Điểm mới trong sáng kiến này là nghiên cứu và tìm ra một số biện pháp để giúp học sinh lớp 4 làm tốt văn miêu tả. Điểm mới thứ nhất trong sáng kiến này chính là sự hỗ trợ đắc lực của Tiết đọc thư viện trong việc làm giàu vốn từ và trí tưởng tượng phong phú cho học sinh giúp các em vận dụng có hiệu quả vào quá trình viết văn miêu tả. Điểm mới thứ hai chính là sự hoạt động tích cực của Câu lạc bộ Tiếng Việt đã tạo ra một sân chơi bổ ích và lí thú cho học sinh. Giúp các em có điều kiện được giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Qua đó học sinh có kĩ năng trình bày rõ ràng, ngắn gọn, đúng nội dung, khả năng diễn đạt trôi chảy, mạch lạc.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TIỂU HỌC
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt văn miêu
tả
Thuộc lĩnh vực: Môn Tiếng Việt
Người thực hiện:
Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường Tiểu học
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện
Số
TT Họ và tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến
1
Tiểuhọc
Giáo viên
9 môn Đại học 100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 4 làm tốt văn miêu tả”
1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Sáng kiến được tôi áp dụng lần đầu vào ngày 01 tháng 10 năm 2018
4 Mô tả bản chất của sáng kiến:
4.1 Nội dung sáng kiến.
4.1.1 Tính mới: Điểm mới trong sáng kiến này là nghiên cứu và tìm ramột số biện pháp để giúp học sinh lớp 4 làm tốt văn miêu tả
Điểm mới thứ nhất trong sáng kiến này chính là sự hỗ trợ đắc lực của Tiếtđọc thư viện trong việc làm giàu vốn từ và trí tưởng tượng phong phú cho họcsinh giúp các em vận dụng có hiệu quả vào quá trình viết văn miêu tả
Điểm mới thứ hai chính là sự hoạt động tích cực của Câu lạc bộ TiếngViệt đã tạo ra một sân chơi bổ ích và lí thú cho học sinh Giúp các em có điềukiện được giao lưu, học hỏi lẫn nhau Qua đó học sinh có kĩ năng trình bày rõràng, ngắn gọn, đúng nội dung, khả năng diễn đạt trôi chảy, mạch lạc
4.1.2 Tính thực tiễn:
Trang 3Thực tế dạy học cho thấy ở trường Tiểu học hiện nay số giáo viên có tiếtdạy Tập làm văn sinh động, hấp dẫn chưa nhiều, một số giáo viên còn thiếu tựtin khi dạy phân môn Tập làm văn do đó phân môn này ít được thầy cô lựa chọn
để dạy thao giảng hay dạy chuyên đề
Còn học sinh ngoài Sách giáo khoa các em còn có rất nhiều tài liệu thamkhảo giúp các em có cái nhìn phong phú và đa dạng hơn Nhưng một số em cònphụ thuộc nhiều vào sách tham khảo, có tư tưởng ngại học, ỷ lại nên cách cảmnhận của các em không phong phú mà thường đi theo lối mòn rập khuôn, tẻnhạt Vì thế giáo viên có nhiệm vụ giúp học sinh có năng lực nói và viết tốt.Nhờ năng lực này các em biết sử dụng Tiếng Việt làm công cụ tư duy, giao tiếp,học tập và hình thành nhân cách cho học sinh
