Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống người dân không ngừng nâng cao, song song với quá trình phát triển đó chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp các địa phương. Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng kéo theo nó là sự phát sinh một lượng các loại chất thải tương đối lớn gây tác động không tốt đến sức khoẻ của con người và làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào trong sinh hoạt hằng ngày không sinh ra rác. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2016, cả nước thu gom được trên 33.167 tấn chất thải rắn (CTR), trong đó tổng lượng CTR thông thường thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng đạt khoảng 27.067 tấn (chiếm tỷ lệ 81%). Như vậy, vẫn còn khoảng 5.100 tấn CTR được thu gom nhưng chưa được xử lý theo quy định, chưa kể lượng lớn CTR chưa được thu gom, đã và đang gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, vấn đề rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Quảng Ninh là địa bàn có có sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây. Trong đó thành phố Móng Cái đang tiềm năng lớn để phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố. Sự phát triển vượt bậc về du lịch kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và cơ sở hạ tầng kéo theo hàng loạt các vấn đề về môi trường, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều. Trong khi đó công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải tại thành phố Móng Cái chưa được quan tâm đúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác thu gom và xử lý rác thải chưa cao, cán bộ môi trường giám sát thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt chưa làm việc đúng năng lực. Vì vậy để đưa ra những đánh giá khách quan, chung thực về công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn thành phố để từ đó đề ra những biện pháp, giải pháp xử lý rác thải sao cho hiệu quả, góp phần làm cho môi trường “xanh sạch đẹp”. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của nhà trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh”.
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG QUANG HUY
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ
MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG QUANG HUY
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ
MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Khoa học môi trường
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2020
Người viết cam đoan
Lương Quang Huy
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, khoa Môi trường và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Điền đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn chân thành đến PGS.TS Trần Văn Điền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, truyền thụ những kinh nghiệm quý báu, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn này
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi trường, Bộ phận Sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng TNMT thành phố Móng Cái, Công ty
CP môi trường và công trình đô thị đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu hoàn thiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
đề tài
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2020
Tác giả luận văn
Lương Quang Huy
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài 3
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 4
1.1.3 Phân loại chất thải rắn 6
1.1.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 9
1.1.5 Những lợi ích và tác hại của chất thải rắn 9
1.1.6 Hệ thống quản lý chất thải 12
1.1.7 Các phương pháp xử lý chất thải rắn 13
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải sinh hoạt 16
1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 18
1.3.1 Tình hình quản lý chất thải sinh hoạt trên thế giới 18
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 21
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Quảng Ninh 28
1.4.1 Hệ thống quản lý 28
1.4.2 Xe thu gom và vận chuyển rác 30
1.4.3 Đánh giá Hệ thống Thu gom và vận chuyển rác 31
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.4.4 Hệ thống xử lý chất thải cuối cùng 31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 34
2.2.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 34
2.2.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Móng Cái 34
2.2.4 Nhận thức về bảo vệ môi trường và ý kiến đánh giá, đóng góp của người dân, nhân viên môi trường trong công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 35
2.2.5 Đề xuất các biện pháp xử lý và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 35
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 36
2.4.3 Phương pháp tham khảo các ý kiến của chuyên gia 38
2.4.4 Phương pháp tính toàn, xử lý số liệu và viết báo cáo 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 39
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 44
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
3.2 Hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
49
3.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 49
3.2.3 Khối lượng CTRSH tại thành phố Móng Cái 52
3.2.4 Dự tính khối lượng chất thải rắn sinh hoạt trong tương lai 53
3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt của thành phố Móng Cái 54
3.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý 54
3.3.2 Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 55
3.3.3 Hiện trạng môi trường không khí tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 58
3.3.4 Hiện trạng môi trường nước tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 61
3.4 Nhận thức về bảo vệ môi trường và ý kiến đánh giá, đóng góp của người dân, nhân viên môi trường trong công tác quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 66
3.4.1 Đánh giá của người dân 66
3.4.2 Đánh giá của nhân viên vệ sinh môi trường 68
3.5 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn một số phường trung tâm thành phố Móng Cái 69
3.5.1 Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý chất thải rắn 69
3.5.2 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt 70
3.5.3 Thu gom vận chuyển 70
3.5.4 Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế 71
