1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến môi trường ở chợ nổi vùng đồng bằng sông cửu long (nghiên cứu trường hợp chợ nổi cái răng)

90 47 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG CẤP TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP QUÁN SINH HOẠT ĐẾN MÔI TRƯỜNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG CẤP TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP QUÁN SINH HOẠT

ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở CHỢ NỔI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

CHỢ NỔI CÁI RĂNG)

Mã số đề tài:

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn

Thành Phố Hồ Chí Minh, Tháng 4 Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG CẤP TRƯỜNG

ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP QUÁN SINH HOẠT ĐẾN

MÔI TRƯỜNG Ở CHỢ NỔI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP

CHỢ NỔI CÁI RĂNG)

Mã số đề tài:

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kiến Nghị Nam, Nữ: Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và đóng góp của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

7 Bố cục đề tài 6

CHƯƠNG 1 8

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong đề tài 8

1.1.1 Khái niệm chợ nổi 8

1.1.2 Khái niệm tập quán sinh hoạt 10

1.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường 11

1.2 Tổng quan về vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Cần Thơ 13

1.2.1 Tổng quan về vùng Đồng bằng sông Cửu Long 13

1.2.2 Tổng quan về Thành phố Cần Thơ 15

1.2.2.1 Vị trí địa lý 15

1.2.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất 16

1.2.2.3 Khí hậu 16

1.2.2.4 Thủy văn 17

1.2.3 Tên gọi Cần Thơ 18

1.2.4 Quận Cái Răng 19

1.2.4.1 Lịch sử hình thành 19

1.2.4.2 Địa lí tự nhiên 20

1.2.4.3 Tình hình kinh tế-xã hội 21

CHƯƠNG 2 23

ĐẶC TRƯNG CỦA CHỢ NỔI CÁI RĂNG 23

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long23 2.1.1 Đôi nét về mạng lưới chợ xưa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 23

Trang 4

Long 25

2.2 Chợ nổi Cái Răng trong bối cảnh chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long 29

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của chợ nổi Cái Răng 29

2.2.2 Nét độc đáo của chợ nổi Cái Răng 32

2.2.2.1 Không gian chợ nổi Cái Răng 33

2.2.2.2 Hàng hóa, dịch vụ và phương thức buôn bán, trao đổi 34

2.2.2.3 Văn hóa thương hồ 37

2.2.2.4 Văn hóa nghệ thuật 40

2.3 Chợ nổi Cái Răng trong không gian chợ nổi khu vực Đông Nam Á 41

2.3.1 Đôi nét về chợ nổi Damnoen Saduak ở Thái Lan 42

2.3.2 Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển chợ nổi Cái Răng từ mô hình chợ nổi Damnoen Saduak ở Thái Lan 43

CHƯƠNG 3 47

GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HẠN CHẾ SỰ GIA TĂNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở CHỢ NỔI CÁI RĂNG 47

3.1 Những tập quán sinh hoạt của người dân ở chợ nổi Cái Răng 47

3.2 Nhìn nhận của người dân địa phương về những tập quán sinh hoạt ở chợ nổi Cái Răng 50

3.3 Một số giải pháp và kiến nghị 53

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LUC 67

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1: Danh mục các phường trực thuộc quận Cái Răng 19

Bảng 2: Hệ thống các chợ nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long 27

Bảng 3: Từ ngữ sử dụng ở chợ nổi 32

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Ảnh Hưởng Của Tập Quán Sinh Hoạt Đến Môi Trường Ở Chợ Nổi Vùng Đông Bằng Sông Cửu Long (Nghiên Cứu Trường Hợp Chợ Nổi Cái Răng)

- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kiến Nghị

- Lớp: DN10QHQT Khoa: XHH-CTXH-ĐNA Năm thứ: 4

- Số năm đào tạo: 4

2 Mục tiêu đề tài:

+ Phác họa lại lịch sử hình thành và phát triển của chợ nổi Cái Răng

+ Nêu bật giá trị và những đặc trưng văn hóa của chợ nổi Cái Răng

+ Tổng hợp lại những thói quen, tập quán sinh hoạt của người dân ở khu vực chợ nổi Cái Răng, từ đó khảo sát và nhận diện những ảnh hưởng xấu của những tập quán đó tới môi trường

