Vận dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực. Lồng ghép kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp trong các giờ Toán. Vận dụng tối đa hình thức trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh. Trong dạy Toán kết hợp dạy cách dùng từ, diễn đạt câu ngắn gọn đủ ý. Học sinh được cộng tác trên nhiều phương diện, được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn, chia sẻ suy nghĩ,…, cùng nhau xây dựng, thống nhất phương pháp giải. Từ đó kiến thức trở nên sâu sắc, dễ nhớ, dễ vẫn dụng vào thực hành và giải toán.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
“Một số biện pháp khắc phục khó khăn cho học sinh giải toán có lời
Trang 2, tháng 4 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến Phòng Giáo dục và đào tạohuyện
Tên tôi là:
STT Họ và tên Ngày
tháng năm sinh
Nơi công tác Chức
danh
Trình độ chuyên môn
Tỉ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ĐH Tiểuhọc
Sáng kiến được áp dụng lĩnh vực giáo dục, cụ thể: Khắc phục khó khăn cho
học sinh giải toán có lời văn ở lớp 5.
III Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Tôi bắt đầu xây dựng và đưa sáng kiến vào áp dụng tại khối lớp 5 trườngTiểu học trong năm học 2018-2019 từ 9/2018 – 4/2019
IV Mô tả bản chất của sáng kiến:
1 Tính mới:
- Vận dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực
- Lồng ghép kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp trong các giờ Toán
- Vận dụng tối đa hình thức trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh
- Trong dạy Toán kết hợp dạy cách dùng từ, diễn đạt câu ngắn gọn đủ ý
- Học sinh được cộng tác trên nhiều phương diện, được nêu quan điểm củamình, được nghe quan điểm của bạn, chia sẻ suy nghĩ,…, cùng nhau xây dựng,thống nhất phương pháp giải Từ đó kiến thức trở nên sâu sắc, dễ nhớ, dễ vẫn dụngvào thực hành và giải toán
- Phương pháp này được áp dụng lần đầu tiên tại khối lớp 5 trường Tiểuhọc
Trang 3- Đây là những điểm mới mà sáng kiến nghiên cứu khi dạy học giải toán cólời văn cho học sinh lớp 5 Những điểm này chưa có trong Sách giáo viên hay cácloại sách báo khác, lần đầu tiên được bản thân áp dụng khi nghiên cứu sáng kiến.
2 Nội dung sáng kiến:
2.1 Cơ sở lí luận:
Hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới nhiều vấn đề liên quan đến dạy
và học với mục đích là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Đặcbiệt đối với bậc Tiểu học được xác định là “bậc học nền tảng trong hệ thống giáodục quốc dân” (Điều 2 - Luật giáo dục) Với mục tiêu cơ bản là “Nhằm giúp họcsinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về đạođức, trí tuệ, thể chất và thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản đẻ học sinh tiếp tục họctrung học cơ sở” (Điều 23 - Luật Giáo dục) Mục tiêu đó được cụ thể hóa trongtừng môn học, từng lớp học, từng hoạt động của cả bậc học
Cùng với các môn học khác, môn Toán của Tiểu học có vị trí và tầm quantrọng rất lớn Môn Toán là một môn học được xem như công cụ để học các mônhọc khác, là “chìa khóa” mở cửa cho các ngành khoa học khác, nó là công cụcần thiết của người lao động trong thời đại mới Nội dung của việc giả toán gắnchặt với nội dung củ số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng
cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình
Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tưduy và những đức tính tốt của cong người lao động mới Bên cạnh đó, giải toáncòn giúp học sinh rèn cho học sinh khả năng suy luận, thói quen suy nghĩ độclập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc, rập khuôn Từ đó hình thànhkhả năng trình bày, diễn đạt cho học sinh
Việc giải các bài toán còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét vấn đề,
tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự mìnhkiểm tra lại các kết quả,… Do đó, giải toán là một cách rất tốt để rèn luyện đứctính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác
Như chúng ta đã biết, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quantrọng Bởi học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tíchcực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiềutrường hợp phải biết những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cáchtường minh và trong chừng mực nào đó phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo
Vì vậy có thể coi giải toán có lời văn là một trong những biểu hiện năng độngnhất cho hoạt động cho hoạt động trí tuệ của học sinh
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy các em học sinh còn nhiều lúng túng, saisót trong lập luận để tìm cách giải bài toán có lời văn, đứng trước thực tế đó, làngười giáo viên phải suy nghĩ, điều tra và tìm biện pháp khắc phục
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Qua nghiên cứu lí luận cũng như thực tế giảng dạy tôi nhận thấy “Giải
toán có lời văn” là một bộ phận không nhỏ trong chương trình toán Tiểu học
Trang 4quen với dạng toán này Nhưng thực chất đây cũng là nội dung khó đối vớigiáo viên và học sinh trong việc dạy – học Vì nó không đơn thuần chỉ lànhững phép tính mà còn đòi hỏi sự kết hợp với những môn học khác đặc biệt
là môn Tiếng Việt
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán đượcthông qua nhữmg câu nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liênquan đến cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn làphải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán,hay nói cách khác là chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trongbài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán
Các bài toán có lời văn mà học sinh Tiểu học được tiếp xúc có nội dung làcác vấn đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cầu trúc đa dạng từ nhữngdạng khác nhau của cùng một phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng kếthợp của hai hay nhiều phép tính
Với chương trình lớp 5 (lớp cuối cấp ở Tiểu học) thì việc giải toán có lời
văn quả là khó khăn với học sinh nói chung không chỉ riêng với học sinh yếu.
Xét thời gian từ trước đến nay trong lớp học không phải tất cả các em đều nắmđược bài khi giáo viên giảng đồng thời biết áp dụng vào làm bài tập và thựctiễn cuộc sống
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng các em học sinh làm tính có lờigiải còn nhiêu lúng túng, khó khăn, khi giải một bài toán có lời văn kể cả nhữnghọc sinh có năng lực vẫn còn sai sót, nhầm lẫn trong lập luận nhất là trong ghi lờigiải Từ những cơ sở thực tiễn đã nêu trên tôi đã tìm hiểu một số lỗi học sinhthường mắc phải để đề ra biện pháp khắc phục Thực nghiệm sư phạm để xácđịnh hiệu quả các biện pháp khắc phục khó khăn cho học sinh khi giải toán cólời văn ở lớp 5
2.3 Thực trạng:
2.3.1 Thuận lợi:
- Trường được chia thành 2 khu: một khu trung tâm có 9 lớp và một khu lẻ
có 5 lớp Nhìn chung cơ sở vật chất, khuôn viên, các điều kiện và phương tiện dạyhọc ngày càng được cải thiện, tăng trưởng, từng bước đáp ứng được nhu cầu giảngdạy, giáo dục hiện nay
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, sát sao, động viên kịp thời đếncác cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường
- Tập thể giáo viên trong trường là một tập thể sư phạm vững mạnh vàđoàn kết, thực sự tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, tất cả vìhọc sinh thân yêu Tổng số cán bộ giáo viên là 28 đồng chí đều đạt chuẩn vàtrên chuẩn
- Đa số các em học sinh là con, em nông thôn, thật thà, chất phác vàchăm học
Trang 5- Nhận thức của địa phương, phụ huynh về giáo dục ngày càng đổi mới.
