình cho cạnh tranhĐCL giữa Nga – Mỹ hiện nay Với vị trí địa chiến lược quan trọng, vùng đệm giữaNga và phương Tây, Ukraine luôn là mục tiêu tranh giành ảnh hưởng giữa Đông

và Tây Cả Nga với Mỹ/phương Tây đã thực hiện nhiều biện pháp và chính sáchnhằm giành giật ảnh hưởng tại Ukraine từ trước, trong và sau khi cuộc khủnghoảng diễn ra Cuộc khủng hoảng tại Ukraine 2014 trở thành tâm điểm của đờisống chính trị quốc tế, nó chứng kiến sự cọ xát lợi ích trực tiếp, gay gắt nhất giữaNga với Mỹ/phương Tây kể từ sau Chiến tranh Lạnh CTL đã đi qua được gần bathập kỷ song những tàn dư của nó vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay, và cuộckhủng hoảng Ukraine là một minh chứng cho sự đối đầu Đông - Tây trong giaiđoạn hiện nay Cuộc khủng hoảng đã khắc họa rõ nét những mâu thuẫn và cuộcchiến giành giật lợi ích chiến lược giữa Nga và Mỹ tại quốc gia Đông Âu này.1.2 Là một trong những lý thuyết CTQT lâu đời và có ảnh hưởng nhất trênthế giới, thuyết Hiện thực bộc lộ khả năng ưu việt khi tiếp cận để phân tích, lý giải

và gợi ý định hướng tư duy về vấn đề cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn Vớinhững luận điểm của phái Hiện thực cấu trúc mà đại diện tiêu biểu là KennethWaltz về cách tiếp cận hệ thống khi phân tích QHQT, cấu trúc phân bổ quyền lực

và phái Hiện thực tấn công mà đại diện tiêu biểu là John Mearsheimer về vai tròcủa địa chính trị, nhân tố địa lý (vị trí quốc gia, phạm vi ảnh hưởng: vùng đệm,vùng sân sau…) đối với cấu trúc quyền lực [126, tr.82-93], [55, tr.303-308], thếlưỡng nan về an ninh, mục tiêu bá quyền và cân bằng quyền lực để đảm bảo

Trang 14

ANQG [62, tr.44], thuyết Hiện thực được nhiều học giả trên thế giới vận dụng đểphân tích cạnh tranh ĐCL giữa các nước lớn, giữa Nga và Mỹ Thông qua nhữngluận điểm đã được lịch sử kiểm chứng, thuyết Hiện thực sẽ góp phần làm rõ nhiềukhía cạnh thuộc bản chất của cuộc cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ qua cuộc khủnghoảng Ukraine 2013 - 2014 Đồng thời, qua nghiên cứu bản chất, phương thứccạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ tại Ukraine sẽ làm sáng tỏ đặc điểm, xu thế quan hệgiữa các cường quốc Từ đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn hệ thống QHQT, sự chiphối của chính trị cường quyền, luật chơi của trật tự thế giới hiện nay - một nhân

tố quan trọng ảnh hưởng chi phối đến chính sách đối ngoại (CSĐN) của các quốcgia Bên cạnh đó, như các cuộc tranh luận học thuật hiện nay cho thấy, thuyếtHiện thực không phải là lý thuyết QHQT tối ưu và duy nhất giải thích mọi góc độcủa đời sống CTQT hiện nay vì vẫn có những mặt hạn chế nhất định; việc sử dụngnhững công cụ tiếp cận phân tích khác trong hệ thống lý thuyết về QHQT có thểgiúp bổ sung phân tích, dự báo một cách toàn diện hơn về cuộc cạnh tranh ĐCLgiữa Nga – Mỹ

Mối quan hệ giữa hai cường quốc thế giới Nga - Mỹ đã, đang và sẽ tiếp tục

có những ảnh hưởng, chi phối lớn đến hệ thống QHQT, tác động không nhỏ đếnquá trình hoạch định và triển khai CSĐN của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó

có Việt Nam Việc phân tích và nghiên cứu cạnh tranh ĐCL giữa Nga và Mỹ tạiUkraine qua cuộc khủng hoảng năm 2014 dưới lăng kính của Chủ nghĩa Hiện thực(CNHT) sẽ góp phần làm rõ bản chất của cuộc cạnh tranh Nga - Mỹ cũng như vấn

đề hợp tác và cạnh tranh giữa các nước lớn trên thế giới trong giai đoạn hiện nay,bản chất của hệ thống QHQT, mối quan hệ giữa các quốc gia cũng như về vấn đềxung đột và hợp tác trong nền CTQT… đồng thời là cơ sở để dự báo xu thế vậnđộng của cạnh tranh Nga - Mỹ trên thế giới trong thời gian tới

1.3 Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới,đồng thời có mối quan hệ tốt đẹp với hầu hết các cường quốc trên thế giới Do vậy,mọi sự biến động ở khu vực và thế giới cũng như sự biến đổi trong quan hệ giữacác nước lớn đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến nước ta đòi hỏi phải có sựđiều chỉnh CSĐN cho phù hợp, do đó việc nghiên cứu về cạnh tranh ĐCL Nga –

Mỹ qua lăng kính của CNHT sẽ góp phần định hướng chính sách của Việt Nam đểphù hợp với tình hình Hơn nữa, Nga là đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam,còn Mỹ là đối tác toàn diện của Việt Nam Nga, Mỹ đều là những đối tác chủ chốt

có ảnh hưởng lớn đến an ninh và phát triển của Việt Nam, qua nghiên cứu đề tài

Trang 15

chúng ta sẽ hiểu đối tác của chúng ta hơn, đặc biệt là chính sách, phương thức canthiệp của họ đối với các nước nhỏ khi có bùng nổ vấn đề nội bộ Qua đây chúng tacũng có thể rút ra những kinh nghiệm nhất định trong ứng xử đối với các cườngquốc Bên cạnh đó, việc dự báo về xu thế vận động cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ trênthế giới sẽ góp phần định hướng CSĐN của Việt Nam, nhất là đối với các nướclớn, phục vụ cho công tác tham mưu và định hướng cho quá trình hoạch địnhchính sách của Việt Nam phù hợp với những xu thế chung của thế giới và điềukiện, hoàn cảnh riêng biệt của nước ta.

Vì vậy, việc vận dụng lý thuyết Hiện thực để phân tích và lý giải những biểuhiện của cuộc cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ trong giai đoạn hiện nay qua cuộc khủnghoảng tại Ukraine không chỉ là vấn đề có tính cấp thiết mà còn có ý nghĩa khoa

học và ý nghĩa thực tiễn nhất định Do đó, tác giả đã lựa chọn “Cạnh tranh địa chiến lược Nga - Mỹ dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực: Trường hợp khủng hoảng tại Ukraine” làm đề tài Luận án của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của Luận án, kết quả khảo sát cho thấyđến nay đã có nhiều công trình khoa học đáng chú ý đề cập, luận giải về cạnhtranh ĐCL giữa Nga và Mỹ tại Ukraine ở những phạm vi và mức độ khác nhau, cóthể khái quát thành 03 nhóm vấn đề chủ yếu với những công trình tiêu biểu sau:

2.1 Các công trình nghiên cứu về “Vận dụng lý thuyết để phân tích cạnh tranh địa chiến lược giữa các nước lớn”

Đầu tiên phải kể đến cuốn “Handbook of International Relations” (Cẩm

nang về QHQT) của các tác giả Walter Carlsnaes, Thomas Risse, Beth A.Simmons do NXB SAGE xuất bản năm 2002, tái bản năm 2013, tập hợp 33 bàiviết chất lượng của những học giả uy tín hàng đầu trên lĩnh vực QHQT đã giúpngười đọc có một định hướng tương đối toàn diện và đa chiều khi tiếp cận các nộidung cơ bản của lý thuyết QHQT nói chung và đặc biệt là CNHT nói riêng để làmkhung phân tích cho vấn đề cạnh tranh địa chiến lược trong QHQT

Cuốn “Introduction to International Relations: Theories and Approaches”

(Nhập môn QHQT: Lý thuyết và cách tiếp cận) là công trình nghiên cứu tiêu biểu củaRobert Jackson và George Sørensen đã được NXB Đại học Oxford tái bản lần thứ 6vào cuối năm 2015 Cuốn sách đã giới thiệu đến độc giả các lý thuyết quan trọng nhất

về QHQT đặt dưới nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau, từ đó cho phép ngườiđọc có thể hình dung ra được thế mạnh và hạn chế của từng trường phái

Trang 16

Đây là một tài liệu tham khảo rất hữu ích đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu, làm cơ sở để giải thích các vấn đề về xung đột, cạnh tranh quyền lực trong QHQT.

Bên cạnh những công trình cung cấp nền tảng lý thuyết cho Luận án, tác giả

cũng tham khảo thêm 02 nguồn tư liệu vô cùng bổ ích sau: (1) Bài viết “The Case

for Offshore Balancing: A Superior U.S Grand Strategy” (“Cân bằng Khơi xa”:

Đại chiến lược ưu việt của Hoa Kỳ) của hai tác giả John Mearsheimer và Stephen

M Walt đăng trên Foreign Affairs ngày 13/6/2016 đã giúp tác giả cập nhật thêmnhững lập luận, quan điểm của phái Hiện thực tấn công thời gian gần đây có thểvận dụng để luận giải, đánh giá về cạnh tranh địa chiến lược giữa Nga và Mỹ trongtrường hợp khủng hoảng tại Ukraine 2014 từ góc độ Hiện thực Trong đó, tác giảbài viết cho rằng Mỹ nên sử dụng chiến lược “Cân bằng khơi xa”, khai thác vị tríđịa lý ưu thế và tính đến động cơ mạnh mẽ của các quốc gia khác trong việc cânbằng các nước láng giềng hùng mạnh hay tham vọng, nên giao trả nhiệm vụ bảo vệ

an ninh châu Âu cho người châu Âu, chỉ “cập bờ” (can thiệp) khi thực sự cần thiết;đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế của “Bá quyền tự do” mà Mỹ theo đuổi trongnhiều năm qua khi không ngừng mở rộng NATO, phớt lờ các lợi ích của Nga khiến

Nga sáp nhập Crimea và xích lại gần Trung Quốc; (2) Bài viết “The Security

Dilemma and Ethnic Conflict” (Thế lưỡng nan an ninh và xung đột sắc tộc) của tác

giả Barry A Posen đăng trên Survival, tập 35, số 01 Mùa Xuân năm 1993 đã giúp

Nghiên cứu sinh tham khảo việc áp dụng khái niệm cơ bản “thế lưỡng nan anninh” của CNHT vào việc luận giải, đánh giá về cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ dướigóc nhìn của CNHT từ việc tác giả dùng “thế lưỡng nan an ninh” phân tích mốiquan hệ Nga – Ukraine để minh họa cho tính hữu dụng của khái niệm này vàonhững trường hợp buộc phải ra sức đảm bảo an ninh cho chính mình

