1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 16 đội tuyển trẻ quốc gia

245 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bàn luận về hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án

Trang 1

ĐỖ ĐÌNH DU

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHO VẬN ĐỘNG VIÊN CỬ TẠ NAM LỨA

TUỔI 15 – 16 ĐỘI TUYỂN TRẺ QUỐC GIA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI - 2020.

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận

án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Tác giả luận án

Đỗ Đình Du

Trang 4

Trang bìa Trang Trang phụ bìa.

Lời cam đoan.

Mục lục.

Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt trong luận án

Danh mục các đơn vị đo lường trong luận án

Danh mục các biểu bảng, sơ đồ, hình vẽ trong luận án

1.1 Cơ sở lý luận về sức mạnh trong Thể dục thể thao 6

1.1.4 Các nguyên tắc cần tuân thủ khi huấn luyện sức mạnh 11

1.2 Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho vận động viên

1.2.2 Phương tiện huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao 17

1.2.3 Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho vận động

Trang 5

vận động viên cử tạ 26

1.4 Phương pháp huấn luyện sức mạnh cho vận động viên cử tạ 29

1.5 Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi 15 – 16 trong huấn luyện vận

1.5.3 Tác động của lượng vận động lên quá trình phát triển thể

Chương 2 Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 52

Trang 6

2.2.7 Phương pháp toán học thống kê 62

3.1 Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia. 66

3.1.1 Nghiên cứu lựa chọn test đánh giá sức mạnh của vận động

3.1.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của vận động viên

3.1.3 Bàn luận về xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia 73

3.2 Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho vận động

viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia. 83

3.2.1 Đánh giá thực trạng sức mạnh và sử dụng bài tập phát triển

sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 -16 đội tuyển trẻ quốc

3.2.2 Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho vận động viên cử

3.2.3 Xây dựng kế hoạch huấn luyện phát triển sức mạnh cho vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia. 95

3.2.4 Bàn luận về lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia 107

Trang 7

cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia. 117

3.3.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm ứng dụng các bài tập phát

triển sức mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ

3.3.2 Đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức mạnh cho vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia. 118

3.3.3 Bàn luận về hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức

mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

BTTL - Bài tập thể lực

Trang 9

3.2 Kết quả kiểm định hai lần phỏng vấn lựa chọn test đánh

giá sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển

3.3 Kết quả kiểm định độ tin cậy của các test đánh giá sức

mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ

3.4 Kết quả kiểm định tính thông báo của các test đánh giá

sức mạnh cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển

3.5 Kết quả kiểm định độ phân tán và tính đại diện của số

trung bình các test đánh giá sức mạnh cho VĐV cử tạ nam

Trang 10

3.6 Tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu đánh giá sức mạnh cho

VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia Sau 72

Trang 11

3.7 Bảng điểm đánh giá sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa

3.8 Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp sức mạnh của VĐV cử tạ

nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia 733.9 Thực trạng sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 -16

3.10 Thực trạng phân loại sức mạnh của VĐV cử tạ nam lứa

tuổi 15 -16 đội tuyển trẻ quốc gia (n = 14) 853.11 Thực trạng sử dụng bài tập phát triển sức mạnh cho VĐV

cử tạ nam lứa tuổi 15 -16 đội tuyển trẻ quốc gia (n = 60) Sau 853.12 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh

cho VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia

3.13 Kế hoạch huấn luyện năm đội tuyển cử tạ trẻ quốc gia Sau 973.14 Khối lượng các bài tập huấn luyện sức mạnh Sau 973.15 Quan hệ giữa tỷ lệ cường độ bài tập và thành tích của

3.16 Sắp xếp lượng vận động cho các chu kỳ huấn luyện Sau 97

Biểu 3.17 Phân phối lượng vận động tập luyện thể lực chung và

3.18 Nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chung 1043.19 Nội dung huấn luyện thời kỳ chuẩn bị chuyên môn 105

3.22 So sánh kết quả kiểm tra ban đầu và sau 3 tháng thực

Trang 12

3.24 So sánh kết quả kiểm tra ban đầu và sau 6 tháng thực

Trang 13

3.29 Diễn biến cấu trúc thành phần cơ thể của nam VĐV cử tạ

theo các thời kỳ trong chu kỳ huấn luyện năm (n = 10) 1273.30 So sánh cấu trúc thành phần cơ thể của nam VĐV cử tạ

theo các thời kỳ trong chu kỳ huấn luyện năm (n = 10) Sau 1273.31 Đặc điểm sức mạnh cơ thể (body strength) của nam VĐV

cử tạ theo các thời kỳ trong chu kỳ huấn luyện năm (n =

Trang 15

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Huấn luyện thể thao (HLTT) là một quá trình sư phạm phức tạp, diễn ratrong thời gian dài liên tục, gồm nhiều giai đoạn mang tính kế thừa lẫn nhau Nộidung của quá trình huấn luyện rất đa dạng, huấn luyện toàn diện cho VĐVnhưng chủ yếu tập trung các mặt như thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý Trong các giai đoạn, các thời kỳ khác nhau, vai trò của chúng lại khác nhau, luôn

có sự biến đổi

Trong thể thao hiện đại việc không ngừng nâng cao thành tích, nâng caochất lượng đào tạo và đào tạo ra những vận động viên (VĐV) có đủ phẩm chấtcủa một VĐV tài năng được đặt lên hàng đầu, được Nhà nước và ngành Thể dụcthể thao (TDTT) đầu tư mạnh mẽ về nhiều mặt… Việc các VĐV đạt thành tíchcao, nhận được những tấm huy chương quốc tế khẳng định uy tín của các Trungtâm đào tạo nói chung và của các huấn luyện viên (HLV)

Trong hoạt động đào tạo VĐV, việc xây dựng kế hoạch huấn luyện, lựachọn bài tập, sắp xếp lượng vận động một cách hợp lý, khoa học, phù hợp vớiđăc điểm đối tượng là yếu tố vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả huấn luyện với sự phát triển năng lực thể thao của VĐV

Cử tạ là một trong những môn thể thao được thi đấu chính thức tại các kỳđại hội Olympic Liên đoàn cử tạ quốc thế giới được thành lập năm 1905, đượcphát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới như: Nga, Bulgaria, Thổ Nhĩ Kỳ,Trung Quốc đối với các môn thể thao khác, bài tập cử tạ là phương tiện bổ trợquan trọng được sử dụng nhiều trong quá trình huấn luyện thể lực Ở Việt Nam

cử tạ là môn thể thao mới được đưa vào tập luyện ở một số đơn vị như: Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, trải qua hơn 20 năm trưởng thành và pháttriển đến nay đã có trên 20 đơn vị tham gia thi đấu, số lượng VĐV tăng theo

Trang 16

hàng năm Những năm đầu tiên mỗi hạng cân thi đấu chỉ có 2 đến 3 VĐV, đếnnay trung bình từ 8 đến 12 VĐV ở tất cả các hạng cân.