2.3.2 Khó khăn:
- Năm học 2018 - 2019 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân cônggiảng dạy và chủ nhiệm lớp 5A Tổng số 40 học sinh, do tổng số học sinhtrong lớp đông, trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều: một sốhọc sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa
có thói quen đọc và tìm hiểu bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa cácdạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán
để tìm lời giải thích hợp với các phép tính nên giáo viên còn khó khăn trongviệc bao quát lớp và hỗ trợ cho các em
- Đa số học sinh xem môn Toán là môn học khô khan, khó khăn, dễ chán,không mấy hứng thú khi học
- Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy mócnên còn chóng quên các dạng bài toán
- Lớp có 50% học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số và phần lớn làcon nông dân Vì vậy việc mua sắm chuẩn bị đồ dùng học tập cho học sinh cònhạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và nhu cầu giảng dạycủa giáo viên
- Là một xã nghèo trong huyện nên mặt bằng dân trí còn thấp, nhận thứccủa phụ huynh còn hạn chế, vì vậy việc quan tâm đến các em học sinh còn chưachu đáo
- Các dạng toán có lời văn ở lớp 5 tương đối khó, nhiều phụ huynh khôngnắm rõ phương pháp giải nên còn gặp nhiều khó khăn trong việc kèm cặp con, emkhi ôn tập tại nhà
2.3.3 Thực trạng về giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 5 tại trường tiểu học :
Qua khảo sát sau 10 tiết đầu học (giải toán có lời văn) của khối lớp 5 nămhọc 2018 - 2019 của trường Tiểu kết quả cụ thể như sau:
Khối lớp Sĩ số HS viết đúng
câu lời giải
HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp số
Thực tế ở lớp 5 các em học sinh bước đầu có khả năng phân tích, tổng hợp,
Trang 6năng phân tích và tổng hợp phát triển không đồng đều, không đúng, không đầy đủdẫn đến khái quát sai Khi đọc bài toán, các em chưa có khả năng phân tích rànhmạch các thuật ngữ, các bộ phận của câu mà hiểu nó một cách không đầy đủ, ví dụmột số lỗi và khó khăn các em thường gặp khi giải toán:
a) Học sinh gặp khó khăn và dễ mắc sai làm trong cách xác định dữ kiện bài toán cho:
Ví dụ 1: (Bài tập 3 - Trang 57 - SGK Toán 5)
Một can nhựa chứa 10 lít dầu hỏa Biết một lít dầu hoa cân nặng 0,8 kg; canrỗng cân nặng 1,3 kg Hỏi can dầu hỏa cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
Một số bài giải của học sinh Bài giải đúng
8 + 1,3 = 9 (kg) Đáp số: 9,3 kg
Ví dụ 2: (Bài tập 3 - Trang 60 – SGK Toán 5)
Theo bản tỉ lệ 1: 1000 000, quãng đường từ Thành phố Hồ Chí Minh đếnPhan Thiết đo được 19,8 cm Hỏi độ dài thật của quãng đường từ Thành phố HồChí Minh đến Phan Thiết là bao nhiêu ki-lô-mét?
Khi giải bài toán này, học sinh chỉ thực hiện đổi đơn vị để tìm ra kết quả bàitoán: 19,8cm = 0,000198km mà không chú ý đến độ dài thật của quãng đường
Ví dụ 3: (Bài tập 2 - Trang 94 - SGK Toán 5)
Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 120m, đáy bé bằng 23 đáy lớn Đáy bédài hơn chiều cao 5m Trung bình cứ 100m2 thu hoạch được 64,5 kg thóc Tính số ki-lô-gam thóc thu hoạch được trên thửa ruộng đó?
Bài giải của học sinh Bài giải đúng
Bài giảiĐáy bé của thửa ruộng hình thang là:
120 x = 80 (m)Chiều cao thửa ruộng hình thang là:
80 + 5 = 85 (m)Diện tích thửa ruộng hình thang là:
(120 + 80) x 5 : 2 = 8 500 (m2)
Số li-lô-gam thóc thửa ruộng hình
Bài giảiĐáy bé của thửa ruộng hình thang là:
120 x = 80 (m) Chiều cao thửa ruộng hình thang là:
80 – 5 = 75 (m) Diện tích thửa ruộng hình thang là: (120 + 75) x 5 :2 = 487,5 (m2)
Số li-lô-gam thóc thửa ruộng hình
Trang 7thang thu hoạch được là:
8 500 : 100 x 64,5 = 5482,5 (kg)
Đáp số: 5482,5 kg
thang thu hoạch được là:
487,5 : 100 x 64,5 = 314,4375 (kg) Đáp số: 314,4375 kg
b) Khó khăn trong cách xác định đơn vị bài toán:
Đây là một sai lầm thường mắc của học sinh trong việc giải các bài toánchuyển động
Ví dụ: Một người đi xe đạp từ A và một người đi bộ từ B Hai người đi cùng
chiều và bắt đầu đi cùng mọt lúc Vận tốc của người đi bộ là 5 km/giờ, của người
đi xe đạp là 14 km/giờ Quãng đường AB dài 18 km Sau mấy giờ người đi xe đạpđuổi kịp người đi xe đạp?