Ở trong nước, trong các công trình chuyên khảo liên quan đến lý thuyết

QHQT, trước hết phải kể đến cuốn “Lý thuyết Quan hệ quốc tế” do GS.TS Hoàng

Khắc Nam chủ biên được NXB Thế giới phát hành năm 2017 Cuốn sách đã tập hợp,

hệ thống lại các lý thuyết cơ bản cũng như những vấn đề lý luận chủ yếu của QHQThiện nay Cuốn sách thực sự là một tài liệu chuyên khảo hữu ích đối với công tácnghiên cứu, học tập trên lĩnh vực QHQT và đối ngoại, đặc biệt nghiên cứu về nền tảng

lý luận khi giải thích các sự kiện quốc tế

Trong cuốn “Ba mô hình lý thuyết và quan điểm của Đảng ta hiện nay về

Quan hệ quốc tế” (NXB Chính trị quốc gia, 2013), tác giả Vũ Thế Hiệp đã giới

thiệu một cách khái quát ba mô hình lý thuyết nền tảng trong đó có CNHT, sau đó

Trang 17

đi sâu phân tích những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmcủa Đảng và Nhà nước ta hiện nay về QHQT Cuốn sách không chỉ cung cấpnhững nhận thức cơ bản về QHQT mà còn giúp nghiên cứu sinh có thêm những cơ

sở quan trọng trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các đề xuất, kiến nghị vềCSĐN của Việt Nam trước tác động của cạnh tranh giữa các nước lớn

Liên quan đến CNHT để giải thích vấn đề cạnh tranh quyền lực trong QHQT

phải kể đến cuốn sách chuyên khảo “Quyền lực trong Quan hệ quốc tế: Lịch sử và

vấn đề” của tác giả GS.TS Hoàng Khắc Nam được NXB Văn hóa – Thông tin xuất

bản năm 2011 Thông qua cuốn sách này, tác giả có thêm cách tiếp cận từ nguồngốc của vấn đề cạnh tranh, trong đó liên kết giữa vấn đề cạnh tranh địa chiến lược

và cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn để đạt được mục tiêu chiến lược dướigóc nhìn của CNHT Bên cạnh đó, đối với Việt Nam, cả trên phương diện vĩ môlẫn vi mô, cuốn sách là rất cần thiết bởi giúp nó giúp người đọc có cái nhìn tổngthể khi tham gia hoạch định chiến lược bởi quyền lực gắn bó chặt chẽ với lợi íchchính trị và an ninh của đất nước

Liên quan đến cách tiếp cận về nhận thức và ý nghĩa thực tiễn của một số khái

niệm: “Chiến lược”, “Địa chiến lược”, “Địa chính trị”, “Lợi ích quốc gia” … phải

kể đến 05 nguồn tham khảo vô cùng bổ ích đó là: (1) Cuốn sách chuyên khảo “Chính

trị quốc tế hiện đại” của tác giả TS Đỗ Thị Thủy (chủ biên) do Nhà xuất bản Lao

động xã hội xuất bản năm 2018, trong đó có bài dịch với tiêu đề “Các cường quốc

đang lên và sự trở lại của địa chính trị” (trang 173); (2) Cuốn sách “Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia” của tác giả PGS TS Nguyễn Văn

Dân, do NXB Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2014; (3) Bài viết “Bàn về

phạm trù và định nghĩa về địa chiến lược” của tác giả PGS.TSKH Trần Khánh đăng

tại Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 4 (119) – 2019; (4) Bài viết “Bàn về chiến lược,

sách lược đối ngoại” do tác giả GS.TS Vũ Dương Huân đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

quốc tế, số 4 (103), tháng 12/2015; (5) Cuốn sách “Một số vấn đề Quan hệ quốc tế,

chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam (Tập 1)”, (NXB Chính trị - Hành chính,

Hà Nội, 2009) tập hợp, lưu giữ những ấn phẩm của tác giả GS.TS Vũ Dương Huân đã được công bố, trong đó có bài viết “Bàn về lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia trong

Quan hệ quốc tế” (trang 152) Những nguồn tham khảo trên đã giúp tác giả có nhận

thức cơ bản cũng như cách tiếp cận đối với những khái niệm quan trọng trong Luận án

để từ đó phát triển, phân tích những vấn đề chính yếu của Luận án

Trang 18

Liên quan đến góc độ lý luận, bên cạnh tiếp cận vấn đề cạnh tranh từ CNHT,

tác giả còn tham khảo 02 nguồn tư liệu vô cùng hữu ích, đó là: (1) Bài viết “Bàn

về các luận thuyết liên quan đến địa chiến lược” của tác giả PGS.TSKH Trần

Khánh đăng tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 – năm 2019; (2) Bài viết

“Cuộc đảo chính ở Ucraina nhìn từ một học thuyết chính trị của Mỹ” của tác giả

Đại tá Lê Thế Mẫu đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử, số ra ngày 05-3-2014.Ngoài các nguồn tư liệu trên, nghiên cứu sinh còn khảo sát và nghiên cứunhiều bài viết chuyên sâu của các học giả trong nước và quốc tế trên những tạp

chí, website uy tín như “Theorizing the Political Relevance of International

Relation Theory” (Lý thuyết hóa vấn đề tương quan chính trị trong lý thuyết

QHQT) của Beate Jahn ngày 12/9/2016 trên ISQ (International Studies Quarterly) online; “International relations: one world, many theories” (QHQT: một thế giới, nhiều lý thuyết) của Stephen M.Walt (06/10/2014); “Theoretical Perspectives on

International Relations in Asia” (các quan điểm lý thuyết của QHQT ở Châu Á)

của tác giả David Shambaugh và Michael Yahuda được Nguyễn Hoàng Như

Thanh biên dịch và hiệu đính (27/5/2013); …

2.2 Các công trình nghiên cứu về “Khủng hoảng Ukraine 2014”

Đầu tiên phải kể đến học giả Hiện thực John J Mearsheimer, Giáo sư khoa

học chính trị - Đại học Chicago, vào năm 2015 đã cho đăng tải bài viết “Don’t

arm Ukraine” (Đừng trang bị vũ khí cho Ukraine) trên Tờ báo The New York Times vào tháng 2/2015, trong đó tác giả sử dụng một số luận điểm của CNHT để

giải thích và định hướng CSĐN của Mỹ tại Ukraine Ông cho rằng, nước Mỹkhông nên cung cấp vũ khí sát thương cho chính quyền mới ở Kiev bởi như vậy sẽchỉ làm gia tăng căng thẳng với Nga Thay vào đó, để “cứu” Ukraine, Mỹ và cácnước phương Tây cần làm cho Ukraine trở thành “vùng đệm trung lập” giữa Nga

và NATO Trước đó, vào năm 2014, nhiều bài viết phân tích về cạnh tranh quyềnlực giữa Nga với Mỹ và phương Tây qua cuộc khủng hoảng tại Ukraine củaMearsheimer đã được đăng tải trên nhiều tạp chí lớn Đáng chú ý là tác phẩm

“Why the Ukraine crisis is the West’s fault” (Tại sao cuộc khủng hoảng Ukraine là lỗi của phương Tây) được đăng trên Tạp chí Foreign Affairs vào tháng 8/2014),

trong đó tác giả bài viết lập luận rằng, chính Mỹ và các đồng minh châu Âu, chứkhông phải là Nga, phải chịu phần lớn trách nhiệm trong cuộc khủng hoảngnghiêm trọng nổ ra tại Ukraine Căn nguyên của vấn đề nằm ở những nỗ lực đẩymạnh mở rộng về phía Đông của cả NATO và EU, phương Tây lấn sâu vào khu

Trang 19

vực sân sau và đe dọa trực tiếp đến những lợi ích cốt lõi của nước Nga Do đó,quyết định của Tổng thống Putin can thiệp vào Ukraine để bảo vệ những lợi íchsát sườn của nước Nga không phải là hành động bất ngờ Từ đó, tác giả bài viết đã

đi đến kết luận rằng, giải pháp lâu dài cho vấn đề Ukraine chỉ có thể đạt được nếu

Mỹ và các đồng minh châu Âu từ bỏ kế hoạch “phương Tây hóa” Ukraine, và thay

vì cố gắng lôi kéo Ukraine thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Nga, Mỹ và EU cần đưanước này trở thành “vùng đệm trung lập” giữa Nga và phương Tây

Cũng với mạch lập luận trên, trong bài viết “Getting Ukraine Wrong” (Hiểu sai về Ukraine) được đăng trên Tờ báo The New York Times – phát hành tháng

3/2014), Mearsheimer lập luận rằng, do bản chất của hệ thống quốc tế là vô chínhphủ, không có một chính phủ thế giới bảo vệ các quốc gia khỏi mối đe dọa từ cácquốc gia khác nên nhiều khi các cường quốc sẽ hành động bạo lực để tự giải quyếtcác mối đe dọa Khi mà các lợi ích sống còn của quốc gia bị đe dọa thì LPQT vànhân quyền chỉ chiếm vị trí thứ yếu Những lập luận mang đậm chất Hiện thực củaMearsheimer là tài liệu tham khảo hữu ích khi phân tích về cạnh tranh ĐCL Nga -

Mỹ và phương Tây qua cuộc khủng hoảng tại Ukraine, tuy nhiên chúng cần được

hệ thống hóa và tiếp tục nghiên cứu rộng và sâu hơn

Trong tác phẩm “How the Ukraine crisis ends” (Cuộc khủng hoảng Ukraine kết thúc như thế nào) đăng trên The Washington Post, tháng 3 năm 2014), nhà

ngoại giao kỳ cựu Henry A Kissinger cho rằng, tính đến lịch sử và hiện tại vôcùng phức tạp của Ukraine, Nga và phương Tây cần tránh việc tiếp tục thực hiệncác hành động khiêu khích lẫn nhau, làm phức tạp thêm và leo thang căng thẳngtại Ukraine Ukraine không nên trở thành “tiền tuyến” của bên này để chống lạibên kia, thay vào đó nước này phải đóng vai trò như một cầu nối trong quan hệgiữa Nga và phương Tây

Tiếp đến là học giả Dmitri Trenin với tác phẩm “The Ukraine Crisis and

Resumption of Great - power Rivalry” (Cuộc khủng hoảng Ukraine và sự đối đầu

trở lại của các cường quốc), do NXB Trung tâm Carnegie Moscow – Temmuzxuất bản vào tháng 7/2014, trong đó tác giả cho rằng sự hỗ trợ của phương Tâytrong việc thay đổi chế độ tại Kiev đã trực tiếp đe dọa đến lợi ích của nước Nga,

khiến Nga hành động để bảo vệ “lợi ích sống còn” của mình Ấn phẩm “The

Crisis in Ukraine: Root Causes and Scenarios for the future” (Cuộc khủng hoảng

tại Ukraine: Những căn nguyên và kịch bản cho tương lai) do Câu lạc bộ Valdai

phát hành năm 2014 là một trong những công trình nghiên cứu khá công phu vềkhủng

Trang 20

hoảng Ukraine Các tác giả đã đưa ra bức tranh tổng quát về khủng hoảng Ukraine,chỉ ra các nguyên nhân gây ra khủng hoảng, trong đó đề cập đến những yếu tố tácđộng từ bên ngoài gồm Nga, Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) Tuy nhiên, côngtrình chưa đi sâu về cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ trong cuộc khủng hoảng.