3.5.5 Giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng 71
3.5.6 Hợp tác quốc tế trong công tác quản lý chất thải rắn 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73
Kết luận 73
Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần CTR phát sinh theo mức thu nhập 23
Bảng 1.2: Lượng CTRSH đô thị phát sinh qua các năm tại một số địa phương 24
Bảng 1.3 Số liệu về phát sinh chất thải rắn trong tỉnh Quảng Ninh 28
Bảng 1.4 - Xe thu gom và vận chuyển rác (năm 2015) 30
Bảng 1.5 Hiện trạng các bãi rác hiện tại 32
Bảng 3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại Thành phố Móng Cái 49
Bảng 3.2 Thành phần rác thải sinh hoạt phát sinh tại một số phường Thành phố Móng Cái 50
Bảng 3.3 Khối lượng CTRSH của thành phố 52
Bảng 3.4: Dự báo lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại Thành phố Móng cái 53
Bảng 3.5 Cơ cấu tổ chức nhân lực của công ty cổ phần MT và CT đô thị 54
Bảng 3.6 Kết quả phân tích các chỉ tiêu môi trường không khí 58
tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 58
Bảng 3.7 Kết quả phân tích khí thải tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 60
Bảng 3.8 Kết quả phân tích nước thải tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 61
Bảng 3.9 Kết quả phân tích nước mặt tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 63
Bảng 3.10 Kết quả phân tích nước giếng khoan tại Nhà máy xử lý CTR 64
Bảng 3.11: Ý kiến đánh giá của người dân về mức độ ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến môi trường, mỹ quan đường phố 66
Bảng 3.12: Ý kiến đánh giá của người dân về việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn 67
Bảng 3.13 Đánh giá của người dân về công tác thu gom, vận chuyển CTRSH 68
Bảng 3.14 Đánh giá của nhân viên vệ sinh MT về công tác thu gom, vận chuyển CTRSH 68
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn 5
Hình 1.2 Công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện 16
Hình 1.2 Phát sinh Chất thải 29
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý thành phố Móng Cái 39
Hình 3.2 Thành phần CTRSH tại một số phường trên địa bàn 51
thành phố Móng Cái 51
Hình 3.3 Khối lượng CTRSH của thành phố 52
Hình 3.4 Sơ đồ quy trình thu gom, vận chuyển CTRSH TP Móng Cái 57
Hình 3.5 Kết quả phân tích khí thải tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 61
Hình 3.6 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước thải tại Nhà máy xử lý chất thải rắn 63
Hình 3.7: Ý kiến đánh giá của người dân về mức độ ảnh hưởng 67
của RTSH đến môi trường, mỹ quan đường phố 67
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BOD5 Nhu cầu ô xy sinh hoá đo ở 200C sau 5 ngày
BTNMT Bộ Tài nguyên và môi trường
PCCC Phòng cháy chữa cháy
QCVN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
QĐ-BYT Quyết định Bộ Y tế
QĐ-TTg Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
QĐ-UBND Quyết định của Uỷ ban nhân dân
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCVN Tiêu chuẩn Việt nam
TT-BTC Thông tư - Bộ tài chính
TT-BTNMT Thông tư - Bộ Tài nguyên và môi trường
TTCN-DVTM Tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại
WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống người dân không ngừng nâng cao, song song với quá trình phát triển đó chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở khắp các địa phương Quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh chóng kéo theo nó là sự phát sinh một lượng các loại chất thải tương đối lớn gây tác động không tốt đến sức khoẻ của con người và làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào trong sinh hoạt hằng ngày không sinh ra rác Theo Tổng cục Thống kê, năm
2016, cả nước thu gom được trên 33.167 tấn chất thải rắn (CTR), trong đó tổng lượng CTR thông thường thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng đạt khoảng 27.067 tấn (chiếm tỷ lệ 81%) Như vậy, vẫn còn khoảng 5.100 tấn CTR được thu gom nhưng chưa được xử lý theo quy định, chưa kể lượng lớn CTR chưa được thu gom, đã và đang gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, vấn đề rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng của tất cả các quốc gia trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Quảng Ninh là địa bàn có có sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong những năm gần đây Trong đó thành phố Móng Cái đang tiềm năng lớn để phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của thành phố Sự phát triển vượt bậc về du lịch kinh tế cùng với
sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và cơ sở hạ tầng kéo theo hàng loạt các vấn đề về môi trường, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều
Trong khi đó công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải tại thành phố Móng Cái chưa được quan tâm đúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác thu gom và xử lý rác thải chưa cao, cán bộ môi trường giám sát thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt chưa làm việc đúng năng lực Vì vậy để đưa ra những đánh giá khách quan, chung thực về công tác quản lý, thu gom và xử lý rác thải
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trên địa bàn thành phố để từ đó đề ra những biện pháp, giải pháp xử lý rác thải sao cho hiệu quả, góp phần làm cho môi trường “xanh - sạch - đẹp”
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của nhà
trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất giải pháp quản lý nguồn rác thải sinh hoạt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rác thải trên địa bàn thành phố
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về công tác thu gom, xử lý và quản lý rác thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Quảng Ninh Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và khoa học trong công tác quản lý rác thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài
Khái niệm về môi trường:
Theo khoản 1, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2014: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” (Quốc hội, 2014)
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường:
Theo khoản 8, điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2014: “ Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật” (Quốc hội, 2014)