A 18km B
Bài giải của học sinh Bài giải đúng
Bài giảiSau 1 giờ, xe đạp đuổi gần người đi bộ
một quãng đường dài:
14 – 5 = 9 (km/giờ)
Thời gian xe đạp đuổi kịp người đi bộ
là:
18 : 9 = 2 (giờ) Đáp số: 2 giờ
Bài giảiSau 1 giờ, xe đạp đuổi gần người đi bộmột quãng đường dài là:
14 – 5 = 9 (km) Thời gian xe đạp đuổi kịp người đi bộlà:
18 : 9 = 2 (giờ) Đáp số: 2 giờNgoài ví dụ trên, các em còn dễ mắc sai lầm ở các dạng:
* Viết câu lời giải sai so với phép tính hoặc câu lời giải thừa hoặc thiếu chữ;
* Đối với các bài toán hợp các em chỉ giải bằng một phép tính đơn giản;
* Câu trả lời sai nhưng đơn vị kèm theo đúng hoặc câu trả lời đúng nhưng đơn vị kèm theo lại sai;
* Thiếu danh số;
* Lỗi cả về lời giải và phép tính;…
2.3.4 Nguyên nhân của những sai lầm, khó khăn nói trên:
Trong mạch kiến thức giải toán có lời văn bao gồm nhiều dạng bài: dạngtoán đơn, dạng toán hợp, dạng toán điển hình, dạng toán có nội dung liên quanđến hình học, Đa số các dạng toán đơn thì học sinh làm được, song các bàitoán từ 2 phép tính trở lên thì đa số những học sinh chưa hoàn thành còn gặpnhiều khó khăn
Qua quá trình thực tế giảng dạy, tìm hiểu và phân tích tôi thấy học sinhcòn gặp những khó khăn và mắc phải những nhầm lẫn do những nguyên nhânchủ yếu sau:
Trang 8- Kĩ năng đọc đề, phân tích đề của HS còn hạn chế Học sinh đọc đề vộivàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán không chịuphân tích đề toán khi đọc đề.
- Kĩ năng nhận dạng toán, nắm các bước giải trong từng dạng toán còn lúngtúng Khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá vấn đề và tư duy của học sinhcòn hạn chế khi gặp những bài toán phức tạp Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫucủa những dạng bài cụ thể mà các em thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bàitoán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đếnlười suy nghĩ
- Chưa biết lập kế hoạch giải bài toán
- Kĩ năng đặt lời giải, kĩ năng tính toán của học sinh còn gặp nhiều khókhăn Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng
và có khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý
- Học sinh chưa được luyện tập thường xuyên, nên thường nhầm lẫn giữacác dạng toán
- Đa số giải toán có lời văn thường tập trung ở các đối tượng học sinh cónăng lực nên thói quen của các đối tượng HS trung bình và yếu là bỏ qua các bàitoán giải hoặc làm cho có, không có động não suy nghĩ Từ thói quen lười suy nghĩdẫn đến hiệu quả thấp
- Trí nhớ của các em chưa thoát khỏi tư duy cụ thể nên còn ngại khó khi gặpcác bài toán phức tạp Từ đó dẫn đến kết quả học tập của các em chưa cao
- Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài, dẫn đếnnhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan Ngoài ra, còn cónhững trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúng túng trong cách trình bày nhất
là với các bài toán giải có lời văn phức tạp
- Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, vừa dạy bài mới, vừa làm bài tập và cácbài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lờikhông được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, chưa nắm được mẹo đểgiải bài toán
- Nguyên nhân không thể bỏ qua, đó là các em không thường xuyên ônluyện cho mình các kĩ năng hay các dạng bài toán đã học
- Một số học sinh đã mất một số kiến thức cơ bản nên mắc nhiều sai lầmtrong giải bài toán
Tìm ra được các khó khăn, sai lầm và nguyên nhân của các sai lầm đó, tôi đã
cố gắng đề ra một số biện pháp phù hợp với lớp 5 để khắc phục tình trạng trên
3 Một số biện pháp khắc phục:
3.1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch nghiên cứu.