Tuy là môn thể thao mới được đầu tư nhưng bước đầu khẳng định được sựđúng đắn thể hiện thông qua những thắng lợi rất vẻ vang tại các đấu trường quốctế: Những tấm huy chương vàng tại các kỳ Sea Games của Nguyễn Quốc Thanh,Nguyễn Thị Thiết, Nguyễn Phương Loan, Dương Thanh Trúc Đặc biệt là tấmhuy chương bạc Olympic 2008 tại Bắc Kinh Trung Quốc của VĐV Hoàng AnhTuấn, là VĐV nằm trong chương trình Thể thao Quốc gia do Trung tâm đào tạoVĐV trường đại học TDTT Bắc Ninh trực tiếp tuyển chọn và đào tạo NgoàiHoàng Anh Tuấn, hiện nay còn có Trần Lê Quốc Toàn, Thạch Kim Tuấn lànhững vận động viên tài năng đang tiếp bước Hoàng Anh Tuấn Đây là dấu hiệukhởi sắc cho sự phát triển môn cử tạ nói riêng và ngành thể thao nói chung

Từ những thắng lợi từ công tác tổ chức thành công SEA Games 2003 tạiViệt Nam đến nay, ngành TDTT Việt Nam đang đứng trước những thách thứcmới đó là vươn mình ra đấu trường châu lục và thế giới Thành tích của cácVĐV cử tạ Việt Nam luôn khẳng định kết quả xuất sắc trong những năm qua.Chính vì vậy mà ngành TDTT đã quyết định đưa môn cử tạ là một trong trong 10môn thể thao nhóm một (nhóm môn thể thao được đầu tư hàng đầu) [13] Cử tạ

là một trong những môn mà các VĐV Việt Nam có cơ hội giành huy chươngChâu lục và Olympic cũng như vô địch thế giới

Cử tạ là môn thi đấu theo hạng cân, yếu tố quyết định thành tích của VĐV

cử tạ là năng lực sức mạnh Trong quá trình huấn luyện sức mạnh, việc lựa chọnbài tập, xác định cường độ, khối lượng vận động có vai trò quan trọng hàng đầu,ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV trong tậpluyện và thi đấu Điều này đặt ra cho các nhà chuyên môn, các HLV và các nhàkhoa học một nhiệm vụ quan trọng là phải nhanh chóng xác định được những

Trang 17

phương pháp, phương tiện tập luyện thích hợp và hiệu quả đối với VĐV cử tạ,các lứa tuổi và trình độ khác nhau.

Hiện tại trong lĩnh vực hẹp của huấn luyện và tuyển chọn trong môn cử tạ

đã có các công trình như: Đỗ Đình Du (2002), “Nghiên cứu ứng dụng hệ thống

bài tập nhằm phát triển sức mạnh tối đa cho VĐV cử tạ lứa tuổi 14-16 trong chương trình thể thao quốc gia tại trường Đại học TDTT I” [22]; Ngô Ích Quân

(2010)“Tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành đến thành tích của VĐV

cử tạ nam giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu”[52]; Đặng Thị Hồng Nhung

(2012), “Tuyển chọn tài năng VĐV môn cử tạ” [41]; Ngô Ích Quân (2009), “Xác

định Test kiểm tra trình độ tập luyện cho VĐV cử tạ giai đoạn chuyên môn hoá sâu”

[51] Tuy nhiên, nghiên cứu về các tố chất thể lực cho VĐV môn cử tạ ViệtNam còn khá hạn chế Trong các môn thể thao khác, đã có nhiều công trìnhnghiên cứu các vấn đề liên quan đến huấn luyện thể lực của VĐV các môn thể

thao như: Ngô Ích Quân (2007), “Nghiên cứu các bài tập phát triển sức mạnh

cho VĐV (lấy dẫn chứng ở môn Vật tự do)”[50]; Trần Tuấn Hiếu (2004),

"Nghiên cứu sự phát triển sức mạnh tốc độ của vận động viên karate-do lứa tuổi

12 – 15" [30]

Là một trong những đơn vị thực hiện chương trình Thể thao Quốc gia môn

cử tạ, trường Đại học TDTT I (nay là trường Đại học TDTT Bắc Ninh) đã bắtđầu tuyển chọn và huấn luyện từ năm 1998, từ năm 2005 tới nay trở thành địađiểm đào tạo VĐV đội tuyển trẻ quốc gia, tuy vậy qua thời gian nhà trường đãtrực tiếp tuyển chọn và đào tạo một số những VĐV tài năng như: Hoàng AnhTuấn, Ngô Thị Ngà, Đỗ Thị Thu Hoài, Ngô Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hải Yến cùng rất nhiều những thành viên đội tuyển quốc gia đều trưởng thành từ trườngĐại học TDTT Bắc Ninh như: Trần Lê Quốc Toàn, Đào Hồng Chiêm, Trần ThịDung, Nguyễn Thị Vân thành tích thi đấu của các VĐV đã được ghi nhận tại

Trang 18

những giải đấu quốc tế và trong nước cùng với những tấm huy chương và những

kỷ lục quốc gia

Tuy nhiên, trong công tác huấn luyện VĐV cử tạ trẻ nói chung, lứa tuổi 15– 16 nói riêng còn tồn tại những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng vàhiệu quả quá trình đào tạo VĐV cử tạ như: việc xác định các phương tiện (bàitập) cũng như lượng vận động huấn luyện còn căn cứ nhiều vào kinh nghiệmhuấn luyện; Việc đánh giá trình độ tập luyện chưa thực sự triệt để, thiếu nhữngtiêu chuẩn đánh giá về trình độ thể lực nói chung về sức mạnh nói riêng củaVĐV…

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức mạnh cho vận

động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia”

Kết quả nghiên cứu của đề tài là thông qua việc lựa chọn các bài tập pháttriển sức mạnh cũng như sắp xếp lượng vận động theo các chu kỳ trong các giaiđoạn huấn luyện và kiểm nghiệm hiệu quả của hệ thống bài tập này trong thựctiễn huấn luyện, sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo,huấn luyện môn cử tạ đội tuyển trẻ quốc gia tại trường đại học TDTT Bắc Ninh

Mục tiêu nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định thực hiện 3 mục tiêusau:

Trang 19

Mục tiêu 1: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh của

VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 - 16 đội tuyển trẻ quốc gia

Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh cho VĐV cử

tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia

Mục tiêu 3: Nghiên cứu hiệu quả ứng dụng các bài tập phát triển sức

mạnh cho vận động viên cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 đội tuyển trẻ quốc gia

Giả thuyết khoa học

Giả thuyết rằng, công tác đào tạo VĐV cử tạ nam lứa tuổi 15 – 16 độituyển trẻ quốc gia còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng của VĐV donhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là việc sử dụng các bài tập sứcmạnh cũng như xác định lượng vận động chưa thực sự hợp lý, khoa học Vì vậy,nếu lựa chọn được hệ thống bài tập phát triển sức mạnh cũng như phân phốilượng vận động hợp lý trong quá trình đào tạo sẽ nâng cao thành tích của VĐV,

từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo VĐV cử tạ đội tuyển trẻquốc gia

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về sức mạnh trong TDTT

Trong nhiều môn môn thể thao, đặc biệt là trong môn cử tạ, sức mạnh làyếu tố quyết định thành tích của VĐV Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đốikháng bên ngoài, hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp Cơ bắp có thể sinh

ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh),giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ).Trong chế độ hoạt động như vậy cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học, các trị sốkhác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loạisức mạnh

Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào: [28], [42], [45]

Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ

Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó

Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co

Theo các tác giả Matveev, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì:

Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt vớicác trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường

Trong chế độ nhượng bộ, khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấphai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh

Trong các động tác nhanh, trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ.Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh (tốc độ) và khả năng sinh lựctrong các động tác tĩnh tối đa không có tương quan với nhau [43], [62]

1.1.1 Cơ sở sinh lý của sức mạnh

Khi số lượng sợi cơ co là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng vàchiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa Lực

đó, được gọi là sức mạnh tối đa, nó thường đạt được trong co cơ linh Sức mạnhtối đa của một cơ phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và tiết diện ngang (độ dầy) của

Trang 21

các sợi cơ Chúng cũng là các yếu tố quyết định độ dày của cơ, hay nói một cáchkhác, là tiết diện ngang của toàn bộ cơ Sức mạnh tối đa tính trên tiết diện ngangcủa cơ được gọi là sức mạnh tương đối của cơ Bình thường sức mạnh đó bằng0.5 – 1kg/cm2 [28].