- Khái niệm về chất thải:
Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Quốc hội, 2014)
Tất cả những gì con người đã sử dụng, không còn dùng được nữa (hoặc không muốn dùng nữa) nên vứt bỏ Các chất thải khác trong sinh hoạt và từ các ngành công nghiệp
- Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): Là chất thải rắn phát
sinh trong hoạt động sinh hoạt của các cá nhân, hộ gia đình Thành phần rác thải sinh hoạt bao gồm: kim loại, thủy tinh, gạch ngói vỡ, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa,… ( Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
- Khái niệm về chất thải nguy hại: Theo quy chế quản lý chất thải nguy
hại năm 1999: “chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất
có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc,
dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với
các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người”
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Theo luật BVMT 2014: “ Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc
tính nguy hại khác” (Quốc hội, 2014)
Tuy có sự khác nhau về từ ngữ những cả hai định nghĩa đề có nội dung như nhau, giống với định nghĩa của các nước và tổ chứ trên thế giới, đó là nêu đặc tính nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại
- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải
- Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
- Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và
không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế
- Phế liệu là sản phẩm, vật liệu thải ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu
dùng được thu hồi dùng làm nguyên liệu sản xuất
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số chất thải nguy hại
Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn, nhà in Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton, )
Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ
bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa
Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các công viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố
Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các quá trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost,
Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm, Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc
Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây, Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp
Hình 1.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn
(Nguồn:Nguyễn Xuân Nguyên, 2014)
Cơ quan trường học
Nông nghiệp , hoạt động xử
lý rác thải
Nơi vui chơi, giải trí
Bệnh viện,
cơ sở y tế
Khu công nghiệp, nhà máy,
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.1.3 Phân loại chất thải rắn
Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau Tuỳ theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một
số thành phần đặc trƣng nhất định Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố) (Nguyễn Xuân Nguyên, 2014)
a, Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoat động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ những khu dân cư, các cơ quan, trường hoc̣, các trung tâm dịch vụ thương mại
Chất thải rắn công nghiêp: là những chất phát sinh từ những hoạt động sản xuất công nghiêp ̣, tiểu thủ công nghiệp
Chất thải xây dưng: là những phế thải như đất, đá, gạch, ngói, bê tông
vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình
Chất thải nông nghiêp: là những chất thải thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt thu hoac̣h các loại cây trồng, các sản phẩm từ chế biến sữa, các lò giết mổ, chất thải chăn nuôi (Nguyễn Xuân Nguyên, 2014)
b, Theo mức độ nguy hại
Theo mức độ nguy hại có thế phân loại như sau:
Chất thải nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ,
Chất thải không nguy hại: Là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp
Chất thải y tế nguy hại: Là những chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường
và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm
và các mô bị cắt bỏ,
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
c, Phân loại theo trạng thái chất thải
Các loại chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân
loại theo nhiều cách Có thể phân loại chất thải rắn như sau:
* Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ
* Theo thành phần hoá học và vật lý: Người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, dẻ vụn, cao su, chất dẻo
- Theo bản chất nguồn tạo thành - chất thải rắn được phân thành các loại: + Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cư quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại sành sứ thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất đá cao su, chất dẻo thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả…
* Theo phương diện khoa học có thể phân biệt các loại chất rắn sau: + Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau quả…loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân huỷ tạo ra các chất có mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Ngoài loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói…
Chất thải rắn công nghiệp: Là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:
+ Các phế thải từ vật liêu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ, trong các nhà máy nhiệt điện
+ Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất
+ Các phế thải trong quá trình hoạt động công nghệ
+ Bao bì đóng gói sản phẩm
Chất thải xây dựng: Là các phế thải từ đất cát, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình… Chất thải xây dựng bao gồm:
+ Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng
+ Đất đá do việc đào móng trong xây dựng
+ Các vật liệu như kim loại, chất dẻo…
Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm sử lý nước thiên nhiên, nước sinh hoạt, bùn cặt từ các cống thoát nước thành phố
Chất thải nông nghiệp: Là các phế thải từ các hoạt đông nông nghiệp, thí
dụ như trông trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, của các lò giết mổ
* Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn được phân thành các loại:
Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hoá chất gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…Có nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ của con người
và động vật cây cỏ
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chất thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các chất
và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần (Nguyễn Xuân Nguyên, 2014)
1.1.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn sinh hoạt là điều hết sức cần thiết Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế
Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như : Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm…; chất thải từ dịch
vụ như rửa đường và hẻm phố chứa bụi, rác, xác động vật , chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp…
1.1.5 Những lợi ích và tác hại của chất thải rắn
a Lợi ích của chất thải rắn
Các chất thải có thể phân hủy sinh học được (hay còn gọi là rác hữu cơ) thường là những loại rác thải có nguồn gốc từ thực vật, động vật và có thể bị phân hủy trong môi trường tự nhiên bởi các vi sinh vật Các loại rác thải có thể phân hủy sinh học có khả năng tái chế lại để sản xuất năng lượng điện bằng công nghệ chôn lấp rác để thu khí gas chạy máy phát điện hoặc sản xuất phân bón bằng công nghệ ủ vi sinh Việc tái chế chất thải hữu cơ bằng một hoặc cả hai phương pháp này đều góp phần đáng kể làm giảm tổng lượng phát thải các loại khí nhà kính ra môi trường tự nhiên và do đó góp phần kiểm soát hiện tượng nóng lên toàn cầu
Nhiều loại rác thải không thể phân hủy sinh học thường có khả năng tái chế được hay tái sử dụng được như giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngay kể cả một số loại rác thải được xem là có tính nguy hại như dầu bôi trơn, thiết bị điện/điện tử, pin/ắc quy… nếu được thu gom và đem bán cho các cơ sở tái chế có công nghệ tái chế an toàn và phù hợp với môi trường thì chúng ta lại có thể tách riêng các chất/thành phần nguy hại và đem tái chế những thành phần không nguy hại thành nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội
Do các tính năng có thể sử dụng lại hay có thể tái chế được của những thành phần không độc hại nên chất thải sinh hoạt nếu được quản lý tốt và được phân loại ngay từ nguồn phát sinh thì sẽ trở thành nguồn tài nguyên quý giá phục vụ sản xuất và đời sống
b Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường và sức khỏe con người
- Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
+ Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: thay đổi cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn, các vi sinh vật trong đất có thể bị chết
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi
sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước, qua cống rãnh, ra ao
hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất
bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao, hồ là nguyên nhân gây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh
và làm giảm sinh khối của các thủy vực
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối lân cận Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạ n chế tối đa nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt
+ Tại các trạm/ bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây
ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại
- Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
+ Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn
+ Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh
+ Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh
là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người
- Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
+ Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử
lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ
lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
+ Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng, lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực thôn xóm nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ (Trần Hiếu Nhuệ, 2001)
1.1.6 Hệ thống quản lý chất thải
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về CTR đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến CTR liên quan đến vấn đề về quản lý hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật
a Các hoạt động quản lý chất thải rắn
- Phân loại chất thải rắn: Trước khi CTR được xử lý thì cần thiết phải qua công tác phân loại Hoạt động phân loại chất thải rắn có thể được tiến hành tại hộ gia đình, các điểm trung chuyển và các bãi rác xử lý tập trung
- Thu gom chất thải: Công tác thu gom xử lý chất thải cần được hợp lý hóa, cần xác định mức độ phục vụ đề ra như thu gom thường xuyên, phân tích kho chứa tạm thời và phương pháp thu gom đã áp dụng cũng như các tuyến đường thu gom vận chuyển
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý RTSH
c Các công cụ quản lý môi trường và RTSH
Công cụ quản lý môi trường và RTSH là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
- Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương
- Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
- Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, giám sát môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất
kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào (Nguyễn Xuân Nguyên, 2014)
1.1.7 Các phương pháp xử lý chất thải rắn
1.1.7.1 Phương pháp ủ sinh học làm phân (composting)
Để xử lý chất thải và tận dụng nguồn phân bón cho sản xuất nông nghiệp, sau một quá trình ủ, lên men, chất thải hữu cơ trở nên vô hại và là nguồn phân bón tốt cho cây trồng Phương pháp này thích hợp với loại chất thải rắn hữu cơ trong chất thải sinh hoạt chứa nhiều cacbonhyđrat như đường, xenlulo, lignin,
mỡ, protein, những chất này có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước Quá trình ủ được coi như một quá trình xử lý, sản phẩm cuối cùng không có mùi, vi
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sinh vật gây bệnh Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi hỏi một phần năng lượng nhỏ để tăng cao dòng không khí qua các lỗ xốp Trong quá trình ủ, oxy sẽ được hấp thụ gấp hàng trăm lần so với bể aerotank Quá trình ủ được áp dụng đối với chất hữu cơ không độc hại Đầu tiên là khử nước, sau đó là xử lý cho nó tới khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ luôn được kiểm tra để giữ cho vật liệu luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy là CO2, nước, các hợp chất hữu cơ bền vững như ligin, xenlulozo, sợi…
