1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TH) một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 thông qua môn tiếng việt 1 CGD

22 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 43,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào lớp Một học sinh còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ do sự thay đổi về môi trường học tập, thầy cô, bạn bè... Một số em chưa làm quen được với nền nếp học tập ở Tiểu học nên vẫn còn mải chơi, chưa có ý thức tự giác học tập. Một số học sinh còn nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn trong giao tiếp. Một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao tiếp hàng ngày. Vốn từ của học sinh lớp Một còn ít, việc hiểu nghĩa của từ và sử dụng từ đúng còn nhiều hạn chế do khả năng suy nghĩ, nhận thức của trẻ chưa phát triển. Kĩ năng đọc, nói, viết, nghe của học sinh còn hạn chế do ở Mầm non các em chỉ được làm quen với kỹ năng nghe, nói mà chưa được làm quen với kỹ năng đọc, viết.

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG TIỂU HỌC

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: “Một số biện pháp Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1

thông qua môn Tiếng Việt 1 - CGD”

Thuộc lĩnh vực: Môn Tiếng Việt 1 - CGD

Người thực hiện: .

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học

, tháng 04 năm 2019

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Nơi công tác

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

1

Tiểuhọc

Giáo viên Đại học 100%

Là tác giả (nhóm tác giả) đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 thông qua môn Tiếng Việt 1-CGD”.

1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt 1-CGD.

3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:

Ngày 21 tháng 9 năm 2018

4 Mô tả bản chất của sáng kiến:

4.1 Nội dung của sáng kiến:

4.1.1 Thực trạng:

- Bước vào lớp Một học sinh còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ do sự thay đổi

về môi trường học tập, thầy cô, bạn bè Một số em chưa làm quen được với nềnnếp học tập ở Tiểu học nên vẫn còn mải chơi, chưa có ý thức tự giác học tập

- Một số học sinh còn nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn trong giao tiếp

- Một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ýđến lời nói trong giao tiếp hàng ngày

- Vốn từ của học sinh lớp Một còn ít, việc hiểu nghĩa của từ và sử dụng từđúng còn nhiều hạn chế do khả năng suy nghĩ, nhận thức của trẻ chưa phát triển

Trang 3

- Kĩ năng đọc, nói, viết, nghe của học sinh còn hạn chế do ở Mầm non các

em chỉ được làm quen với kỹ năng nghe, nói mà chưa được làm quen với kỹnăng đọc, viết

- Học sinh còn mắc phải một số lỗi như sau:

+ Phát âm nhầm phụ âm đầu: Học sinh hay nhầm một số phụ âm đầu nhưtr/ch; s/x; p/b, l/n

Ví dụ: Học sinh đọc “nòng nọc” là “lòng lọc”, “con lợn” là “con nợn”,

“chim sẻ” là “chim xẻ”, “quả pin” là “quả bin”

+ Phát âm nhầm vần: Học sinh thường nhầm một số vần như at/ac; ăc/ăp;âc/âp; an/ang

Ví dụ: Học sinh đọc “bãi cát” là “bãi các”, “tê giác” là “tê giát”, “quảchanh” là “quả chăn”

+ Phát âm nhầm dấu thanh: Học sinh thường phát âm nhầm thanh ngãthành thanh sắc, nhầm thanh hỏi thành thanh nặng

Ví dụ: Học sinh đọc “ngã ba” là “ngá ba”; “sạch sẽ” là “sạch sé”; “uốngsữa” là “uống sứa”

4.1.2 Nguyên nhân:

* Giáo viên:

- Chương trình Tiếng Việt 1-CGD là chương trình mới nên giáo viên còngặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc dẫn học sinh đọc những vần, từ khó sao cho hiệu quả nhất

- Ba quyển sách thiết kế Tiếng Việt 1-CGD là ba quy trình khác nhau nêngiáo viên mất khá nhiều thời gian trong việc nghiên cứu, đọc tài liệu để nắmvững được ba quy trình trên cũng như tiếp cận phương pháp dạy học mới

- Biên chế lớp học đông (35 học sinh) nên giáo viên rất vất vả trong việcbao quát, hướng dẫn, hỗ trợ cho học sinh trong một tiết học

* Học sinh:

- Các em chưa hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ về nghĩa của tiếng, của từ,của câu

Trang 4

- Do bản thân các em đọc sai lại chưa kiên trì, tự giác tập luyện để sửa sai.

- Chưa ý thức được phải phát âm chuẩn thì người nghe mới hiểu hết nghĩa

* Chương trình Tiếng Việt 1-CGD:

- Lượng kiến thức của chương trình Tiếng Việt 1-CGD khá nặng so vớihọc sinh lớp 1

Ví dụ: Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa nhận biết được chữ cáinhưng đã phải viết chính tả nghe - viết

+ Trong quá trình học, các em còn phải phân biệt được vần chỉ có âmchính; vần có âm đệm và âm chính; vần có âm chính và âm cuối; vần có đủ âmđệm, âm chính, âm cuối

+ Trước đây theo chương trình hiện hành, khi học hết 8 tuần các em họchết bảng chữ cái và có thể ghép âm thành vần, thành tiếng Theo chương trìnhTiếng Việt 1-CGD hiện nay, hết 6 tuần đầu học sinh đã phải đọc những bài dàitới 30 tiếng; ngoài ra có những bài học sinh phải học bốn vần hay có khi học sáuvần, lượng kiến thức như vậy đối với với học sinh lớp Một là quá nặng

- Một số từ ngữ khó phát âm và khó nhớ

Ví dụ: Các từ “quềnh quàng” Tiếng Việt 1 - T2/Tr136; “khuýp khuỳmkhuỵp” Tiếng Việt 1 - T2/Tr132; “quằm quặm” Tiếng Việt 1 - T2/Tr 132; “quàuquạu” Tiếng Việt 1- T2/Tr140;…

- Nhiều từ ngữ không gần gũi nên học sinh khó nhớ, có một số từ ngữkhông có nghĩa hoặc nghĩa không mang tính giáo dục

Trang 5

Ví dụ: từ “quái quỷ” Tiếng Việt 1 T2/Tr65 ; “gớm ghiếc” Tiếng Việt 1 T2/Tr117; “ăn quỵt” Tiếng Việt 1 - T2/Tr97; “kèn cựa” Tiếng Việt 1- T2/Tr91;

-“ghen ghét” Tiếng Việt 1 -T2/Tr90; “kênh kiệu” Tiếng Việt 1 - T2/Tr131;…

- Nhiều bài đọc không gần gũi với học sinh nên học sinh khó nhớ

4.1.3 Biện pháp:

Hoạt động đọc giúp con người thu nhận được lượng thông tin nhiều nhất,nhanh nhất, dễ dàng, thông dụng và tiện lợi nhất để không ngừng bổ sung vànâng cao vốn hiểu biết, vốn sống của mình Trong nhà trường, thông qua hoạtđộng đọc giúp học sinh được mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về đất nước, vềcuộc sống con người, về văn hóa, văn minh, phong tục, tập quán của dân tộctrên đất nước mình và trên thế giới

Đọc các tác phẩm văn học, học sinh được bồi dưỡng về năng lực thẩm mĩ,trau dồi kĩ năng sử dụng ngôn từ, mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống Vì vậyviệc đọc có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển rất lớn Đọc trở thành

một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người mà nhất là học sinh lớp 1 Đọc là

sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong họctập và trong giao tiếp Nếu kỹ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhấttrong hệ thống ngôn ngữ thì kỹ năng đọc có một vị trí quan trọng không thểthiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học

Hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của kỹ năng đọc; để nâng cao hơnnữa hiệu quả rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1, nhằm giúp các em đạt đượcchuẩn kiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt, tôi đã áp dụng một số biện pháp cụthể nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống về kỹ năng đọc cho họcsinh từ kỹ năng đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn, bài; nâng cao dần kĩnăng đọc hiểu, từ đó giúp các em đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm Qua đó nângcao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt 1- CGD

* Biện pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh.

Vào đầu năm học 2018-2019 tôi được giao nhiệm vụ chủ nhiệm và giảngdạy lớp 1B Ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành kiểm tra, khảo sát để phânloại đối tượng học sinh

Trang 6

- Nhóm học sinh đọc tốt: Học sinh đọc được hết bảng chữ cái (kể cảnhững chữ ghép như ch, nh, ph )

- Nhóm học sinh đọc khá: Học sinh đọc được hết bảng chữ cái (chưa đọcđược các chữ ghép như ch, nh, ph )

- Nhóm học sinh đọc trung bình: Học sinh đọc được từ 10-15 chữ cái

- Nhóm học sinh đọc yếu: Học sinh không thuộc hoặc chỉ thuộc được 5-6chữ cái

- Nhóm học sinh đọc ngọng: Học sinh phát âm không chính xác, không rõràng các chữ cái

Kết quả khảo sát như sau:

Việc phân loại đối tượng học sinh giúp tôi có những phương pháp và hìnhthức dạy học phù hợp với khả năng nhận thức của từng nhóm học sinh; có biệnpháp hỗ trợ kịp thời trong từng tiết học

* Biện pháp 2: Hướng dẫn cách phát âm âm, vần, thanh.

Đối với học sinh lớp 1 kỹ năng đọc đúng là quan trọng nhất Đây là biệnpháp quan trọng hàng đầu, đòi hỏi người giáo viên phải có những hiểu biết, kinhnghiệm, cách hướng dẫn sao cho học sinh dễ hiểu nhất và làm theo Khi hướngdẫn học sinh phát âm, lời nói của giáo viên cần rõ ràng, mạch lạc để học sinh dễhiểu và có thể tự mình phát âm đúng Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn,giáo viên cần phải so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi - răng - lưỡi,đường dẫn hơi, điểm thoát hơi…) để học sinh có thể phát âm chính xác

Trang 7

Khi dạy kỹ năng đọc, giáo viên phải chú ý quan tâm đến tất cả các đốitượng học sinh trong lớp và dạy theo phân hóa đối tượng học sinh Với nhómhọc sinh đọc đúng, đọc tốt thì giáo viên cho luyện đọc nâng cao (phần chữ đỏphân hóa học sinh ở trang phải) Với nhóm học sinh đọc trung bình và đọc yếu,giáo viên cần gọi các em phát âm thường xuyên để kịp thời phát hiện những lỗisai và chỉnh sửa cho học sinh

Giáo viên phải phát âm chuẩn để học sinh phát âm theo Với các âmmới, giáo viên chỉ phát âm mẫu một lần (để học sinh tập trung, chú ý lắngnghe), nhưng phải rõ ràng, chính xác Đối với các em đọc còn chậm, giáo viêncần quan tâm đến các em nhiều hơn, nếu các em phát âm chưa chính xác, giáoviên cần phát âm lại 2 - 3 lần, để giúp các em sửa chữa, nắm chắc và phát âmđúng các âm đó

Để giúp cho các em học sinh phát âm đúng, chính xác đòi hỏi mỗi giáoviên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe trong đó giọng đọc của giáo viênrất quan trọng, giữa nghe và phát âm có mối quan hệ chặt chẽ cho nên việc rènluyện kỹ năng nghe cho học sinh cũng hỗ trợ rất nhiều cho kỹ năng đọc của các

em Nếu học sinh nghe đúng, nghe chuẩn thì học sinh sẽ dễ dàng đọc đúng, đọcchuẩn hơn Ngoài ra, kỹ năng quan sát cũng được hình thành trong quá trình dạyhọc sinh phát âm đúng Quan sát khẩu hình của giáo viên, của các bạn khi phát

âm cũng giúp học sinh phân biệt được nguyên âm, phụ âm; các nguyên âmkhông tròn môi hay nguyên âm tròn môi; qua quá trình quan sát giúp các emphát âm được dễ dàng và chính xác

a) Các âm mà học sinh phát âm chưa chính xác là âm l/n, s/x, tr/ch, d/gi/r.Khi học sinh phát âm chưa đúng, tôi đã yêu cầu học sinh phát âm lại Nếu họcsinh vẫn phát âm sai, tôi phát âm mẫu, yêu cầu học sinh phát âm theo và hướngdẫn học sinh cách phát âm:

- Khi phát âm âm /l/: Lưỡi uốn cong, đầu lưỡi chạm lên hàm trên, bật đầulưỡi cho hơi thoát ra mạnh, dứt khoát

Trang 8

- Khi phát âm âm /n/: Để lưỡi ép sát lợi trên, khi phát âm thì hơi thoát ra ởđường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặt lưỡi

Với những học sinh sau khi nghe giáo viên phát âm mẫu và quan sát khẩuhình mà vẫn chưa phát âm được, tôi hướng dẫn các em dùng hai ngón tay, bóphai cánh mũi lại rồi phát âm âm /l/ và /n/ Học sinh sẽ nhận ra rằng khi bóp haicánh mũi lại thì không thể phát âm được âm /n/, như vậy học sinh sẽ dễ dàngnhớ được cách phát âm âm /l/

- Khi phát âm âm /tr/, /s/: phần đầu lưỡi chạm vào hàm trên, lưỡi uốn lên

và có âm gió phát ra khi phát âm

- Khi phát âm âm /ch/,/ x/: phần lưỡi không uốn lên, phần đầu lưỡi chạmvào chân răng và không có âm gió phát ra khi phát âm

- Khi phát âm âm /d/: đầu lưỡi hơi thụt vào trong, bật đầu lưỡi cho hơithoát ra mạnh, dứt khoát

- Khi phát âm âm /gi/: đầu lưỡi gần chạm chân răng, lưỡi hơi ép sát lợitrên, cho hơi thoát ra đường mũi, sau đó mở miệng cho hơi thoát ra trên mặtlưỡi, luồng hơi có thể kéo dài

- Khi phát âm các nguyên âm: phải há miệng để luồng hơi đi ra tự do,phát âm kéo dài để xem âm đó có bị thay đổi không Nếu âm đó không bị thayđổi thì đó là nguyên âm

- Khi phát âm các phụ âm: phải ngậm miệng lại, bật môi cho luồng hơithoát ra để luồng hơi đi ra, phát âm kéo dài để xem âm đó có bị thay đổi không.Nếu âm đó bị thay đổi thì đó là phụ âm

Ví dụ: Khi phát âm âm /o/ ta thấy luồng hơi đi ra tự do, có thể phát âmkéo dài nên /o/ là nguyên âm Khi phát âm âm /b/ ta thấy luồng hơi đi ra bị cảnlại, không thể phát âm kéo dài nên /b/ là phụ âm

Ngoài ra, để giúp học sinh dễ nhớ hơn khi đọc các âm, tôi còn áp dụngcách làm sau:

- Khi học sinh không nhớ được một âm nào đó (nhất là với những chữghép), tôi cho học sinh nêu cấu tạo của âm đó, hoặc cung cấp những hình ảnh,gợi ý về con vật, đồ vật chứa âm đó để học sinh dễ nhớ

Trang 9

Ví dụ: Nếu học sinh không nhớ được âm /nh/, tôi cho học sinh nêu các âmghép thành âm /nh/, cho học sinh quan sát hình ảnh quả nho, cho học sinh phântích tiếng /nho/ Như vậy, khi gặp âm /nh/, học sinh sẽ nghĩ ngay đến hình ảnhquả nho và đọc đúng được âm /nh/.

b) Một số vần mà học sinh hay đọc nhầm là các vần có âm cuối t/c, n/ng.Học sinh hay đọc nhầm vần /at/ là vần /ac/ hoặc nhầm vần /an/ với vần /ang/, khi

đó giáo viên cần hướng dẫn như sau:

- Vần /ac/: khi phát âm miệng mở rộng, luồng hơi thoát ra gần trongchân lưỡi

- Vần /at/: khi phát âm miệng mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên,luồng hơi thoát ra trên mặt lưỡi

- Vần /an/: khi phát âm đầu lưỡi chạm vào chân răng

- Vần /ang/: khi phát âm đầu lưỡi hơi thụt vào trong

- Khi học sinh đọc một vần (nhất là với các vần dễ nhầm lẫn), tôi yêu cầuhọc sinh phân tích vần, nêu cấu tạo và vị trí các âm tạo nên vần đó để học sinhphát âm đúng và tránh nhầm lẫn với các vần khác

Ví dụ: Học sinh hay nhầm vần /ai/ với vần /ia/, vần /iu/ với vần /ui/ Khihọc vần /ia/, tôi cho học sinh phân tích và so sánh vần /ai/ và vần /ia/ để học sinhphân biệt được vần /ai/ gồm âm chính /a/, âm cuối /i/ còn vần /ia/ là vần không

có âm cuối và /ia/ là nguyên âm đôi Tương tự khi học sinh học vần /iu/, tôi cũngcho học sinh phân tích và so sánh vần /iu/ và vần /ui/ để học sinh nhận ra rằnghai vần này đều cấu tạo từ âm /u/ và âm /i/ nhưng vị trí của hai âm là khác nhau.Với vần /iu/ thì âm /i/ là âm chính, nhưng với vần /ui/ thì âm /i/ lại là âm cuối

Học sinh phân tích vần /ia/ và vần /ai/ trên mô hình.

Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích vần /iu/ với vần /ui/

c) Học sinh nhầm lẫn dấu thanh

Một số học sinh đọc nhầm dấu ngã với dấu sắc, dấu hỏi với dấu nặng.Nguyên nhân có thể do phương ngữ địa phương hoặc bộ máy phát âm của học

Trang 10

sinh chưa hoàn chỉnh Khi học sinh đọc sai, tôi yêu cầu học sinh đọc lại vàhướng dẫn các em cách đọc các tiếng có dấu thanh như sau:

- Tiếng có thanh ngã: Đọc hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng

- Tiếng có thanh sắc: Đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngắn,đọc nhanh, không kéo dài

- Tiếng có thanh hỏi: Đọc dứt khoát, rõ ràng, không kéo dài, có thể kèmtheo động tác ngửa cổ hướng mắt lên trên

- Tiếng có thanh nặng: Đọc thấp giọng và nặng, dứt khoát (không kéodài) Khi phát âm có thể làm động tác gật đầu

Với một số học sinh đọc nhầm do “thói quen”, các em sống trong môitrường mà ông bà, bố mẹ không chú ý đến việc đọc đúng, đọc chuẩn, tôi đã đưatiếng vào từ cụ thể để học sinh phân biệt và đọc đúng

Ví dụ: cho học sinh phân biệt các từ: câu đố, đổ vỡ, hạt đỗ, độ dài hoặccho học sinh phân biệt cái bàn/cây bàng, cái làn/làng xóm thì học sinh dễ dàngđọc đúng mà không bị nhầm lẫn giữa các dấu thanh

Giáo viên hướng dẫn học sinh phát âm

* Biện pháp 3: Phát triển các “Đôi bạn cùng tiến” để học sinh tự học

và giúp đỡ nhau trong học tập.

Học tập là quá trình tiếp thu tri thức diễn ra trong thời gian dài và học từnhiều đối tượng khác nhau; học sinh có thể học tập các kiến thức, kỹ năng từông bà, cha mẹ, thầy cô và có thể học hỏi từ những bạn bè cùng trang lứa

Trong một lớp học, mặc dù cùng độ tuổi, cùng học một giáo viên giảngdạy, cùng trong một môi trường giáo dục giống nhau nhưng khả năng học tập,tiếp thu các kiến thức của mỗi học sinh không giống nhau Có học sinh tiếp thunhanh, cũng có những học sinh tiếp thu chậm hơn so với các bạn trong lớp

Bạn bè trong cùng một lớp là những người gần gũi, cùng học cùng chơivới nhau nên giữa các em không có khoảng cách, không có sự ngại ngùng, e dè

mà các em thoải mái chia sẻ với nhau những khó khăn, những vướng mắctrong học tập Ông cha ta có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; nếu chơi

Trang 11

với một người bạn chăm chỉ và có ý thức học tập tốt thì chúng ta sẽ phấn đấuhọc tập, rèn luyện để đạt kết quả tốt như bạn Hoặc khi không hiểu bài, khi gặpbài toán không biết tính, gặp từ khó không biết đọc chúng ta có thể nhờ bạnhướng dẫn.

Trong quá trình dạy học, tôi đã phân công những em học sinh học tốt,nhận thức nhanh ngồi cạnh để kèm cặp, giúp đỡ những em học sinh học nhậnthức chậm, tạo thành các “Đôi bạn cùng tiến” giúp đỡ nhau trong học tập Một

số “Đôi bạn cùng tiến” của lớp 1B là đôi bạn Ngọc Yến - Ngọc Ánh, Văn Thành

- Hoàng Thùy, Hải Yến - Gia Hùng

“Đôi bạn cùng tiến” Văn Thành - Hoàng Thùy

Trong giờ luyện đọc, hai bạn ngồi cùng bàn sẽ chồng sách lên nhau, haibạn cùng chỉ tay đọc bài Nếu một bạn đọc chưa đúng, hai bạn sẽ dừng lại, cùngnhau đánh vần và đọc lại vần hoặc tiếng đó Tôi thấy cách làm này rất hiệu quả

vì trong một khoảng thời gian ngắn nhưng tất cả học sinh trong lớp đều đượcluyện đọc, đều được sửa sai Nếu giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp câu hoặcgọi từng học sinh đọc bài để sửa sai cho học sinh thì sẽ mất rất nhiều thời gian,

vì số học sinh trong lớp đông (35 em) và thời gian dành cho một tiết học chỉ có

35 phút

Học sinh luyện đọc theo cặp đôi

Qua quá trình nhận xét, sửa sai giúp bạn, sẽ giúp học sinh tự điều chỉnh,sửa sai cho mình Đồng thời còn rèn luyện cho các em tác phong mạnh dạn, tựtin trong góp ý, trao đổi, trình bày ý kiến; giúp các em có sự gắn bó, đoàn kết,giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Ví dụ: Khi học về nguyên âm tròn môi, nguyên âm không tròn môi, tôiyêu cầu học sinh quay mặt vào nhau theo cặp đôi, thực hiện phát âm các nguyên

âm, quan sát khẩu hình miệng của bạn, thảo luận cặp đôi xem những âm nào lànguyên âm tròn môi, những âm nào là nguyên âm không tròn môi Việc quan sát

Ngày đăng: 07/12/2020, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w