Trong thực tế, sức mạnh cơ của con người được đo khi co cơ tích cực,nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức Vì vậy, sức mạnh mà chúng ta xemxét thực tế chỉ là sức mạnh tích cực tối đa, nó khác với sức mạnh tối đa sinh lýcủa cơ mà ta cũng có thể ghi được bằng kích thích điện lên cơ Sự khác biệt giữacác sức mạnh tối đa sinh lý và sức mạnh tích cực tối đa được gọi là thiếu hụt sứcmạnh Nó là đại lượng biểu thị tiềm năng về sức mạnh của cơ Ở những người cótập luyện, thiếu hụt sức mạnh giảm đi

Sức mạnh tích cực tối đa (trong giáo dục thể chất thường gọi là sức mạnhtuyệt đối) của cơ chịu sự ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là:

Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi, nhóm này gồm có: [28]

Điều kiện cơ học của sự co cơ, như cánh tay đòn của lực co cơ, góc tácđộng của lực co cơ với điểm bám trên xương;

Chiều dài ban đầu của cơ;

Độ dày (tiết diện ngang) của cơ;

Đặc điểm cấu tạo (cơ cấu) của các loại sợi cơ chứa trong cơ

Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ và cơ.

Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ trước khi co đã đượctrình bày ở các chương trên Đó là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh.Hoàn thiện kỹ thuật động tác chính là tạo ra điều kiện cơ học và chiều dài banđầu tối ưu cho sự co cơ Do sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang (độdày), khi tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ Sợi

cơ là một tế bào đặc biệt rất cao Vì vậy sợi cơ có thể phân chia để tạo ra tế

Trang 22

bào mới Sự phì đại cơ xảy ra chủ yếu là do các sợi cơ có sẵn dầy lên (tăng thểtích) Khi sợi cơ đã dầy lên đến một mức độ nhất đinh, theo một số tác giả, chúng

có thể tách dọc ra để tạo thành những sợi con có cùng một đầu gân chung với sợi

cơ mẹ Sự tách sợi cơ đó có thể gặp khi tập luyện sức mạnh nặng và lâu dài [28]

Sự phì đại cơ xảy ra do số lượng và khối lượng các tơ cơ, tức là bộ máy cobóp của sợi cơ, đều tăng lên Mật độ các tơ cơ trong sợi cơ vì vậy tăng lên đáng

kể Quá trình tổng hợp đạm trong sợi cơ tăng lên, trong khi sự phân huỷ chúnglại giảm đi Hàm lượng ARN và AND trong cơ phì đại tăng cao hơn so với cơbình thường Hàm lượng creatin cao trong cơ khi hoạt động có khả năng kíchthích sự tổng hợp actin và myozin, và như vậy thúc đẩy sự phì đại cơ

Sự phì đại cơ còn chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố sinh dục nam –androgen sinh ra ở tuyến sinh dục nam và vỏ thượng thận

Sự phì đại cơ nêu trên được gọi là phì đại tơ cơ, khác với một loại phì đại

cơ khác là phì đại cơ tương Phì đại cơ tương là một loại phì đại cơ chủ yếu dotăng thể tích cơ tương, tức là bộ phận không co bóp của sợi cơ Sự phì đại nàyphát sinh do hàm lượng các chất dữ trữ năng lượng trong sợi cơ như glycogen,

CP, myoglôbin tăng lên; số lượng mao mạch tăng lên cũng làm phì đại cơ kiểunày Phì đại cơ tương là phì đại cơ thường gặp trong tập luyện sức bên, nó ít ảnhhưởng đến sức mạnh của cơ

Đặc điểm cấu tạo các loại sợi cơ chứa trong cơ là tỷ lệ các loại sợi chậm(nhóm I) và nhóm nhanh (nhóm II – A và II – B) chứa trong cơ Các sợi nhanh,nhất là sợi nhóm II – B, có khả năng phát lực lớn hơn các sợi chậm Vì vậy cơ có

tỷ lệ các sợi nhanh càng cao thì có sức mạnh càng lớn Tập luyện sức mạnh,cũng như các hình thức tập luyện khác, không làm thay đổi được tỷ lệ các loạisợi trong cơ Tuy nhiên, tập luyện sức mạnh có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanhgluco phân nhóm II – B, giảm tỷ lệ sợi cơ nhanh ôxy hoá nhóm II – A và làmtăng sự phì đại của các sợi cơ nhanh [28]

Trang 23

Các yếu tố thần kinh trung ương điều kiển sự co cơ và phối hợp hoạt độnggiữa các cơ trước tiên là khả năng chức năng của nơron thần kinh vận động, tức

là mức độ phát xung động với tần số cao Như đã biết, sức mạnh tối đa phụ thuộcvào số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động Vì vậy để phát lực lớn, hệthần kinh cần phải gây hưng phấn ở rất nhiều nơron vận động Sự hưng phấn đóphải không quá lan rộng để không gây hưng phấn các cơ đối kháng, tức là phảitạo ra sự phối hợp tương ứng giữa các nhóm cơ, tạo điều kiện cho các cơ chủ yếuphát huy hết sức mạnh Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinhtrung ương được hoàn chỉnh dần, nhất là khả năng điều khiển sự phối hợp giữacác nhóm cơ của thần kinh trung ương Các yếu tố này làm tăng cường sức mạnhchủ động tối đa đáng kể

1.1.2 Phân loại sức mạnh

Có nhiều cách phân loại sức mạnh, nếu căn cứ vào chế độ hoạt động của

cơ thì sức mạnh chia làm hai loại: Sức mạnh động lực và sức mạnh tĩnh lực(đẳng trương và đẳng trường) Sức mạnh động lực lại được chia thành sức mạnhtối đa, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền [18], [42], [46], [63]

Để so sánh sức mạnh của những người có trọng lượng khác nhau, người tathường sử dụng khái niệm sức mạnh tương đối, tức là sức mạnh của một kilôgamtrọng lượng cơ thể

Sức mạnh tương đối = Sức mạnh tuyệt đối/Trọng lượng cơ thể

Sức mạnh tuyệt đối có thể đo bằng lực kế hoặc trọng lượng tạ tối đa màVĐV khắc phục được Ở những người có trình độ tập luyện tương đương nhưngtrọng lượng cơ thể khác nhau thì sức mạnh tuyệt đối tăng hơn theo trọng lượng,còn sức mạnh tương đối lại giảm đi Có thể dễ dàng thấy rằng ở một số môn thểthao như cử tạ hạng nặng thì sức mạnh tuyệt đối có ý nghĩa quyết định thànhtích Trong các môn chạy, bơi hoặc các môn thi đấu theo hạng cân thì sức mạnhtương đối có ý nghĩa đặc biệt quan trọng [18], [36], [46], [63]

Trang 24

Theo D Harre, trên cơ sở đặc điểm và yêu cầu của các môn thể thao khácnhau, năng lực sức mạnh được phân thành: Sức mạnh tối đa; Sức mạnh - nhanh;Sức mạnh - bền.