1.1.7.2 Phương pháp thiêu đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại rác nhất định không thể xử lý bằng biện pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hoá nhiệt độ với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó rác thải độc hại được chuyển hóa thành khí và các chất thải rắn không cháy Các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí Chất thải rắn sau đốt được chôn lấp
Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có thể làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng Nếu áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ mang lại nhiều ý nghĩa đối với môi trường, song đây là phương pháp xử lý tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh, chi phí để đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần Tuy nhiên, việc thu đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sẽ tạo ra khói độc đioxin, nếu không xử lý được loại khí này là rất nguy hiểm tới sức khoẻ
Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghiệp nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém để khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây ra Hiện nay việc thu đốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại như rác thải y tế hoặc rác thải công nghiệp vì các phương pháp xử lý khác không thể xử lý triệt để được
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hiện nay, tại các nước châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàng loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết Việc đốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại như rác thải bệnh viện hoặc rác thải công nghiệp vì các phương pháp xử lý khác không thể xử lý triệt
để được
1.1.7.3 Phương pháp chôn lấp
Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển bởi xây dựng, vận hành đơn giản, rẻ tiền hơn, có thể xử lý được đa dạng các loại rác khác nhau: rác sinh hoạt, rác công nghiệp, rác dạng bùn nhão… Đối với các
đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay, việc xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh được áp dụng phổ biến và tuân theo tiêu chuẩn TCXDVN 261:2001 về thiết kế bãi chôn lấp chất thải rắn
Phương pháp này có các ưu điểm như: công nghệ đơn giản; chi phí thấp, song nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất tương đối lớn; không được sự đồng tình của dân cư xung quanh, việc tìm kiếm xây dựng bãi chôn lấp mới là khó khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, gây cháy nổ
1.1.7.4 Các phương pháp xử lý khác
* Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện
Rác thu gom tập trung về nhà máy chế biến được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải Các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa…được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyển qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện có tỷ số nén cao Các khối rác ép này được sử dụng vào việc san lấp, làm bờ chắn các vùng đất trũng
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hình 1.2 Công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện
* Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex
Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục
vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và các sản phẩm nông nghiệp hữu ích
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác, sau đó polyme hóa
và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy, không cần phân loại được đưa vào máy cắt, nghiền
nhỏ, sau đó đi qua băng tải chuyển đến các thiết bị trộn
1.2 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải sinh hoạt
a Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý chất thải
- Luật Bảo vệ Môi trường sốb 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về quản
lý chất thải rắn
- Nghị định số 174/ 2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của chính phủ bổ sung một số điều NĐ 80/2006
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định
về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Rác
thải
Phễu nạp rác
Phân loại
Băng tải rác
Băng tải thải vật liệu
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Nghị định số 19/2015/NĐ - CP ngày 14/2/2015 của Thủ Tướng Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của chính phủ về quản
lý chất thải và phế liệu
- Thông tư số 13/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số điều Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về thu gom và quản lý chất thải rắn
- Chỉ thị số 36/2008/CT-BNN về tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn trong đó đề cập nhiệm vụ quản lý CTR nông thôn
- Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường Quốc gia đến năm 2020”
- Quyết định 2149/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn đến 2025, tầm nhìn đến 2050
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 1326/QĐ-BXD ngày 03 tháng 11 năm 2014 về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện đề án huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống cấp, thoát nước và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
b Các văn bản, quyết định của tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 3076/2009/QĐ-UBND ngày 08/10/2009 về việc ban hành Quy chế bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ninh
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Quyết định số 3805/2011/QĐ-UBND ngày 2/12/2011về Ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 144/QĐ-HĐND ngày 31/5/2014 về việc thông qua Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Quyết định số 1799/QĐ-UBND ngày 18/8/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Quyết định số 4012/QĐ-UBND ngày 30/11/2016 về Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
- Quyết định số 1613/2017/QĐ-UBND ngày 23/05/2017 về Ban hành Quy định quản lý chất thải rắn thông thường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 09/03/2018 Quy định một số mức chi sự nghiệp bảo về môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình quản lý chất thải sinh hoạt trên thế giới