Về tác động của cuộc khủng hoảng Ukraine, các bài viết “Ukraine: Victim of

Geopolitics” (Ukraine: Nạn nhân của địa chính trị) do Tạp chí Trung Hoa về Luật

Quốc tế đăng tải vào tháng 3/2014 của Rein Müllerson, “Ukraine crisis:

International law seriously undermined” (Khủng hoảng Ukraine: LPQT bị xói

mòn nghiêm trọng) do Security and Human Rights phát hành năm 2014 của Arie Bloed và “The Ukraine crisis, Cold War II, and international law” (Khủng hoảng Ukraine, CTL thứ hai, và LPQT) do German Law phát hành năm 2015 của Boris

N Mamlyuk đã phân tích tác động của cuộc khủng hoảng trên phương diện LPQT.Các tác giả đều thống nhất về nhận định rằng, không phải là ý thức hệ mà chính địachính trị mới là mối quan tâm chính yếu trong đời sống CTQT hiện nay, đạo đức

và LPQT chủ yếu được sử dụng như “vỏ bọc” cho cuộc cạnh tranh địa chính trịgiữa các cường quốc trên thế giới Tương lai của hệ thống pháp lý quốc tế, theoquan điểm của những học giả này, sẽ vẫn dựa trên sự cân bằng về lợi ích và giá trịgiữa các quốc gia và nền văn hóa khác nhau

Liên quan đến vấn đề này, ở trong nước có một số công trình tiêu biểu đã được xuất bản và thu hút sự quan tâm của các giới nghiên cứu

Bài viết “Khủng hoảng tại Ukraine và phản ứng của Nga, Mỹ và Liên minh

châu Âu” của tác giả Nguyễn An Hà đăng trên Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số

3/1014 và đặc biệt trong bài viết “Học thuyết quân sự mới của Liên bang Nga năm

2014 và một số tác động” của ông đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số

12/2014, đã chỉ ra rằng, khủng hoảng Ukraine làm suy yếu Nga, làm gia tăng sựhiện diện của Mỹ và phương Tây vào không gian chiến lược của Nga và để đảmbảo an ninh chủ quyền của mình, Tổng thống Putin đã đưa ra Học thuyết quân sựmới với những ưu tiên mới trong chính sách an ninh quốc phòng của Liên bangNga Học thuyết là kim chỉ nam cho cả các chính sách ngoại giao, CSĐN về anninh quốc phòng của Nga

Bài viết “NATO mở rộng về phía Đông từ cuộc khủng hoảng Ukraine” đăng tải

trên website http://nghiencuubiendong.vn ngày 13 tháng 5 năm 2015 cũng là mộtnghiên cứu sâu sắc Bài viết bàn đến những căn nguyên của khủng hoảng Ukraine,tranh chấp nội bộ khó hòa giải ở quốc gia này cũng như những tác nhân bên ngoài,

Trang 21

cuộc đấu tranh địa chính trị, khởi nguồn từ việc NATO mở rộng về phía Đông đãdẫn đến cuộc đọ sức chiến lược giữa Nga với Mỹ và các nước phương Tây.

2.3 Các công trình nghiên cứu về “Cạnh tranh Nga – Mỹ tại Ukraine” và “Xu hướng cạnh tranh Nga – Mỹ”

Trong công trình “The return of Geopolitics” (Sự trở lại của nhân tố địa chính trị) được đăng trên Tạp chí Foreign Affairs, 5/2014, tác giả Walter Russell

Mead cho rằng, cuộc khủng hoảng tại Ukraine là một trong những thí dụ điển hìnhcho thấy sự đối đầu địa chính trị giữa các cường quốc trên thế giới đã trở lại và làtâm điểm trong đời sống CTQT hiện nay CTL kết thúc không phải là dấu chấmhết cho những mối quan tâm về địa chính trị, ngược lại, cạnh tranh và đối đầu địachính trị giữa các cường quốc vẫn luôn hiện hữu và là một đặc trưng của đời sốngCTQT hiện nay

Đứng trên góc độ lập trường của các học giả phương Tây, Stefan Auer trong

bài viết “Carl Schmitt in Kremlin: The Ukraine crisis and the return of

Geopolitics” (Carl Schmitt ở điện Kremlin: Cuộc khủng hoảng Ukraine và sự trở

lại của nhân tố địa chính trị), đăng trên Tạp chí International Affairs, tháng 9/2015

đã tập trung khai thác sự cạnh tranh địa chính trị giữa Nga với các nước phươngTây tại Ukraine, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của Nga đối với cuộckhủng hoảng Do đứng trên lập trường phương Tây, các lập luận trong những bàiviết trên có phần thiên lệch, nhất là khi đề cập đến vai trò của Nga, tuy nhiên, đâycũng là những tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu sâu hơn cuộc cạnh tranh địachính trị Nga - Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine

Công trình nghiên cứu với tựa đề “The Ukraine crisis: a geopolitical power

struggle between Russia and the US” (Cuộc khủng hoảng Ukraine: cuộc đấu tranh

giành quyền lực địa chính trị giữa Nga và Mỹ) của tác giả Anastasia Avetisova doNXB Đại học Linnaeus University – Sweden xuất bản năm 2015 đã góp phần giúptác giả có thêm góc nhìn lý giải nguyên nhân tại sao Nga, Mỹ can thiệp vào cuộckhủng hoảng tại Ukraine

Bên cạnh các tài liệu trên, nghiên cứu sinh đã tham khảo một số bài viết,đánh giá về vấn đề này trên các tạp chí nghiên cứu quốc tế như “Foreign Policy”,

“International Affairs”, “European Foreign Affairs Review”, “Stratfor”, “Russia inGlobal Affairs” …

Liên quan đến vấn đề này, ở trong nước có một số công trình tiêu biểu đãđược xuất bản và thu hút sự quan tâm của các giới nghiên cứu

Trang 22

Đầu tiên phải kể đến cuốn sách chuyên khảo “Mỹ - Nga: Chiến tranh Lạnh

chưa kết thúc” (tập hợp các bài viết thuộc phạm vi chủ đề cuốn sách đã được công

bố trên các ấn phẩm khoa học có uy tín) của Đại tá Lê Thế Mẫu, được Nhà xuấtbản Chính trị quốc gia sự thật xuất bản năm 2017 Cuốn sách chia sẻ với ngườiđọc một góc nhìn về mối quan hệ Mỹ - Nga – hiện tượng vô cùng phức tạp, kịchtính, có ý nghĩa chi phối cục diện chính trị thế giới hiện nay cũng như trong nhữngnăm tới đang vận động không ngừng, năng động và linh hoạt, trong đó tiềm ẩnnhiều yếu tố rất khó đoán định

Tác giả Nguyễn An Hà với bài viết “Quan hệ Nga - Mỹ: một năm nhìn lại”

được đăng trên tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 12/2015; một nghiên cứu khác với

tiêu đề: “Sự điều chỉnh CSĐN của Mỹ, Nga, EU, Trung Quốc nhìn từ cuộc khủng

hoảng chính trị tại Ukraine” của Đại tá Lê Xuân Dương đăng trên Tạp chí Quốc

phòng số 29, Quý I/2015; tác giả Nguyễn Nhâm với tiêu đề “Ukraine - sự đối đầu

của hai chiến lược” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 5(164)/2014;

“Cuộc khủng hoảng Ukraine, cuộc tranh chấp quyền lực của Mỹ - EU và Nga” của hai tác giả Nguyễn Anh Cường và Nguyễn Văn Trung đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu châu Âu số 4 (187)/2016; Tác giả GS.TS Vũ Dương Huân với ba

nghiên cứu “Nhận diện quan điểm của Nga trong hợp tác kinh tế, đầu tư, thương

mại của Trung Quốc ở vùng Viễn Đông nói riêng, nước Nga và hàm ý cho Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 12/2016, “Học thuyết đối ngoại mới của Liên bang Nga năm 2016” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu 7/2017

và “Bầu cử Tổng thống Nga năm 2018” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 3/2018 đã đưa ra những cơ sở để tác giả có thể có những căn cứ, lập luận dự báo

xu hướng phát triển trong quan hệ Nga - Mỹ sau cuộc khủng hoảng Ukraine 2014

Việc phân chia và sắp xếp các tài liệu tham khảo theo 03 vấn đề chính như trên chỉ mang tính tương đối nhằm giúp nghiên cứu sinh có thể khảo sát một cách

có hệ thống những công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến vấn đề Luận

án tập trung giải quyết Các nguồn khảo cứu trên đã làm rõ được các biểu hiện cạnh tranh nói chung giữa Nga và Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine 2013-2014, các khía cạnh tổng quan liên quan đến khủng hoảng Ukraine 2013 - 2014 và một

số hệ lụy, tiếp cận cơ bản về một số thuật ngữ được sử dụng xuyên suốt trong luận

án, lý thuyết về Địa chính trị - ĐCL, những luận điểm cơ bản của CNHT Tuy nhiên, vì lý do nào đó, chưa có một công trình nào hay chưa có tác giả nào tiếp cận giải quyết vấn đề dưới góc độ giao thoa giữa những lập luận của thuyết Hiện

Trang 23

thực và lý thuyết về ĐCL để từ đó làm căn cứ và khung phân tích luận giải cạnh tranh ĐCL giữa Nga – Mỹ cũng như đánh giá được sự trở lại mang tính thực tiễn của ĐCL trong thế kỷ 21 sau sự kiện Nga sáp nhập Crimea và cạnh tranh nước lớn Nga – Mỹ tại Trung Đông thời gian gần đây, đồng thời chưa có công trình nào đi sâu kiểm chứng được khả năng vận dụng của CNHT để đánh giá tính hữu dụng của lý thuyết QHQT này trong trường hợp cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ qua khủng hoảng Ukraine 2013-2014 Đây là một số khoảng trống cần nghiên cứu và luận án có thể đi sâu giải quyết.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xét các ý nghĩa như trên của đề tài, mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõnguyên nhân và biểu hiện cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ thông qua cuộckhủng hoảng Ukraine 2013 - 2014 từ cách tiếp cận của CNHT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, Luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ từ cách tiếpcận của CNHT

