Bất cứ một ngôn ngữ nào khi giao tiếp chúng ta cần phải có một vốn từ nhất định để trình bày, diễn đạt. Mặt khác, với lứa tuổi học sinh tiểu học việc tiếp thu sâu sắc bản chất của một ngôn ngữ còn quá khó. Chúng ta chỉ cần yêu cầu các em hiểu và biết được “Tiếng Anh” là gì? Vai trò của việc học bộ môn tiếng Anh trong nhà trường. Cần học tiếng Anh như thế nào để đạt hiệu quả, chất lượng cao.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
“Sử dụng các quy tắc và phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh
lớp 3 giúp học sinh nhớ tốt hơn.”
Thuộc lĩnh vực: Giáo dục Quy tắc và phương pháp dạy từ vựng môn
Tiếng Anh lớp 3
Người thực hiện:
Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học
Trang 2, tháng 4 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến Phòng GD và ĐT
huyện
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT Họ và tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỉ lệ % đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến
1
Trường Tiểu học
Giáo viên Tiếng Anh
Đại học 100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:“Sử dụng các quy tắc và phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh lớp 3 giúp học sinh nhớ tốt hơn”.
I Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có.
II Lĩnh vực áp dụng của sáng kiến:
Quy tắc và phương pháp dạy từ vựng môn Tiếng Anh lớp 3 Áp dụng trong ngành giáo dục, đặc biệt là lớp 3
III Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
IV Mô tả bản chất của sáng kiến:
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
Bất cứ một ngôn ngữ nào khi giao tiếp chúng ta cần phải có một vốn từ nhất định để trình bày, diễn đạt Mặt khác, với lứa tuổi học sinh tiểu học việc tiếp thu sâu sắc bản chất của một ngôn ngữ còn quá khó Chúng ta chỉ cần yêu cầu các em hiểu và biết được “Tiếng Anh” là gì? Vai trò của việc học bộ môn tiếng Anh trong nhà trường Cần học tiếng Anh như thế nào để đạt hiệu quả, chất lượng cao
Trang 3Chính vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này mục đích là trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp và học hỏi các đồng nghiệp để nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy và cụ thể hơn đó là vận dụng phương pháp mới đã được học, tìm ra các bước truyền tải kiến thức thật dễ hiểu cho học sinh tiếp thu nhanh Cụ thể là đưa ra được các phương pháp mới áp dụng vào trong thực tế giảng dạy và thấy học sinh đạt kết quả cao, học sinh vận dụng thực tế tốt, nắm và nhớ được phần
từ vựng để có thể áp dụng vào làm bài tập đặc biệt là các bài tập trắc nghiệm chọn đáp án A,B,C và các bài tập điền từ vào chỗ trống Hình thành cho các em học sinh một cách tổng quát về cấu trúc viết của một từ và nghĩa của từ mới đó
Từ đó các em có thể vận dụng một cách thành thạo và linh hoạt trong việc làm các bài tập
Đề tài này nhằm mục đích cho giáo viên có phương pháp giảng dạy hay, đồng thời áp dụng phương pháp mới vào dạy phần từ vựng tiếng Anh Về phía học sinh có thêm phương pháp học từ vựng cụ thể để nâng cao kiến thức cho các
em, phát triển khả năng nhận biết và nhớ từ của các em Chính từ đây các em sẽ được trau dồi nhiều hơn nữa vốn tiếng Anh để phục vụ cho việc học tập ở các năm tiếp theo của bậc THCS và THPT
2 Tính mới của sáng kiến
Sáng kiến này mới áp dụng tại trường Tiểu học trong năm học 2018-2019 Ngay từ đầu năm học tôi đã vận dụng phương pháp mới
để làm sao cho các em học sinh mới làm quen với môn tiếng Anh có khả năng nhớ
từ thật tốt để luyện tập vận dụng kiến thức đã học để làm bài tập có hiệu quả cao Khi quyết định chọn đề tài này tôi đã đi sâu tìm hiểu khả năng nhớ kiến thức từ vựng của học sinh trong từng lớp Nghiên cứu đưa ra những phương pháp để tăng cường khả năng nhớ kiến thức từ vựng, để luyện tập vận dụng nhớ từ đã học để làm bài bài tập cũng như gây hứng thú cho học sinh đối với môn tiếng Anh thông qua một số phương pháp và quy tắc hoặc chơi trò chơi áp dụng vào làm bài tập về từ
Qua việc nghiên cứu đề tài này tôi đã đưa ra được giải pháp như:
- Nghiên cứu, kết quả khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp
- Xác định được phương pháp, thủ thuật khác nhau cho việc dạy từ vựng
- Lựa chọn các từ để dạy
- Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới
- Dạy từ
Trang 4- Kiểm tra.