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, công nghiệp hoá - hiện đại hoá phát triển mạnh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
về ô nhiễm môi trường Xã hội phát triển, nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng lên dẫn đến lượng rác thải cũng tăng lên nhanh chóng
Với lượng rác gom góp được trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn một năm, thế giới hiện có lượng rác ngang bằng với sản lượng ngũ cốc (đạt 2 tấn)
và sắt thép (1 tỉ tấn), khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và Veolia Propreté, công ty quản lý rác lớn thứ hai thế giới
Theo các chuyên viên nghiên cứu của hai cơ quan trên, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ tấn rác tập trung ở vùng đô thị, từ 1,1 đến 1,8 tỉ tấn rác công nghiêp không nguy hiểm và 150 triệu tấn rác nguy hiểm (mức tính toán
thực hiện tại 30 nước) (Tổng cục môi trường, 2015)
- Công tác phân loại rác thải sinh hoạt trên thế giới
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Những năm gần đây, công nghệ phân loại rác tại nguồn và chế biến rác thải hữu cơ làm phân compost (phân ủ) phát triển rất mạnh Những bài học về thu gom rác thải trên thế giới có rất nhiều Ví dụ: ở Châu Âu, nhiều quốc gia
đã thực hiện quản lý rác thải thông qua phân loại rác thải rắn tại nguồn và xử
lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và môi trường
Tại các quốc gia như Đan Mạch, Anh, Hà lan, Đức, việc quản lý rác thải được thực hiện rất chặt chẽ công tác phân loại và thu gom rác đã trở thành nề nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này Các loại rác thải có thể tái chế được như giấy loại, chai lọ thuỷ tinh, vỏ đồ hộp được thu gom vào các thùng chứa riêng Đặc biệt rác thải nhà bếp có thành phần hữu cơ dễ phân huỷ được yêu cầu phân loại riêng đựng vào các túi có màu sắc theo đúng quy định thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy chế biến phân compost (phân ủ) Đối với các loại rác bao bì có thể tái chế, người dân mang đến thùng rác đặt cố định trong khu dân cư
Ở châu Á: Với đà phát triển nhanh chóng của số dân thành thị, người ta
ngày càng chú ý nhiều hơn vào việc làm cách nào để các đô thị trở nên trong lành hơn, bền vững hơn và tiện nghi hơn cho cuộc sống Nhật Bản và Singapore
là những nước đi đầu trong việc bảo vệ môi sinh
Tại Nhật Bản, trong 37 Đạo luật về BVMT có 7 Đạo luật về quản lý và tái chế CTR Việc phân loại rác tại nguồn đã được triển khai từ những năm
1970 Các hộ gia đình được yêu cầu phân loại rác thành 3 dòng:
+ Rác hữu cơ dễ phân huỷ để làm phân hữu cơ vi sinh, được thu gom hàng ngày đưa đến nhà máy chế biến
+ Rác vô cơ gồm các loại vỏ chai,hộp đưa đến nhà máy để phân loại, tái chế + Loại rác khó tái chế, hiệu quả không cao nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình tự mang ra điểm tập
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kết rác của cụm dân cư vào các giờ quy định dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư
Tại Hàn Quốc, rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biôga cung cấp cho phát điện Sau khi rác tại hố chôn phân huỷ hết, tiến hành khai thác mùn ở bãi chôn làm phân bón Như vậy, tại các nước phát triển việc phân loại rác tại nguồn đã được tiến hành cách đây khoảng 30 năm và đến nay cơ bản đã thành công trong việc tách rác thành 2 dòng hữu cơ dễ phân huỷ được thu gom xử lý hàng ngày, rác khó phân huỷ có thể tái chế hoặc đốt, chôn lấp an toàn được thu gom hàng tuần
Ở Đông Nam Á, Singapore đã thành công trong quản lý rác thải để BVMT Chính phủ Singapo đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà Nước
Tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một
số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm (Lê Văn Khoa, 2010)
- Công tác thu gom, vận chuyển rác thải trên thế giới
Tại Nhật Bản Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Ở đây rác hữu cơ dễ phân hủy, được thu gom hàng ngày
để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost, góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón; loại rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp,…, được đưa đến nhà máy phân loại để tái chế; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân
cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Đối với những loại rác có kích lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, tivi, giường, bàn ghế… thì phải đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môi trường đến chuyên chở
Tại Singapore nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác rất hiệu quả Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom rác trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm Singapore có 9 khu vực thu gom rác, gồm rác thải hộ gia đình và rác thải thương mại Rác thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn Công ty thu gom rác sẽ cung cấp dịch vụ “từ cửa đến cửa”, rác thải tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình Tái chế Quốc gia Trong số các nhà thầu thu gom rác hiện nay tại Singapore, có bốn nhà thầu thuộc khu vực công, còn lại thuộc khu vực tư nhân Các nhà thầu tư nhân đã có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom rác thải, khoảng 50% lượng rác thải phát sinh do tư nhân thu gom Quy định các xí nghiệp công nghiệp và thương mại chỉ được thuê mướn các dịch vụ từ các nhà thầu được cấp phép Phí cho dịch vụ thu gom rác được cập nhật trên mạng Internet công khai để người dân
có thể theo dõi Bộ môi trường qui định các khoản phí về thu gom rác và đổ rác với mức 6-15 đô la Singapore mỗi tháng tùy theo phương thức phục vụ (Lê Văn Khoa, 2010)
Tại Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á, có vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên khá giống với Việt Nam, người dân có ý thức cao trong công tác thu gom rác thải Năm 2002, khoảng 98-99% lượng rác thải được thu gom, vận chuyển (Lê Văn Khoa, 2010)
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
- Lượng chất thải rắn sinh hoạt:
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh phụ thuộc vào quy mô dân số của