- Phân tích làm rõ nguyên nhân của cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ và luận giảinhững biểu hiện của cuộc cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukrainethông qua những chính sách, phương thức hai bên triển khai từ góc nhìn của CNHT

- Đánh giá những tác động của cuộc cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ qua cuộckhủng hoảng Ukraine và dự báo xu thế vận động của cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ trênthế giới đến năm 2024, qua đó khuyến nghị một số gợi ý chính sách của Việt Namtrong QHQT thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Luận án là quan hệ cạnh tranh ĐCL giữa Nga và Mỹ thông qua trường hợp nghiên cứu khủng hoảng Ukraine 2013 - 2014

Để phục vụ phân tích, Luận án cũng nghiên cứu các quan điểm, lý luận có liên quan, nhất là CNHT và cách tiếp cận chính sách từ góc độ lợi ích của Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do đây là chủ đề rộng lớn, nên Luận án chỉ giới hạn trong các phạm vi

nghiên cứu sau:

Trang 24

- Về thời gian: Tập trung khoảng thời gian từ 2013 (mốc khủng hoảng Ukrainebắt đầu manh nha) đến nay, tầm nhìn dự báo đến năm 2024 (Tổng thống Putin kết thúcnhiệm kỳ vào năm 2024) Tuy nhiên, để làm rõ một số nội dung, Luận án có thể sử dụngmột số dữ liệu, thông tin, sự kiện xảy ra trước khoảng thời gian nói trên Ngoài ra, dokhủng hoảng tại Ukraine còn đang tiếp diễn, nên Luận án tập trung vào giai đoạn khi nóbùng phát và tác động của nó xung quanh thời điểm đó.

- Về không gian địa lý: Do là những cường quốc toàn cầu nên cuộc cạnhtranh ĐCL Nga - Mỹ diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới, với những hình thức vàmức độ khác nhau Tuy nhiên, để không bị dàn trải, Luận án tập trung vào khu vực cácnước không gian hậu Xô Viết, trong đó nhấn mạnh đến Ukraine, và không gian cácnước có tham gia vào khủng hoảng và chịu sự tác động từ cuộc khủng hoảng, trong đó

có sự điều chỉnh chính sách sang “Hướng Đông” của Nga tức không gian một số nước

ở khu vực CA-TBD

- Về lĩnh vực nghiên cứu: ĐCL là khái niệm khoa học mang tính liên ngành,

có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực như địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế…Cạnh tranh ĐCL Nga - Mỹ trong Luận án này sẽ tập trung vào các khía cạnh chính trị,quân sự và kinh tế

5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận

- Phương pháp luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương phápluận của CNHT làm trọng tâm Ngoài ra, quan điểm của Đảng ta về các vấn đề quốc tế

và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại cũng là một khía cạnh phương pháp luận của đềtài

- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận nêu trên, Luận

án áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu sau:

+ Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Đây là phương pháp tâm điểm củaCNHT – được sử dụng để triển khai thống nhất, xuyên suốt toàn bộ nội dung củaLuận án trên cơ sở từ góc nhìn của CNHT: đặt quan hệ cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹtrong tổng thể cạnh tranh ĐCL nước lớn, cạnh tranh ảnh hưởng, bá quyền toàn cầuđến bá quyền khu vực, từ hệ thống đến tiểu hệ thống châu Âu … để làm rõ bảnchất đến biểu hiện của cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ nói chung và tại Ukraine nóiriêng, đồng thời áp dụng để phân tích, đánh giá tác động từ cạnh tranh ĐCL Nga –

Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine 2013 – 2014 trên cấp độ phân tích hệ thống:thế giới – khu vực – quốc gia

Trang 25

+ Phương pháp phân tích chính sách: Đây là phương pháp được sử dụngphần lớn để phân tích tư duy hoạch định chiến lược (cụ thể là ĐCL), để từ đó cụ thểhóa được các nội dung trong luận án về: chính sách, biện pháp, phương thức mà Nga

và Mỹ đã áp dụng, triển khai tương ứng để cạnh tranh ĐCL với nhau từ năm 2013 đếnnay và qua cuộc khủng hoảng Ukraine 2013 – 2014

+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Được áp dụng để nghiên cứu trườnghợp cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine 2013 – 2014 để thấy rõđược tính điển hình, nổi bật trong nguyên nhân, bản chất và biểu hiện của cạnh tranhĐCL Nga – Mỹ từ năm 2013 đến nay, đồng thời rút ra được những kết luận khoa học

và kiểm chứng được khả năng vận dụng của CNHT trong việc áp dụng phân tích, luậngiải nguyên nhân, biểu hiện của cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ

+ Phương pháp dự báo: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở Chương 1 vàChương 2, kết hợp tư duy khoa học, logic trên cơ sở tiếp cận khảo cứu thông tinnghiên cứu từ nhiều nguồn chính thống, phương pháp này được áp dụng chủ yếu ởChương 3 cho việc xây dựng cơ sở dự báo để từ đó đưa ra các kịch bản dự báo về

xu hướng vận động cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ đến hết nhiệm kỳ hiện tại của Tổngthống Putin vào năm 2024

+ Ngoài các phương pháp trọng tâm nêu trên, Luận án còn kết hợp sử dụngphương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử - logic, phương pháp so sánh,phương pháp phân tích tài liệu…

- Về cách tiếp cận: Tác giả sử dụng cách tiếp cận hiện thực, cách tiếp cận kếthợp lý luận với kinh nghiệm thực tiễn; cách tiếp cận hệ thống cấu trúc; cách tiếpcận liên ngành, đa ngành

6 Nguồn tài liệu

Luận án sử dụng tài liệu gốc, chính thức của Nga, Mỹ và các nước, tổ chứcquốc tế, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam

Luận án khai thác sách, bài báo, báo cáo khoa học được công bố chính thứctrong và ngoài nước; đề tài khoa học, chuyên đề nghiên cứu của Bộ Ngoại giao,viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Đồng thời, khaithác tài liệu từ phỏng vấn chuyên gia, nhà hoạt động ngoại giao, chính trị gia, họcgiả trong nước và ngoài nước

Luận án khai thác, sử dụng thông tin, số liệu từ trang tin điện tử, cổng thôngtin điện tử của các tổ chức, viện nghiên cứu, hãng thông tấn, báo chí uy tín

Trang 26

- Luận án đã có được khung phân tích kết hợp cách nhìn của CNHT và ĐCL

và vận dụng khung phân tích đó vào cạnh tranh Nga – Mỹ nói chung và ở Ukraine nóiriêng

- Luận án góp phần làm rõ thuyết Hiện thực với vai trò là một lý thuyết chínhtrị quốc tế có ảnh hưởng lớn trên thế giới, nhất là trên khía cạnh có thể vận dụng phântích cạnh tranh địa chiến lược giữa Nga và Mỹ, vốn hầu như chưa được thực hiện tạiViệt Nam Đã kiểm chứng lý thuyết và làm rõ những ưu điểm và hạn chế của cách tiếpcận hiện thực về cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ qua nghiên cứu trường hợpkhủng hoảng Ukraine 2013-2014

- Luận án góp phần nhận diện bản chất cạnh tranh địa chiến lược giữa cáccường quốc tại các địa bàn chiến lược (bao gồm các nước vừa và nhỏ có vai trò địachiến lược quan trọng), qua đó liên hệ với Việt Nam trong phục vụ công tác thammưu, định hướng cho quá trình hoạch định chính sách của Việt Nam (đặc biệt trongquan hệ với các nước lớn) để phù hợp với những xu thế chung của thế giới và điềukiện, hoàn cảnh riêng biệt của nước ta

- Luận án góp phần làm sáng tỏ được những tác động của cạnh tranh địachiến lược Nga-Mỹ trong khung khổ trật tự toàn cầu nói chung cũng như trong khuvực châu Âu nói riêng Bên cạnh đó, Luận án đã đưa ra được những kịch bản dự báocho sự chuyển dịch quyền lực trong tương lai trước những biến động của tình hìnhchính trị nội bộ Mỹ và Nga cũng như những biến động khách quan như sự trỗi dậy củaTrung Quốc

- Luận án góp phần phân tích về khía cạnh cạnh tranh địa chiến lược trongmối quan hệ Nga - Mỹ, làm phong phú thêm góc nhìn cạnh tranh địa chiến lược thôngqua cuộc khủng hoảng Ukraine 2013-2014

- Luận án góp phần đưa ra một số khuyến nghị khả thi đối với Việt Namtrong việc ứng xử, đối phó với sự cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc trên thếgiới nói chung cũng như trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng, vốnđang tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây ra nhiều nguy cơ an ninh cho khu vực

Trang 27

- Luận án không những là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo cho công tácnghiên cứu khoa học và giảng dạy về quan hệ quốc tế của các nhà nghiên cứu, các cơquan, đơn vị có liên quan, mà còn giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, tổng hợp, phântích, đánh giá và nâng cao kiến thức của các cán bộ làm công tác đối ngoại nói chung,cán bộ nghiên cứu về Nga, Mỹ và châu Âu nói riêng.