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường cũng như góp phần bảo tồn và phát triển chợ nổi Cái Răng

+ Bước đầu đánh giá được thực trạng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi Cái Răng_điều mà trước giờ chưa có công trình nào đề cập đến, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi Cái Răng

4 Kết quả nghiên cứu:

Đề tài đã hoàn thành đúng thời gian cho phép Về nội dung: đảm bảo tính mới

và sáng tạo Về hình thức trình bày đúng quy định Tổng số trang của đề tài là 66 trang, trong đó phần Mở đầu là 7 trang (từ trang 1 đến trang 7), phần Nội dung chính

Trang 6

du lịch đi đôi với việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của chợ nổi này

Đề tài cũng cần thiết cho những ai có đam mê tìm hiểu về những đặc trưng văn hóa của chợ nổi cũng như làm tài liệu tham khảo cho những công trình tiếp theo viết

về chợ nổi

Qua kết quả khảo sát của đề tài, chúng tôi rất mong các cơ quan, ban, ngành ở Thành phố Cần Thơ cần có những chính sách thiết thực hơn nhằm tái quản lí chợ nổi Cái Răng để đưa chợ nổi Cái Răng vào quỹ đạo phát triển ngày càng bền vững; những nhà làm du lịch, các công ty du lịch ở Cần Thơ cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương quận Cái Răng để khai thác triệt để tiềm năng du lịch sinh thái của chợ nổi Cái Răng cũng như là từng bước khẳng định thương hiệu du lịch Cái Răng trong ngành

du lịch tỉnh, khu vực và cả ở tầm quốc gia, quốc tế

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài :

Trang 7

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Kiến Nghị

Sinh ngày: 12 tháng 03 năm 1992

Nơi sinh: Lấp Vò - Đồng Tháp

Lớp: DN10QHQT Khóa: 2010

Khoa: XHH-CTXH-ĐNA

Địa chỉ liên hệ: 66/8Q Đường Tái Thiết, P11, Q Tân Bình, TP.HCM

Điện thoại: 01682550099 Email: ropau151@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

* Năm thứ 1:

Ngành học: Đông Nam Á Học Khoa: Đông Nam Á Học Kết quả xếp loại học tập: Khá

Sơ lược thành tích: Tích cực tham gia nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ của Khoa,

Trường, hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập, sinh hoạt của tập thể lớp, tham gia các

buổi ngoại khóa, các hoạt động tình nguyện ngắn ngày do khoa, trường tổ chức

* Năm thứ 2:

Ngành học: Đông Nam Á Học Khoa: XHH-CTXH-ĐNA

Kết quả xếp loại học tập: Khá

Sơ lược thành tích: Tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa của khoa, trường tổ

chức Hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập cũng như hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể

thao của lớp, khoa tổ chức Hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lí lớp

* Năm thứ 3:

Ngành học: Đông Nam Á Học Khoa: XHH-CTXH-ĐNA

Kết quả xếp loại học tập: Khá

Ảnh 4x6

Trang 8

đạt giải cao trong các hoạt động văn nghệ của khoa, trường tổ chức

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nói đến chợ là nói đến kinh tế hàng hóa, nói đến hình thức giao thương phổ biến xưa nay trên thế giới Chợ có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam, từ Bắc chí Nam, từ những vùng quê thanh bình cho đến những phố thị đông đúc, mỗi vùng, miền