Trang 9- Để xây dựng được kế hoạch giúp các em khắc phục những khó khăn vàsai lầm khi thực hiện giải toán có lời văn giáo viên phải nắm được các dạngToán có lời văn ở lớp 5 theo chuẩn kiến thức kĩ năng và thành thạo, vận dụnglinh hoạt các phương pháp giải toán khác nhau đối với các dạng toán cơ bảncủa lớp 5.
- Giáo viên phải có tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ, tận tụy trong công việc
- Phân hóa đối tượng trong lớp và có biện pháp phù hợp với từng đối tượng
để khắc sâu và nâng cao kiến thức về cách giải toán có lời văn cho các em
- Giáo viên cần trau dồi thêm kiến thức Dành nhiều thời gian cho việcnghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi ở đồng nghiệp, ở tài liệu để nâng cao nghiệp vụ Đặcbiệt là nghiên cứu sâu việc giảng dạy theo phương pháp mới
- Ngoài những buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường, cụm cũng như nhữngbuổi chuyên môn đề do Phòng Giáo dục tổ chức, chúng tôi còn chia sẻ, học hỏinhững kinh nghiệm cũng như những tình huống xảy ra trong thực tế và các cách xử
lí đã mang lại hiệu quả trong giảng - dạy của đồng nghiệp từ những buổi giaolưu, tọa đàm, thảo luận chuyên đề về giải toán và dạy giải toán có lời văn chohọc sinh lớp 5
(Phụ lục ảnh 1a, 1b)
- Vận dụng sáng tạo, linh hoạt những kinh nghiệm đã học tập trao, trao đổicùng bạn bè đồng nghiệp vào việc giảng dạy thực tế hàng ngày
3.2 Biện pháp 2: Công tác chuẩn bị tiết dạy của giáo viên.
- Công tác chuẩn bị của giáo viên thể hiện rõ qua việc soạn giáo án,phương pháp lên lớp, đồ dùng dạy học Muốn giảng dạy tốt thì trước khi lênlớp giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài, hiểu rõ ý đồ của sách giáo khoa,lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tốt nhất, nhằm phát huy tínhtích cực chủ động, sáng tạo của học sinh Cụ thể trong giáo án phải thể hiện rõhoạt động của trò và hỗ trợ của thầy, phải chú ý đến các đồi tượng học sinh đểđưa ra tình huống, câu hỏi hợp lí cho từng đối tượng hoàn thành tốt, hoànthành và chưa hoàn thành
- Trong khâu chuẩn bị giáo viên cũng cần chú ý đến việc chuẩn bị đồ dùngdạy học làm sao phát huy được sự sáng tạo, kích thích óc tưởng tượng và tư duycủa học sinh
- Giáo viên tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan và ứng dụng côngnghệ thông tin để bài học trở nên phong phú, sinh động Cố gắng tận dụng nhữngtrang thiết bị một cách tối đa vào việc dạy và học
3.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh nhận biết các yếu tố Toán học.