- Trò chơi và hoạt động dạy từ
Phương pháp này được áp dụng lần đầu tiên tại khối lớp 3 trường Tiểu học Đây là những điểm mới mà sáng kiến nghiên cứu khi dạy từ vựng cho học sinh lớp 3 Những điểm này chưa có trong sách giáo khoa hay các loại sách báo khác, lần đầu tiên được bản thân áp dụng khi nghiên cứu sáng kiến
3 Thực trạng:
3.1 Đặc điểm tình hình khối lớp 3 năm học 2018 – 2019
Trong năm học 2018 - 2019 tôi được phân công giảng dạy môn tiếng Anh ở khối 3 Tổng số học sinh cụ thể như sau:
STT Khối Số
lớp
Số HS
Nữ Dân tộc
Nữ DT
Lưu ban
Khuyết tật
Hộ nghèo
Con TB
Xã khác
3.2 Thuận lợi
- Được sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo nhà trường: Tạo mọi điều kiện như thời gian, tài liệu và động viên, khuyến khích giáo viên, học sinh, tạo động lực thúc đẩy cho công việc dạy và học có hiệu quả tốt
- Trang thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ, có phòng chức năng riêng dành cho môn tiếng Anh rộng rãi, thoáng mát, có đủ ánh sáng cho học sinh học
- Nội dung chương tình sách giáo khoa tiếng Anh lớp 3 bao gồm các chủ điểm gần gũi với cuộc sống, sát thực với nhu cầu và hứng thú của các em học sinh Ngoài ra sách còn thiết kế với nhiều tranh ảnh mầu, rõ nét, sinh động và phù hợp với nội dung của từng bài Do đó các em học sinh thường có sự chuẩn
bị bài trước khi đến lớp Hơn nữa, tranh ảnh minh họa còn hỗ trợ cho giáo viên trong việc dạy từ vựng và thiết lập tình huống giao tiếp cho học sinh trong hoạt động học tập
- Bản thân được đào tạo về chuyên môn cơ bản, có lòng nhiệt tình trong mọi công việc
- Phụ huynh luôn quan tâm đến việc học tập của con em mình
- Học sinh được học môn tiếng Anh 4 tiết /tuần Vì vậy có nhiều thời gian cho việc luyện tập
- Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi hoạt động tập thể như chào cờ, các câu lạc bộ, hoạt động ngoài giờ lên lớp, kĩ năng sống, các buổi tham quan thực tế nên các em được thường xuyên giao tiếp nhiều bằng tiếng Anh
3.3 Khó khăn
Trang 5- Khả năng giao tiếp 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết của học sinh còn chưa mạnh dạn
- Học sinh lớp 3, là lớp mà bây giờ các em mới được tiếp cận và làm quen với môn tiếng Anh nên chưa có phương pháp học từ vựng thật sự hiệu quả
- Về phía phụ huynh, cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các
em tự học ở nhà bởi môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết
- Một số học sinh cho rằng đây là môn học tự chọn nên thường xao lãng và
ít quan tâm đến việc học tập cũng như học từ vựng
- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em còn phải phụ giúp cha mẹ làm việc nhà, việc đồng áng …
- Các em ít có điều kiện để giao tiếp bằng tiếng Anh và các em cũng ngại giao tiếp, trao đổi với nhau bằng tiếng Anh ngoài giờ học
- Đa số các học sinh trong lớp đều có hoàn cảnh khó khăn nên các em ít có sách tham khảo để nâng cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa cung cấp
- Kĩ năng nói, kĩ năng đặt câu hỏi thắc mắc, khả năng trình bày, bày tỏ ý kiến của mình cho người khác nghe của các em gặp nhiều khó khăn
3.4 Khảo sát thực tế lớp đầu năm
(Khảo sát đầu năm vào tháng 9 năm 2018)
Trước khi thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát đối với các
em học sinh ở khối 3 gồm: lớp 3A,3B, 3C Trường Tiểu học bằng một số bài tập cơ bản tương ứng với mức độ nội dung kiến thức của khối lớp 3 Bài kiểm tra gồm 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Kết quả bài kiểm tra đầu năm học 2018- 2019 cụ thể như sau: Mức độ hình thành và phát triển từng kĩ năng
Lớp TS
Bài kiểm tra 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Nghe (Đạt) % Nói (Đạt) % (Đạt) Đọc % Viết (Đạt) %