8 Bố cục của Luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nộidung của Luận án gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh địa chiến lược Nga –

Mỹ từ góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực, trong đó tập trung làm rõ một số tiếp

cận lý luận cơ bản khi nghiên cứu về cạnh tranh ĐCL giữa các cường quốc trongQHQT; làm rõ khung phân tích áp dụng xuyên suốt cho toàn bộ Luận án trên cơ

sở tiếp cận từ lý thuyết của CNHT và lý thuyết ĐCL; làm rõ cơ sở thực tiễn củacạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ; phân tích làm rõ cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ trên cáckhía cạnh cơ bản như: nguyên nhân, động cơ, không gian, phương thức… dướicách tiếp cận từ CNHT

Chương 2: Cạnh tranh địa chiến lược Nga - Mỹ qua cuộc khủng hoảng

Ukraine 2013 - 2014, kế thừa kết quả của chương 1, chương này vận dụng khung

phân tích được lập luận tại chương 1 về thuyết Hiện thực và lý thuyết ĐCL để làm

rõ cuộc cạnh tranh ĐCL giữa Nga và Mỹ (tác giả đã lựa chọn khủng hoảngUkraine 2013-2014 là trường hợp nghiên cứu điển hình để khảo sát cho nghiêncứu về cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ) về: bản chất của cạnh tranh; chính sách, biệnpháp, phương thức mà Nga và Mỹ triển khai giành giật ảnh hưởng để đạt đượcmục đích tại Ukraine

Chương 3: Tác động của cạnh tranh địa chiến lược Nga - Mỹ qua khủng

hoảng Ukraine 2013 - 2014 và xu hướng vận động cạnh tranh địa chiến lược Nga – Mỹ đến năm 2024, tiếp nối chương 1 và 2, chương này tiếp tục làm sâu sắc,

mở rộng và phát triển những nội dung đã được giải quyết ở các phần trên để đánhgiá tác động của cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ qua cuộc khủng hoảng Ukraine và xuhướng vận động cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ đến năm 2024 từ góc nhìn của Chủnghĩa Hiện thực, trên cơ sở đó gợi mở một số hàm ý cho Việt Nam trong quan hệvới các nước lớn, đặc biệt trong ứng xử với cặp quan hệ Nga – Mỹ Đồng thời làm

rõ thêm một số vấn đề liên quan đến việc vận dụng thuyết Hiện thực vào việc phântích cạnh tranh ĐCL Nga – Mỹ

Trang 28

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH

ĐỊA CHIẾN LƯỢC NGA – MỸ DƯỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC

1.1 Cơ sở lý luận và khuôn khổ phân tích

1.1.1 Lý luận về cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc theo thuyết Hiện thực

1.1.1.1 Khái niệm địa chính trị, địa chiến lược và cạnh tranh địa chiến lược

Thuật ngữ “Địa chính trị” (Geopolitics) xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, thuậtngữ “Địa chiến lược” (Geostrategics) xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1942 [47];nhưng cho đến nay, cách hiểu về hai thuật ngữ này vẫn chưa thống nhất cho dùchúng được sử dụng thường xuyên, khá rộng rãi trong giới học thuật và hoạchđịnh chính sách

Để có thể đưa ra khái niệm cơ bản cho hai thuật ngữ trên để làm cơ sở triểnkhai thống nhất nội dung trong luận án, tác giả tiếp cận và khảo cứu một số luậnthuyết chính sau liên quan đến “Địa chính trị” - “Địa chiến lược” cùng với một sốquan niệm của một số học giả, chính trị gia tiêu biểu trên thế giới:

Đầu tiên phải kể đến quan niệm, luận thuyết về bành trướng lãnh thổ, mở

rộng không gian sinh tồn với khái niệm “Không gian sinh tồn” của trường phái

Đức, trước hết là của tác giả người Đức Friedrich Ratzel (1844-1904) Trong cuốn

“Không gian sinh tồn” (Living Space) (1901), ông đã đưa ra khái niệm về nhà

nước hữu cơ, khái niệm không gian, đặc biệt tập trung bàn luận về cách thức mở

rộng không gian quyền lực của một quốc gia và cho rằng, nhà nước, quốc gia –dân tộc giống như các sinh vật để tồn tại và phát triển phải đấu tranh để giànhkhông gian Ratzel đưa ra 7 quy luật về sự bành trướng của các quốc gia, trong đónhấn mạnh “Biên giới là một bộ phận bên rìa của một quốc gia, là công cụ mởđường cho sự tăng trưởng của nhà nước cũng như là pháo đài bảo vệ cho nhànước Biên giới cũng liên quan đến tất cả mọi sự chuyển đổi các tổ chức hữu cơcủa nhà nước” Ông cho rằng, “Không gian” không chỉ là một nguồn lực củaquyền lực chính trị, mà còn là một sức mạnh chính trị Sức mạnh của một quốc giaphụ thuộc vào mối quan hệ của họ với không gian đó” Người có công phát triển

học thuyết Không gian sinh tồn là Rudolf Kjellen (1864-1922), người Thụy Điển, học trò của Ratzel Trong tác phẩm Nhà nước như một cơ thể sống (The State as a

Living Form) xuất bản năm 1899, Kjellen đã nhấn mạnh rằng, một quốc gia muốn

Trang 29

trở nên hùng mạnh thì cần phải có sự “cố kết nội tại”, “ý chí tâm lý dân tộc” vàmong muốn mở rộng “không gian sinh tồn” [48, tr.4-21] Nhưng có lẽ đóng gópquan trọng hơn cả của ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ Địa chính trị và mốiquan hệ của nó với các lĩnh vực khoa học có liên quan, nhất là về khoa học chínhtrị Ông cho rằng, “Địa chính trị như là một khoa học chính trị, trước hết có vànằm trong sự thống nhất của nhà nước Nó là một khoa học về nhà nước giốngnhư nghiên cứu về cơ cấu, thực thể của địa lý, được thể hiện rõ nét nhất, đặc trưngnhất trong không gian Một trong những nhiệm vụ của nó là mang lại một đónggóp cho sự hiểu biết bản chất của nhà nước” [49, tr.4-21] Các luận thuyết củaRatzel và Kjellen được Kalf Haushofer (1869-1946) – một tướng của Đức Quốc

xã phát triển và áp dụng chúng vào thực tiễn Điều đáng chú ý là Haushofer nhấnmạnh tầm quan trọng của sức mạnh quân sự, kinh tế và tư tưởng đối với chủ nghĩadân tộc và với việc mở rộng không gian sinh tồn của một quốc gia Cùng với đó,Haushofer còn đề cập nhiều đến mưu lược, kế sách hành động thực hiện mục tiêuđịa chính trị, nhất là trong thao tác phát động chiến tranh

Thứ hai là luận thuyết về sức mạnh hay quyền lực quốc gia với thuyết về

“Sức mạnh biển” hay “Quyền lực biển”, tiêu biểu là quan điểm của Alfred Thayer Mahan (1840-1914) – tướng hải quân người Mỹ Trong công trình “Ảnh hưởng

của sức mạnh trên biển đối với lịch sử” (1890), Mahan đã hệ thống hóa các thành

tố cấu thành sức mạnh biển của một quốc gia (Gồm 6 thành tố: vị trí địa lý, cấutạo địa hình, quy mô lãnh thổ, quy mô dân số, đặc tính dân tộc và tính cách củachính quyền) Ông cho rằng các điều kiện địa lý tự nhiên và nhân văn trên nếuđược nhìn nhận, đánh giá đúng mức, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, phù hợpvới thời cuộc sẽ làm cho vị thế, tầm chiến lược của địa lý quốc gia mạnh hơn Tưtưởng địa chính trị, nhất là trên khía cạnh thực hành được Mahan nêu rõ hơn trong

hai cuốn “Lợi ích của Mỹ trong sức mạnh biển” (1897) và “Vấn đề của châu Á

-Ảnh hưởng của nó đối với CTQT” (1900) Trong các công trình này, ông cho rằng

sự thống trị thế giới thuộc về những ai giành và duy trì được quyền kiểm soát trênbiển, trong đó lực lượng hải quân đóng vai trò then chốt Một quốc gia có lựclượng hải quân ưu việt hơn có thể đẩy lùi kẻ thù từ đại dương và nhờ đó, bảo vệđược đất nước khỏi bị xâm lăng

Thứ ba là luận thuyết về kiểm soát không gian khu vực và toàn cầu với hai

học thuyết tiêu biểu là (1) “Vùng đất trung tâm” hay “Vùng đất trái tim”

(Heartland) của Halford Mackinder (1861-1947) – nhà địa lý học và chính trị gia

Trang 30

nổi tiếng của nước Anh; (2) “Vùng đất vành đai” (Rimland) của Nicolas J.

Spykman (1893-1943) – học giả, nhà ĐCL người Mỹ gốc Hà Lan Thuyết “Vùng

đất trung tâm” cho rằng, vùng đất trung tâm là khu vực trung tâm của lục địa Á –

Âu rộng lớn, trong đó Trung Á là “trục” của thế giới Châu Âu và châu Á là mộtlục địa “đảo của thế giới” không tách rời nhau Theo Mackinder, ai cai trị đượcchâu Âu thì chỉ huy được Vùng đất trung tâm; Ai thống trị được Trung tâm thì chỉhuy được Đảo thế giới; Ai thống trị được Đảo thế giới thì chỉ huy thế giới” Dựa

trên tư tưởng ĐCL biển của Mahan và thuyết về “Vùng đất trái tim” của Mackinder, Spykman đã đưa ra học thuyết “Vùng đất vành đai”, trong đó tán

thành hầu hết cách giải thích của Mackinder về mối quan hệ giữa lịch sử, địa lý vàchính sách quốc gia trong hình thành quyền lực chính trị, nhưng ông đã phản bác

lại học thuyết về “Vùng đất trung tâm” và theo đuổi học thuyết về “Vùng đất vành

đai” của mình Spykman cho rằng: “Ai kiểm soát vùng vành đai sẽ thống trị Âu –

Á; ai kiểm soát Âu – Á sẽ xác định vận mệnh của thế giới”

Có thể thấy, thứ nhất, các luận thuyết liên quan đến kiểm soát không gian

khu vực và toàn cầu, quyền lực quốc gia là những lý luận thiên về địa chính trị,trong đó bàn về mối tương tác giữa môi trường, điều kiện, địa lý, chính trị vớikhông gian quyền lực trong QHQT thường là của quốc gia Hay nói một cách khácđây là các học thuyết về sự vận động của không gian quyền lực dưới tác động của

nhân tố địa lý và chính trị trong QHQT Các học thuyết “Vùng đất vành đai”,

“Vùng đất trái tim”, không chỉ giải thích sự minh định của địa lý, công cụ bành

trướng không gian, mà còn là cơ sở, định hướng thực hành trong CSĐN của cáccường quốc, trước hết là của Mỹ, Anh trong việc tiếp cận, thiết lập các “trục”, cấp

độ sức mạnh quyền lực của khu vực và thế giới

Nhiều học giả chuyên nghiên cứu về địa chính trị, ĐCL trên thế giới đã đưa

ra cách hiểu về địa chính trị, có thể kể đến: Trong cuốn “Địa chính trị, một lịch sử

lâu dài” (2006) của Yves Lacoste – một học giả Pháp cho rằng, “Địa chính trị

được dùng để chỉ tất cả những gì có liên quan đến sự cạnh tranh quyền lực hoặcảnh hưởng đối với những vùng lãnh thổ và dân chúng sống trên đó” [10, tr.29]

Còn trong cuốn “Introduction to Geopolitics” (Nhập môn địa chính trị) của tác giả

Colin Flint thì cho rằng “Địa chính trị, với tư cách là cuộc đấu tranh nhằm kiểmsoát không gian và địa điểm, tập trung chú ý vào quyền lực” [10, tr.30] Nhà địachính trị, ĐCL Nga A Dugin cho rằng “Địa chính trị - đó là thế giới quan củachính quyền, của quyền lực, là khoa học về quyền lực và để giành quyền lực, đó là

Trang 31

khoa học về cai trị, quyền lực”… [48, tr.23] Phần lớn các nhà nghiên cứu chorằng địa chính trị là một cách tiếp cận khá đặc thù của khoa học chính trị, nghiêncứu về sự vận động không gian quyền lực của một thực thể dưới tác động củanhân tố địa lý và chính trị trong QHQT Xét về mặt lý thuyết, địa chính trị nghiêncứu ảnh hưởng của địa lý đến các mối quan hệ quyền lực trong CTQT Về mặtthực hành, địa chính trị nghiên cứu mưu lược, kế sách hành động, nghệ thuật kiểmsoát không gian của giới cầm quyền dựa trên yếu tố địa lý và chính trị nhằm thựchiện mục tiêu quốc gia, trước hết là mục tiêu quyền lực trong không gian Khíacạnh thực hành này của địa chính trị thường được nhiều người gọi là “Địa chiếnlược” [46, tr.49-51].