- Cùng với những tích luỹ về kiến thức tôi đã hướng dẫn học sinh nhận biếtcác yếu tố Toán học, cụ thể những việc sau:
Trang 10+ Hướng dẫn học sinh nhận biết nguồn gốc thực tế và tác dụng phục vụ thựctiễn cuộc sống của bài toán
Ví dụ: Cần tính năng suất lúa trên một diện tích đất trồng; tính bình quân thu
nhập hàng tháng theo đầu người hay gia đình em (Sách giáo khoa Toán 5 - trang
160 – 161, …)
+ Hướng dẫn học sinh nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượngtrong bài toán
Ví dụ: Khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh dựa vào “cái đã cho”,
“cái phải tìm” và mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian
để tìm đại lượng chưa biết
+ Tập cho học sinh biết xem xét các đối tượng toán học và tập diễn đạtcác kết luận dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ : “số bạn trai bằng 13 sốbạn gái” cũng có nghĩa là “số bạn gái gấp 3 lần số bạn trai”; “đáy nhỏ bằng 23đáy lớn” cũng có nghĩa là “đáy lớn gấp rưỡi đáy nhỏ” hoặc “đáy lớn gấp 1,5lần đáy nhỏ”
- Ngoài ra hệ thống câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh cũng cần hợp lý vàlogic Bên cạnh đó giáo viên cần có những câu hỏi gợi mở giúp học sinh xác địnhhướng giải quyết vấn đề
3.4 Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh phân loại các dạng bài toán có lời văn ở lớp 5.
- Phân chia nhỏ từng đơn vị kiến thức để có những phương pháp, hình thứcphù hợp khi hướng dẫn học sinh
- Để giải được bài toán thì học sinh phải hiểu đề bài, hiểu các thành phần của
nó Những cái đã cho và những cái cần tìm thường là những số đo đại lượng nàođấy được biểu thị bởi các phép tính và các quan hệ giữa các số đo Dựa vào đó mà
có thể phân loại các bài toán:
* Phân loại theo đại lượng: Với mỗi loại đại lượng có một loạt bài toán có
lời văn về đại lượng đó như:
+ Các bài toán về số lượng
+ Các bài toán về khối lượng của vật
+ Các bài toán về các đại lượng trong chuyển động đều
+ Các bài toán về các đại lượng trong hình học
+ Cách phân loại này đóng vai trò không nhỏ trong quá trình dạy học
* Phân loại theo số các phép tính:
+ Bài toán đơn: Là bài toán mà khi giải chỉ cần 1 phép tính Ở lớp 5 loại toánnày thừơng được dùng để nêu ý nghĩa thực tế của phép tính, nó phù hợp với quátrình nhận thức: Thực tiễn – tư duy trừu tượng - thực tiễn
Trang 11Ví dụ: Để dạy trừ số đo thời gian có bài toán “Một ô tô đi từ Huế lúc 13 giờ
10 phút và đến Đà Nẵng lúc 15 giờ 55 phút Hỏi ô tô đó đi từ Huế đến Đà Nẵng hếtbao nhiêu thời gian? ” (Ví dụ trang 132 – SGK Toán 5) Từ bản chất của bài toánhọc sinh hình thành phép trừ
15 giờ 55 phút – 13 giờ 10 phút = 2 giờ 45 phút
+ Bài toán hợp: Là bài toán mà khi giải cần ít nhất 2 phép tính Loại bài toánnày thường dùng để luyện tập, củng cố kiến thức đã học Ở lớp 5, dạng toán này cómặt ở hầu hết các tiết học toán
* Phân loại theo phương pháp giải (phân tích - tổng hợp):
- Trong thực tế, nhiều bài toán có nội dung khác khau nhưng có thể sử dụngcùng một phương pháp suy luận để giải
- Từ những việc đã được phân tích rất cụ thể trên thì chúng ta cũng cần hìnhthành cho học sinh các bước chung khi giải toán
Bước 1: Tìm hiểu bài toán.