4.1.3 Thực trạng của sáng kiến.
Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình TiếngViệt ở bậc Tiểu học Nó nối tiếp một cách tự nhiên các bài học khác nhau củamôn Tiếng Việt nhằm giúp học sinh tạo ra một năng lực mới: năng lực hìnhthành văn bản nói và viết Đây là một phân môn mang tính chất thực hành tổnghợp và sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân trong quá trình tạo lập văn bản
Để viết được một bài văn học sinh phải sử dụng rất nhiều kĩ năng: kĩ năngnghe, nói, đọc, viết, kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viếtđoạn, liên kết đoạn, Bên cạnh đó phân môn Tập làm văn còn có vai trò quantrọng trong việc củng cố kiến thức, rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ, rèncho học sinh nói, viết đúng Tiếng Việt và hình thành nhân cách cho học sinh.Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, đồng thời nó là hành trang trên bước đườngđưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàngtri thức vô tận của loài người
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay học sinh học tốt môn Tiếng Việt nóichung, phân môn Tập làm văn nói riêng còn khiêm tốn, đa số học sinh đã biếncác bài văn miêu tả thành bài văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về
từ, diễn đạt ý rườm rà, tối nghĩa Cách dùng từ đặt câu chưa phù hợp, viết câu
Trang 4còn rời rạc, chưa liên kết, thiếu lôgíc, chưa sáng tạo Bố cục bài văn chưa rõràng, cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh chưa linh hoạt, chưa sinh động Một số
em còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết sửdụng bài văn mẫu để hình thành lối hành văn riêng của bản thân, biến lời vănngười khác thành cách diễn đạt của mình do đó bài văn chưa đạt hiệu quả cao
Xuất phát từ thực trạng trên tôi nhận thấy việc nâng cao hiệu quả dạy vàhọc Tập làm văn miêu tả cho học sinh là việc làm vô cùng cần thiết vì vậy tôi đã
chọn và nghiên cứu sáng kiến “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 làm tốt
văn miêu tả”
4.1.4 Nguyên nhân:
Qua quá trình giảng dạy tôi đã tiến hành kiểm tra trình độ nhận thức, nănglực học tập của từng học sinh, phân loại đối tượng học sinh trong lớp, ngoài ra trongquá trình nghiên cứu tôi đã tìm ra một số nguyên nhân chính dẫn đến thực trạngchất lượng các bài văn miêu tả của học sinh lớp 4 chưa cao Cụ thể như sau:
a Học sinh:
- Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duyđơn giản trực quan, chất lượng cảm thụ văn học của các em chưa đồng đều, vốnsống ít vì thế khi viết văn học sinh còn gặp không ít khó khăn nên dẫn đến tìnhtrạng chất lượng bài văn chưa cao
- Khả năng quan sát miêu tả còn sơ sài, học sinh chưa biết sử dụng các giácquan để quan sát, khi quan sát chưa theo một trình tự nhất định mà thấy đâu tả đó
- Học sinh chưa biết lựa chọn từ ngữ thích hợp để đặt câu, vốn từ ngữ cònnghèo nàn nên các em chưa viết được câu văn hay, diễn đạt chưa rõ ràng, mạch lạc
- Một số em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào bài văn dẫnđến lời văn khô khan, thiếu hình ảnh, thiếu cảm xúc
- Một số học sinh chưa sáng tạo trong việc dùng văn mẫu, các em thườngrập khuôn máy móc theo các bài văn mẫu mà chưa biết cách sáng tạo, chọn lọcnhững câu văn hay, những hình ảnh đặc sắc thành cái riêng của bản thân
Trang 5- Một số học sinh hỗ trợ viết câu chưa thành thạo nên diễn đạt chưa mạchlạc, các ý trong bài văn còn lủng củng, bố cục không rõ ràng.
- Học sinh chưa thực sự yêu thích môn học
- Việc nhận xét và sửa bài cho học sinh của một số giáo viên còn chungchung: chưa quan tâm đến việc sửa ý, sửa câu, cách dùng từ đặt câu hay việc sửdụng các biện pháp nghệ thuật vào bài văn của học sinh, do đó các em chưa tựphát hiện ra những hình ảnh đẹp, những câu văn hay cần được phát huy trongbài và những điểm chưa hay, chưa đúng cần phải khắc phục
- Một số giáo viên chưa đầu tư thời gian cho việc chuẩn bị bài trước khilên lớp, chưa đổi mới phương pháp giảng dạy, còn dạy rập khuôn, thiếu sự dẫndắt gợi mở cho học sinh, chưa kích thích được sự sáng tạo tìm tòi của các emtrong khi viết văn
Bài viết trìnhbày đúng bố
Bài viết trìnhbày chưa đúng
Trang 6bố cục, diễn đạtchưa rõ ràng
Để giúp học sinh lớp 4A trường Tiểu học khắc phục những khókhăn trong quá trình làm văn miêu tả bản thân tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
Biện pháp 1: Tạo động cơ học văn miêu tả cho học sinh.