Thứ hai, các luận thuyết bàn luận nhiều đến mở rộng không gian sinh tồn

như thuyết “Không gian sinh tồn” của trường phái Đức đã đặt nền móng cho phân

loại, hệ thống hóa các khái niệm, phạm trù cơ bản về “không gian”, “biên giới”,

“lãnh thổ”, “vị trí địa lý” quốc gia cũng như mối liên hệ, vai trò, vị trí của chúngtrong bành trướng lãnh thổ Trong các luận thuyết này không chỉ bàn luận về mặt

lý thuyết về cuộc đấu tranh giành không gian của “Nhà nước hữu cơ”, mà còn gợi

ý các mưu lược, kế sách hành động về quân sự, kinh tế và văn hóa – tư tưởngtrong thực hiện mục tiêu địa chính trị của nhà nước Đây là một trong những lý luậnquan trọng cho cách tiếp cận nghiên cứu về ĐCL và của nhiều chiến lược khác liênquan đến kinh tế đối ngoại, phòng thủ và ngoại giao văn hóa của một quốc gia như địakinh tế, địa quân sự và CSĐN

Nhiều học giả chuyên nghiên cứu về địa chính trị, ĐCL trên thế giới đã đưa

ra cách hiểu về ĐCL Tuy nhiên, để phục vụ mục tiêu nghiên cứu của Luận án, tácgiả đã tiếp cận, tham khảo kỹ lưỡng nhất quan điểm về ĐCL của ZbigniewBrzezinski – một lý thuyết gia thuộc trường phái CNHT trong ngành QHQT, đồngthời là một nhà địa chính trị, địa chiến lược nổi tiếng từ thời CTL Trong cuốnsách “Bàn cờ lớn” (The Grand Chessboard) xuất bản năm 1997, ông chia địa chính

trị Á – Âu ra làm 4 khu vực, đó là: (1) Các nước dân chủ ở châu Âu; (2)

Nước Nga và các nước thù địch, các nước này được ông gọi là các nước hố đen

(Black – hole countries); (3) Các nước Trung Đông và vùng Ban Căng; (4) Các

nước Viễn Đông của châu Á Trong cuốn sách tiếp theo “Sự lựa chọn: Thống trịtoàn cầu hay lãnh đạo toàn cầu” (The Choice: Global Domination or Global

Leadership) xuất bản năm 2004, ông đã cập nhật quan điểm của mình về địa chínhtrị thế giới và các cách thức để thực hiện mục tiêu của Mỹ, trong đó đề cập nhiều

Trang 32

đến quá trình toàn cầu hóa, sự kiện 11/9/2001 và những biến động của tình hìnhthế giới kể từ khi ông xuất bản cuốn “Bàn cờ lớn” [48, tr.19] Trong công trình

“Kế hoạch cho một cuộc chơi: Khuôn khổ ĐCL để triển khai tranh giành quyền

lực Mỹ - Xô” (1996), Z Brzezinski cho rằng “Các thuật ngữ địa chính trị, chiến

lược, ĐCL được sử dụng để diễn tả các nội hàm khác nhau Địa chính trị phản ánh

sự kết hợp giữa yếu tố địa lý và chính trị trong xây dựng vị thế quốc gia hay khuvực, nhấn mạnh những ảnh hưởng của địa lý đối với chính trị Chiến lược chỉ việc

áp dụng một cách toàn diện, có kế hoạch và đưa ra các biện pháp nhằm đạt đượcmột mục tiêu cốt lõi hoặc đối với các cơ sở quân sự quan trọng ĐCL là sự kết hợpnhững tính toán chiến lược với những cân nhắc về địa chính trị” [174, tr.14] Nhưvậy, Brzezinski không coi ĐCL là sự kéo dài hay là một bộ phận của địa chính trị,

mà là sự kết hợp giữa kế hoạch tổng thể có tầm chiến lược của một quốc gia vớimục tiêu xác lập trật tự quyền lực trong một không gian địa lý được xác định củaquốc gia đó Đây là một cách tiếp cận khá rạch ròi hai khái niệm địa chính trị vàĐCL, đồng thời quan điểm này cũng được nhiều người đồng tình Trong khi đó,nhiều học giả khác cho rằng, ĐCL là dùng để chỉ việc nghiên cứu giá trị chiếnlược của các nhân tố địa lý trong CSĐN của một quốc gia và trong quan hệ của nóvới các quốc gia khác… ĐCL là một bộ phận thực hành quan trọng của địa chínhtrị [10] Quan điểm này tương đối phổ biến trong giới học giả hiện nay

Từ cơ sở lý luận của các học thuyết nền tảng và các quan niệm khác nhau củacác học giả trên thế giới, có thể rút ra một số nhận xét sau và đưa ra định nghĩa vềhai thuật ngữ trên để làm tiền đề cho việc triển khai một cách đồng nhất nội dungcủa Luận án

Thứ nhất, địa chính trị và ĐCL có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi với nhau, tuy

nhiên không đồng nhất toàn bộ nội hàm cũng như không phải là bộ phận kéo dài củanhau ĐCL không chỉ nghiên cứu giá trị chiến lược của nhân tố địa lý trong CSĐN

mà còn đưa ra cân nhắc chiến lược dựa trên yếu tố không gian địa vật lý truyền thống

- không gian mạng (gọi tắt là không gian) và cách thức, thao tác thực hiện chúng dựatrên tư duy chiến lược2 tổng thể nhằm thực hiện mục tiêu quốc gia

Thứ hai, các luận thuyết và nhiều định nghĩa của các học giả trên thế giới đều

gắn địa chính trị và ĐCL với mục tiêu quyền lực, do đó có thể thấy đều nhìn từ góc

2 Là cách đặt vấn đề bao quát, logic, hợp lý, nhiều tầng nấc, sáng tạo nhằm đạt được kết quả lớn, có tác động đáng kể, lâu

dài (Theo: Lê Đình Tĩnh, “Bàn về tư duy chiến lược: Lý thuyết, thực tiễn và trường hợp Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế,

số 4 (111), 12/2017, tr.8.

Trang 33

độ lý luận tâm điểm của CNHT để phân tích, đánh giá các yếu tố khác nhau, từcấp độ địa phương, quốc gia đến quốc tế, từ điều kiện tự nhiên, xã hội đến khônggian chiến lược bên trong và bên ngoài của Nhà nước để xây dựng, lựa chọn cácchiến lược nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia trong hợp tác và cạnh tranh quốc tế.

Có thể rút ra định nghĩa như sau:

Địa chính trị nghiên cứu về tác động, mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố không gian, chính trị đối với mục tiêu quyền lực trong QHQT và cả những tương tác phát sinh từ sự kết hợp giữa chúng với nhau.

Địa chiến lược là việc áp dụng các chiến thuật, mưu lược, kế sách hành động dựa trên tư duy chiến lược về không gian và mục tiêu quyền lực trong CTQT tại những địa bàn chiến lược chứa đựng mục tiêu cốt lõi (trước hết là mục tiêu về

an ninh quốc gia) hoặc đối với các cơ sở quân sự quan trọng.

Trong CTQT, khái niệm cạnh tranh được hiểu là tranh đua quyền lực chính

trị… Kết quả của kiểu cạnh tranh này thường dẫn đến tình trạng căng thẳng trêntoàn thế giới và đôi khi có thể biến thành một cuộc chiến tranh [94]

Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu “Cạnh tranh địa chiến lược” trong

QHQT là sự ganh đua, đấu tranh quyền lực của một nước hoặc liên minh các nước với đối thủ của mình về việc áp dụng các chiến thuật, mưu lược, kế sách hành động được hoạch định trong một khoảng thời gian nhất định tại những địa bàn chiến lược cốt lõi nhằm xác lập và duy trì lợi ích trên toàn phương diện (trước hết là mục tiêu đảm bảo an ninh quốc gia) trong CTQT.

1.1.1.2 Quan điểm của thuyết Hiện thực về cạnh tranh địa chiến lược giữa các cường quốc

CNHT là trường phái tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu vềQHQT, có tiến trình lịch sử phát triển lâu đời xuất phát từ các tài liệu củaThucydides về cuộc chiến tranh Peloponese thời Hy Lạp cổ đại Lịch sử hìnhthành và tiến trình phát triển của CNHT có thể được chia thành ba giai đoạn chính.Giai đoạn phát triển đầu tiên kéo dài từ thời cổ đại đến trước Chiến tranh thế giớithứ Hai, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm đầu tiên và đặt nền móng cho

sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết Hiện thực trong các giai đoạn sau này Đạidiện cho giai đoạn này là các nhà tư tưởng quan trọng như Thucydides, NicolloMachiavelli và Thomas Hobbes Giai đoạn thứ hai từ Chiến tranh thế giới thứ Haiđến cuối những năm 1970, là giai đoạn CNHT phát triển và trở thành một lýthuyết về QHQT Nổi bật trong số các học giả trong giai đoạn này là Hans

Trang 34

Morgenthau và Edward Carr, với nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và đượcbiết đến rộng rãi Với công trình “Lý thuyết về CTQT” năm 1979, Kenneth Waltz

đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lý thuyết Hiện thực với sự ra đời củaCNHT mới CTL kết thúc, thuyết Hiện thực mới tiếp tục được bổ sung thêm nhiềuluận điểm quan trọng, và xuất hiện nhiều biến thể mới như CNHT tấn công,CNHT phòng thủ và CNHT tân cổ điển

CNHT cho rằng thế giới được đặc trưng bởi tình trạng vô chính phủ Để tồn tạiđược trong một môi trường vô chính phủ, các quốc gia phải có quyền lực và luôn theođuổi quyền lực, điều đó sẽ giúp quốc gia đảm bảo được an ninh và sự tồn tại củamình, giữ vững được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, và thực hiện đượclợi ích quốc gia trong QHQT Quyền lực trở thành mục đích cơ bản của CSĐN, đồngthời là động cơ chi phối mọi hành vi đối ngoại của quốc gia Các nhà Hiện thực mô tảcuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các quốc gia có mô hình giống với trò chơi cótổng bằng không Theo đó, một quốc gia cố gắng tăng cường quyền lực của mìnhđồng nghĩa với sự suy giảm quyền lực của những quốc gia khác Việc cố gắng theođuổi quyền lực khiến các quốc gia rơi vào thế lưỡng nan về an ninh Các quốc giamuốn tăng cường quyền lực để đảm bảo an ninh thì nguy cơ đe dọa đến an ninh củachính họ càng gia tăng Tình trạng lưỡng nan về an ninh buộc các quốc gia phải luôntìm cách tăng cường quyền lực của mình hơn nữa