Hướng dẫn học sinh đọc kĩ đầu bài Cần làm rõ phần đã cho, phần cần tìmcủa đề bài bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau, với ngôn ngữ ngắn gọn, sơ đồ đoạnthẳng, mô hình
Bước 2: Lập kế hoạch giải bài toán.
Tìm hướng giải cho bài toán, xem xét bài toán thuộc dạng nào từ đó huyđộng vốn kiến thức cần thiết để tìm lời giải thường xuất phát từ câu hỏi trong đềtoán suy luận ngược trong điều kiện đã cho của bài toán Bước này giáo viên chú ýphối hợp nhiều phương pháp giải phù hợp với từng bài để học sinh lập kế hoạchgiải đúng
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải.
Là tiến hảnh thực hiện các phép tính theo trình tự mà bước lập kế hoạch giải
đã xác định, sau đó viết lời giải Giáo viên chú ý với học sinh 2 bước đầu của giảitoán Tuy nhiên khi khâu trình bày cũng rất quan trọng: Trình bày rõ ràng, cân đối,đầu câu trả lời phải viết hoa, đáp số ghi bên dưới phép tính cuối cùng, thẳng vớidấu bằng của phép tính trên
Bước 4: Kiểm tra kết quả.
Bước này về nguyên tắc không phải là bước bắt buộc với quá trình giải toánnhưng lại là bước không thể thiếu trong dạy học toán với các mục đích:
+ Kiểm tra, rà soát lại công việc
+ Tìm cách giải khác và so sánh cách giải
+ Suy nghĩ khai thác thêm đề bài
+ Ở bước này hình thành cho học sinh thói quen: Cẩn thận, tỉ mỉ trong giảitoán, yêu thích tìm tòi giải toán
Trang 12Thường xuyên định hướng cho học suy nghĩ theo hướng phân tích - tổnghợp để giúp học sinh hình thành thói quen này trong quá trình phân tích tìm hiểu
đề rồi đi đến giải các bài toán một cách chính xác
3.5 Biện pháp 5: Giáo viên linh hoạt lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc trưng của bộ môn.
Phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng quyết định hiệu quả giờdạy Đổi mới phương pháp dạy học toán đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọncác phương pháp phù hợp với đặc trưng của môn Toán Việc lựa chọn, phốihợp, vận dụng hợp lí các phương pháp dạy học ở từng tiết dạy Toán có những đặcđiểm riêng, không thể áp dụng một cách máy móc, đồng loạt Không có phươngpháp nào là “vạn năng” Chỉ có sự tìm tòi sáng tạo, sử dụng linh hoạt các phươngpháp dạy học mới đạt được thành công trong mỗi bài dạy Giúp cho học sinh nhận
ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đadạng và phong phú để các em tự khai thác, khám phá tìm tòi và lĩnh hội kiến thứcmột cách nhẹ nhàng, thoải mái, lôgic, hợp lý, giúp học sinh tự luyện tập, thực hànhtheo khả năng riêng của mình Tôi thường lựa chọn những phương pháp sau:
* Phương pháp trực quan: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang
tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức củamôn toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao Sử dụng phương pháp này giúphọc sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duytrừu tượng và vốn hiểu biết
Đối với học sinh lớp 5, việc sử dụng đồ dùng trực quan ít hơn các lớp trước
và bớt dần đi việc đồ vật thật Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 5, giáo viên có thểcho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó lập tóm tắt đề bài rồi mới đếnbước chọn phép tính
(Phụ lục ảnh 2a, 2b)
* Phương pháp gợi mở-vấn đáp: Đây là phương pháp cần thiết và thích hợp
với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời,tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh Để sử dụng tốt phương phápnày, giáo viên cần lựa chon hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng, nhờ thế mà họcsinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp các em dễ dàng trảlời các câu hỏi
(Phụ lục ảnh 3a, 3b)
* Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực
hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp (chủ yếu ở cáctiết luyện tập) Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp cácphương pháp như: Gợi mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ
(Phụ lục ảnh 4a, 4b)
* Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng: Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để
biểu diễn các đại lượng đã cho trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại