1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề an ninh trật tự tại khu vực làng đại học thủ đức– thành phố hồ chí minh hiện nay thực trạng và giải pháp

91 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin chung: - Tên đề tài: Vấn đề an ninh trật tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức– Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp - Sinh viên thực hiện:  Nguyễn Thanh T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mã số đề tài:

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và Nhân văn

TP HỒ CHÍ MINH, 4/2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội và Nhân văn

Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thanh Tình

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU 13

1 Bối cảnh vấn đề nghiên cứu 14

2 Lí do chọn đề tài 18

3 Ý nghĩa nghiên cứu 19

3.1 Ý nghĩa lí luận 19

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 19

4 Mục tiêu nghiên cứu 20

4.1 Mục tiêu tổng quát 20

4.2 Mục tiêu cụ thể 20

5 Giả thuyết nghiên cứu 20

6 Khung nghiên cứu 21

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 21

7.1 Đối tượng nghiên cứu 21

7.2 Khách thể nghiên cứu 22

7.3 Dung lượng mẫu 22

7.4 Phạm vi nghiên cứu 22

8 Cơ sở lý luận 22

9 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 24

9.1 Định lượng và định tính 24

9.2 Kỹ thuật nghiên cứu 24

9.3 Khái niệm chính 24

PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 26

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH AN NINH TRẬT TỰ KHU LÀNG ĐẠI HỌC QUẬN THỦ ĐỨC - TPHCM 26

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU 29

2.1 Giới tính 29

2.2 Ngành học 29

2.3 Khu vực cư trú trước khi vào TP.HCM 30

2.4.Nơi ở hiện tại 31

2.6 Thời gian cư trú tại LĐH 32

2.7 Mức sống 32

2.8 Sở hữu tài sản 33

3.1 Những vấn đề nổi bậc về ANTT tại LĐH Thủ Đức- TP.HCM hiện nay 34

3.1.1 Các loại hình gây mất ANTT thường xảy ra tại LĐH 34

3.1.2 Các khu vực thường xuyên mất ANTT tại LĐH 35

3.1.3 Thời gian thường xảy ra mất ANTT trong LĐH 36

3.2 Mức độ ANTT tại khu làng đại hoc Thủ Đức – TP.HCM hiện nay 37

3.2.1 Đánh giá của sinh viên về mức độ ANTT tại LĐH Thủ Đức- TPHCM hiện nay 37

3.2.2 Mức độ ANTT theo các nhóm 38

Trang 4

3.2.3 Đánh giá mức độ ANTT với các yếu tố khác 41

3.3 Đánh giá về tính hiệu quả của lực lượng bảo đảm ANTT tại khu vực LĐH 43

3.3.1.Nhận xét về tính hiệu quả của các lực lượng bảo đảm ANTT 43

3.3.2: Nhận định về tính hiệu quả của lực lượng an ninh và các yếu tố tác động đến nhận định 44

3.3.3 Nhận định tính hiệu quả của lực lượng an ninh theo các yếu tố 45

3.4.Mức độ hài lòng của sinh viên về ANTT tại khu vực LĐH Thủ Đức- TP.HCM hiện nay 47

3.4.1.Ý kiến mức độ hài lòng về ANTT của sinh viên 48

3.4.2.Mức độ hài lòng về ANTT theo các biến độc lập 49

CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH HÌNH AN NINH TRẬT TỰ ĐẾN ĐỜI SỐNG SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC 57

4.1 Nhận xét về đối tượng thường xuyên là nạn nhân của các vấn đề mất ANTT.’ 57

4.2 Ảnh hưởng của tình hình ANTT đến các hoạt động của sinh viên 60

CHƯƠNG 5: NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI TÌNH HÌNH AN NINH TRẬT TỰ TẠI LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC-TP.HCM HIỆN NAY 65

5.1 Nguyên nhân dẫn đến cấc vấn đề gây mất ANTT 65

5.2 Giải pháp từ phía sinh viên 68

PHẦN 3: KẾT LUẬN 71

3.1 Kiểm định giả thiết nghiên cứu 71

3.2 Kết luận 72

3.3 Kiến nghị 74

3.4 Hạn chế của đề tài 75

PHẦN 4: PHỤ LỤC 76

I.Tài liệu tham khảo 76

II PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN……… 76

III PHỤ LỤC 2: CÁC BẢNG ĐÍNH KÈM 86

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG 1: CƠ CẤU NGÀNH HỌC (ĐƠN VỊ %) 29 BẢNG 2: NƠI Ở HIỆN NAY PHÂN THEO GIỚI TÍNH (ĐƠN VỊ %) 32 BẢNG 3: THỜI GIAN CƯ TRÚ TẠI LĐH (ĐƠN VỊ %) 32

BẢNG 4: NHỮNG LOẠI HÌNH MẤT ANTT THƯỜNG XẢY RA TẠI LĐH HIỆN NAY 34 BẢNG 5: MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC KHU VỰC MẤT ANTT 35 BẢNG 6: THỜI GIAN THƯỜNG XẢY RA MẤT ANTT 36

BẢNG 7:MỨC ĐỘ ANTT THEO GIỚI TÍNH, NHÓM CƯ TRÚ, NƠI Ở HIỆN TẠI

VÀ THAM GIA CÁC CÂU LẠC BỘ, NHÓM (ĐƠN VỊ %) 38 BẢNG 8: MỨC ANTT PHÂN THEO CÁC YẾU TỐ ĐỘC LẬP (ĐƠN VỊ %) 441

BẢNG 9: NHẬN ĐỊNH VỀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH THEO CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 44

BẢNG 10: ĐIỂM TRUNG BÌNH NHẬN ĐỊNH VỀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH THEO CÁC NHÓM 45

BẢNG 11: ĐIỂM TRUNG BÌNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ AN NINH THEO CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 49

BẢNG 12: ĐIỂM TRUNG BÌNH MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ANTT THEO CÁC NHẬN ĐỊNH 51

BẢNG 13: MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ GÂY MẤT ANTT VỚI MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ANTT 53

BẢNG 14: QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ CẬP NHẬT VỀ TÌNH HÌNH AN NINH QUA CÁC KÊNH THÔNG TIN VỚI MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ANTT 53 BẢNG 15: SO SÁNH MỘT VÀI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI VỚI KHU VỰC TP.HCM 55

Trang 6

BẢNG 16: Ý KIẾN VỀ NẠN NHÂN CỦA CÁC LOẠI TỘI PHẠM VỀ ANTT 58

BẢNG 17: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH AN NINH VỚI VIỆC GIÚP ĐỠ NẠN NHÂ (ĐƠN VỊ %) 61

BẢNG 18: MỨC ĐỘ THỰC HIỆN CÁC HÀNH VI TRONG THỜI GIAN KHÔNG

QUẢN LÝ TRONG LĐH KÉM HIỆU QUẢ (ĐƠN VỊ %) 66

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

BIỂU ĐỒ 1: CƠ CẤU GIỚI TÍNH NAM/NỮ (ĐƠN VỊ %) 30 BIỂU ĐỒ 2: KHU VỰC CƯ TRÚ TRƯỚC KHI VÀO TP.HCM(đơn vị )………… 30BIỂU ĐỒ 3: CƠ CẤU NƠI Ở HIỆN TẠI (ĐƠN VỊ %) 32 BIỂU ĐỒ 4: CƠ CẤU MỨC SỐNG GIA ĐÌNH CỦA SINH VIÊN (ĐƠN VỊ %) 33 BIỂU ĐỒ 5: CƠ CẤU SỞ HỮU TÀI SẢN (ĐƠN VỊ %) 34

BIỂU ĐỒ 6: MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ ANTT TẠI LÀNG ĐH THỦ ĐỨC – TP.HCM HIỆN NAY (ĐƠN VỊ %) 38

BIỂU ĐỒ7: MỨC ĐÁNH GIÁ VỀ ANTT THEO SỐ LƯỢNG SỞ HỮU TÀI SẢN (ĐƠN VỊ %) 42

BIỂU ĐỒ 8: MỨC HIỆU QUẢ CỦA LỰC LƯỢNG BẢO ĐẢM AN NINH (ĐƠN VỊ

%) 44 BIỂU ĐỒ 9: TỐC ĐỘ LÀM VIỆC CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH (ĐƠN VỊ %) 47 BIỂU ĐỒ10: MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ANTT TẠI LĐH (ĐƠN VỊ %) 49

BIỂU ĐỒ 11: Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ LÀ NẠN

NHÂN CỦA CÁC VẤN ĐỀ GÂY MẤT ANTT (ĐƠN VỊ %) 57

BIỂU ĐỒ 12:Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ VIỆC CÓ TỪNG HAY KHÔNG TỪNG

LÀ NẠN NHÂN CỦA CÁC LOẠI TỘI PHẠM (ĐƠN VỊ %) 59

BIỂU ĐỒ 13: CÁCH XỬ LÝ KHI CÓ TÌNH HUỐNG MẤT AN NINH XẢY RA (ĐƠN VỊ %) 60

BIỂU ĐỒ 14: Ý KIẾN VỀ THÁI ĐỘ SẴN SÀNG GIÚP ĐỞ NẠN NHÂN (ĐƠN VỊ

%)……… 61

BIỂU ĐỒ 15: LÝ DO KHÔNG GIÚP NẠN NHÂN (LƯỢT CHỌN %) 62 BIỂU ĐỒ16: Ý KIẾN VỀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI TÌNH HÌNH AN NINH TẬT TỰ TẠI LĐH (ĐƠN VỊ %) 68

Trang 9

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Vấn đề an ninh trật tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức– Thành phố Hồ

Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp

- Sinh viên thực hiện:

 Nguyễn Thanh Tình

Bùi Kiều Minh Triết

- Lớp: XH10A1 Khoa: XHH-CTXH-ĐNA Năm thứ: 4 Số năm đào

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định những vấn đề nổi bật về ANTT tại LĐH Thủ Đức hiện nay;

- Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về mức độ ANTT tại khu làng Đại hoc TP.HCM hiện nay

- Xác định những mong đợi và kỳ vọng của sinh viên đối với khu vực mà họ đang sống và học tập

- Tìm hiểu mức độ quản lý của cơ quan chức năng và đối với tình hình ANTT trong khu vực

- Nhận diện những ảnh hưởng của tình hình ANTT hiện nay tại LĐH Thủ Đức đến đời sống, ứng xử của sinh viên đang học tập và cư ngụ tại khu vực này

Trang 10

3 Tính mới và sáng tạo:

Qua tìm hiểu tổng quan đề tài, chúng tôi nhận thấy chưa có một cuộc nghiên cứu chính thức nào về an ninh trật tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức – TP.HCM Khi chọn nghiên cứu về lĩnh vực này, chúng tôi đã có hướng tiếp cận mới trong việc tìm hiểu nhận định của sinh viên về tình hình an ninh tại khu vực làng đại học hiện nay

mà họ đang sống và học tập

4 Kết quả nghiên cứu:

Qua việc khảo sát và phân tích dữ liệu, chúng tôi đưa ra kết luận tình hình an ninh trật

tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức là kém và tình trạng này có ảnh hưởng đến những sinh viên sinh sống và học tập tại khu vực này Cụ thể là:

Đa số sinh viên sinh sống và học tập ở đây cho rằng tình hình an trật tự tại khu vực này là kém và các vấn đề nổi cộm nhất ở đây là tình trạng trộm cắp và nhậu nhẹt gây mất trật tự

Hiệu quả làm việc làm việc của lực lượng bảo vệ an ninh ở khu vực này cũng bị đánh giá giá là thấp, đều này thể hiện trong việc đánh giá mực độ đi tuần và tốc độ làm việc của lực lượng an ninh

Kết quả cũng cho thấy sinh viên ở đây không hài lòng với tình hình an ninh trật

tự ở khu vực này, những sinh viên có đánh giá các loại hình mất an ninh trật tự ở mức càng cao thì càng không hài lòng với tình hình an ninh tại đây

Cuối cùng kết quả thống kê đã cho thấy có mối quan hệ giữa việc giúp đỡ người khác và nhận định về tình hình an ninh trật tự tại khu vực này Đó là người đánh giá tình hình an ninh trật tự ở khu vực này càng thấp thì càng không giúp đỡ người bị nạn Liệu những bạn sinh viên sống trong môi trường không an ninh như vậy sẽ dần hình thành một thói quen sống ích kỷ chỉ quan tâm đến bản thân mình

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Trang 11

Thông qua đề tài nghiên cứu, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến tầm ảnh hưởng quan trọng của an ninh trật tự đến sinh hoạt và học tập của sinh viên tại khu vực làng đại học Thủ Đức - TP.HCM hiện nay

Qua thực tế và từ kết quả nghiên cứu chúng tôi cho rằng tình hình an ninh khu vực này đang diễn ra phức tạp, vì vậy các cơ quan an ninh và các cơ quan chức năng

có liên quan cần có biện pháp quản lý, siết chặt hơn tình trạng an ninh Không chỉ ảnh hưởng đến người dân sống trong khu vực này mà đặc biệt hơn đó là những sinh viên _ chủ nhân tương lai của đất nước sau này, vì vậy đối tượng sinh viên cần được quan tâm nhiều hơn khi sống trong khu vực mà an ninh khá phức tạp như vậy Mặt khác, tình hình an ninh ở đây còn ảnh hưởng đến nhiều mặt về tâm lý, sức khỏe, tiền của và nghiêm trọng hơn là tính mạng của sinh viên Chính hoàn cảnh sống và tình hình nơi đây đã tác động đến nhận thức của họ, từ đó làm cho cuộc sống hằng ngày của họ có những thay đổi thông qua cách giao tiếp, ứng xử và hành động,….Hy vọng các cơ quan chức năng có liên quan nhanh chóng thực hiện nhiều biện pháp để cải thiện tình hình ANTT theo hướng tích cực hơn để người dân và sinh viên nơi đây được an tâm học hành và có cuộc sống ổn định hơn

Với những ảnh hưởng như thế chúng tôi thiết nghĩ các cơ quan quản lý khu LĐH nên nhanh chóng hoàn thiện cở sở hạ tầng, tìm hiểu nhu cầu thực tế của sinh viên

và xây dựng thêm các khu nhà trọ và khu ký túc xá có thể đáp ứng được những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của sinh viên Tình hình an ninh là vấn đề luôn tồn tại trong mọi thời đại và ngày nay thì nó càng diễn ra phức tạp hơn vì vậy để cải thiện tốt tình hình an ninh, các nhà chức trách cần tiến hành các cuộc khảo sát thực tế, thu thập

ý kiến, nhu cầu và những thông tin từ phía những người đang sinh sống và học tập nơi đây Như vậy sẽ giúp các nhà quản lý có cái nhìn khách quan và thực tế hơn đối với tình hình an ninh nơi đây

Tình hình ANTT không chỉ có ảnh hương riêng cho một đối tượng nào mà nó

có tác động lớn đến cả một hệ thống văn hóa, kinh tế, xã hội của cả khu vực Đề tài chúng tôi chỉ dừng ở đối tượng là sinh viên trong khu vực LĐH Thủ Đức, vì vậy chúng tôi mong muốn đề tài sẽ được mở rộng và phát triển theo nhiều hướng tiếp cận mới, đối tượng mới Điều này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn cho tình hình

Trang 12

hiện tại, đồng thời cũng có được cơ sở dữ liệu khoa học trong việc đánh giá xây dựng

và hoàn thiện hệ thống an ninh phù hợp hơn cho những khu vực tương tự

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp

chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 13

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực

hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày tháng năm

Xác nhận của đơn vị

(ký tên và đóng dấu)

Người hướng dẫn

(ký, họ và tên)

Trang 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: NGUYỄN THANH TÌNH

Sinh ngày: 1991

Nơi sinh: BÌNH THUẬN

Lớp: XH10A1 Khóa: 2010 - 2014

Khoa: XHH – CTXH - ĐNA

Địa chỉ liên hệ: 62 Hoàng Văn Hợp, KP4, P.An Lạc, Q.Bình Tân, TP.HCM

Điện thoại: 0985135859 Email: nguyenttinh91@gmail.com

Trang 15

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Cuộc sống của con người ngày một phát triển, những nhu cầu thiết thiết yếu như ăn no mặc ấm đã được đến với hầu hết mọi người và khi đó con người bắt đầu có những đòi hỏi cao hơn trong cuộc sống và một trong những đòi hỏi đó là nhu cầu được bảo vệ và đảm bảo an toàn Trong thời gian gần đây nhiều bài viết trên báo đài cũng nói về tình hình an ninh trật tự tại thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là khu vực làng đại học Thủ Đức nơi có rất nhiều sinh viên đang sinh sống và học tập Sinh viên là tầng lớp trí thức trẻ là những chủ nhân tương lai của đất nước nên càng phải được quan tâm chăm sóc nhiều hơn nữa nhưng trong thực tế ngoài việc phải lo chi phí ăn ở và học tập sinh viên ở khu vực này còn phải đối phó với các tình hình mất an ninh trật tự tại khu vực này Do đó trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi tiến hành điều tra xã hội học

về tình hình an ninh trật tự tại khu vực này cụ thể là tìm hiểu nhận định của sinh viên ở đây về tình hình an ninh trật cũng như tính hiệu quả của lực lượng an ninh trong khu vực này từ đó thu thập được những ý kiến của sinh viên về giải pháp cho tình trạng này vì chính họ là những người đối mặt với sự việc đó hàng ngày Ngoài ra trong đề tài cũng tìm hiểu một số ảnh hưởng của tình hình an ninh trật tự đến thái độ và hành vi của sinh viên

Sau khi tiến hành điều tra xã hội học và phân tích kết quả của 300 sinh viên đang sinh sống và học tập tại khu vực làng đại học Thủ Đức cho thấy đa số sinh viên được hỏi đều cho rằng tình hình an ninh trật trật tự ở đây ở mức kém Khi so sánh giữa hai nhóm ở nhà trọ và nhóm ở ký túc xá thì cả hai nhóm đều có kết quả giống nhau và cùng cho rằng tình hình an ninh trật tự ở đây ở mức thấp và đa phần sinh viên được hỏi cũng không hài lòng với tình hình an ninh trật tự tại khu vực này Để lí giải cho sự không hài lòng này thì chúng tôi tiến hành tìm hiểu về nhận xét của sinh viên về tính hiệu quả của các lực lượng bảo đảm an ninh trong khu vực này để xem xét có mối quan hệ nào giữa công việc của lực lượng an ninh với sự hài lòng của sinh viên ở đây Bên cạnh đó chúng tôi còn tìm hiểu những ảnh hưởng của tình hình an ninh trật tự tại đây đến sinh viên như thế nào trong những sinh hoạt hằng ngày cũng như trong thái độ

và suy nghĩ trong việc giúp đỡ những người gặp những tình huống trộm cắp nhằm nêu lên những ảnh hưởng lâu dài trong thói quen và suy nghĩ của sinh viên ở đây Đề tài cũng đưa ra những kết luận bất ngờ về giới tính của nạn nhân trong các loại hình tội phạm, điều này chỉ ra rằng không chỉ có nữ giới mới là nạn nhân của các loại hình tội

mà nam giới cũng có những nguy cơ trong vấn đề này

Và dưới đây là chi tiết toàn bộ công trình nghiên cứu của chúng tôi

Trang 16

PHẦN I: ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

1 Bối cảnh vấn đề nghiên cứu

An ninh trật tự là vấn đề luôn được các cơ quan nhà nước và người dân quan tâm vì nó không chỉ ảnh hưởng đến trật tự xã hội nói chung mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống hằng ngày Nhưng khi tìm kiếm những tài liệu về ANTT trong nước thì chúng tôi thấy rằng những đề tài nghiên cứu trực tiếp vấn đề này gần như là không có hoặc nếu có thì nó chỉ là một phần nhỏ trong tài liệu Dù vậy, để có một cái nhìn khái quát hơn về toàn bộ những nghiên cứu có liên quan đến ANTT thì chúng tôi xin điểm qua một số tài liệu liên quan

Trước tiên là một nghiên cứu nhận định về an ninh công cộng của 10.716 người dân ở

32 đô thị của Trung Quốc được thực hiện bởi Ingrid Nielsen and Russell Smith với

nhan đề “Perceptions of public security in post – reform urban china: routine activity

analysis” 9-2005 Nghiên cứu đã dùng lý thuyết hành động theo thói quen (Routine

Activity Approach) để giải thích vấn đề tội phạm ở các thành phố này Lý thuyết này cho rằng hành vi phạm tội xảy ra không phải là mọi sự tình cờ nào đó mà nó được cấu thành khi có đủ ba yếu tố chính gồm có: Người có động cơ phạm tội (Motivated Offenders), đối tượng/mục tiêu phù hợp (Suitable Tagets) và không gian không có sự bảo vệ (The Absence of Suitable Guardians) Kết quả nghiên cứu cho thấy những người có động cơ là người thuộc nhóm người dân nhập cư và người nghèo trong các

đô thị và những người có độ tuổi từ 18 – 28 thì lại sợ tội phạm hơn là những người trên 28 tuổi, yếu tố cố kết cộng đồng thì không có ảnh hưởng đến nhận định của người dân ở đây Đặc biệt, yếu tố tin tưởng vào cơ quan an ninh có ảnh hưởng đến nhận định

về an ninh công cộng ở đây Qua lối tiếp cận trên giúp chúng tôi có thêm cái nhìn mới hơn về đề tài nghiên cứu của mình Đặc biệt là qua hai yếu tố về đối tượng và không gian khiến chúng tôi có những câu hỏi liệu sinh viên có phải là đối tượng phù hợp cho hành vi phạm tội và những yếu tố nào đã làm cho sinh viên trở thành nạn nhân của tội phạm? Những hành vi quen thuộc được lập đi lập lại có tạo ra những cơ hội cho những người phạm tội có tính toán hợp lí và từ đó khiến sinh viên trở thành mục tiêu tiềm năng của tội phạm Tiếp đó là những suy nghĩ về nơi sinh sống và học tập của các bạn sinh viên, nơi đó đáng lẽ phải vô cùng văn minh và lịch sự nhưng trong thực tế thì như thế nào? Sự hiện diện của cơ quan chức năng ở khu vực này có đủ để đảm bảo

Trang 17

ANTT? Phải chăng quy hoạch khu LĐH Thủ Đức còn chưa hoàn chỉnh? Mặt khác nghiên cứu còn nhắc đến yếu tố gia đình trong đó gia đình được xem là không gian có

sự bảo hộ và việc sống chung với nhiều người cũng được cho là ảnh hưởng tới nhận định về ANTT cùng với đó chính là mối liên hệ với những người lân cận xung quanh cũng có thể làm cảm giác an toàn thay đổi, cụ thể khi cá nhân có mối quan hệ tốt với những người xung quanh thì họ sẽ có cảm giác an toàn hơn Từ đó việc đưa chỉ báo về nơi ở hiện tại và mức độ quen biết với người hàng xóm sẽ có những ý nghĩa nhất định với nhận định của sinh viên Qua những thông tin trên giúp chúng tôi biết thêm những yếu tố ảnh hưởng đến nhận định của của sinh viên về tình hình ANTT tại LĐH Thủ Đức hiện nay

Để có thêm những mô tả về nạn nhân, trong quyển Introductoin to Criminal Justice

của tác giả Robert M.Bohm và Keith N.Haley trang 53 có đề cập đến một chương trình nghiên cứu về nạn nhân (The National Crime Victimization Surveys – NCVS) dựa trên những thông tin của các buổi phỏng vấn đối với những nạn nhận của tội phạm do Cục điều tra liên bang của Mỹ (FBI) thực hiện theo đó có tổng cộng 24 triệu người là nạn nhân của tội phạm ở Mỹ năm 2004 có độ tuổi từ 12 trở lên Trong đó có khoảng 5,2 triệu người là nạn nhân của tội phạm bạo lực và 18.6 triệu người là nạn nhân của tội phạm về tài sản và còn lại là những vụ tội phạm nhỏ chiếm 224.000 người Dựa vào

dữ liệu của NCVS năm 2004 đã cho thấy nhóm người có nguy cơ cao nhất của tội phạm bạo lực là nhóm có tuổi từ 12 trở lên và đặc biệt nhóm có tuổi thừ 12-24 thì có nguy cơ gấp 3 lần nhóm từ 25 tuổi trở lên và gấp 20 lần so với người trên 65 tuổi Nhóm những người độc thân, ly hôn và những người ly thân thì có có khả năng là nạn nhân của tội phạm bạo lực nhiều gấp 3 lần so với người có gia đình và gấp 9 lần với người góa chồng hoặc vợ Ngoài ra nhóm người có thu nhập thấp dưới 7.500 đô la trở xuống thì nguy cơ trở thành nạn nhân gấp 2 lần nhóm có thu nhập cao từ 75.000 đô la trở lên Nhóm người ở thành thị, ngoại ô và nông thôn có chỉ số trở thành nạn nhân lần lược là 29.0, 18.0 và 19.9 Nhóm nam có chỉ số trở thành nạn nhân là 25.0 trong khi

nữ là 18.1 Còn đối với những nhóm là nạn nhân của tội phạm tài sản thì giảm dần theo thứ tự của nhóm ở thành thị, ngoại ô và nông thôn; đặc biệt là so sánh nhóm ở nhà thuê và nhóm ở nhà của mình thì nhóm ở nhà thuê có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm về tài sản

Trang 18

Từ những mô tả trên cho chúng ta những đặc điểm chung về nạn nhân của của tội phạm nhưng liệu có sự khác biệt gì khi nghiên cứu ở Việt Nam? Sinh viên thường gặp loại tội phạm nào nhiều nhất và những sinh viên ở trọ có nhận định về mức độ an toàn khác với sinh viên ở Ký túc xá nơi có sự quản lí chặt chẽ hơn không? Tuy nhiên, đề tài chúng tôi thực hiện quan tâm chủ yếu đến những nhận định về tình hình ANTT ở khu vực LĐH Thủ Đức Đặc biệt về những nỗi sợ về tội phạm của những sinh viên ở đây, trong quyển sách trên cũng trích một cuộc thăm do về nỗi sợ của người dân ở Mỹ1 theo

đó thì:

 40% lo sợ bị lạm dụng tình dục đối với chính bản thân họ hoặc những người thân trong gia đình

 40% lo sợ liên quan đến việc bị trộm vào nhà khi họ đi vắng

 30% thì lo sợ bị tấn công khi đang lái xe

Cũng mô tả về nguyên nhân thúc đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm, Trần

Hữu Tráng viết trong quyển Nạn Nhân Của Tội Phạm thì quá trình này hình thành do

sự tổng hợp của nhiều yếu tố Trong đó có các nguyên nhân thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân nạn nhân như các đặc điểm tâm lý, lối sống, thói quen, sở thích,… và các nguyên nhân khách quan thuộc về các yếu tố bên ngoài mà đặc trưng có các yếu tố như thời gian địa điểm và mối quan hệ giữa nạn nhân và tội phạm Về phần nguyên

1 K.Maguire và L.Pastore, Sourcebook of Criminal Justice Statistics 1993, tr.182, bảng 2.30 và B.Haghighi và J.Sorensen, America’s Fear of Crime trong J Flanagan and R Longmire, Americans View Crime and Justice: A National Plulic Opinion

Survey, tr.22, bảng 2.1

Trang 19

nhân chủ quan, tác giả có đề cập tới đặc điểm tâm lý tự tin, quá dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân như thiếu sự đề cao cách giác đối với việc bảo vệ tài sản của mình, hay tâm lý thích phô trương tài sản,…Chính điều này đã góp phần phát sinh tội phạm

và dẫn tới tình trạng mất an ninh Tác giả dẫn chứng: “Nghiên cứu 313 vụ trộm cắp tại Washington D.C năm 1967 cho thấy có 21 vụ (chiếm 7%) người phạm tội đột nhập qua cửa chính không khóa và 70 vụ (chiếm 22%) đột nhập qua cửa sổ không đóng để trộm cắp tài sản (Hans Joachim Scheider, tr.96)” Qua đây ta thấy được rằng chính sự chủ quan của chính nạn nhân là yếu tố góp phần cho hành vi phạm tội được thực hiện

Về phía nguyên nhân khách quan thì bài viết nhấn mạnh đến yếu tố thời gian và địa điểm Tác giả cho rằng “Người phạm tội luôn luôn biết tận dụng khoảng thời gian và những địa điểm thuận lợi cho quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình Thời gian, địa điểm thuận lời thường là những lúc, nhưng nơi vắng vẻ, ít người” (Trần Hữu Tráng, tr.51) Những trường hợp phạm tội sẽ không xảy ra nếu như nạn nhân và tội phạm gặp nhau ở một không gian và thời gian mà ở đó có nhiều người qua lại Nhưng theo chúng tôi nghĩ rằng tội phạm không chỉ hoạt động ở nơi vắng vẻ mà ngược lại, ở nơi đông người qua lại cũng có thể là chỗ thích hợp đối với các lại tội phạm hiện nay Liên quan đến đề tài, chúng tôi cũng muốn xem thử những yếu tố thời gian và địa điểm này có phải là yếu tố chính để hành vi tội phạm được thực hiện hay không qua nhận định của sinh viên và những khu vực không có đèn chiếu sáng hay hàng rào có phải là những nơi được cho là thiếu an toàn hơn những nơi khác?

Những nghiên cứu mà chúng tôi đề cập ở trên đa số là được viết để phục vụ cho các ngành như luật và nghiên cứu về tội phạm là chính, còn những đề tài xã hội học liên quan đến vấn đề này ở Việt Nam thì rất hạn chế và hầu như không có Nhưng trong thời gian gần đây đã có một nghiên cứu do sinh viên trường Đại học Mở thực hiện với

đề tài Mức độ hài lòng của người dân về an ninh công cộng tại Tp Hồ Chí Minh

(Nguyễn Thị Thu Minh, Nguyễn Thị Châm, Trần Thị Bích Nguyệt, 2013) Với mẫu khảo sát 300 người dân tại TP.HCM,nhằm để đo lường sự khác biệt mức độ hài lòng

về an ninh công cộng đề tài tập trung khảo sát người dân ở 3 quận: quận 1, quận Gò Vấp và quận Bình Tân Đề tài đã ứng dụng cơ sở lí luận của E Durkheim về sự kiện

xã hội qua việc áp dụng “các quy tắc của phương pháp xã hội học” vào nghiên cứu mức độ hài lòng của người dân về an ninh công cộng Theo kết quả của đề tài cho thấy

Trang 20

đa số người dân không hài lòng về an ninh công cộng; trong đó: chỉ có 20% người dân hài lòng tới rất hài lòng về an ninh; và 34% người dân hài lòng với an ninh hiện nay ở mức bình thường Nhưng có tới 46% người dân không hài lòng tới rất không hài lòng

về an ninh Mặc khác, có tới 92% người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên thi có nhận định rằng an ninh ở TP.HCM ở mức bình thường hoặc không an toàn trong khi

đó thì có 86% người có trình độ cấp 3 và trung cấp đồng đưa ra nhận định trên; nhưng người có trình độ cấp 1 và 2 đồng ý như trên Kết quả có ý nghĩa ở mức 95% Điều đó cho thấy người có học vấn càng cao thì mức độ đánh giá về an ninh càng thấp Tại sao

có kết quả này và sinh viên là những người có học vấn cao thì đánh giá của họ có giống với kết quả nghiên cứu trên không? Đề tài nghiên cứu với quy mô cả thành phố cho thấy mức độ an ninh của toàn thành phố ở mức thấp Vậy nếu trong một khu vực LĐH thì mức độ an ninh sẽ như thế nào? Đặc biệt đây là khu vực tập trung một số lượng lớn tầng lớp trí thức là những tương lai của đất nước, thì sự quan tâm của họ đối với những vấn đề xã hội xung quanh nơi sinh sống và học tập như thế nào? Kết quả từ các đề tài trên sẽ góp phần giúp chúng tôi trong việc xác định vấn đề và có hướng nghiên cứu mới cho đề tài của mình Những câu hỏi thắc mắc và nghi vấn ở trên cũng

sẽ được giải đáp và lý giải thông qua kết quả nghiên cứu đề tài mà chúng tôi sẽ thực

hiện: “Vấn đề an ninh trật tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí

Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp”

2 Lí do chọn đề tài

ANTT là vấn đề luôn được nhắc đến hàng ngày và có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân Bất cứ nơi đâu, khu vực nào cũng có vấn đề về ANTT vì thế vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là vấn đề về ANTT ở khu vực LĐH Thủ đức TP.HCM Nằm giáp ranh tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và quận Thủ Đức (TP.Hồ Chí Minh) Như một xã hội thu nhỏ, LĐH cũng đang tồn tại những vấn đề bức xúc về ANTT mà các sinh viên tại đây đang phải đối mặt như nạn trộm cướp, đua xe, đánh nhau, “xin đểu” Tại đây có hàng nghìn sinh viên (SV) học tập và sinh hoạt Các điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ công tác đào tạo đang ngày một phát triển đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho SV Tuy nhiên, với địa bàn rộng, tình hình ANTT chưa ổn định, một số bộ phận SV sống xen lẫn dân nhập cư, một số đối tượng có tiền án tiền sự thường xuyên lui tới… đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống SV Đặc biệt trong thời gian qua không ít bài báo đã

đưa tin về vấn đề an ninh tại khu vực này Như báo Công an TP.HCM với tựa “An

Trang 21

ninh tại làng đại học Thủ Đức: Báo động đỏ” (www.congan.com.vn, 10/05/2013), báo

Lao động: “Bất an ở làng đai học” (laodong.com.vn, 15/7/2013), báo Dân trí: “Tệ nạn

“bao vây” làng đại học Thủ Đức”(dantri.com.vn, 21/11/2012),… Qua đây chúng ta thấy rằng tình hình ANTT nơi đây đang diễn ra phức tạp

Trong thực tế, vấn đề này đã có rất nhiều nhận định và ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng ANTT nơi đây diễn ra phức tạp là do thiếu sự quan lý chặt chẽ của lực lượng chức năng Nhưng cũng có lý do cho rằng do địa bàn phức tạp và cơ sở hạ tầng thấp kém Tuy nhiên, đây chỉ là những nhận định phiến diện, chưa có thể có cái nhìn toàn diện về hiện trạng Vì vậy, chúng ta cần có một cuộc khảo sát, tiếp cận chính những người trong cuộc là những sinh viên sống nơi đây, nhằm có một cái nhìn đầy đủ và khoa học hơn về vấn đề ANTT nơi đây

Chính vì lẽ đó, để tìm hiểu tình hình ANTT ở khu vực này như thế nào, chúng tôi

quyết định chọn đề tài “Vấn đề an ninh trật tự tại khu vực làng đại học Thủ Đức–

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải pháp” nhằm tìm hiểu nhận định

của chính sinh viên nơi đây về ANTT nơi đây qua một nghiên cứu thực nghiệm Để từ

đó có thể đưa ra những đánh giá và nhận xét khách quan hơn trước tình hình ANTT khu vực này

3 Ý nghĩa nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lí luận

Nhằm ứng dụng vào thực tiễn và hiểu rõ hơn lý thuyết hành động theo thói quen (Routine Activity Theory) trên một vấn đề cụ thể trong xã hội đó là cái nhìn về ANTT tại khu vực LĐH Thủ Đức nơi các sinh viên Lý thuyết hành động theo thói quen là một lý thuyết mới và hình như tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng lý thuyết này, do đó đề tài này sẽ đánh giá bước đầu khả năng ứng dụng của

lý thuyết này trong thực tiễn nghiên cứu

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giúp tìm hiểu về tình hình trật tự để cung cấp một số thông tin cơ bản góp phần cải thiện tình hình ANTT nhằm mang lại môi trường an toàn, lành mạnh, tích cực cho sinh viên sinh sống và học tập tại khu vực này

Trang 22

4 Mục tiêu nghiên cứu

4.1 Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu những nét nổi bật về về tình hình ANTT tại khu vực LĐH Thủ Đức - TP.HCM thông qua nhận định của sinh viên đang sinh sống và học tập tại đây Xác định đâu là những mối bận tâm và mong đợi của giới sinh viên đang sinh sống tại nơi đây để nhằm giúp các cơ quan có liên quan xem xét và có những giải pháp thích hợp nhằm tạo ra một khu vực sống an toàn và lịch sự cho giới sinh viên

4.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định những vấn đề nổi bật về ANTT tại LĐH Thủ Đức hiện nay;

- Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về mức độ ANTT tại khu làng Đại hoc TP.HCM hiện nay

- Xác định những mong đợi và kỳ vọng của sinh viên đối với khu vực mà họ đang sống và học tập

- Tìm hiểu mức độ quản lý của cơ quan chức năng đối với tình hình ANTT trong khu vực

- Nhận diện những ảnh hưởng của tình hình ANTT hiện nay tại LĐH Thủ Đức đến đời sống, ứng xử của sinh viên đang học tập và cư ngụ tại khu vực này

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Những vấn đề nổi cộm hiện nay tại LĐH là tình trạng trộm, cướp

- Phần lớn sinh viên đánh giá thấp mức độ an toàn tại LĐH Thủ Đức hiện nay

- Có sự khác nhau giữa nam và nữ trong nhận định về mức độ ANTT

- Tính hiệu quả của các lực lượng bảo đảm ANTT tại LĐH Thủ Đức hiện nay còn thấp

- Ở từng thời điểm khác nhau thì mức độ ANTT khác nhau

 Tình hình ANTT trở nên phức tạp hơn vào ban đêm

 Ở khu vực vắng vẻ, thiếu đèn đường thì hay xảy ra các vụ mất ANTT

- Nhận định mức độ ANTT có ảnh hưởng đến hình vi, ứng xử của sinh viên

Trang 23

6 Khung nghiên cứu

7 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

7.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận định của sinh viên về ANTT tại khu LĐH TP.HCM hiện nay và những kỳ vọng của họ

Thời gian cư trú

về ANTT tại LĐH Thủ Đức

và những

kỳ vọng của họ

Trang 24

7.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên của các trường đang học tập và cư ngụ tại khu vực LĐH gồm có các trường: Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,Trường Đại học Quốc tế, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Kinh tế - Luật, Khoa Y, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Đại học Thể dục Thể thao TP Hồ Chí Minh và Đại học An Ninh Nhân Dân

7.3 Dung lượng mẫu

Nghiên cứu được thực hiện trên khoảng 300 sinh viên của các trường Đại học trên để đảm bảo lấy được nhiều thông tin đại diện cho dân số Chọn mẫu kết hợp việc chọn mẫu tình cờ tiện lợi và chọn mẫu theo định ngạch (giới tính) trong đó 150 sinh viên nam và 150 sinh viên nữ

để nghiên cứu về tội phạm và lệch lạc thì L.E.Cohen và M.Felson đã phát triển một lý thuyết mới dựa trên lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để đưa ra nguyên nhân của việc hình thành tội phạm Đó là lý thuyết hành động theo thói quen (Routine Activitiy Theory – RAT) Đây cũng là lý thuyết tiếp cận vấn đề được nghiên cứu trong đề tài của chúng tôi

Lý thuyết hành động theo thói quen đưa ra ba nhân tố quyết định dẫn đến hành vi phạm tội Đầu tiên, người có động cơ phạm tội và khả năng thực hiện hành vi phạm tội; thứ hai là nạn nhân hay mục tiêu thích hợp; thứ ba là sự thiếu vắng của người có thể ngăn cản hành vi tội phạm Đó là ba yếu tố chính nhưng chỉ khi ba yếu tố trên cùng xuất hiện tại một địa điểm và cùng một thời điểm thì hành vi tội phạm mới thực sự diễn ra

Trang 25

Lý thuyết này cho rằng hành vi phạm tội không phải là một sự kiện ngẫu nhiên cũng không bình thường vì đó là kết quả của thói quen của người tham gia vào các hoạt động trong quá trình sống của họ, đặc biệt với những người có lối sống ban đêm sẽ dễ dàng trở thành các mục tiêu phù hợp cho những người có hành vi tội phạm có tính toán trước và tội phạm có tổ chức Lý thuyết này liên quan đến các mô hình hành vi hằng ngày và tội phạm là bình thường và phụ thuộc vào cơ hội sẵn có nếu mục tiêu không được bảo vệ

Cùng với đó là sự chọn lựa của người có động cơ phạm tội, khi nhận thức có đối tượng phù hợp và dễ dàng tiếp cận thì khả năng xảy ra hành vi phạm tội sẽ cao hơn rất nhiều nhưng khả năng xảy ra phạm tội sẽ ít xảy ra khi người phạm tội thấy có thể đạt được mục tiêu cá nhân của mình bằng các lựa chọn thay thế

Sự có mặt của người có thể ngăn cản phạm tội có thể là sự hiện diện vật lý của một người có thể thực hiện hành vi bảo vệ nạn nhân khi có tội phạm hoặc là hiện diện của các thiết bị giám sát như camera giám sát hoặc hệ thống an ninh Vấn đề quan trọng trong lý thuyết này là sự tương tác của động lực, cơ hội và mục tiêu Do đó, sự có mặt của người có khả năng ngăn chặn hành vi phạm tội sẽ ngăn chặn hầu hết người phạm tội và giúp mục tiêu chuyển từ phù hợp sang không phù hợp

Ứng dụng lý thuyết vào đề tài, chúng tôi cũng muốn biết về các vấn đề ANTT cũng như các vấn đề an ninh nổi cộm như trộm,cướp,… xảy ra ở khu vực LĐH qua nhận đinh và đánh giá của sinh viên có liên quan đến ba yếu tố mà trong lý thuyết đã đề cập như thế nào Vì vậy, để đánh giá được một cách khách quan những nhận định của sinh viên cần phải xem xét và phân tích trong mối tương quan với nhau giữa nhận định về

an ninh và các yếu tố: Hiệu quả của lực lượng an ninh, dân nhập cư, mối quan hệ xã hội, Đồng thời, chúng tôi muốn biết cụ thể hơn là ở khu vực này thì vào thời điểm nào thì tình hình mất an ninh xảy ra, mục tiêu nào là thích hợp và sự hiện diện của lực lượng an ninh và mọi người xung quanh thì tình hình tội phạm và an ninh ở đây ra sao

Từ đó, giúp lý giải và có những giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề về tội phạm

và tình hình ANTT tại khu vực LĐH

Trang 26

9 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

được điều chỉnh và bổ sung sau vài lần phỏng vấn thăm dò

- Phương pháp định tính thông qua kỹ thuật: quan sát, phỏng vấn sâu Bên cạnh

kỹ thuật điều tra bản câu hỏi chúng tôi còn sử dụng kỷ thuật phỏng vấn sâu nhằm hỗ trợ cho việc tìm hiểu đối tượng, thiết kế bản câu hỏi định lượng với

mục đích thu thập thông tin hiệu quả hơn

9.2 Kỹ thuật nghiên cứu

Điều tra bằng bản hỏi để thu thập các thông tin chính về nhận định của sinh viên ở khu vực này về tình hình ANTT và những thông tin liên quan

Quan sát trên thực tế các cơ sở vật chất hạ tầng bao gồm: đường sá, cầu cống, hệ thống chiếu sang và các chốt kiểm tra bảo vệ của khu vực LĐH Thành phố Hồ Chí Minh Phỏng vấn sâu cá nhân một số sinh viên để lấy những thông tin trên bên cạnh đó là những lí do mà cá nhân đưa ra để bổ sung thêm những thông tin mà bản hỏi không thể thu thập được

Phương pháp thu thập và xử lí dữ liệu sẵn có: sử dụng phần mềm SPSS với các phương pháp kiểm định giả thuyết cho dữ liệu định lượng và phân tích nội dung đối với dữ liệu định tính

9.3 Khái niệm chính

An ninh

Theo Từ điển tiếng việt An ninh là sự yên ổn, an toàn: an ninh được đảm bảo

Trang 27

Theo Từ điển Hán việt từ nguyên An ninh là yên ổn, không có cướp, giặc giã

An ninh công cộng: an toàn của người dân về tính mạng và tài sản ở các khu vực mà

họ sống, làm việc, học tập, vui chơi giải trí, đi lại…

Không gian công cộng

Không gian công cộng là không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người Có hai loại không gian công cộng chính: (1) không gian “vật thể” ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên Đồng thời cũng là không gian giao tiếp nơi các đường đi bộ, các hẽm phố, các tiền sảnh của dinh thự, v.v (2) không gian “phi vật thể” ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi.(Lâm Thị Ánh Quyên, 2012, tr.29)

Không gian công cộng chúng tôi muốn đề cập đến trong đề tài này là loại không gian công cộng “vật thể” Ở đây có đường phố, các con hẽm, công viên,… ở không gian công cộng này người sử dụng cũng là người quan sát và cũng là những người tham gia vào các hoạt động chung Mà đối tượng ở đây chính là sinh viên ở khu vực này, vì vậy

họ sẽ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ không gian công cộng này

Làng đại học: Làng đại học là một thuật ngữ dùng để chỉ một khu vực nào đó tập

trung nhiều trường đại học Trong đó bao gồm: hệ thống đường sá và hạ tầng phục vụ

cho sinh viên và giảng viên trong quá trình học tập và giảng dạy

Trang 28

PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH AN NINH TRẬT TỰ KHU LÀNG ĐẠI HỌC QUẬN THỦ ĐỨC - TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Nhiều năm qua, TP.HCM đang từng bước vươn lên đạt được nhiều bước tiến và giữ nhiều vài trò quan trọng trong cả nước Bên cạnh những bước phát triển tích cực vẫn còn tồn tại một số mặc tiêu cực Thành phố còn đang phải đối đầu với nhiều khó khăn, mà một trong những khó khăn phải kể đến dầu tiên đó là vấn đề ANTT, đây là một vấn đề đang được xã hội quan tâm Mặc dù đã

có những giải pháp tích cực để đối phó với vấn đề này, nhưng con số hàng năm của các báo về tình hình ANTT vẫn tăng hơn so với năm trước Các án về trộm cắp tài sản, nhậu say gây rối, giết người….chủ yếu tập trung ở các quận, huyện vùng ven của thành phố Theo báo cáo của Công an TP HCM, trong 10 tháng đầu năm đã xảy ra hơn 5.100 vụ phạm pháp hình sự (tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước) Trong đó, Cướp tài sản xảy ra 266 vụ (giảm 19,39%) và Cướp giật tài sản 989 vụ (giảm 4,25%) Án cưỡng đoạt tài sản xảy ra 38 vụ (giảm 11,62%) Tình hình trộm cắp tài sản diễn

ra 2.747 vụ (tăng 7,22%) và chiếm 53,77% trên tổng số vụ phạm pháp hình sự Đây là một con số đáng báo động.Theo báo cáo của Thiếu tướng Phan Anh Minh - Phó giám đốc Công an TP HCM, trong 10 tháng đầu năm 2013 (theo vnexpress.net, số ra ngày 16/10/2013), tình hình phạm pháp có chiều hướng gia tăng so với cùng kỳ năm trước,

án về trộm cắp tài sản chủ yếu ở các quận huyện vùng ven Mà điển hình đó là phường Linh Trung quận Thủ Đức

Thủ Đức là quận vùng ven ở phía Đông TP.HCM, bên kia bờ sông Sài Gòn Có diện tích 47,76 km2 Phía Bắc giáp huyện Thuận An và huyện Dĩ An của tỉnh Bình Dương Phía Nam tiếp giáp quận 2 Sông Sài Gòn bao bọc ở phía Tây, ngăn cách với quận 12, quận Gò Vấp và quận Bình Thạnh Phía Đông giáp quận 9 Thủ Đức gồm 12 phường: Bình Chiểu, Linh Xuân, Tam Bình, Tam Phú, Hiệp Bình Phước, Hiệp Bình Chánh, Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Bình Thọ, Trường Thọ, Linh Trung Theo thống kê dân số của phường Linh Trung luôn biến động tăng, hiện nay phường đang quản lý 17.473 hộ với 59.643 nhân khẩu, trong đó số người tạm trú chiếm tỷ lệ 70% dân số Quận Thủ Đức cũng đang trên đà phát triển về nhiều mặc: kinh tế, văn hóa, xã hội.Tại

Trang 29

phường Linh Trung có nhiều khu công nghiệp, nhiều trường đại học,với nhiều tiềm năng về kinh tế

Hiện nay tại phường đang thực hiện công tác định hướng quy hoạch và phát triển không gian đô thị như: Khu công nghiệp và cụm công nghiệp: phía Đông Bắc (Linh Trung) của quận Thủ Đức với khu công nghiệp tập trung tại phía Tây Bắc (Bình Chiểu), cụm công nghiệp địa phương tại phường Linh Xuân Định hướng chuyển đổi khu công nghiệp phường Trường Thọ sang chức năng hỗn hợp ở, thương mại dịch vụ - vui chơi giải trí Khu giáo dục đào tạo: tập trung là ĐHQG (phường Linh Trung), kết hợp với mạng lưới các trường đại học khác hiện hữu sẽ được nâng cấp Hứa hẹn sẽ mang lại nhiều bước tiến mới về kinh tế ở đây

Tuy nhiên, như đã nhắc đến ở trên, tình hình ANTT tại quận vẫn đang gây ra nhiều nỗi

lo lắng cho các cơ quan chức năng Một khu vực trọng điểm đáng được quan tâm tại quận Thủ Đức đó là Khu LĐH thuộc phường Linh Trung Nơi đây, luôn tạo tâm điểm cho sự chú ý của các cơ quan về tình hình ANTT

Phường Linh Trung đã thực hiện công tác sơ kết chuyển hóa địa bàn về ANTT vào ngày 5 tháng 3 năm 2013, kéo giảm hoạt động tội phạm đến mức thấp nhất Trong 9 tháng qua phường Linh Trung đã giữ vững ổn định an ninh chính trị, bảo vệ tuyệt đối

an toàn các sinh hoạt chính trị diễn ra trên địa bàn, phạm pháp hình sự được kéo giảm 26,3% so với cùng kỳ, không có trọng án xảy ra, hều hết các loại án đều giảm, tỷ lệ khám phá án đạt 80,9% Tuy vậy tình trạng ANTT ở đây vẫn chưa hẳng là ổn định, vẫn còn những nơi an ninh chưa ôn định Khu vực vẫn còn gây nhiều khó khăn cho cơ quan chức năng về tình trạng ANTT tại phường Linh Trung đó là khu LĐH

Nơi đây được xem là vùng trọng điểm tại quận Thủ Đức về tình hình ANTT Bởi lẽ, từng phút từng giây nếu sơ ý một chút người sống ở khu vực này sẽ dễ trở thành nạn nhân của tình hình mất an ninh trật tư Vốn dĩ nơi này được gọi là “làng đại học” là vì

nó tập trung rất đông các trường đại học quốc gia nổi tiếng của TP.HCM trường như

ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Khoa học - Xã hội và Nhân văn, ĐH Bách khoa, ĐH Quốc

tế, ĐH Công nghệ thông tin, Khoa Kinh tế Trường ĐH Quốc gia Nơi đây được đánh giá cao về chất lượng giảng dạy, cơ sở vật chất hạ tầng…nên chỉ cần nhắc đến LĐH số đông ai cũng biết

Trang 30

Do nằm giáp ranh giữa TPHCM và Bình Dương, vấn đề ANTT ở LĐH Thủ Đức (ĐH quốc gia TPHCM) chịu sự quản lý của cả Công an quận Thủ Đức, TP.HCM và Công

an xã Đông Hòa, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Chính sự chung ranh giới, cùng với lượng sinh viên tập trung đông đã dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, cũng như công tác giữ gìn ANTT ở khu vực Hàng nghìn sinh viên ngoại trú không chỉ đối mặt với nỗi lo nơi ăn, chốn ở, chuyện học tập mà còn phải đối mặt với những nỗi lo "bóng ma" bạo lực, những tên đạo chích luôn rình rập.Trước khi thực hiện đề tài này, nhóm chúng tôi đã cùng nhau đi quan sát thực tế cũng như tìm hiểu thông tin trên những trang báo mạng thấy rằng tại đây có rất nhiều khu nhà trọ cho sinh viên thuê, những khu nhà trọ này đa số là xây dựng từ khá lâu, chất lượng tương đối kém, không được đảm bảo về mặt an ninh, bên cạnh đó, các khu trọ cho sinh viên còn xen lẫn nhà của dân hoặc nhà của công nhân của các khu công nghiệp gần đó, đây là một điều kiện rất thuận lợi cho bọn xấu “tác quái” Sinh viên thường không dám để những đồ vật có giá trị ở phòng trọ khi đi học Khi đi ra đường cũng như đi đến trường, hầu như mọi sinh viên đều rất cảnh giác Theo lời của một sinh viên từ trường Đại Học Nông Lâm “có khi đang đi trong trường mà vẫn bị cướp giật túi xách, hay chuyện thầy cô bị giật máy chiếu khi đi đến lớp giảng cũng thường xảy ra” Chuyện mất cắp những thứ lặt vặt xảy

ra hàng ngày như “ăn cơm bữa” Không những ở khu nhà trọ mà ở trên các tuyến đường đi vào kí túc xá của trường ĐHQG cũng chưa hẳn đảm bảo Các con đường dẫn vào ký túc xá khu B ĐHQG tuy ngắn, dễ đi nhưng lại rất nguy hiểm Đường hẻo lánh,

ít người qua lại, hai bên đường cây cối rậm rạp, đặc biệt phải đi qua đoạn hồ đá và rừng tràm nổi tiếng với các vụ cướp, đâm chém hay “xin đểu” !

Nhìn chung, tình hình ANTT tại khu LĐH Thủ Đức đang là một vấn đề gây bức xúc cho người dân đặc biệt là phần lớn sinh viên hiện đang học tập ở đây hiện nay Nó vẫn đang ngày ngày ầm thầm diển ra trong đời sống của sinh viên Do vậy nhóm chúng tôi

đã thực hiện cuộc ngiên cứu mong đóng góp một phần nào đó cho các cơ quan chức năng quan tâm cải thiện lại để đảm bảo tình trang an ninh tại khu LĐH, nhằm tạo một

môi trường thuận lợi cho sinh viên yên tâm học tập

Trang 31

Nam (150) 50%

Nữ (150) 50%

Giới tính

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU

2.1 Giới tính

Biểu đồ 1: Cơ cấu giới tính nam/nữ (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Mẫu nghiên cứu được thực hiện với 300 người tham gia Trong đó: 150 nam (50%) và

150 nữ (50%) Kết quả đúng như dự định mẫu ban đầu

Trang 32

Chúng tôi tiến hành khảo sát ngẫu nhiên và theo dự định mẫu không phân theo ngành học nên kết quả thu được có 168 người học các ngành có liên quan đến khoa học – kỹ thuật chiếm 59,6% và cũng là tỉ lệ phần trăm lớn nhất Tiếp theo là các ngành có liên quan đến Xã hội - nhân văn chiếm 32.3% và tỉ lệ người được khảo sát có ngành học liên quan đến lĩnh vực kinh tế là 8.2% Khi nhìn vào bản phân tích ngành học theo giới tính thì ta thấy được khác biệt có ý nghĩa, trong đó các khối ngành khoa học – kỹ thuật thì tỉ lệ nam nhiều hơn còn khối ngành xã hội - nhân văn thì ngược lại.Và có sự cân bằng nam nữ trong khối ngành kinh tế Cho thấy yếu tố giới tính có ảnh hưởng đến ngành học nên khi sử dụng so sánh với các yếu tố phụ thuộc ta có thể dùng yếu tố giới tính và nó có thể đại diện luôn cả ngành học

2.3 Khu vực cư trú trước khi vào TP.HCM

Biểu đồ 2: Khu vực cư trú trước khi vào TP.HCM (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong tồng số 300 người được khảo thì có 230 người đến từ nông thôn chiếm 77%, còn lại là 70 người chiếm 23% thì đến từ các thành thị Nhìn chung, mẫu nghiên cứu

phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn

Thành thị 23% (70)

Nông thôn 77% (230)

Khu vực cư trú

Trang 33

2.4.Nơi ở hiện tại

Biểu đồ 3: Cơ cấu nơi ở hiện tại (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong 300 người được khảo sát có 150 người chiếm 50% sống tại ký túc xá và 150 người chiếm 50% sống tại các nhà trọ trong LĐH Kết quả này đúng như dự định mẫu ban đầu

2.5 Nơi ở hiện nay phân theo giới tính

Bảng 2: Nơi ở hiện nay phân theo giới tính (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong 300 người được khảo sát thì có 25% người là nam ở nhà trọ trong LĐH và 25%

nữ ở trọ trong LĐH, cùng với tỉ lệ cũng có 25% nam ở trong ký túc xá và 25% nữ ở trong ký túc Kết quả đúng với mẫu dự kiến ban đầu

Nhà trọ 50%

Ký túc xá 50%

Nơi ở hiện tại

Trang 34

2.6 Thời gian cư trú tại LĐH

Bảng 3: Thời gian cư trú tại LĐH (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11 - 2013)

Trong 300 người được khảo sát thì có 157 người chiếm 52.3% có thời gian cư trú tại làng đại dưới 18 tháng và 103 người chiếm 34.4% có thời gian cư trú từ 18 đến 36 tháng, còn lại có thời gian cư trú trên 36 tháng chiếm 13.3%

2.7 Mức sống

Biểu đồ 4: Cơ cấu mức sống gia đình của sinh viên (đơn vị %)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11 - 2013)

Trong câu hỏi mức sống của gia đình anh/chị hiện nay? Thì có đến 79% số người được khảo sát cho rằng gia đình của họ có mức sống là bình thường chiếm phần trăm cao nhất và số sinh viên được khảo sát cho rằng mức sống gia đình của họ là khá giả và nghèo lần lượt là 8.3% và 12.7% Đây là một câu hỏi mang tính chủ quan cao và với tính cách của người Việt Nam thì họ cũng không muốn nói lên thực sự mức sống của gia đình họ như thế nào nên phần trăm người được khảo sát chọn mức sống bình thường là nhiều nhất cũng không có gì là khó giả thích

8.3

79

12.7Mức sống (%)

Trang 35

2.8 Sở hữu tài sản

Biểu đồ 5: Cơ cấu sở hữu tài sản (đơn vị %)

(Câu hỏi nhiều phương án chọn lựa N=300) - (Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11 –

2013)

Theo như kết quả cuộc khảo sát cho thấy 97.3% người được khảo sát đều có điện thoại

di động và cũng có một tỉ lệ lớn là đó là số lượng người có máy tính xách tay (laptop) đến 75% người được khảo sát Tỉ lệ người có xe máy là 24.3% và thấp nhất là người

Trang 36

CHƯƠNG 3: NHẬN ĐỊNH VÀ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN VỀ TÌNH HÌNH AN NINH TRẬT TỰ TẠI KHU VỰC LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC – TP.HCM HIỆN NAY

3.1 Những vấn đề nổi bậc về ANTT tại LĐH Thủ Đức- TP.HCM hiện nay

3.1.1 Các loại hình gây mất ANTT thường xảy ra tại LĐH

Bảng 4: Những loại hình mất ANTT thường xảy ra tại LĐH hiện nay

(1.Không bao giờ, 5 Rất thường xuyên) - (Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong khảo sát những loại hình mất ANTT tại LĐH cho thấy hai loại hình được cho là thường xuyên xảy ra tại LĐH là phòng trọ bị trộm cắp và nhậu nhẹt gây mất trật tự có điểm trung bình lần lượt là 3.93 và 3.90 và độ lệch chuẩn của hai yếu tố này cho thấy các ý kiến cũng rất đồng nhất với nhau Các hình thức khác như đánh nhau, móc túi và cướp giật tài sản cũng được đánh giá ở mức cao trên mức trung bình Trong câu hỏi này chúng tôi đưa ra bảy loại hình mất trật tự thì đã có tới năm loại hình là có mức độ

xảy ra trên mức 3 điểm Đặc biệt là với loại hình nguy hiểm nhất là giết người một

con số khá bất ngờ là điểm trung bình của loại hình này cũng khá cao nếu so sánh mức

độ nguy hiểm của nó và độ lệch chuẩn của loại hình này cũng là thấp nhất

Trang 37

3.1.2 Các khu vực thường xuyên mất ANTT tại LĐH

Bảng 5: Mức độ đánh giá về các khu vực mất ANTT (đơn vị: %)

Các khu vực Đường

Rất thường xuyên 10.0 15.3 2.3 21.0 6.3

Tổng

100 (N=300)

100 (N=300)

100 (N=300)

100 (N=300)

100 (N=300)

Điểm trung bình 2.99 3.51 2.48 3.66 2.8

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong câu hỏi mức độ thường xuyên mất ANTT tại một số khu vực thì khu vực hồ đá

có mức độ cao nhất, hơn 60% người được hỏi cho rằng đây là nơi thường xuyên xảy

ra cho tới rất thường xuyên xảy ra với điểm trung bình là 3.66 (1.Không bao giờ - 5 Rất thường xuyên) Khu Hồ Đá thuộc địa bàn thị xã Dĩ An, Bình Dương, nằm trong LĐH Thủ Đức, cách trung tâm TP.HCM khoảng 15 cây số Đây là nơi mà sinh viên thường xuyên lui tới để vui chơi, nhưng đây cũng được xem là khu vực nguy hiểm bởi

đã có nhiều người chết ở khu vực này Bên cạnh đó, khu vực này khá vắng vẻ, nhiều con đường dẫn từ LĐH tới hồ đá cũng khá dài và vắng, là nơi thích hợp để cướp giật

hoành hành Theo ông Phạm Văn Sung, Phó trưởng Công an quận Thủ Đức cho biết:

“Tội phạm thường xuyên cướp giật một cách trắng trợn người đi đường, đặc biệt khu vực Hồ Đá là nơi nam nữ SV thường hay lui tới nên rất nhiều vụ án đã xảy ra ở đây”

(theo báo Giáo dục, số ra ngày 1 tháng 12, năm 2008) Một điều ngạc nhiên là, sau

khu vực Hồ đá lại là khu vực nhà trọ được đánh giá mất an ninh từ mức thường xuyên đến rất thường xuyên chiếm tới 56.6% (có điểm trung bình là 3.51) Điều này cho chúng ta một câu hỏi tại sao nơi sinh viên sống mà lại có tỉ lệ xảy ra tình trạng mất an ninh cao như vậy? Trong các khu nhà trọ không chỉ có sinh viên mà còn nhiều thành

Trang 38

phần khác như: công nhân, người buôn bán,….Mà đối tượng phù hợp ở đây đối với bọn trộm cướp là sinh viên và công nhân, vì hai đối tượng này thường vắng mặt ở khu nhà trọ nhiều nhất nên dễ dàng cho hành vi trộm cướp diễn ra Thủ phạm của vấn đề nạn trộm cướp nơi đây cũng có thể là người đang sống nơi đó, một chủ nhà trọ cho

biết: “Rất có thể các đối tượng trộm cắp thường trú gần các khu trọ, thậm chí là người

sống trong khu trọ, nắm bắt rất rõ thời gian đi lại của những người xung quanh để ra tay Cần siết chặt hoạt động đăng ký tạm trú, tạm vắng để rà soát các đối tượng nghi vấn Những người thuê trọ phải luôn nêu cao cảnh giác bảo vệ tài sản của mình Khi

ra ngoài, không nên để tài sản có giá trị trong phòng Cân nhắc kỹ việc thuê phòng tại những khu vực dân cư phức tạp, an ninh không đảm bảo Tốt nhất là chọn sống gần chủ nhà hoặc được trang bị cửa khóa cổng, cửa thật chắc chắn” (Báo công an

TPHCM, số ra ngày 12/10/2013 với tựa LĐH Thủ Đức: Xóm trọ tan hoang vì “đạo

chích”.) Ngoài ra, ở khu vực ký túc xá và khu vực đường đi đều có tỉ lệ cao người

đánh giá là khu vực thỉnh thoảng xảy ra mất ANTT với tỉ lệ phần trăm lần lượt là 46.7% và 39.7% Còn khu vực công viên thì có 30% người cho rằng tình hình ANTT ở đây diễn ra bình thường

3.1.3 Thời gian thường xảy ra mất ANTT trong LĐH

Bảng 6: Thời gian thường xảy ra mất ANTT

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Sáng sớm (3h -6h) 2.17 1.131

Buổi trưa (11h -14h) 2.26 0.954

Chiều tối (15h – 18h) 2.85 1.031

Buổi tối (19h – 22h ) 3.61 1.052

Đêm khuya (sau 22h) 3.99 1.096

(1.Không bao giờ,5 Rất thường xuyên) - (Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Thời gian xảy ra các vụ việc mất ANTT có mức độ tăng dần theo thời gian từ 3 giờ sáng Mức độ cao nhất là vào khoảng thời gian sau 22 giờ có điểm trung bình gần 4 và thời gian có mức độ thấp nhất là vào sáng sớm (3h – 6h) có điểm trung bình là 2.17 và tất cả các ý kiến trong từng thời gian đều có sự đồng nhất tương đối với nhau Có thể

Trang 39

lý giải cho vấn đề này là vì thời càng khuya thì càng ít người có mặt ở những nơi công cộng nên thiếu những người có thể can thiệp nếu có tình huống mất an ninh xảy ra

3.2 Mức độ ANTT tại khu làng đại hoc Thủ Đức – TP.HCM hiện nay

3.2.1 Đánh giá của sinh viên về mức độ ANTT tại LĐH Thủ Đức- TPHCM hiện nay

Biểu đồ 6: Mức độ đánh giá ANTT tại làng ĐH Thủ Đức – TP.HCM hiện nay (đơn vị

%)

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Trong khi nghiên cứu về nhận định ANTT tại khu vực LĐH thì chúng tôi đã chọn chỉ báo về nhận định mức độ ANTT làm thước đo mức độ an ninh trong khu vực này Tuy nhiên qua cuộc khảo sát 300 người thì chỉ có 4 % người được khảo sát cho rằng mức

độ ANTT ở đây là tốt, trong khi đó có đến 49% người cho rằng ANTT tại đây là kém

và 47% cho rằng mức độ an ninh ở đây là bình thường

Câu hỏi đặt ra ở đây: Tại sao tỉ lệ người đánh giá ANTT ở đây là kém lại cao như vậy? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận định của những sinh viên sống trong khu vực này?

Tốt 4%

Bình thường 47%

Kém 49%

Mức độ đánh giá an ninh trật tự tại làng

Trang 40

(Nguồn: kết quả khảo sát tháng 11- 2013)

Từ bảng trên cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong đánh giá về mức độ

an ninh trật tư, cụ thể là nam có mức độ đánh giá là bình thường chiếm 54% trong khi

đó nữ đánh giá là kém lên đến 60% cho thấy nữ đánh giá mức độ ANTT ở đây thấp hơn nam Điều này cũng được lý thuyết mà nhóm sử dụng giải thích: Trong ba yếu tố

để hình thành một vụ việc mất ANTT thì có yếu tố nạn nhân phù hợp và rõ ràng nạn

Ngày đăng: 07/12/2020, 22:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w