63,6
63,6
%
3.5 Nguyên nhân của thực trạng
Với nhiều năm giảng dạy môn tiếng Anh ở bậc tiểu học bản thân tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình dạy Như chúng ta đã biết môn Tiếng anh là một môn học khó và mới đối với các em học sinh bậc tiểu học Trong quá trình học việc rèn 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết là rất quan trọng nếu thiếu một trong bốn kĩ năng
Trang 6thì học sinh không thể phát triển toàn diện khả năng học tiếng Anh của mình Nguyên nhân chính đối với việc không hình thành và phát triển 4 kĩ năng đó là:
*Đối với kĩ năng nghe:
Kĩ năng nghe để nắm thông tin trong bài, viết lại từ cần nghe là vô cùng quan trọng Học sinh nghe băng đối với những bài có nội dung dài, từ đọc khó học sinh không thể viết, đoán và đọc được
*Đối với kĩ năng nói:
Phát âm tiếng Anh vô cùng quan trọng yêu cầu các em phải đọc các từ thật chính xác, có sự luyến láy, bật đúng trọng âm, có ngữ điệu, biểu cảm phát âm đúng
* Đối với kĩ năng đọc:
Học tiếng Anh trong mỗi bài hội thoại, bài khóa, bài tập mặc dù học sinh có thể đọc được hoặc có thể phát âm được các từ vựng đó nhưng hầu như các em không nhớ nghĩa hay lần sau gặp lại chính từ đó nhưng các em lại không nhớ, không viết lại được Đây chính là nguyên nhân mà rất nhiều các em học sinh không nhớ từ mới sau mỗi bài học Bên cạnh đó việc các em mới bắt đầu làm quen với ngôn ngữ mới, cách viết, đọc lại khó khăn hơn dẫn tới một số em không đọc to, viết rõ ràng được
* Đối với kĩ năng viết:
Tiếng Anh là một ngôn ngữ rất khó viết, các em học sinh lớp 3 mới bắt đầu làm quen với bộ môn này nên khi viết những từ dài, khó là các em thường dễ quên, không nhớ từ để viết lại được
4 Những giải pháp đã áp dụng
Để đạt được hiệu quả cao trong công tác giảng dạy, trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đi sâu vào 8 giải pháp chính sau đây:
Giải pháp 1: Nghiên cứu, kết quả khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra
những phương pháp giáo dục phù hợp
Mỗi giáo viên muốn có những bài giảng hay, có những phương pháp hay để
áp dụng vào bài dạy cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh thì trước hết giáo viên phải hiểu học sinh, phải nắm được nhận thức của các em Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi đã thực hiện cho một bài kiểm tra có đủ 4 kĩ năng nghe, nói, đọc viết
Qua bài kiểm tra này, tôi nắm được về nhận thức của từng học sinh Và quan trọng hơn cả là tôi đã hiểu một phần về học sinh của mình, điều đó rất có
lợi cho tôi trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh
Trong quá trình dạy luôn đặt việc học của học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, tạo cơ hội tới mức tối đa để học sinh được tham gia tích cực vào
Trang 7quá trình học tập thông qua các hoạt động trên lớp Đây cũng chính là cách học
có hiệu quả nhất
Giải pháp 2: Xác định được phương pháp, thủ thuật khác nhau cho việc
dạy từ vựng
-Từng bước xử lý từ vựng trong các ngữ cảnh mới: gợi mở, dạy từ, kiểm tra
và củng cố từ vựng
- Có nên dạy tất cả những từ mới trong một bài không?
- Dạy bao nhiêu từ trong một tiết là đủ ?
- Dùng sẵn mẫu câu đã học hoặc sắp học để giới thiệu từ mới
- Dùng tranh ảnh, dụng cụ trực quan để giới thiệu từ mới
- Đảm bảo cho học sinh nắm được cấu trúc, vận dụng từ vựng vào cấu trúc
để hoàn thiện chức năng giao tiếp Thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc mới và vốn từ đã có
- Khắc sâu vốn từ trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua những bài tập thực hành
Giải pháp 3: Lựa chọn từ để dạy.