có một loại hình chợ đặc trưng riêng biệt và mang đậm màu sắc văn hóa của nơi đó Nếu những phiên chợ tình vùng cao Tây Bắc là nơi tụ tập buôn bán, hẹn hò trao duyên của đồng bào dân tộc thiểu số thì chợ quê là nơi trao đổi hàng hóa, nơi gắn với các hình thức sinh hoạt cộng đồng, và là một phần không thể thiếu trong văn hóa làng xã ở Việt Nam Nhưng mấy ai về vùng Tây Nam Bộ mà không “say” bởi nét độc đáo của chợ nổi Đây là loại hình chợ xuất hiện khá phổ biến ở vùng sông nước miền Tây, là nơi mua bán trao đổi các loại sản vật, nông sản, thực phẩm,… của người dân nơi đây cũng như là thương buôn từ các vùng lân cận Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) là một trong những chợ nổi lớn và lâu đời nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo của vùng sông nước Cửu Long, vì thế mà nơi đây trở thành một địa điểm du lịch rất lí tưởng cho những ai yêu thích văn hóa vùng sông nước miệt vườn Cùng với chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang),… hằng năm chợ nổi Cái Răng thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan Cũng chính vì thế mà vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường là hết sức quan trọng Những tập quán sinh hoạt lâu đời của người dân khu vực chợ nổi Cái Răng có ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường như chất thải từ các hoạt động tắm giặt, ăn uống,

vệ sinh cá nhân, các chất thải khó phân hủy như vỏ chai nhựa, bọc ni lông của các hoạt động du lịch cũng như sản phẩm thừa của quá trình buôn bán như trái cây hỏng, thịt kém chất lượng, hoa màu héo,…đều được vứt thẳng xuống sông làm cho môi trường ngày càng rơi vào tình trạng ô nhiễm nặng Đây thật sự là vấn đề đáng báo động Chính

vì thế mà chúng tôi thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến môi trường ở chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp chợ nổi Cái Răng)”

Trang 10

sử hình thành và phát triển của chợ nổi, tác giả mang người đọc đến không gian văn hóa

vô cùng đặc sắc của chợ nổi với “bẹo”, lối rao hàng chỉ có ở chợ nổi, rồi đờn ca tài tử và những đặc sản du lịch hết sức phong phú và đa dạng mà không đâu có thể tìm thấy được Bằng việc dẫn dắt độc giả đi từ chợ nổi này đến chợ nổi khác, tác giả Nhâm Hùng

đã trình bày rất cụ thể và rõ ràng đặc trưng của từng chợ nổi và đây thật sự là một quyển cẩm nang du lịch vô cùng bổ ích và lí thú cho những ai thật sự yêu thích trải nghiệm văn hóa sông nước ở mảnh đất “Chín Rồng” này

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi cũng tìm được một vài công

trình nghiên cứu như là công trình “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa chợ nổi tại Thành phố Cần Thơ” của tác giả Huỳnh Văn Út (2010), luận văn tốt nghiệp chuyên

ngành Văn hóa, Khoa Đông nam Á học, Trường Đại học Mở TpHCM Trên cơ sở trình bày những đặc trưng văn hóa ở chợ nổi Cái Răng và chợ nổi Phong Điền mà đặc biệt là văn hóa thương hồ, tác giả Huỳnh Văn Út đã làm nổi bật thực trạng phát triển của hai chợ nổi này ở giai đoạn hiện nay trong sự so sánh đối chiếu với chợ nổi ở Thái Lan để tìm ra nét đặc trưng riêng, từ đó đưa ra những phương pháp khá thiết thực để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa chợ nổi ở Thành phố Cần Thơ

Hay luận văn “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch chợ nổi Cái Răng_Thành phố Cần Thơ”, Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Du Lịch (2011), Khoa

Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ của hai tác giả Nguyễn Trọng Nhân và Đào Ngọc Cảnh Qua công trình này, hai tác giả tập trung khai thác những tiềm năng du lịch có triển vọng của chợ nổi Cái Răng thông qua khảo sát du khách trong

Trang 11

nước và quốc tế từ đó có phương án đầu tư để phát triển những nhân tố có triển vọng Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập những mặt hạn chế của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, những nhà đầu tư, công ty du lịch chưa khai thác triệt để cũng như chưa giải quyết ổn thỏa những vấn đề còn tồn đọng mà có khả năng trở thành những thách thức lớn đối với du lịch chợ nổi Cái Răng trong xu thế cạnh tranh với các chợ nổi khác ở Cần Thơ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, tác giả đã đưa ra rất nhiều những giải pháp khả thi nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho loại hình du lịch gắn với chợ nổi Cái Răng cũng như góp phần vào sự phát triển bền vững của chợ nổi này trong tương lai