đô thị Ước tính lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 - 16 % mỗi năm Tại hầu hết các đô thị khối lượng CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng CTR đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%)
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2017, Chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt đô thị bình quân đầu người tăng theo mức sống, ở các đô thị có mức sống cao như các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1, chỉ số phát sinh CTR sinh hoạt trung bình là 1,3 kg/người/ ngày, lớn hơn nhiều so với các đô thị loại IV, loại
V là 0,5 kg/người/ngày
Lượng CTR sinh hoạt đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Đà Nẵng, Tp.Hải Phòng, nơi có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tăng nhanh, chiếm tới 45,24%, tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh
từ tất cả các đô thị
Tại một số đô thị nhỏ (từ loại II trở xuống), lượng CTR sinh hoạt đô thị tăng không nhiều do mức sống thấp và tốc độ đô thị hóa không cao
+ Rác hộ dân chiếm tỉ trọng 57,91% tổng lượng rác
+ Rác đường phố chiếm tỉ trọng 14,29% tổng lượng rác
+ Rác công sở chiếm tỉ trọng 2,8% tổng lượng rác
+ Rác chợ chiếm tỉ trọng 13% tổng lượng rác
+ Rác thương nghiệp chiếm tỉ trọng 12% tổng lượng rác Thành phần chủ yếu trong CTR sinh hoạt đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ
khá cao từ 60 - 75% / tổng khối lượng chất thải (Cục Bảo vệ môi trường, 2008)
Theo nghiên cứu của WB, thành phần rác thải sinh hoạt phụ thuộc vào mức thu nhập của người dân, thành phần chất thải chứa chất hữu cơ cao đối với nhóm cư dân thu nhập thấp và các chất vô cơ cao đối với nhóm cư dân thu nhập cao Thành phần chủ yếu trong CTR tại các bãi chôn lấp là chất thải thực phẩm với tỷ lệ khá cao (83 - 89%) Các thành phần CTR có khả năng tái chế như
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
plastic, giấy, kim loại giảm đáng kể do hoạt động phân loại và thu gom phế liệu, phần còn lại ít có khả năng tái chế, chủ yếu là các chất vô cơ (bùn, đất)
Bảng 1.1: Thành phần CTR phát sinh theo mức thu nhập
Mức thu
nhập
Chất hữu
cơ (%)
Giấy (%)
Nhựa (%)
Thủy tinh (%)
Kim Loại (%)
Khác (%)
(Nguồn: WB, Rác thải- Quản lý chất thải rắn toàn cầu, 2015)
CTR sinh hoạt có đặc trưng tính chất khác nhau tùy thuộc vào vùng địa lý: khu vực miền biển do ngành du lịch phát triển nên lượng CTR sinh hoạt thường cao đột biến theo mùa vụ, tính chất của CTR vùng biển cũng mang tính đặc thù do các chất tẩy rửa được dùng khá phổ biến và rộng rãi trong ngành dịch vụ lưu trú nên gây ảnh hưởng lớn tới môi trường nước Trong khi đó, CTR sinh hoạt ở vùng núi lại có tính ổn định và hầu hết đều là các chất thải thông thường, tỷ lệ chất hữu cơ có thể phân hủy sinh học rất cao, phổ biến là tự xử lý
thương mại, văn phòng, cơ sở nghiên cứu, trường học (Urenco Hà Nội, 2017)
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tại Tp.Hồ Chí Minh: Tổng khối lượng CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố năm 2017 là 3.175.500 tấn, trung bình 8.700 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, xử lý
CTR sinh hoạt đạt 100% (Sở TN&MT TP Hồ Chí Minh, 2017)
Bảng 1.2: Lượng CTRSH đô thị phát sinh qua các năm
tại một số địa phương
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015, 2015)
Hiện nay, túi nilon và chất thải điện tử đang là vấn đề đáng lo ngại trong quản lý CTR sinh hoạt đô thị do thói quen sử dụng của người dân
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ TN&MT, mỗi hộ gia đình thường sử dụng 5 - 7 túi nilon/ngày bao gồm cả túi to, túi nhỏ và những túi siêu nhỏ Chỉ riêng 2 thành phố lớn là Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh, trung bình một ngày thải
ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon Mỗi ngày Hà Nội thải ra từ 4.000 đến 5.000 tấn rác, trong đó rác thải nilon chiếm đến 7 - 8% Còn Tp.Hồ
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chí Minh mỗi ngày thải ra khoảng 7.000 tấn rác, trong đó, rác thải nilon chiếm khoảng 10% (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2017)
- Công tác thu gom, phân loại chất thải rắn sinh hoạt đô thị
Để quản lý tốt nguồn phát sinh trên cả nước, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường Theo các chuyên gia môi trường, nếu thực hiện phân loại rác tại nguồn ( chỉ có rác vô cơ mới phải đưa đi chôn lấp) thì sẽ giảm ít nhất 50% khối lượng và các vấn đề môi trường cũng giảm nhiều
Công tác thu gom CTR đô thị trong những năm gần đây được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng do lượng CTR đô thị ngày càng tăng, năng lực thu gom còn hạn chế cả về thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu, cụ thể: tổng khối lượng CTR sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý năm
2016 khoảng 33.100 tấn/ ngày, đạt tỷ lệ 85,5% Mặt khác, do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường còn nhiều, việc thu gom, phân loại tại nguồn vẫn chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu đầu
tư cho hạ tầng cơ sở cũng như thiết bị, nhân lực và nhận thức của cộng đồng
Nhìn chung, so với các đô thị còn lại, lượng CTR sinh hoạt được thu gom tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 được thu gom đạt tỷ lệ khá cao
Công tác phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn đã được thực hiện thí điểm
ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Tp.Đà Nẵng từ nhiều năm trước Tuy nhiên, một số chương trình mới dừng ở mức thí điểm, ở phạm
vi hẹp, chưa được triển khai nhân rộng Riêng tại Tp.Hồ Chí Minh, chương trình phân loại rác đã được triển khai thí điểm nhiều lần và gần đây đã được nhân rộng đồng loạt tại 24 quận, huyện trên địa bàn thành phố Báo cáo của Sở TN&MT Tp.Hồ Chí Minh cho thấy, chương trình đã có kết quả khá tốt và có sức lan tỏa mạnh mẽ
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tại Lào Cai, đầu năm 2016 thành phố đã triển khai Đề án phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại 12 phường trên địa bàn thành phố Để thực hiện
có hiệu quả Đề án, UBND thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, từng bước hình thành thói quen trong việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn ở các tổ chức, cơ quan, trường học, hộ gia đình, cá nhân, các khu vực công cộng và cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn Bước đầu việc triển khai Đề án đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số người dân, rác thải được phân loại tại nguồn