Khi giáo viên dạy một bài học mới sau khi cho học sinh thực hành các kĩ năng thì giới thiệu từ mới là rất quan trọng Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện nhiều từ mới, xong không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy, những từ còn lại có thể cho học sinh đoán hoặc cho luôn nghĩa Tiếng Việt cho học sinh Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xem xét những vấn đề:
- Từ chủ động (active vocabulary)
- Từ bị động (passive vocabulary)
Giải pháp 4: Các thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới.
Đây là phần giới thiệu từ vựng Giáo viên phải giới thiệu cho học sinh biết được hình thái (cách phát âm và chữ viết) và ngữ nghĩa của từ Với phần này giáo viên có thể dùng một trong các cách sau để giới thiệu từ một cách sinh động Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở giới thiệu từ mới, giúp các
em học sinh tiếp thu từ một cách chủ động như:
a Visual (nhìn):
Giáo viên cho học sinh nhìn tranh ảnh, vẽ phác hoạ cho các em nhìn, giúp giáo viên ngữ nghĩa hoá từ một cách nhanh chóng
Example: a car e.g a flower
b Mine (điệu bộ): Thể hiện qua nét mặt, điệu bộ
Trang 8e.g bored
Teacher looks at watch, makes bored face, yawns
Tasks: “ How do I feel?”
e.g happy
T smiles
c Realia (vật thật): Dùng những dụng cụ trực quan thực tế có được
e.g pen, eraser, book
T brings some pens and books into the class
T asks: “ What’s this?”
e.g open (adj), closed (adj)
T opens and closes the door
T says: “ Tell me about the door”
d Situation / explanation (giải thích nghĩa của từ)
e.g book ( T shows student’s book and explains them)
e Example (đưa ra vật thật làm ví dụ)
e.g table
T lists examples of fumiture: “tables, chairs, beds – these are all furniture
f Synonyon \ antonyon (đồng nghĩa \ trái nghĩa)
- Giáo viên dùng những từ đã học rồi để giảng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
e.g : big >< small
g Translation (dịch)
- Giáo viên dùng những từ tương đương trong Tiếng Việt để giảng nghĩa từ trong Tiếng Anh Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách nào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để giải quyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, giáo viên gợi ý học sinh
tự dịch từ đó
e.g Hello ! T asks, “How do you say “xin chào” in English?”
e.g: Thank you T asks, “How do you say “ cảm ơn” in English? ”
h Teacher’s eliciting questions
Để giới thiệu từ mới, GV dạy cho học sinh theo bốn kỹ năng nghe nói
-đọc viết
+ Nghe: Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe
+ Nói: Giáo viên đọc từ, học sinh đọc lại
+ Đọc: Giáo viên viết từ lên bảng, học sinh đọc từ bằng mắt, bằng miệng + Viết: Học sinh viết từ vào vở tập viết
Để học sinh tiếp thu bài tốt đòi hỏi khi dạy từ mới, giáo viên cần phải lựa chọn các phương pháp cho phù hợp, chúng ta cần chọn cách nào ngắn nhất, nhanh nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, là sau khi học xong từ vựng thì các em đọc được, viết được và biết cách đưa vào các tình huống thực tế
Giải pháp 5: Dạy từ ( Teaching)
Trang 9Khi dạy nghĩa từ, giáo viên không nên dịch nghĩa từ suông mà cần cho ví
dụ minh hoạ cho nghĩa và cách dùng từ để người học hiểu và nhớ lâu Chỉ dùng Tiếng Việt dạy nghĩa từ khi từ là một danh từ trừu tượng
Ví dụ:Lớp 3: Unit 8: This is my pen.(Leson 1: 1,2,3)
Dạy từ book, pen, ruler……
book pen school bag ruler
Giáo viên vừa giới thiệu hình thái của từ vừa giới thiệu nghĩa của từ đồng thời lấy một ví dụ để học sinh nhớ từ cần phải học Đồng thời giáo viên cần nhắc lại nhiều lần từ đó để các em khắc sâu từ cần học:
Ví dụ: Teacher: (chỉ vào quyển sách và nói): Look! This is a book (Đây là một quyển sách)
Phụ lục ảnh 1
- Đôi lúc giáo viên cần phải giải thích sự khác biệt về nghĩa chứ không chỉ cho nghĩa của từ Ngôn ngữ là một hệ thống, vì vậy việc giải thích nghĩa nên thông qua hình ảnh và so sánh đối chiếu
Ví dụ để dạy nghĩa của hai từ “big” và “small” người dạy chỉ cần vẽ lên
bảng 2 cái bút một cái lớn và một cái nhỏ như vậy các em học sinh sẽ hình dung
ra ngay nghĩa của từng từ
- Trong Tiếng Anh cũng như Tiếng Việt, một từ thường có những liên hệ với các từ khác Vì vậy việc dạy từ theo mối quan hệ đồng nghĩa và phản nghĩa cũng rất hiệu quả Đồng nghĩa không có nghĩa là giống hệt nhau mà chúng có
nghĩa tương tự: ví dụ như từ “see”(nhìn, thấy, xem) và từ “look”(nhìn); hoặc từ
“table” và từ “desk”(cái bàn).
- Việc dạy từ vựng đã là một vần đề quan trọng nhưng việc học như thế nào
để nhớ được từ lâu cũng quan trọng không kém Giáo viên không nên ép buộc học sinh phải học theo một cách gò bó nhất định mà khuyến khích động viên các
em chủ động nghĩ ra cách học thuộc từ theo kiểu của riêng mình
small
Trang 10- Để quá trình dạy và học từ vựng có hiệu quả không nhàm chán, giáo viên phải luôn thay đổi cách dạy nghĩa từ; có nghĩa là luôn thay đổi các kĩ thuật dạy
từ vựng sao cho lôi cuốn và làm cho các em học sinh dễ nhớ Các phương pháp
mà gây hứng thú cũng như sự hiếu kỳ của học sinh bậc tiểu học như: vẽ hình
trực tiếp lên bảng không cần sắc sảo mà chỉ cần bằng những hình que (stick
figures) Hoặc là dùng các đồ vật thật chẳng hạn như đồ chơi hay là diễn tả bằng
hành động… Sinh động và sôi nổi hơn nữa giáo viên có thể cho các em bắt chước thực hiện việc vẽ hình, đưa các đồ vật hoặc làm những hành động cho các
từ đã được học Đây là những cách thu hút sự tập trung chú ý của học sinh đồng thời giúp các em nhớ từ lâu hơn
Giải pháp 6: Trọng âm từ (Word stress)
Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết, những từ có hai âm tiết trở lên luôn có một âm tiết phát âm khác biệt hẳn so với những âm tiết còn lại về độ dài, độ lớn
và độ cao Âm tiết nào được phát âm to hơn, giọng cao hơn và kéo dài hơn các
âm khác trong cùng một từ thì ta nói âm tiết đó đươc nhấn trọng âm Hay nói cách khác, trọng âm rơi vào âm tiết đó Khi nhìn vào phiên âm của một từ, thì trọng âm của từ đó được ký hiêu bằng dấu (‘) ở phía trước, bên trên âm tiết đó
clever /ˈklevər/ trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất
arrange /əˈreɪndʒ/ trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai
engineer /ˌendʒɪˈnɪr/ có hai trọng âm: trọng âm chính rơi vào âm tiết thứ ba /nir/
và trọng âm phụ rơi vào âm tiết thứ nhất /en/
Japanese /ˌdʒæpəˈniːz/ trọng âm chính rơi vào âm tiết thứ ba /ˈniːz/ và trọng âm phụ rơi vào âm tiết thứ nhất /dʒæ/
Vậy khi viết từ giáo viên nên đánh trọng âm để giúp học sinh phát âm đúng Như chúng ta đã biết trọng âm từ đóng vai trò quan trọng trong việc phân biệt được từ này với từ khác khi chúng ta nghe và nói tiếng Anh Như vậy phát
âm đúng trọng âm của một từ là yếu tố đầu tiên giúp học sinh nghe hiểu và nói được như người bản ngữ
Giải pháp 7: Kiểm tra (Check)
Trong một tiết chương trình giáo viên cần lựa chọn 5 - 8 từ để dạy Các từ này phải thuộc loại hoạt động (active vocabulary) – nghĩa là các từ này học sinh
sẽ sử dụng thường xuyên ở trên lớp nhằm rèn luyện các kỹ năng cơ bản Các từ này cần có tần suất cao nghĩa là chúng xuất hiện thường xuyên trong văn bản Không nên cho học sinh lặp lại từ quá nhiều lần vì việc lặp lại từ một cách máy móc nhiều lần sẽ không mang lại hiệu quả trong việc tiếp thu bài mà có thể làm cho bài học trở nên nhàm chán và lãng phí sức của học sinh cũng như người dạy