Theo nghĩa rộng, năng lực sức mạnh tối đa có thể là năng lực xác địnhthành tích (như đối với môn cử tạ) Tuy nhiên, nếu quan sát một cách chính xácthì năng lực sức mạnh tối đa là một đại lượng đo lường cho phần sức mạnh củanăng lực sức mạnh - nhanh hoặc của sức mạnh - bền [18], [42], [46], [63]

Cũng theo D Harre, năng lực sức mạnh tối đa là sức mạnh cao nhất màVĐV có thể thực hiện được khi co cơ tối đa và theo ý muốn Người ta cần cácgiá trị tuyệt đối cao nhất về năng lực sức mạnh tối đa cho các môn thể thao trong

đó cần khắc phục lực cản bên ngoài lớn như vật, cử tạ [18], [42], [46], [63]

Trong các loại sức mạnh trên, do tính chất vận động khác nhau nên có thểxem cách phân chia đó là cách phân loại cơ bản của các năng lực sức mạnh:

Năng lực sức mạnh tĩnh lực: Là sức mạnh mà VĐV thực hiện được trongcác động tác tĩnh hoặc dùng sức tối đa

Năng lực sức mạnh tối đa: Là sức mạnh động lực lớn nhất mà VĐV thựchiện được khi co cơ tối đa

Năng lực sức mạnh tốc độ: Là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ cơcao của VĐV

Năng lực sức mạnh bền: Là khả năng hoạt động sức mạnh kéo dài, thểhiện ở việc duy trì hiệu quả sử dụng kỹ thuật đến cuối trận đấu

Ngoài ra còn có sức mạnh bột phát: Là năng lực biểu hiện trị số sức mạnhlớn nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất Đây là một dạng quan trọng của sứcmạnh trong môn cử tạ [18], [42], [46], [63]

1.1.3 Khuynh hướng phương pháp huấn luyện sức mạnh

Trên cơ sở phân loại sức mạnh có các khuynh hướng huấn luyện sau:

Sử dụng trọng lượng tối đa và gần tối đa

Trang 25

Khắc phục trọng lượng chưa tới giới hạn với số lần lập lại cực hạn.

Sử dung trọng lượng chưa tới mức tối đa với tốc độ cực đại

Ngoài ra người ta còn sử dụng các bài tập tĩnh trong huấn luyện sức mạnh[18], [42], [46], [63]

1.1.4 Các nguyên tắc cần tuân thủ khi huấn luyện sức mạnh

Để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong quá trình huấn luyện sức mạnhcần tuân thủ các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc vượt phụ tải: Tăng dần phụ tải và cố gắng thực hiện cho tớikhi vượt qua phụ tải để đạt được “hồi phục vượt mức”

Nguyên tắc tăng dần lực cản: Tiến hành theo quy luật tăng trưởng tố chấtsức mạnh, thường người mới tập ban đầu dùng trọng lượng trên 40% phụ tải tối

đa, sau đó tăng dần số lần tập và số tổ, tăng trọng lượng… Tuần tự tăng dần.Như vậy, mỗi tuần tập 3 buổi, liên tục trong 6 tuần sẽ thấy hiệu quả

Nguyên tắc tính hệ thống: Trước tiên tập cho các nhóm cơ lớn, sau đó tậpcác nhóm cơ nhỏ Nên tập luyện thay phiên nhau với các nhóm cơ khác nhautrên toàn thân Thông thường tuần tự tiến hành bắt đầu từ mông, sau đó là ngực,cánh tay, lưng, đùi, cẳng chân và khu mắt cá chân (cổ chân), vai, tiếp theo làphía sau cánh tay, bụng, cẳng tay, ngón tay, ngón chân Dựa vào tuần tự nhưvậy mà tập luyện vượt phụ tải, không chỉ nhanh chóng thu được hiệu quả mà cònphát triển nhịp nhàng đồng đều các nhóm cơ trên toàn cơ thể [18], [42], [46],[63]

Nguyên tắc tính chuyên môn: Kết hợp chặt chẽ với kỹ thuật chuyên môn,đạt được vừa tăng trưởng sức mạnh vừa nắm vững được kỹ thuật Trong mộtbuổi huấn luyện, có thể cùng lúc tiến hành huấn luyện sức mạnh tối đa, sứcmạnh tốc độ, sức mạnh bền Thông thường lấy hai loại sức mạnh là thích hợp.Tuần tự tập luyện là: Sức mạnh tối đa → sức mạnh tốc độ → sức mạnh bền,hoặc là sức mạnh tốc độ → sức mạnh tối đa → sức mạnh bền

Trang 26

Trong giảng dạy và huấn luyện, mỗi buổi lên lớp cần chuẩn bị kế hoạchchi tiết và dự kiến sử dụng các bài tập cụ thể, đem vận động chia thành các tổnhỏ, mỗi một tổ nhỏ sắp xếp 1 loại bài tập Sau khi thực hiện xong một bài tậpthì đổi bài tập khác có quan hệ tương hỗ, cho đến khi mỗi một tổ nhỏ được hoànthành cũng là hoàn thành một vòng tuần hoàn Mỗi một giờ lên lớp cần căn cứvào kế hoạch để tiến hành sắp xếp các bài tập Để tránh được các tác dụng phụthì phương án huấn luyện phát triển sức mạnh nên phù hợp với tiềm lực và nănglực cá nhân của VĐV [18], [42], [46], [63].

1.1.5 Thời kì mẫn cảm phát triển sức mạnh

Thời kì mẫn cảm phát triển sức mạnh là chỉ yếu tố lực trên cơ sở sinhtrưởng phát triển cơ thể tự nhiên thời kì thanh thiếu niên, ở những giai đoạn độtuổi riêng phát triển tương đối nhanh, thể hiện ra thời kì tốt nhất để phát triển.Thời kì mẫn cảm phát triển sức mạnh là căn cứ quan trọng để chọn nhân tài.Huấn luyện cử tạ nhất thiết kịp thời lợi dụng thời kì này, phát triển hoàn toàn sứcmạnh mà chuyên môn yêu cầu, tạo cơ sở cho việc lập nên thành tích vượt trội[15], [18]

Thời kì mẫn cảm phát triển yếu tố sức mạnh tuổi thiếu niên là: nữ từ 11-15tuổi, nam từ 12-16 tuổi

Tăng trưởng sức mạnh tuyệt đối của nữ có thể chia thành 4 giai đoạn:

10-13 tuổi, tăng trưởng sức mạnh rất nhanh (đặc biệt là cơ gấp), sức mạnh tuyệt đối

có thể tăng đến 46%; 13-15 tuổi, tốc độ tăng trưởng giảm xuống, chỉ tăng 8%;15- 16 tuổi, tăng 14%; 16- 21 tuổi, tăng 6% [15], [18]

Sức mạnh tuyệt đối của nam tăng trưởng nhanh ở thời kì (12-16 tuổi), bìnhquân tăng trưởng 57.5%, 17-20 tuổi, tốc độ tăng trưởng giảm xuống, chỉ tăng36.6 %; 21-22 tuổi, tăng 9.6%; khoảng 25 tuổi, đạt được lực mạnh nhất

Sức mạnh tương đối ở nam nữ phát triển tương đối bình ổn, ví như từ

12-14 tuổi, mỗi nắm chỉ tăng 2-3 % Tạo thành nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng

Trang 27

này là thể trọng tăng tưởng khá nhanh, khi chiều cao phát triển nhanh nhất, tiếtdiện ngang tăng lên khá ít, khi chiều cao phát triển chậm lại, cơ lại tương ứnglàm thể trọng tăng lên [15], [18].

Sức mạnh tốc độ: 7-14 tuổi lực tốc độ tăng rất nhanh, sau 14 tuổi ở nam

tốc độ tăng trưởng vẫn nhanh, nhưng biên độ tương ứng ở nữ lại nhỏ Đến 16- 17tuổi, tốc độ tăng trưởng bắt đầu chậm lại, hiện tượng này với nam, nữ thời kìbước vào tuổi trưởng thành tuyến nội tiết bắt đầu cấp tốc bài tiết hữu quan (DiênPhong, 1990)

Sức mạnh bền: Nữ từ 7-13 tuổi tăng trưởng theo đường thẳng, sau 13 tuổităng trưởng bắt đầu chậm, từ 14 tuổi trở đi thậm chí có hiện tượng giảm đi, đây

là vì hình thành thời kì trưởng thành đến sức mạnh bền bị tác động mạnh Nam

từ 7-17 tuổi, lực chịu đựng về cơ bản thể hiện tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ [15],[18]

1.2 Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ

1.2.1 Đặc điểm, xu hướng phát triển của môn cử tạ

1.2.1.1 Đặc điểm của môn cử tạ

Vận động cử tạ có lịch sử lâu đời, ra đời và phát triển dựa trên cơ sở sinhhoạt tồn tại, lao động sản xuất, cuộc sống sinh hoạt của con người, cũng có mốiliên quan mật thiết của sự phát triển đấu tranh quân sự, là nội dung quan trọngtrong rèn luyện thân thể, phát triển sức mạnh

Hơn trăm năm nay, mặc dù về cử tạ của mỗi nước là khác nhau, nhưng nộidụng cơ bản tương đồng, vận động cử tạ bao gồm động tác cơ bản nâng vật nặnglên, cũng có chức năng phát triển sức mạnh, rèn luyện thân thể

Cử tạ là môn thi đấu thể thao được phân theo thể trọng (hạng cân), vớicách thức thi đấu cử giật và cử đẩy, với trọng lượng lớn nhất làm tiêu chuẩnđánh giá thành tích Lãnh đạo tổ chức mang tính thế giới của cử tạ là Liên đoàn

cử tạ thế giới (IWF) được thành lập năm 1905 Cử tạ có những đặc điểm sau:

Trang 28

Thứ nhất: Bài tập mang nặng Khi luyện tập cử tạ, con người phải vácnặng và không ngừng tăng lên, thậm chí đạt được tải trọng lớn nhất Đây là đặcđiểm cơ bản của môn cử tạ Bởi vì thường xuyên tiến hành luyện tập mang vácvật nặng, đặc điểm phương thức dùng lực trong một khoảng thời gian ngắn nhấtvới đặc tính dùng lực lớn nhất, về kỹ thuật thì có những nguyên tắc kỹ thuật làgần, nhanh, thấp, ổn và tính phối hợp, biểu hiện ra các hiện tượng tiết kiệm (bởi

vì trong kỹ thuật càng tiết kiệm lực càng đưa được vật nặng), vì vậy hệ thốngtrung khu thần kinh vừa mạnh vừa tập trung, thành phần hóa học của các cơ bắp

sẽ phải có những biến đổi tương ứng Ví dụ lượng protein cũng phải gia tăng,đồng thời sợi cơ dày, thể tích cơ bắp tăng lên, về phương diện hít thở cũng biểuhiện ra ở những đặc trưng dùng lực mạnh nhất Bởi vì luyện tập vác nặng, saukhi huấn luyện xong cho dù là cơ khung xương hay là hệ thống trung khu thầnkinh đều biểu hiện ra ở sự mệt mỏi cao độ, vì vậy chú ý tiêu hao mệt mỏi

Thứ 2: Căn cứ vào độ tuổi, giới tính phân nhóm, căn cứ vào thể trọng(hạng cân) tiến hành thi đấu Cội nguồn sức mạnh là cơ bắp, tỉ lệ cơ bắp chiểmthể trọng càng lớn, sức mạnh càng lớn Các giai đoạn tuổi của con người, tỉ lệ cơbắp chiếm thể trong được chia như sau: Mới sinh chiếm 16.6%, 3 tuổi là 21%, 6tuổi 21.7%, 8 tuổi 27%; 12 tuổi 29%; 15 tuổi tiệm cận 33.3% Ở đàn ông bìnhthường thì cơ bắp chiếm 43.5% tỉ trọng cơ thể Vì vậy, cử tạ theo tuổi phần thànhnhóm thiếu niên 13-17 tuổi, nhóm thanh niên 18-20 tuổi, nhóm thành niên 20tuổi trở lên, căn cứ theo thể trọng thì nam chia thành 8 cấp, nữ chia thành 7 cấp

Thứ 3: Tính linh hoạt của yêu cầu sàn đấu, dụng cụ thiết bị tương đối lớn.Yêu cầu về sàn đấu, dụng cụ, thiết bị của thi đấu quốc tế, trong nước tương đốicao, quy định phải có sàn cử tạ, hệ thống đèn trọng tài điện tử, đồng hồ tính giờ,màn hình hiển thị điện tử, máy chiếu, khu hoạt động chuẩn bị, phòng đo cânnặng, phòng kiểm tra chất kích thích thì mới có thể tiến hành thi đấu Những trậnthi đấu cử tạ trong phạm vi nhỏ, bình thường thì chỉ cần 1 sàn thi đấu cử tạ bằng

Trang 29

gỗ 4m2 hoặc 1 khu đất rộng 4m2, có tạ tiêu chuẩn, có 1 tấm bảng nhỏ là có thểtiến hành thi đấu Những hoạt động thi đấu cử tạ mang tính đại chúng, chỉ cần có

tạ phổ thông, hoặc dùng ống sắt bên trên có bánh răng và cả những dụng cụ tạ

đá, tạ tay máy tập thể dục là có thể tiến hảnh rèn luyện [24], [47]

1.2.1.2 Xu hướng phát triển của môn cử

tạ Trình độ cử tạ không ngừng tăng cao

Cùng với sự phát triển không ngừng của cử tạ, những thành quả kỹ thuậtmới, lý luận khoa học, những ứng dụng không ngừng của phương pháp huấnluyện, trình độ cử tạ không ngừng tăng cao Trong điều kiện khoa học kỹ thuậthiện đại, nhưng chỉ cần có kỷ lục thế giới, con người không ngừng tiệm cận nó,

và nỗ lực vượt qua nó Chỉ có điều phải trải qua rất nhiều gian khổ, thời gian dài

Coi trọng khoa học tuyển chọn tài năng, chú trọng phát triển tiềm lực

Sự phát triển của cử tạ hiện đại, yêu cầu đối với năng lực vận động ngàycàng cao, phải dựa vào sự vận động nỗ lực gian khổ hy sinh mới có thể đạt đượcmục đích Vì vậy những thiếu niên nhi đồng có năng khiếu bẩm sinh thì cần phảiluyện tập từ sớm, giảm thiểu tỉ suất đào thải, tạo thành điều kiện tạo nên nhữngVĐV ưu tú Từ những năm 60 của thế kỷ 20, VĐV cử tạ ngày càng trẻ hóa, đếnnăm 80 của thế kỷ 20, tuyển chọn độ tuổi thường ở khoảng 10-12 tuổi Tuổi bìnhquân đạt trình độ thế giới là khoảng 21 tuổi ở nam và tầm 20 tuổi ở nữ Tuổi bìnhquân đạt huy chương vàng Olympic của nam là trước 27.9 tuổi tới 24.5 tuổi.Việc tuyển chọn VĐV không chỉ chú ý điều kiện thân thể bên ngoài mà còn chú

ý tiềm lực nội, đặc biệt là trình độ testosterone cao Tuyển chọn những VĐV cónăng khiếu bẩm sinh, có tiềm lực phát triển là cơ sở quan trọng để đạt đượcthành tích cao

Huấn luyện chuyên nghiệp, tăng cường rèn luyện

Cuối những năm 60 của thế kỷ 20, những lớp huấn luyện cử tạ lần đầu tiênđược tổ chức ở Bulgari, được rất nhiều VĐV lựa chọn Lượng vận động lớn

Trang 30

không chỉ biểu hiện ở nhiều bài học mà còn chú ý đến nội dung rèn luyện và đặcđiểm từng cá nhân, các phương thức tập luyện tập trung, rèn luyện chuyên tâm

và nguyên tắc kiên trì ít nhưng tinh xảo Hiện tại canh tranh trên thi đấu trườngquốc tế ngày càng mãnh liệt, sự chênh lệch về trình độ giữa các VĐV ngày càngnhỏ Cường độ thi đấu ngày càng lớn, yêu cầu đối với VĐV ngày càng cao, yêucầu về rèn luyện cũng ngày càng nghiêm khắc Để thích ứng với phụ tải thi đấu,tạo ra thành tích cao, hiện tại huấn luyện những VĐV ưu tú, chú trọng cường độtập luyện, chú ý ít nhưng tinh luyện, rèn luyện nhiều, cường độ cao, lượng vậnđộng lớn Phụ tải tập luyện không ngừng gia tăng, sự nỗ lực ý chí lớn

Hoàn thiện kỹ thuật cử tạ.

Từ năm 1891-1972, kỹ thuật thi đấu cử tạ ở Olympic trước sau có cử 1tay, cử giật cử đẩy 1 tay, cử tạ 2 tay, cử giật và cử đẩy 2 tay Kể từ năm 1973 thì

có cử giật và cử đẩy 2 tay Trong đó cử giật ở vị trí cao cho đến cử ngồi xổm Cửđẩy 2 tay từ phần bụng lên phần ngực

Ứng dụng khoa học và công nghệ trong đào tạo, huấn luyện

Sau những năm 80 của thế kỷ 20, sự phát triển nhanh chóng của khoa học

kỹ thuật hiện đại những thành quả kỹ thuật cao, tri thức mới và tính vận dụng vàthẩm thấu toàn diện của lĩnh vực TDTT đối với nâng cao trình độ cử tạ phát huytác dụng rất lớn Trong lý luận mới, trong phương pháp cách thức huấn luyệnmới, nâng cao tính hệ thống hóa, trình độ khoa học hóa của môn cử tạ làm cho

sự sắp xếp và quản lý huấn luyện càng tinh xảo, định lượng Ví dụ, vận dụngđịnh lượng lực học sinh vật phân tích động tác kỹ thuật VĐV, làm cho nó cànghoàn thiện hợp lý, kiểm tra chỉ tiêu sinh lý hóa học, giám sát trạng thái sức khỏeVĐV, vận dụng khoa học dự đoán, nghiên cứu quy luật tăng trưởng thành tíchvận động viên, sử dụng nhạc cụ huấn luyện tiên tiến, thiết bị và dụng cụ, cải tiếnphương thức huấn luyện, vận dụng vật lý, tâm lý, phương thức hóa học, thúc đẩyhồi phục cơ thể và tăng cường chức năng, vận dụng khoa học kỹ thuật, chuẩn

Trang 31

đoán nghiên cứu định kỳ, đó là những nội dung không thể thiếu Tóm lại, tổnghợp vận dụng khoa học ngày càng phổ biến, trình độ khoa học hóa huấn luyệnngày càng cao Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong tương lai, kỹthuật thông tin, kỹ thuật trình độ sinh học và sự sáng tạo trong khoa học kỹ thuậtngày càng đột phá đều mang lại những sự tiến bộ cho sự phát triển của cử tạ thếgiới [24], [47].

1.2.2 Phương tiện huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao

Trong giáo dục thể chất (GDTC) và HLTT, để huấn luyện thể lực choVĐV, người ta sử dụng các bài tập thể lực (BTTL) BTTL là những hoạt độngvận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích ,phù hợp với quy luật GDTC Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụGDTC và tinh thần của con người Không phải bất cứ hoạt động nào cũng đượccoi là bài tập thể lực Trong đời sống hàng ngày, sự vận động của cơ thể conngười rất đa dạng: Đi chạy, nhảy, mang vác vật nặng và rất nhiều loại hình laođộng chân tay khác nhau Có thể nói rằng BTTL dựa trên những kỹ năng vậnđộng cơ bản của con người và những động tác trong lao động mà con người gọi

là những bài tập vận động tự nhiên (đi, chạy, nhảy, ném, leo, trèo) nhưng cónhững hình thức và nội dung hoàn toàn khác so với lao động chân tay và được sửdụng một cách có ý thức, chủ yếu nhằm hoàn thiện thể chất con người để chuẩn

bị cho lao động và đời sống [6], [27], [31], [42], [59], [63], [65]

Các BTTL được xây dựng phải phù hợp với mục đích, nhiệm vụ của quátrình huấn luyện, giảng dạy Tính mục đích của các bài tập trong huấn luyện thểhiện ở chỗ chúng có tác dụng nhằm phát triển thành tích của người tập

Các BTTL được sử dụng một cách thích hợp để phát triển các tiền đềthành tích cần thiết cho thi đấu hoặc kỹ thuật phải phù hợp với yêu cầu của cấutrúc bài tập, khả năng chịu đựng lượng vận động phải được nâng cao một cáchliên tục Thành tích thể lực được phát triển một cách nhanh chóng, tối ưu qua

Trang 32

quá trình hồi phục nhanh Thồn qua việc xây dựng hợp lý từng BTTL, cũng nhưviệc phân chia tối ưu khối lượng vận động của từng bài tập hoặc nhóm bài tập.

Từ đó, có thể đảm bảo cho người tập phát triển đầy đủ những năng lực cần thiếtcủa họ trong lứa tuổi đạt thành tích cao nhất [6], [27], [31], [42], [59], [63], [65]

Sự khác nhau của các BTTL được sử dụng trong huấn luyện không chỉ căn

cứ vào hình thức của quá trình vận động, mà cần phải quan tâm đến sự khácnhau trong các đặc điểm Các bài tập riêng lẻ khác với các điều kiện thi đấuchuyên môn ít hoặc nhiều không chỉ ở hình thức của quá trình vận động mà cònphụ thuộc ở đặc điểm lượng vận động và những đặc điểm riêng khác …

Ví dụ: Tính liên hợp và tính phức tạp trong khối lượng vận động Vì vậy,mỗi bài tập chỉ giải quyết được một số nhiệm vụ nhất định trong phát triển thểlực và một số năng lực khác cho người tập Từ đó có thể nhận thấy các BTTL cóvai trò quan trọng mang tính quyết định đối với yêu cầu của lượng vận động vàrất có ý nghĩa với các yêu cầu

BTTL được tạo thành các động tác cụ thể tăng cường thể chất , nâng caotrình độ thể thao hoặc vui chơi giải trí, nhưng không phải động tác nào cũng trởthành BTTL chỉ có những động tác trong phương tiện được dùng để thực hiệncác mục đích và nhiệm vụ của GDTC mới được gọi là BTTL, những động tác đóphải phù hợp với yêu cầu và có lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ GDTC

Trong điều kiện hợp lý BTTL có thể giúp tăng cường quá trình trao đổi cởsở( đồng hóa và dị hóa) trong cơ thể cũng như thúc đẩy quá trình hồi phục vànăng lực thích ứng đồng thời qua đó còn phát triển các kỹ năng và năng lực vậnđộng nhất định, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức, ý chí… đó chính là đặc điểm, tácdụng cơ bản của BTTL [6], [27], [31], [42], [59], [63], [65]

BTTL được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ GDTC đáp ứng nhu cầu thểchất và tinh thần của con người Vậy, có thể nói BTTL chuyên môn là nhữngđộng tác vận động đặc thù, được lựa chọn và sắp xếp theo một trình tự hợp lý

Trang 33

nhằm phát triển một số TCTL nào đó Những động tác này được ccas nhàchuyên môn sáng tạo ra một cách có chọn lọc phù hợp với các nguyên tắc củacông tác huấn luyện thể lực (HLTL) cho người tập, nhờ đó mà nhiệm vụ HLTLtrong công tác huấn luyện được giải quyết một cách tốt nhất.