Ngoài ra còn có khá nhiều những bài viết trên các báo, tạp chí viết về chợ nổi có

thể kể đến là bài viết “Chợ nổi- nét đẹp miền Tây Nam Bộ” của tác giả Trần Thanh

Bình trên Tạp chí Giáo dục TP.HCM, số 384, ngày 09/05/2005 , trang 14 hay bài viết

“Chợ nổi miền Tây Nam Bộ” của Bùi Văn Bông trên Tạp chí Hồn Việt, số 32, tháng

02/2010, trang 63…

Có thể nói, các công trình, bài viết trên đề cập đến chợ nổi như là nơi mang đậm đặc trưng văn hóa, lịch sử riêng biệt của vùng sông nước Tây Nam Bộ và cũng là nơi có dồi dào tiềm năng thu hút du lịch Tuy nhiên chưa có công trình nào chuyên sâu về những ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến môi trường ở chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long Điểm mới trong đề tài của chúng tôi là trên cơ sở kế thừa các công trình của các tác giả trước đồng thời nghiên cứu và làm sáng tỏ những ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến chất lượng môi trường ở chợ nổi Cái Răng, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hạn chế tình trạng gia tăng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi này Vì thế mà

chúng tôi thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến môi trường ở chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp chợ nổi Cái Răng)” để

cùng với những tác giả khác góp phần từng bước lấp đầy khoảng trống trong lịch sử nghiên cứu về chợ nổi

3 Mục tiêu và đóng góp của đề tài

Đề tài được tập trung nghiên cứu để hướng đến những mục tiêu là phác họa lại lịch sử hình thành và phát triển của chợ nổi Cái Răng, qua đó nêu bật giá trị và những đặc trưng văn hóa của chợ nổi này Ngoài ra, đề tài cũng tổng hợp lại những thói quen, tập quán sinh hoạt của người dân nơi đây từ đó khảo sát và nhận diện những ảnh hưởng

Trang 12

xấu của nó tới môi trường và đề ra giải pháp nhằm hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường

Công trình “Ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến môi trường ở chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long (nghiên cứu trường hợp chợ nổi Cái Răng)” được

triển khai nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan: Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Thành phố Cần Thơ, các thư viện, các công ty du lịch ở Cần Thơ cũng như một số tỉnh thành khác ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Ủy ban nhân dân quận Cái Răng,… giúp các cơ quan này định hướng chiến lược nhằm xây dựng và từng bước phát triển chợ nổi cái Răng theo hướng xanh, sạch và thu hút khách du lịch

đi đôi với việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của chợ nổi này

Đề tài cũng cần thiết cho những ai có đam mê tìm hiểu về những đặc trưng văn hóa của chợ nổi cũng như làm tài liệu tham khảo cho những công trình tiếp theo viết

về chợ nổi

Qua kết quả khảo sát của đề tài, chúng tôi rất mong các cơ quan, ban, ngành ở Thành phố Cần Thơ cần có những chính sách thiết thực hơn nhằm tái quản lí chợ nổi Cái Răng để đưa chợ nổi Cái Răng vào quỹ đạo phát triển ngày càng bền vững; những nhà làm du lịch, các công ty du lịch ở Cần Thơ cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương quận Cái Răng để khai thác triệt để tiềm năng du lịch sinh thái của chợ nổi Cái Răng cũng như là từng bước khẳng định thương hiệu du lịch Cái Răng trong ngành

du lịch tỉnh, khu vực và cả ở tầm quốc gia, quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt của người dân sinh sống lâu đời ở khu vực chợ nổi Cái Răng đến môi trường nơi đây

Phạm vi nghiên cứu: Chợ nổi Cái Răng, thuộc quận Cái Răng (Thành phố Cần Thơ)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã tìm hiểu và tham khảo rất nhiều sách, báo, tạp chí, phim, ảnh, phóng sự đề cập đến chợ nổi nói chung và chợ nổi Cái Răng nói riêng Điều đó giúp chúng tôi có cái nhìn khái quát hơn về đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu Từ đó, bằng quá trình chọn lọc, phân