Đặc điểm của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá và tìm hiểunhững điều mới mẻ Do đó, trong giờ Tập làm văn giáo viên cần tận dụng vàphát huy tối đa đặc điểm này của các em để tạo ra động lực, nhu cầu muốn nói
và viết văn cho học sinh Thu hút các em tích cực tham gia vào các hoạt độngtrong giờ học, làm cho các em cảm thấy yêu thích phân môn Tập làm văn Đểlàm được điều này trước tiên giáo viên cần:
- Tạo ra các tình huống để các em háo hức muốn khám phá, tìm hiểu điềuthú vị trong mỗi đối tượng được miêu tả Hoặc giáo viên có thể gây hứng thúcho học sinh bằng cách chơi trò chơi giải những câu đố về cây, hoa, con vật như:
(Là con gì?)…
- Từ những câu đố, giáo viên vừa giới thiệu cho học sinh về cây, hoa, convật định tả vừa lưu ý cho học sinh những đặc điểm riêng biệt giữa cây này vàcây, khác, giữa con vật này với con vật khác
Trang 7- Chọn đề bài gần gũi, quen thuộc với học sinh: Việc chọn đề bài gần gũi,quen thuộc với học sinh sẽ giúp các em có thể quan sát đối tượng miêu tả mộtcách dễ dàng, cụ thể Từ đó sẽ tạo ra động cơ học tập cho học sinh.
- Gợi cảm xúc cho các em trước khi viết bài
Ví dụ: Trong tiết Kiểm tra viết (sách Tiếng Việt 4 tập 2 - Trang 92) có đề bài
gợi ý: Tả một cây hoa Tôi đã dựa vào đó và ra đề bài: Em thích loài hoa nào nhất? Hãy tả loài hoa đó
Biện pháp 2: Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm của văn miêu tả.
Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làmcho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nộitâm của con người Như vậy khi dạy thể loại văn miêu tả cho học sinh lớp 4 giáoviên cần giúp học sinh hiểu rõ:
- Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm chongười đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét về người, vật, cảnh vật, đồ vật, …
cụ thể, sống động như nó vốn có trong đời sống hàng ngày
- Một bài văn hay, có giá trị không chỉ ở chỗ trình bày rõ ràng, mạch lạc,
dễ hiểu, mà cái quan trọng hơn là học sinh phải biết truyền những rung cảmcủamình vào đối tượng miêu tả để người đọc không chỉ thấy hiện ra trước mắt mìnhmột con người, con vật, một dòng sông, mà còn nghe được cả giọng nói, tiếngkêu, tiếng nước chảy, biết được mùi vị của trái cây, mùi thơm của hoa, hay mùirêu, mùi ẩm mốc, thậm chí người đọc còn cảm nhận được tâm trạng vui, buồn,yêu, ghét của con người, con vật và cả cỏ cây
Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả, cách lựa chọn hình ảnh, nội dung miêu tả.
a Quan sát đối tượng miêu tả:
Kỹ năng quan sát là kỹ năng quan trọng nhất trong làm văn đặc biệt là vănmiêu tả Việc viết bài tốt hay không dựa vào sự quan sát tỉ mỉ hay hời hợt củatừng học sinh Bạn nào quan sát tốt, tỉ mỉ thì bài viết sẽ sâu sắc, trau chuốt, cònbạn nào ít tập trung trong quan sát thì bài viết hời hợt, khô khan, ít hình ảnh hơn
Trang 8Chính vì vậy việc quan sát trong bài văn miêu tả là rất cần thiết. Vì thế khi hướngdẫn học sinh quan sát tôi thường hướng các em quan sát theo các bước sau:
- Chọn vị trí quan sát tốt: Việc chọn vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù
hợp, sẽ giúp học sinh nắm được cái thần của đối tượng, cảm nhận đối tượng một
cách rõ ràng, cụ thể và tinh tế hơn
- Quan sát bằng nhiều giác quan: Đây là thao tác quan trọng trong quátrình viết văn của học sinh Tiểu học Bên cạnh việc quan sát bằng mắt học sinhcòn phải biết quan sát bằng thính giác (Lắng nghe tiếng kêu, tiếng động của sựvật hiện tượng), khứu giác (ngửi được hương thơm của các loài hoa ) Với sựkết hợp đó học sinh sẽ có sự hình dung sinh động về sự vật, hiện tượng qua đóbài viết sẽ hay hơn
- Quan sát để phát hiện và tìm ra đặc điểm nổi bật của sự vật hiện tượng:Bước này sẽ giúp học sinh tránh được việc miêu tả giống nhau khi cùng quan sátmột sự vật, hiện tượng Có tìm được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu mới giúpbài viết của mỗi học sinh mang cá tính riêng, không nhàm chán, khô khan Tuynhiên, tuỳ từng kiểu bài giáo viên hướng dẫn học sinh có những cách quan sátkhác nhau
Ví dụ:
- Đối với kiểu bài Tả đồ vật giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát theo
trình tự: mắt nhìn, tay sờ, tai nghe, mũi ngửi,…
- Đối với kiểu bài Tả cây cối giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết quan
sát theo trình tự: từ xa đến gần, từ bao quát đến bộ phận, quan sát nét khác biệt của cây được miêu tả với những cây khác.
- Đối với kiểu bài Tả con vật giáo viên hướng dẫn học sinh biết quan sát: ngoạihình rồi mới đến những thói quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật
Hình ảnh học sinh quan sát chiếc cặp
Hình ảnh học sinh quan sát cây hoa
Trang 9Hình ảnh học sinh quan sát cây bàng
Hình ảnh học sinh quan sát cây phượng
b Ghi chép cẩn thận, đầy đủ khi quan sát Lựa chọn hình ảnh, nội dung miêu tả.
Quan sát luôn đi liền với ghi chép, đó là một yếu tố không thể thiếutrong phân môn Tập làm văn Ghi chép làm giàu thêm cho trí nhớ, giúp họcsinh lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh đặc sắc để vận dụng vào viếtvăn Do đó giáo viên cần xây dựng cho học sinh có thói quen ghi chép vào Sổtay văn học khi quan sát Hướng dẫn học sinh ghi lại những đặc điểm cơ bản:hình dạng, màu sắc, hoạt động,… của đối tượng, sau đó lựa chọn và viết lạinhững điều mà người khác không nhìn thấy để bài viết của mình có cái mới,cái riêng, cái độc đáo
c Sắp xếp ý, đoạn:
Sau khi quan sát kĩ và ghi chép cẩn thận, giáo viên hướng dẫn học sinhbiết cách lựa chọn những nét nổi bật của đối tượng để miêu tả Sau đó sắp xếpcác ý theo đoạn một cách hợp lí
Ví dụ:
Khi dạy học sinh viết đoạn Miêu tả đặc điểm bên ngoài của chiếc cặp, tôi
đã hướng dẫn học sinh cụ thể như sau:
- Xác định đề bài:
Đề bài yêu cầu gì? (Tả đặc điểm, hình dáng bên ngoài chiếc cặp).
- Quan sát và ghi chép các đặc điểm bên ngoài của chiếc cặp:
+ Cặp còn mới hay đã cũ?
+ Cặp có hình gì? Kích thước như thế nào?
Trang 10+ Cặp có màu gì? Làm bằng vải hay da?
+ Quai cặp như thế nào?
+ Mặt cặp, nắp cặp được trang trí ra sao?
+ Khóa cặp nằm ở đâu, khi đóng mở cặp có âm thanh gì?
+ Cảm nhận của em đối với chiếc cặp đó?
- Sắp xếp các ý theo từng đoạn: Sau khi tìm ý, tôi cho các em chọn và sắpxếp ý thành các đoạn phù hợp Cụ thể:
+ Câu mở đoạn: Giới thiệu khái quát đặc điểm của chiếc cặp gồm các câu:Cặp còn mới hay đã cũ? Cặp hình gì? Kích thước thế nào?
+ Các câu thân đoạn: Tả các chi tiết hình dáng bên ngoài của chiếc cặpgồm các câu: màu sắc, chất liệu, quai cặp, mặt cặp, nắp cặp, khóa cặp
+ Câu kết đoạn: Nêu cảm nhận của em về chiếc cặp đó gồm câu: Cảmnhận của em đối với chiếc cặp
Bài làm của học sinh lớp tôi:
Biện pháp 4: Giúp học sinh tích lũy vốn từ và làm giàu trí tưởng tượng.
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn và bài văn Nó
có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giúp học sinh viết đượcđoạn văn, bài văn hay Học sinh có hiểu, sử dụng đúng từ mới có thể diễn đạtđúng, diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình Nhưng thực tế vốn từ của các emcòn rất ít Để giúp học sinh có vốn từ phong phú, tạo câu linh hoạt và đa dạngtôi đã thực hiện như sau:
a Tích lũy vốn từ cho học sinh qua các môn học: Nhiều bài Tập đọc, Kể
chuyện, Tập làm văn có số lượng từ ngữ miêu tả trong bài rất phong phú, sửdụng từ sáng tạo Vì vậy khi dạy tôi thường chỉ ra các từ ngữ miêu tả, có thểchọn trường hợp đặc sắc nhất để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn khi
sử dụng từ
Trang 11Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “Sầu riêng” tôi đã giúp học sinh phát hiện ra
những từ, cụm từ rất đặc sắc tác giả dùng để tả trong bài:
- Tả dáng vẻ của cây sầu riêng có các từ: khẳng khiu, cao vút, thẳng đuột,dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lượn,…
- Tả mùi thơm của hoa sầu riêng có các từ: thơm đậm, bay xa, lâu tan,thơm ngát, ngào ngạt,…
- Tả hương vị sầu riêng có các từ: thơm mùi thơm, béo cái béo, ngọt vịngọt,…
Hay khi dạy Kể chuyện: “Con vịt xấu xí” tôi cung cấp cho học sinh một
số từ, cụm từ dùng để miêu tả ngoại hình: Quá nhỏ, yếu ớt, Hành động: chành chọe, bắt nạt, hắt hủi,
Khi dạy Tập làm văn Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật thông qua bài tập các
em cũng sẽ tự tích lũy cho mình một số từ, cụm từ như: tả ngoại hình: tròn, hùngdũng Hành động: chễm chệ Tiếng kêu: ù ù, rào rào, phù phù, ồm ồm,…
Như vậy thông qua bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn,… học sinh đãtích lũy được một số vốn từ dùng để miêu tả về hình dáng, hoạt động của convật hay tả các bộ phận của cây Sau đó tôi hướng dẫn học sinh ghi chép lại các
từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề Cụ thể:
- Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng khiu; xum xuê; rực rỡ; đo đỏ;mượt mà,
- Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,
- Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, yếu ớt, oai vệ,
Bên cạnh đó tôi còn hướng dẫn cho học sinh biết bộc lộ tình cảm, thái độcủa mình đối với đồ vật, con vật, cây cối như: yêu hay ghét, gắn bó hay khônggắn bó, để bài viết có sức biểu đạt gần gũi hơn, các em còn biết liên hệ bảnthân đã làm gì để chăm sóc con vật, cây cối? Hay giữ gìn đồ vật?
b Giúp học sinh luyện viết câu:
Do khả năng viết câu có sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh của một số
Trang 12học sinh còn nhiều hạn chế nên bài văn còn nghèo hình ảnh, thiếu cảm xúc Đểhọc sinh có kĩ năng viết câu tốt giáo viên nên tiến hành theo trình tự từ dễ đếnkhó Bước đầu giáo viên yêu cầu học sinh viết được câu đúng, câu có đủ thànhphần, diễn tả đúng ý mà người viết muốn nói Sau đó giáo viên mới hướng dẫnhọc sinh phát triển từ câu đúng thành câu văn hay bằng cách mở rộng các thànhphần của câu, sử dụng câu ghép,… và nâng cao hơn là học sinh biết đưa cácbiện pháp nghệ thuật vào trong câu văn để tạo ra nhưng câu văn hay, giàu hìnhảnh Như vậy giáo viên đã từng bước hình thành cho học sinh thói quen viết câuđúng và hay.
Tuy nhiên trong thực tế khả năng nhận thức của học sinh không giốngnhau Vì vậy tuỳ thuộc vào từng đối tượng học sinh mà giáo viên đặt ra các yêucầu về mức độ cần đạt khác nhau Cụ thể:
- Đối với học sinh nhận thức nhanh: Tôi yêu cầu học sinh đặt được câuđúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, tạo được sắc thái riêng của đối tượng miêu tả
Ví dụ: Thời gian trôi đi nhanh quá! Chẳng mấy chốc đã đến sinh nhật lần thứ chín của em bạn Phong Lan có tặng em một món quà bất ngờ Đó là cái bút chì rất đẹp.