CTQT là cuộc đấu tranh giành quyền lực liên tục và không có điểm dừnggiữa các quốc gia Quyền lực vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để triển khai vàđạt được lợi ích quốc gia Tình trạng vô chính phủ khiến cho các quốc gia mấtlòng tin, nghi kỵ lẫn nhau, luôn cảm thấy bất an với toan tính và ý định của cácquốc gia khác Để đảm bảo an ninh cho mình, các quốc gia không ngừng tăngcường tiềm lực quân sự và thiết lập quan hệ liên minh với các nước khác để cânbằng lại các mối đe dọa tiềm tàng Các nhà Hiện thực không loại trừ khả năng cáccường quốc đối địch hợp tác với nhau trong những vấn đề an ninh mang đến lợiích chung, nhưng họ cho rằng sự hợp tác rất khó có thể đạt được Bởi thứ mà cácquốc gia quan tâm trong hợp tác là lợi ích tương đối tức ai sẽ được hưởng lợinhiều hơn, và cũng không có gì để đảm bảo rằng bên còn lại sẽ không bội ước

Hệ thống quốc tế là yếu tố khách quan tác động từ bên ngoài đến QHQT,được cấu thành từ các quốc gia có chủ quyền và sự tương tác lẫn nhau giữa cácchủ thể này Hành vi của các quốc gia trong QHQT cũng như mối quan hệ giữacác quốc gia chịu sự tác động và chi phối rất lớn từ hệ thống quốc tế Trong hệ

Trang 35

thống quốc tế, cấu trúc của hệ thống hay sự phân bổ quyền lực giữa các quốc giatrong hệ thống là yếu tố quan trọng nhất Các nhà Hiện thực cấu trúc cho rằng, hệ

thống quốc tế được đặc trưng bởi tình trạng vô chính phủ, do đó lợi ích quốc gia

là tối đa hóa quyền lực nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình Vì hệ thống quốc tế là

vô chính phủ nên các quốc gia có xu hướng hành động giống nhau trong QHQT,đều tìm cách đảm bảo ANQG thông qua việc tối đa hóa quyền lực của mình

Có thể tóm lược nội dung cơ bản của CNHT như sau: Sống trong môi trường

vô chính phủ, các quốc gia buộc phải mưu tìm quyền lực để cạnh tranh nhằm đảmbảo an ninh cho mình Vì thế, xung đột sẽ là thường xuyên trong QHQT Kết hợp

cả CNHT mới, thì công thức đầy đủ đúc kết được tóm lược sẽ là Quốc gia –Quyền lực – Hệ thống – Xung đột [63, tr.44]

tranh địa chiến lược giữa các cường quốc

Nội dung chính của CNHT đó là: lợi ích là yếu tố căn bản trong QHQT và đảmbảo bằng quyền lực QHQT được mô tả như một cuộc cạnh tranh giành quyền lựcgiữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chất của QHQT, đấu tranhgiành quyền lực là không tránh khỏi do quyền lực nằm trong trò chơi tổng số bằng 0(Zero Sum Game) và sự tồn tại của tình trạng lưỡng nan về an ninh (SecurityDilemma) [63, tr.38] Trong đời sống CTQT, không phải tất cả các quốc gia đều bìnhđẳng như nhau, mà các nước lớn thường nắm vai trò chi phối, định đoạt Nước lớnluôn có thiên hướng chi phối không gian chiến lược xung quanh họ, trong khi nướcnhỏ luôn tìm cách thích nghi và trong nhiều trường hợp phải chấp nhận, cam chịu[77, tr.108] Trong các cuộc xung đột, các quốc gia có thể có lợi ích nhất định nhưngtất cả sẽ thay đổi một khi tương quan so sánh lực lượng thay đổi và xung đột chấmdứt theo hướng có lợi cho họ Liên minh của các quốc gia không bền vững, hôm nay

có thể là bạn bè nhưng ngày mai có thể trở thành đối thủ, thậm chí là kẻ thù và ngượclại chỉ vì lợi ích khác biệt Những khác biệt về lợi ích chính là nguyên nhân dẫn đếnxung đột, cạnh tranh giữa các nước nhất là các nước lớn

Lý thuyết Hiện thực đã đưa ra những lý giải về cạnh tranh, va chạm, xung độtgiữa các nước lớn, ảnh hưởng của nó đến quyền tự quyết dân tộc của các nước nhỏ.Trong môi trường cạnh tranh của các nước lớn vẫn có thể tìm thấy cơ hội hợp tác nếunhư có điểm tương đồng về lợi ích và đạt được sự tin tưởng lẫn nhau [64, tr.14]

Cạnh tranh ĐCL cũng đều nhìn từ góc độ lý luận của CNHT để phân tích,đánh giá các yếu tố khác nhau, từ cấp độ địa phương, quốc gia đến quốc tế, từ điều

Trang 36

kiện tự nhiên, xã hội đến không gian chiến lược bên trong và bên ngoài của Nhànước để xây dựng, lựa chọn các chiến lược nhằm tối ưu hóa lợi ích quốc gia tronghợp tác và cạnh tranh quốc tế Mối quan hệ thứ bậc và trật tự quyền lực trong hệthống quốc tế và nhân tố địa lý luôn được tính đến trong hoạch định và thực thichiến lược kiểm soát không gian [183] Để cạnh tranh quyền lực, tạo ảnh hưởngđối với các vùng địa lý có ý nghĩa chiến lược, các nhà cầm quyền các nước lớn cóthể tạo ra hay huy động, tham gia các luật chơi của nước khác để xây dựng nênnhững thể chế, sức mạnh có lợi cho mình và hạn chế sự lựa chọn của chủ thể khác

về các quyết định có thể được tiến hành nhằm đạt các mục tiêu khác nhau, trong

đó có việc duy trì quyền lực về chính trị, quân sự và kinh tế trong QHQT Nhiềuquốc gia, nhất là các nước lớn đã sử dụng khái niệm lợi ích cốt lõi của mình mỗikhi đơn phương áp đặt ý chí chính trị của họ lên một vùng lãnh thổ nào đó trên địacầu Chính vì vậy, tham vọng có một quyền lực lớn hay cạnh tranh không gianquyền lực vì lợi ích quốc gia – dân tộc thông qua sức mạnh nội tại và tương tácvới thế giới bên ngoài để chuyển hóa, tạo thêm vị thế của mình trong QHQT làmột hằng số, bản chất cốt lõi của CTQT3 và thực hiện lợi ích quốc gia là tối đahóa quyền lực trên một vùng lãnh thổ có ý nghĩa chiến lược là một trong nhữngnhân tố hàng đầu (chiến lược địa lý) tạo nên không gian chiến lược có lợi cho cácnước lớn có tham vọng bá quyền

Lợi ích quốc gia có thể gia tăng hay giảm đi và chúng phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, trong đó có nguồn lực từ không gian địa lý và mối quan hệ với thế giới bênngoài Tính đặc thù của địa lý, tình hình chính trị nội bộ, tình hình kinh tế - xã hội,đặc điểm văn hóa dân tộc và nền văn minh, thẩm quyền trong cộng đồng thế giới –tất cả các yếu tố này vừa là thành tố cấu thành chiến lược, vừa là nội dung của lợiích quốc gia Mở rộng lợi ích quốc gia trong đó có mở rộng lãnh thổ, bành trướnglãnh thổ và mở rộng không gian sinh tồn cũng thuộc phạm trù lợi ích quốc gia, và

để đạt được mục tiêu đó thì cạnh tranh, xung đột là điều tất yếu giữa các quốc gia(đặc biệt giữa các cường quốc) nhằm mục tiêu cạnh tranh vị thế, ảnh hưởng tại cácđịa bàn chiến lược, nhằm làm suy yếu sức mạnh của đối thủ để giảm bớt nguy cơ,mối đe dọa và gia tăng quyền lực của mình

Theo CNHT, có nhiều cơ chế cạnh tranh để duy trì lợi ích ở không gianquyền lực, để chống lại xâm lược từ bên ngoài hay mở rộng lãnh thổ, chinh phục

3 Quan điểm của nhà lý luận tiêu biểu thuộc trường phái CNHT – Hans J Morgenthau.

Trang 37

kẻ khác thì lực lượng quân sự, các biện pháp sức mạnh cứng được ưu tiên và làcông cụ chính để thực hiện Cạnh tranh ĐCL từ góc độ hiện thực nói chung khôngnằm ngoài mục tiêu tối đa hóa quyền lực tại khu vực ảnh hưởng, nhiều trường hợptrong số đó “mở rộng không gian sinh tồn”, bành trướng lãnh thổ nhằm mục đích

(1) tạo ra một quyền lực lớn hơn với không gian địa lý rộng lớn hơn để chiếm thế

áp đảo các quốc gia khác, giảm thiểu nguy cơ bị đe dọa về an ninh hoặc (2) phòngthủ quốc gia, chống lại sự tấn công, tiến sâu vào biên giới quốc gia từ mối đe dọabên ngoài, đảm bảo sự tồn vong của quốc gia mình Do đó, xét một cách tổng thểthì CNHT nhìn vấn đề cạnh tranh ĐCL giữa các cường quốc dưới góc độ mục tiêuANQG, cạnh tranh không gian quyền lực suy cho cùng là giành ưu thế quyền lực

để đảm bảo an ninh cũng như lợi ích một cách hiệu quả nhất trong từng vấn đề, trường hợp, bối cảnh cụ thể

Thuyết Hiện thực đưa ra những gợi ý cụ thể sau về ý đồ và hành vi quốc giatrong cạnh tranh ĐCL giữa các cường quốc trên cơ sở xem xét các thuộc tính của

Bên cạnh đó, các quốc gia trong hệ thống quốc tế cùng có động cơ, mục đíchđảm bảo sự tồn vong của mình Do đó, các nước khác là mối đe dọa tiềm tàng, và

do không có một quyền lực cao hơn để có thể kêu cứu khi bị đe dọa, các nướckhông thể trông vào các nước khác để đảm bảo an ninh của mình Mỗi nước đềucoi mình dễ bị tổn thương, đơn độc và do đó phải tự cứu Điểm nhấn về tự cứukhông loại trừ khả năng các nước lập liên minh [21, tr.199-202] Nhưng liên minhchỉ có tính tạm thời kiểu hôn nhân vụ lợi: thành viên trong liên minh hôm nay có

Trang 38

thể là kẻ thù của nhau trong tương lai, và kẻ thù ngày hôm nay có thể ngày mai trởthành bạn Trong dài hạn, mọi quá trình hợp tác, thậm chí kể cả những hình thứcđối tác cao nhất như liên minh, đồng minh, đối tác chiến lược… đều có thể bị điềuchỉnh, thay đổi hoặc chấm dứt do sự chi phối của sự thay đổi lợi ích Mỹ cùngTrung Quốc và Liên Xô chống Đức và Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ Hai,nhưng sau đó, bạn thù thay đổi và Mỹ lại liên minh với Tây Đức và Nhật chống lạiTrung Quốc và Liên Xô trong CTL Có thể thấy, đặc tính vô chính phủ của hệthống quốc tế luôn tạo ra nguy cơ các quốc gia từ bỏ các cam kết với các quốc giakhác, các nguyên tắc, lý tưởng chính họ tự đưa ra.