Trang 13

tích và tổng hợp nguồn tư liệu này đã giúp chúng tôi khái quát về quá trình hình thành, phát triển cũng như những biến chuyển về đặc điểm văn hóa, xã hội, kinh tế,… của chợ nổi Cái Răng từ xưa đến nay Và từ gốc độ nghiên cứu của các tác giả đi trước chúng tôi tiếp thu và chọn ra những hướng đi mới mẻ và đặc sắc cho công trình của mình

Phương pháp lịch sử, so sánh: Phương pháp này giúp chúng tôi nêu bật lịch sử hình thành và phát triển của chợ nổi Cái Răng trong sự so sánh đối chiếu về thời gian, những đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội với các chợ nổi khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng như là chợ nổi Damnoen Saduak ở Thái Lan, từ đó tìm ra những nét độc đáo và đặc trưng của chợ nổi Cái Răng

Phương pháp nghiên cứu thực địa: Chúng tôi đã tiến hành đi thực tế về chợ nổi Cái Răng (thuộc phường Lê Bình, quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ) để quan sát môi trường xung quanh khu vực chợ nổi hoạt động cũng như quá trình sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống trên sông ở chợ nổi Cái Răng và ghi hình đối tượng nghiên cứu làm

cơ sở cho việc phân tích những ảnh hưởng của tập quán sinh hoạt đến chất lượng môi trường

Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình đi điền dã, chúng tôi đã gặp không

ít khó khăn trong việc tìm đến Ủy Ban Nhân Dân quận Cái Răng và tiếp xúc trao đổi với lãnh đạo nơi đây để trao đổi về vấn đề giải pháp cho việc hạn chế gia tăng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi Cái Răng Song song đó, chúng tôi cũng cố gắng tiếp cận nhiều nhà dân để gặp những vị cao niên sinh sống lâu năm ở đây để hiểu thêm về nguồn gốc hình thành của chợ nổi Cái Răng cũng như là những tập quán sinh hoạt ở đây Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn các bạn sinh viên là cán bộ Đoàn, Hội của trường Đại Học Tây Đô, cũng là dân địa phương, nhiều năm làm công tác thu gom rác ở khu vực chợ nổi Cái Răng, các bạn cũng đã cung cấp khá nhiều thông tin về mức độ rác thải trên sông, cách ăn ở sinh hoạt của các hộ gia đình nơi đây,…Điều này giúp hoàn thiện định hướng nghiên cứu của chúng tôi

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần nghiên cứu những tác động tiêu cực của tập quán sinh hoạt của người dân đến môi trường ở khu vực chợ nổi Cái Răng Qua đó đề suất những phương pháp góp phần từng bước giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường

đã và đang tiếp diễn ngày càng trầm trọng ở chợ nổi này

Trang 14

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp thêm những yếu tố tích cực trong việc xác định giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội,… của chợ nổi Cái Răng Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường ở khu vực chợ nổi Cái Răng do ảnh hưởng của những tập quán sinh hoạt lâu đời của người dân nơi đây Từ đó làm cơ sở cho chính quyền địa phương quận Cái Răng có những chủ trương, chính sách thỏa đáng đồng thời kết hợp chặt chẽ với người dân cho vấn đề hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường và từng bước khôi phục chất lượng môi trường nơi đây cũng như để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của chợ nổi này Ngoài ra, đề tài cũng hữu dụng cho những nhà làm du lịch, những công ty du lịch muốn khai thác tiềm năng của ngành “công nghiệp không khói” ở chợ nổi Cái Răng để thực hiện những chiến lược kinh doanh hợp lí nhất nhằm phát triển bền vững loại hình du lịch sinh thái độc đáo ở vùng đất “Chín Rồng” này

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính gồm có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Trong chương này chúng tôi tập trung giải thích một số thuật ngữ liên quan đến