- Đối với học sinh có nhận thức trung bình: Tôi yêu cầu học sinh đặt được câu
đúng, thể hiện được nội dung cần nói
Ví dụ: Chiếc bút chì này là của mẹ mua cho em vào ngày sinh nhật
- Đối với một số học sinh cần hỗ trợ: Tôi chỉ yêu cầu học sinh đặt được câu đúng
Ví dụ: Cái bút chì này là của em
Ngoài việc học sinh viết được câu đúng, câu hay giáo viên cần hướng dẫn chocác em biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu phẩy Vì ngắt câu đúng
sẽ diễn đạt rõ ràng làm cho người đọc, người nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin.Việc dạy cho các em sử dụng đúng dấu câu cần được tiến hành thường xuyên
Để giúp học sinh sử dụng đúng dấu câu tôi thường đưa ra các trường hợp sử
Trang 13dụng dấu câu chưa đúng để cả lớp nhận xét và sửa
Ví dụ: + Cây bàng cao thân cây Xù xì
+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng cây phượng
- Học sinh trao đổi và sửa lại cho đúng:
+ Cây bàng cao, thân cây xù xì
+ Sân trường mát rượi bởi bóng của những cây bàng, cây phượng
c Giúp học sinh làm giàu thêm trí tưởng tượng:
Tưởng tượng trong miêu tả rất quan trọng Có tưởng tượng mới có hìnhảnh hoàn chỉnh về đối tượng miêu tả Tưởng tượng như một sự hình dung về đốitượng mà ta nhắm mắt lại thì đối tượng sẽ hiện ra rõ nét hơn, cụ thể và gần gũihơn Tưởng tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được nhữngđiểm tương đồng với đối tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng đượcmiêu tả với sự vật hiện tượng xung quanh, với những kỉ niệm hay kí ức mangdấu ấn sâu sắc trong lòng người viết
Từ tưởng tượng, học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tìnhcảm, tình yêu của chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tảđối với bản thân và với cả những người xung quanh Miêu tả gắn với tưởngtượng là một cách bộc lộ cảm xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp củangười viết Tưởng tượng làm cho đối tượng miêu tả hoàn thiện hơn, sống động
và gần gũi hơn Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tưởng tượng theo cách:
- Không trực tiếp quan sát: tưởng tượng về đối tượng được miêu tả bằngnhiều giác quan
- Nhắm mắt, hình dung về đối tượng được miêu tả như: hình ảnh, hoạt độngcủa đối tượng, những ảnh hưởng, tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh
- So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng
- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng được miêu tả
- Nhân hoá hay tự nhiên hoá một số hình ảnh đặc sắc ở đối tượng đượcmiêu tả
Trang 14- Dự đoán trựớc khả năng và những điều tốt đẹp mà đối tượng được miêu
Ngoài ra việc bồi dưỡng vốn sống còn giúp học sinh miêu tả đối tượng
một cách chân thực chính xác tránh tình trạng tả sai thực tế như: “Cây hoa hồng cao chừng bốn đến năm mét”, hay “hoa phượng thơm nồng nàn như hoa sữa” hoặc “thân cây bàng bốn bạn ôm không xuể”.
Biện pháp 5: Hướng dẫn xây dựng đoạn văn
Kĩ năng viết của học sinh được rèn luyện chủ yếu qua các bài tập viếtđoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh Do đó, trong quá trình thực hiệncác bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn giáo viên cần rèn cho học sinh thựchiện tốt kĩ năng viết từng đoạn
a Rèn kĩ năng viết đoạn Mở bài:
Mở bài có vai trò khá đặc biệt vì mở bài hay và hấp dẫn sẽ tạo được hứngthú ở người đọc Để giúp học sinh có kĩ năng viết đoạn mở bài tốt tôi đã áp dụngcách làm sau:
- Hướng dẫn học sinh phân tích kĩ đề để xác định được những yếu tố cầnnêu ở mở bài thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở
Ví dụ: Đề bài Tả chiếc cặp sách của em
Tôi đã dùng hệ thống câu hỏi sau:
+ Đối tượng miêu tả là gì? (Chiếc cặp sách)
+ Của ai? (của em)
+ Em có đồ vật đó trong thời gian (hoàn cảnh) nào? (Em có vào dịp năm