Để có thể điều khiển tốt việc sử dụng một cách có trọng điểm các bài tậpphải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản trong từng giai đoạn huấn luyện và phải chú ýtới thời gian ảnh hưởng tối ưu của từng bài tập Muốn làm được điều đó trongquá trình HLTL, cần phải nắm vững các vấn đề sau:

Nội dung bài tập thể lực

Hình thức của bài tập thể lực

Chất lượng bài tập thể lực

Cường độ của lượng vận động

Khối lượng của lượng vận động

Thời hạn của lượng vận động

Các phương pháp thực hiện lượng vận động

Cấu trúc của lượng vận động [6], [27], [31], [42], [59], [63], [65]

1.2.3 Phương tiện huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ

1.2.3.1 Cử giật

Cử giật là những động tác liên tục, nhanh chóng của VĐV đưa tạ từ trênmặt nền nâng qua hai vai, đưa lên đầu với tư thế thẳng đứng Đây là nội dung thứnhất trong thi đấu cử tạ Đặc điểm kỹ thuật cử giật là tốc độ nhanh, thời gianngắn, tuyến đường dài, tính kỹ thuật mạnh

Kỹ thuật cử giật hoàn chỉnh là bao gồm tư thế chuẩn bị, nắm tạ, phát lực,trùng gối gắng sức và nâng lên, hạ xuống 5 động tác kỹ thuật liên tiếp tạo thành.Ngoài ra còn có phương pháp hít thở [24], [47]

Các bài tập cho cử giật

Trang 34

Trong huấn luyện cử giật, các nhà chuyên môn thường sử dụng các dạngbài tập sau: [22], [24], [32], [47], [74]

Giật chuyển vào tư thế nửa ngồi: bài tập này được sử dụng với mục đíchphát triển sức mạnh tốc độ, hoàn thiện các thành phần của kỹ thuật và dùng chokhởi động chuyên môn

Giật từ treo chuyển vào tư thế nửa ngồi: mục đích là hoàn thiện kỹ thuậtđột phá và phát triển sức mạnh, sức nhanh

Giật không có động tác ngồi: mục đích là làm quen với việc sử dụng sứcmạnh cơ tay một cách có hiệu quả nhất trong giai đoạn thứ 2 của cử giật

Giật từ treo không có động tác ngồi: làm quen với việc sử dụng sức mạnh

cơ tay một cách có hiệu quả nhất trong giai đoạn thứ 2 của cử giật, đồng thời rènluyện khả năng tập trung trong động tác đột phá

Giật từ bục không có động tác ngồi: làm quen với việc sử dụng sức mạnh

cơ tay một cách có hiệu quả nhất trong giai đoạn thứ 2 của cử giật, đồng thời rènluyện khả năng tập trung trong động tác đột phá

Giật từ treo có ngồi xuống bằng phương pháp cắt kéo: hoàn thiện kỹ thuậtngồi xuống, đột phá, phối hợp đột phá với ngồi xuống, phát triển sức mạnh vàsức nhanh

Giật từ bục có ngồi xuống bằng phương pháp cắt kéo: hoàn thiện kỹ thuậtngồi xuống, đột phá, phối hợp đột phá với ngồi xuống, phát triển sức mạnh vàsức nhanh

Giật từ treo có ngồi xuống bằng phương pháp tách chân: hoàn thiện kỹthuật ngồi xuống, đột phá, phối hợp đột phá với ngồi xuống, phát triển sức mạnh

và sức nhanh

Giật từ bục có ngồi xuống bằng phương pháp tách chân: hoàn thiện kỹthuật ngồi xuống, đột phá, phối hợp đột phá với ngồi xuống, phát triển sức mạnh

và sức nhanh

Trang 35

Kéo giật: đây là bài tập chủ yếu dể hoàn thiện kỹ thuật cử giật và pháttriển sức mạnh cơ lưng và chân.

Kéo giật từ bục: phát triển sức mạnh các cơ tham gia và hoàn thiện kỹthuật đột phá

Kéo giật từ treo: hình thành kỹ năng đưa và hoạt động đúng lúc các cơchân, lưng, tay

Nâng tạ lên ngực khi khoảng nắm rộng: phát triển sức mạnh tốc độ

Ngồi xuống đứng lên ở tư thế bước khuỵu cùng 2 tay giữ tạ trên cao: pháttriểm độ mềm dẻo và củng cố dây chằng, cơ đáy chậu

Ngồi xuống từ tư thế ban đầu khi tạ trên ngực hoặc trên vai: cải thiện độlinh hoạt các khớp cổ chân, gối, chậu đùi và khớp vai

Ngồi xuống đứng lên cùng 2 tay duỗi thẳng giữ tạ trên cao: phát triển độmềm dẻo

1.2.3.2 Cử đẩy

Cử đẩy là nội dung thi đấu thứ 2 trong trận đấu cử tạ Kết cấu động tácphức tạp hơn so với cử giật, trọng lượng nâng lên cũng lớn hơn cử giật Mộtđộng tác cử đẩy hoàn chỉnh do 2 bộ phận cấu thành là nâng tạ lên ngực và đẩy tạ

Các bài tập cho cử đẩy

Trong huấn luyện cử đẩy, các nhà chuyên môn thường sử dụng các dạngbài tập sau: [22], [24], [32], [47], [74]

Nâng tạ lên ngực và ngồi xuống bằng cách tách chân: hoàn thiện việc ngồixuống, đột phá, phối hợp ngồi và đột phá

Nâng lên ngực từ treo và ngồi xuống bằng cách cắt kéo: hoàn thiện kỹthuật đột phá, phát triển sức mạnh tốc độ

Nâng lên ngực từ bục và ngồi xuống bằng cách tách chân: hoàn thiện kỹthuật đột phá, phát triển sức mạnh tốc độ

Trang 36

Nâng lên ngực từ bục và ngồi xuống bằng cách cắt kéo: hoàn thiện kỹ thuật đột phá, phát triển sức mạnh tốc độ.

Nâng lên ngực và thực hiện nửa ngồi: phát triển sức mạnh cơ lưng vàchân

Nâng lên ngực từ treo và thực hiện nửa ngồi: phát triển sức mạnh bột phát.Nâng lên ngực từ bục và thực hiện nửa ngồi: phát triển sức mạnh bột phát.Nâng lên ngực và không ngồi xuống

Nâng lên ngực từ treo và không ngồi xuống: phát triển sức mạnh các cơ tham gia

Kéo đẩy: hoàn thiện kỹ thuật cử đẩy và phát triển sức mạnh các cơ thamgia

Kéo đẩy khi đứng trên bục: hoàn thiện kỹ thuật cử đẩy và phát triển sức mạnh các cơ tham gia

Kéo đẩy từ bục có độ cao khác nhau: phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹthuật đột phá

Kéo đẩy từ treo: phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ thuật

Đẩy từ ngực lên sau khi cầm tạ ra khỏi giá: nâng cao khả năng tập trung vàhoàn thiện kỹ thuật

Xung lực đẩy: phát triển sức mạnh bột phát khi thực hiện động tác cử đẩy.Xung lực đẩy từ giá đỡ: phát triển sức mạnh bột phát khi thực hiện động tác cử đẩy

Xung lực nâng: phát triển sức mạnh bột phát khi thực hiện động tác cửđẩy

Đẩy từ việc chuyển tạ của đồng đội: phát triển khả năng phối hợp vận động khi thực hiện độngt ác cử đẩy

Đẩy từ vai lên: hoàn thiện động tác

Nửa đẩy: phát triển sức mạnh bột phát khi thực hiện động tác cử đẩy

Trang 37

Nửa ngồi với tạ trên vai: phát triển sức mạnh chân.