CNHT coi tranh giành quyền lực để đạt địa vị bá quyền giữa các cường quốc

là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chiến tranh và xung đột trong QHQT Quốc giasống trong môi trường vô chính phủ nên phải cạnh tranh với nhau Vì phải cạnhtranh nên luôn tồn tại những mối đe dọa từ bên ngoài đối với sự tồn vong của quốcgia Môi trường vô chính phủ là bất biến nên tình trạng xung đột là thường xuyêntrong QHQT Vì thế, quốc gia phải thường xuyên tìm cách nâng cao ANQG để

đảm bảo cho sự tồn vong của mình ANQG trở thành sự quan tâm lớn nhất của

quốc gia và trở thành lợi ích sống còn của quốc gia.

Các nước lớn nhận ra rằng cách tốt nhất đảm bảo an ninh của mình là tronghiện tại phải đạt tới địa vị bá quyền, để có thể triệt tiêu mọi khả năng bị một nướclớn khác thách thức Chẳng có nước nào lại bỏ qua cơ hội trở thành bá quyền bởi

vì cho rằng đã có đủ sức mạnh để tồn tại [32, tr.55] Nhưng thậm chí một nước lớnkhông đủ khả năng để đạt được địa vị bá quyền thì nước đó cũng vẫn hành độngtheo hướng tấn công để tích tụ sức mạnh càng nhiều càng tốt, bởi vì các nước đềumạnh hơn khi có nhiều quyền lực/sức mạnh Suy cho cùng, các nước đều quantâm đến cả phòng thủ lẫn tấn công Điều này dẫn tới một thế giới của sự cạnhtranh an ninh thường xuyên Bên cạnh đó, tình trạng lưỡng nan về an ninh sẽkhiến cho các nước không cảm thấy an toàn tuyệt đối trong thế giới của các nướccạnh tranh nhau, sự cạnh tranh nhau xảy ra, vòng luẩn quẩn giữa lo lắng về anninh và tích tụ sức mạnh cứ thế mà quay [32, tr.56]

Hai là, tầm quan trọng của phạm vi ảnh hưởng đối với mục tiêu bá quyền đã

được John Mearsheimer đề cập trong “Vô chính phủ và cuộc đấu tranh vì quyềnlực”, các nước lớn đều nuôi tham vọng trở thành bá quyền khu vực và quốc tế,dùng “khu vực sân sau” làm bàn đạp để tiến xa hơn Khi giành được vị trí báquyền, nước lớn tìm cách ngăn không cho các nước lớn khác xâm nhập vào vùng

Trang 39

ảnh hưởng của mình Nếu một nước có khả năng làm bá quyền xuất hiện, mà cácnước lớn trong khu vực không có khả năng kiềm chế, nước bá quyền ngoài khu vực

sẽ sử dụng các biện pháp thích hợp để xử lý nước mới nổi lên đó [32, tr.63] Để hiệnthực hóa mục tiêu quyền lực trong cạnh tranh ĐCL, không gian địa lý được các quốcgia khai thác tối đa giá trị chiến lược của chúng đối với thực thi chiến lược cạnh tranhquyền lực Theo thuyết Hiện thực, để đạt được lợi ích quốc gia bằng cách tối đa hóa

quyền lực ở những khu vực địa lý (1) vành đai an ninh, vùng đệm;

(2) những khu vực ảnh hưởng truyền thống, khu vực “sân sau”; (3) những khu

vực, vùng đất, lãnh thổ mới cần chinh phục, thiết lập và mở rộng ảnh hưởng

Những ý tưởng và thực hành gắn liền với chủ quyền là rất quan trọng đối với sựđịnh hình các kiến trúc “Địa chính trị - ĐCL” trên cơ sở các nhà nước, biên giới vàlãnh thổ quốc gia Để đạt được thành công cho một mình sống sót trong các hoàncảnh đầy thử thách, các nhà nước phải giành lấy lãnh thổ và tài nguyên [50, tr.60].Các kế hoạch của Hitler làm bá chủ toàn cầu được miêu tả và lý giải bằng cách thamkhảo những tấm bản đồ (của Mackinder) và câu cách ngôn nổi tiếng: “Ai làm chủĐông Âu thì sai khiến được Đất Trung tâm Ai làm chủ Đất Trung tâm thì sai khiếnđược Đảo Thế giới Ai làm chủ Đảo Thế giới thì sai khiến cả Thế giới”

Muốn có quyền lực lớn tương đối áp đảo đối phương, hành động theo phương thức báquyền khu vực, thế giới thì phải làm chủ không gian địa lý lãnh thổ rộng lớn – tươngxứng với sức mạnh cường quốc; an ninh biên giới quốc gia được đảm bảo vữngchắc… hoặc kiểm soát được vùng “phên giậu”, vùng đệm an ninh chiến lược của đốithủ, áp sát biên giới, vô hiệu hóa ANQG để làm suy yếu “nhà nước hữu cơ” Một nhànước mạnh mẽ, thành công sẽ không bao giờ thỏa mãn với những giới hạn

đang có, và sẽ tìm cách bành trướng về lãnh thổ và bảo đảm “không gian sinh tồn” Cạnh tranh ĐCL cũng đều hướng tới mục tiêu quyền lực, hướng tới địa vị bá

quyền Không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh CNHT, nhiều trường phái QHQTkhác cũng có một số đánh giá tương tự ở một góc độ nào đó Các nhà lý luậnMacxit thường cho rằng, tư tưởng địa chính trị, ĐCL chỉ là những từ hào nhoángđưa ra để biện hộ cho hành động xâm lược và bành trướng của chủ nghĩa đế quốc[45, tr.39], nhiều nhà nghiên cứu về QHQT cũng chung quan điểm và nhận địnhĐCL tạo nên sự phân cấp của hệ thống chính trị thế giới dựa trên chính trị cườngquyền [45, tr.39] Thực tiễn về thực hành ĐCL đã được thể hiện ở chủ nghĩa ĐứcQuốc xã, tư tưởng “anh cả da vàng” của người Nhật trong Thế chiến thứ 2, khái

Trang 40

niệm “Thiên hạ”4 của Trung Quốc từ thời cổ đại cũng như “giấc mộng TrungHoa”5 của Trung Quốc ngày nay [48, tr.20].

Ba là, trong quá trình cạnh tranh, các cường quốc cân nhắc, triển khai, thực hiện

các biện pháp chiến lược, sử dụng các cơ chế cạnh tranh để hiện thực hóa mục tiêuquyền lực của mình tại những địa bàn chiến lược cốt lõi Các quốc gia không chỉhướng tới sự độc lập, tự chủ, quay về bên trong mà còn tìm cách mở rộng ảnh hưởnghướng ra bên ngoài, liên minh hợp tác Lợi ích ANQG sẽ được đảm bảo tốt hơn nếuquốc gia đó có ảnh hưởng trên trường quốc tế Để thực hiện mục tiêu chiến lược, cácnước lớn cạnh tranh ảnh hưởng với nhau ở nhiều không gian chiến lược Các nhà hiệnthực cho rằng “tấn công là cách phòng thủ tốt nhất” bởi việc tạo dựng ảnh hưởng bênngoài chính là khiên chắn từ xa [170, tr.114] Để tăng cường an ninh, thuyết Hiệnthực đưa ra hai phương thức (cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài) [63, tr.42]:

một mặt, các quốc gia luôn cố gắng bảo vệ và nếu có thể nâng cao tính tự chủ, tức là

sự độc lập trên thực tế khỏi các quốc gia khác Họ sẽ tìm cách ngăn chặn ý đồ gây

ảnh hưởng quá mức hoặc kiểm soát của các quốc gia khác Mặt khác, dựa vào các nguồn lực bổ sung để tăng cường an ninh Một trong những nguồn lực đó là ảnh

hưởng quốc tế Một quốc gia có thể tìm cách gây ảnh hưởng lên quốc gia khác mộtcách trực tiếp (song phương) hoặc gián tiếp thông qua các thể chế đa phương hoặcliên minh, hợp tác với các quốc gia khác Tuy nhiên hợp tác chỉ là tương đối vì lolắng về lợi ích tương đối và lừa lọc Các nước lớn không tích cực tham gia hợp tác vì

lo sợ rằng đối phương sẽ đánh lừa mình và giành lợi thế Lo ngại này ảnh hưởng rấtlớn trong lĩnh vực quân sự, bởi vì bản chất của vũ khí tạo ra sự thay đổi nhanh trongcân bằng lực lượng [7, tr.14]

Logic cân bằng quyền lực thường dẫn tới việc hình thành liên minh giữa cácnước và hợp tác chống kẻ thù chung Hợp tác xảy ra khi nó phản ánh sự phân chiaquyền lực và dẹp yên được sự lo ngại về lừa lọc Hợp tác có thể diễn ra trong mộtthế giới có bản chất cạnh tranh – nơi các nước có động cơ giành giật lợi thế so vớinước khác Mỹ và Liên Xô cũng hợp tác với nhau trong Chiến tranh thế giới thứhai, nhưng sự hợp tác đó không ngăn cản CTL bùng nổ ngay sau khi Đức và Nhật

bị đánh bại Hợp tác dù tốt đến đâu cũng không thể loại bỏ được logic chủ đạo vềcạnh tranh an ninh

4 Xuất hiện từ rất sớm, ít nhất từ thời “Xuân Thu chiến quốc”, trong đó coi Trung Quốc nằm ở vị trí trung tâm, là thiên triều thượng quốc có nền văn hóa ưu việt tuyệt đối, còn các vùng, nước khác xung quanh là chư hầu lạc hậu Các nước xung quanh phải “thân phục” vương quốc trung tâm.

5 Được coi như một phần của khái niệm “Thiên hạ” – một học thuyết địa chính trị của Trung Quốc trong bối cảnh mới.

Ngày đăng: 09/12/2020, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w