Rác thải được phân loại đựng vào 2 thùng rác vô cơ và thùng rác hữu cơ Nhóm chất thải hữu cơ bao gồm: Rác thải nông lâm sản, thực phẩm như rau,
củ, quả, thức ăn thừa, vỏ trứng, bã trà, bã cà phê, hoa tươi, thực vật thải bỏ, giấy
ăn, giấy vệ sinh,… Loại chất thải này được lưu chứa trong thùng có ký hiệu màu xanh Chất thải vô cơ là những chất không có khả năng tự phân hủy bao gồm: Giấy loại và các sản phẩm từ giấy; sắt, thép và các sản phẩm từ kim loại;
đồ dùng nhà bếp; vỏ lon, vỏ hộp, các sản phẩm từ cao su; thuỷ tinh, sành, sứ… Đối với chất thải phát sinh trong quá trình thi công các công trình xây dựng như đất đá thải, vật liệu xây dựng,… phải đổ đúng nơi quy định
Kết quả, nhiều phường trên địa bàn thành phố đã thực hiện tốt công tác phân loại như Kim Tân, Cốc Lếu, Duyên Hải; nhiều khu dân cư, tổ dân phố đã
có trên 90% hộ gia đình thực hiện tốt Tuy nhiên, vẫn có một số nơi trên địa bàn thành phố tỷ lệ phân loại rác tại nguồn còn thấp như: Tiểu khu đô thị 4 Bắc Cường, một số tuyến khu vực Nam Cường
- Công tác thu gom, vận chuyển
Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các
đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng rác thải sinh hoạt
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phát sinh, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa
Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt do Công ty môi trường đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị (Nguyễn Hùng Long, Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Bình Minh, 2006)
Theo báo cáo của Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng, tính đến tháng 11/2016, cả nước có khoảng 35 nhà máy xử lý CTR tập trung tại các đô thị được đầu tư xây dựng và đi vào vận hành Tổng công suất xử lý theo thiết kế khoảng 7.500 tấn/ngày (công suất trung bình phổ biến ở mức từ 100 - 200 tấn/ ngày) Các công nghệ xử lý chủ yếu là sản xuất phân compost (25 cơ sở), đốt (4 cơ sở) và kết hợp Một số cơ sở xử lý CTR sinh hoạt có công suất thiết kế rất lớn như: khu liên hợp xử lý CTR Đa Phước 5.000-5.500 tấn/ngày; nhà máy
xử lý CTR tại Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh 1.800 tấn/ngày; một số cơ sở xử lý có công suất trên 300 tấn/ngày như: nhà máy xử lý chất thải Xuân Sơn (Sơn Tây,
Hà Nội) 700 tấn/ngày; nhà máy xử lý CTR sinh hoạt Nam Bình Dương (Bình Dương) 420 tấn/ ngày; nhà máy xử lý CTR Đồng Xanh (Đồng Nai) 300 tấn/ngày…
Bên cạnh các cơ sở xử lý CTR tập trung, trong năm 2016, cả nước có khoảng 660 bãi chôn lấp CTR sinh hoạt (chưa thống kê được đầy đủ các bãi chôn lấp nhỏ rải rác ở các xã) với tổng diện tích khoảng 4.900ha, trong đó có
203 bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Phần lớn rác thải tiếp nhận tại các bãi chôn lấp chưa được thực hiện phân loại rác tại nguồn Nghiêm trọng hơn, các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh lại là
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các bãi rác lộ thiên, không có hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác, quá tải, không được che phủ, phun hóa chất khử mùi…
1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tỉnh Quảng Ninh
1.4.1 Hệ thống quản lý
Hệ thống xử lý chất thải rắn đô thị ở tỉnh Quảng Ninh được chia thành
13 đơn vị hành chính, bao gồm bốn thành phố, hai thị xã và bảy huyện Hiện nay, các cơ quan thuộc chính quyền cấp huyện, thị xã và một số công ty tư nhân chịu trách nhiệm về việc thu gom rác thải sinh hoạt, trung bình khoảng 292 tấn rác mỗi ngày, được thu gom và xử lý tại từng bãi rác Các công ty thu gom và vận chuyển rác bao gồm INDEVCO, URENCO, Công ty Cổ phần Xử lý chất thải rắn Đô thị T.P Hạ Long, Công ty Môi trường Xanh, Công ty Vệ sinh Hồng Mạnh, Công ty Hải Yến, Công ty Đồng Tâm, v.v Tổng lượng chất thải trung bình thu được trong tỉnh khoảng 106.580 tấn /ngày bao gồm chất thải sinh hoạt
và rác quét đường (Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, 2020)
Hệ thống thu gom rác thải hiện tại thực hiện thu gom hỗn hợp mà không
có tái chế hoặc tái sử dụng chính thức cũng như phân loại rác tại nguồn, không có
cơ sở tái chế và hầu như toàn bộ rác thải thu gom được đều vận chuyển đến bãi rác, ngoại trừ việc đốt rác thực hiện tại tại nhà máy đốt rác
Bảng 1.3 Số liệu về phát sinh chất thải rắn trong tỉnh Quảng Ninh
Dân số năm 2012 Chất thải rắn
phát sinh (Kg/người/
ngày)
Khối lượng chất thải rắn (tấn/năm) Tổng Đô thị
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nguồn: Quy hoạch MT tỉnh quảng ninh đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030
Hình 1.2 Phát sinh Chất thải
Thu gom và vận chuyển chất thải rắn nói chung bao gồm thu gom trực tiếp và thu gom từ các điểm tập kết trong tất cả các khu vực mục tiêu Rác thải
từ hộ gia đình và doanh nghiệp được tập kết trên các con đường, vì thời gian
và địa điểm thu gom không được chỉ định rõ Các đơn vị tái chế rác tư nhân (không chính thức) thu những rác thải có giá trị (nhựa, kim loại, v.v ) từ rác
hộ gia đình và doanh nghiệp một cách trực tiếp, và/hoặc từ những nơi tập kết rác Tại một số khu vực, các hộ gia đình và doanh nghiệp thải trực tiếp rác vào các xe thu gom của công ty thu gom, vận chuyển rác
Công nhân của các công thu gom và vận chuyển rác thu nhận rác thải chung và rác thải tập kết trên các con đường thông qua quét đường, bằng các
xe đẩy tay một vài lần trong ngày Các công ty này thu rác từ các thùng rác (thùng chứa có bánh xe) sử dụng bởi một số khách sạn và các cơ sở công cộng
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
và tư nhân Rác sau khi thu gom được vận chuyển tới một số địa điểm tập kết trung chuyển Nếu trong số rác này vẫn còn chứa các thành phần có giá trị, các công nhân sẽ thu lại và chuyển đến địa điểm thuộc các cơ sở tái chế rác tư nhân Rác thu trực tiếp sẽ được vận chuyển tới xe cuốn ép và xe tải chở rác một số lần trong ngày Cuối cùng, rác được vận chuyển ra bãi rác
1.4.2 Xe thu gom và vận chuyển rác
Bảng 1.4 - Xe thu gom và vận chuyển rác (năm 2015)
STT Thành phố/huyện
Tổng
số xe tải
Xe ép rác
Xe tải / Khác
Xe đẩy tay