Ngồi xuống đứng lên với tạ trên 2 tay duỗi thẳng trong tư thế bước khuỵu:phát triển độ ổn định khi ngồi xuống và độ mềm dẻo

1.2.3.3 Các bài tập phối hợp cử giật và cử đẩy

Trong huấn luyện cử tạ, các bài tập phối hợp cử giật và cử đẩy gồm có:[22], [24], [32], [47], [74]

Gập thân cùng tạ trên vai: Phát triển sức mạnh các cơ duỗi lưng và chân.Ngồi xuống đứng lên với tạ trên vai: Là bài tập chủ yếu để phát triển sức mạnh cơ chân

Ngồi xuống đứng lên với tạ trên ngực: phát triển sức mạnh cơ chân, độ mềm dẻo và hoàn thiện kỹ thuật nâng tạ từ tư thế ngồi

Ngồi xuống đứng lên với tạ trên ngực trong tư thế bước khuỵu: phát triển sức mạnh cơ duỗi chân và độ linh hoạt khớp chậu đùi, khớp gối và cổ chân

Ngồi xuống đứng lên với tạ trên vai trong tư thế bước khuỵu: phát triển sức mạnh cơ duỗi chân và độ linh hoạt khớp chậu đùi, khớp gối và cổ chân

Dùng chân nâng tạ: phát triển sức mạnh cơ chân và cơ lưng

Đi bước khuỵu cùng tạ trên ngực hay trên vai: phát triển đều các cơ của cả

2 chân

Nhảy với tạ trên ngực hoặc trên vai: phát triển sức bật, độ linh hoạt của các khớp chậu đùi, gối và khớp cổ chân

Nâng: phát triển sức mạnh tay và vai

Nâng từ giá đỡ: phát triển sức mạnh tay và vai

Nâng khi khoảng nắm rộng: phát triển sức mạnh tay và vai

Nâng khi khoảng nắm hẹp: phát triển sức mạnh tay và vai

Nâng ở thư thế ngồi: phát triển sức mạnh tay, vai và chân

Nâng từ tư thế nằm: phát triển sức mạnh tay và vai

Nâng từ vai: phát triển sức mạnh cơ delta, cơ thang và cơ hình thoi

Trang 38

Nâng từ dưới ngực: tăng biên độ hoạt động và sức mạnh cơ delta.

Duỗi tay với tạ từ sau đầu: phát triển sức mạnh cơ tam đầu bả vai

Nâng từ tư thế ban đầu tạ cao hơn ngực: phát triển sức mạnh cơ tam đầu

bả vai, cơ delta và cơ thang [22], [24], [32], [47], [74]

1.2.3.4 Các bài tập với chế độ khống chế và nhượng bộ của cơ bắp

Sử dụng các bài tập với chế độ khống chế và nhượng bộ của cơ bắp để pháttriển sức mạnh cho VĐV cử tạ, thường dùng các dạng bài tập sau: [22], [24],[32], [47], [76]

Động tác giữ trên thang ngang được cố định của tạ hay trên xà ngangtrong các gia đoạn khác nhau của giật và nâng tạ lên từ ngực ở tư thế xuất phát,khi vị trí thang ngang ở mức gối, ở mức thấp hơn 1/3 đùi, giữa đùi …

Từ tư thế cố định hạ tạ xuống chậm đến bục hay đến treo

Từ tư thế đứng với tạ trong tay: tạ chậm tạ khi gấp chân và thân trên

Ngồi xuống đứng lên chậm cùng tạ trên 2 tay duỗi thẳng

1.3 Lượng vận động trong huấn luyện thể lực chuyên môn cho VĐV cử tạ

1.3.1 Sự phụ thuộc của thành tích vào trọng lượng của VĐV

Cử tạ là môn thể thao thi đấu theo hạng cân, có yêu cầu cao về sức mạnh,đặc biệt là sức mạnh tối đa, với thời gian thi đấu (1 lần nâng tạ rất ngắn) cho nên

có thể thấy, tố chất thể lực chuyên môn của VĐV cử tạ chính là sức mạnh (sứcmạnh tối đa)

Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về môn cử tạ đã cho thấy ýnghĩa quyết định của năng lực sức mạnh đối với thành tích của VĐV cử tạ (đó làsức mạnh tốc độ, sức mạnh tối đa, sức mạnh bột phát) Các tốc chất vận độngkhác cũng có vai trò nhất định tới thành tích của VĐV song không lớn như nănglực sức mạnh [22], [24], [32], [47], [74]

Ở các VĐV cử tạ, điều nổi bật khi kiểm tra lực cơ, trước hết là mức độphát triển cao của lực các cơ duỗi Ở các VĐV cử tạ có trình độ cao, tương quan

Trang 39

lực các cơ duỗi đối với lực các cơ gấp được thể hiện cụ thể như sau: Đối với

cánh tay (khớp khuỷu): 1, 6:1; đối với thân trên (khớp chậu - đùi và thắt lưng): 4,3:1; đối với cẳng chân (khớp cổ chân): 5, 4:1, đối với đùi (khớp gối): 4, 3:1 Việc

xác định sức mạnh cơ của các VĐV cử tạ ở những tư thế đặc trưng

đối với họ (xuất phát, đột phá ) trong chế độ đẳng trường có ý nghĩa thực tiễnlớn Đồng thời với điều này cũng nên sử dụng một loạt test đặc trưng về tố chấttốc độ - sức mạnh

Việc phát triển sức mạnh bột phát có ý nghĩa quan trọng trong môn cử tạ.Trong thực tiễn độ cao và độ xa của bật nhảy tại chỗ đo đạp mạnh bằng hai chân

có thể dùng làm chỉ tiêu gián tiếp của sức mạnh bột phát cơ Những nghiên cứu

về nhảy bật lên được thực hiện đối với các VĐV cử tạ đã cho thấy, cùng với việcnâng cao trình độ chuyên môn của các VĐV, độ cao và độ xa của lần nhảy tănglên Thí dụ: nhà vô địch Iu Varđanhian có kết quả tương ứng với 100 và 364cm.Như vậy, trọng lượng càng lớn, khối lượng cơ bắp càng lớn thì sức mạnh cànglớn (bảng 1.1 và 1.2) [74]

Bảng 1.1 Sự phụ thuộc của các thành tích cử giật vào trọng lượng của VĐV

(theo A.N Vôrôbiep, 2000) [74]

Trang 40

Bảng 1.2 Sự phụ thuộc của các thành tích cử đẩy vào trọng

lượng của VĐV (theo A.N Vôrôbiep, 2000) [74]

VĐV (kg) cử đẩy (kg) trọng lượng thành tích tương đối kỹ xảo

1.3.2.1 Lượng vận động trong cử giật

Lượng vận động trong cử giật không chỉ bao gồm các động tác cử giật cổđiển mà bao gồm cả các bài tập bổ trợ chuyên môn như: giật tạ có kết hợp nửangồi, giật không có ngồi, giật từ treo…[22], [24], [32], [47], [74]

Trong các bài tập giật tạ, số lượng lần nâng tạ trong 1 tháng ở VĐV cấpIII, II là 250 ± 50; VĐV cấp I và dự bị kiện tướng là: 330 ± 70; kiện tướng vàkiện tướng quốc tế: 420 ± 120 1 tháng trước thi đấu, số liệu tương ứng là: 180 ±30; 252 ± 52; 315 ± 90

Tuỳ thuộc vào đặc điểm cá nhân của VĐV mà số lượng lần nâng trong cửgiật có thể thay đổi, ví dụ VĐV có trình độ kỹ thuật tốt sẽ sử dụng bài tập giật bổtrợ chuyên môn nhiều hơn Song cần lưu ý là việc giảm đáng kể số lượng lầnnâng trong cử giật và tăng số lượng lần nâng các bài tập giật khác sẽ làm giảmmức độ phát triển thành tích trong cử giật [22], [24], [32], [47], [74]

Ngày đăng: 09/12/2020, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w