đề tài, cũng như là giới thiệu về lịch sử hình thành, phát triển, đời sống kinh tế, văn hóa,

xã hội ở tỉnh Cần Thơ,…làm cơ sở cho đề tài

Chương 2: Đặc trưng của chợ nổi Cái Răng

Trình bày những nét độc đáo, đặc trưng văn hóa của chợ nổi Cái Răng từ không gian chợ, hàng hóa dịch vụ đặc trưng ở chợ, cũng như là những phương thức buôn bán, trao đổi mà chỉ tìm thấy ở chợ nổi cho đến quá trình mưu sinh của giới thương hồ, đời sống tâm linh tín ngưỡng và niềm say mê, yêu quý nghệ thuật của họ Qua đó, chúng tôi

so sánh, đối chiếu với chợ nổi Damnoen Saduak ở Thái Lan để rút ra một số kinh nghiệm cho việc đầu tư xây dựng và quản lí, qui hoạch chợ nổi để từng bước phát triển chợ nổi Cái Răng theo hướng toàn diện và bền vững

Chương 3: Giải pháp góp phần hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi Cái Răng

Trong chương cuối này, song song việc trình bày những tập quán sinh hoạt tồn tại ở chợ nổi Cái Răng từ xưa đến nay chúng tôi nêu lên thực trạng ô nhiễm môi trường

Trang 15

nơi đây Đồng thời, qua việc khảo sát ý kiến và tìm hiểu cách nhìn nhận của người dân địa phương và giới trẻ nơi đây về những tập quán sinh hoạt đó, chúng tôi tổng hợp và

đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế gia tăng ô nhiễm môi trường ở chợ nổi Cái Răng trong tương lai

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong đề tài

1.1.1 Khái niệm chợ nổi

Trước khi khái niệm về chợ nổi chúng ta cần hiểu chợ là gì? Thật ra trên thực tế, tùy theo lĩnh vực nghiên cứu mà các định nghĩa về chợ khác nhau Dưới đây chúng tôi xin được trình bày một số định nghĩa về chợ

Theo Nguyễn Như Ý thì “Chợ là nơi công cộng để nhiều người đến mua, bán và những buổi hay những ngày nhất định” [Nguyễn Như Ý, 2013: 291]

Tác giả Nhâm Hùng thì cho rằng “Chợ là nơi trao đổi mua bán hàng hóa của hai thành phần chủ yếu đàng bán và đàng mua” [Nhâm Hùng, 2009: 16]

Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ "Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội"

Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ "Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư"

Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ

Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác

Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3 m2/điểm [23]

Từ những điểm chung của nhiều định nghĩa, chúng tôi xin được rút ra kết luận: Chợ là nơi công cộng diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa người bán và người mua, được hình thành do nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng của xã hội và hoạt động theo chu kì thời gian nhất định

Trang 17

Chợ có những đặc trưng sau:

Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau

Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát

do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng,

tổ chức, quản lý chặt chẽ

Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định Chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định [23]

Nói đến chợ người ta thường hay nói “chợ búa” Tại sao thế?

Có vài giả thuyết cho tên gọi này Trong quyển “Ngất ngưỡng một Nguyễn Tuân” tác giả Lưu Trọng Văn có ghi lai câu chuyện giữa mình và nhà văn Nguyễn Tuân, qua câu chuyện này Nhà văn Nguyễn Tuân đã giải thích với ông rằng sơ dĩ có từ

“chợ búa” là do khi xưa, ở các làng quê miền Bắc bất cứ đâu chợ nào cũng có cái lò rèn, vào chợ, âm thanh đầu tiên nghe là tiếng búa gõ lên đe, thế nên người ghép chữ búa vào chữ chợ [Lưu Trọng Văn, 1992: 56-57] Điều này khá thú vị, bởi lẽ một tên gọi được hình thành một mặt là do chính bản chất của nó mặt khác là do ghép nó với một sự vật, hiện tượng khác để thành ra một tên gọi

Trên khắp đất nước Việt Nam ta có không biết bao nhiêu là chợ, và mỗi tên gọi đều khơi gợi người ta liên tưởng tới bản chất của ngôi chợ đó, chẳng hạn “chợ hoa là chợ bán hoa, hay “chợ cá” chuyên bán cá hoặc “chợ vải” thì toàn kinh doanh vải vóc,…thế “chợ nổi” là chợ thế nào, bán cái gì?

Khái niệm “Chợ nổi” chỉ xuất hiện khoảng ba mươi năm gần đây Thật ra, từ xa xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long nói tới chợ là bao hàm hoạt động chợ trên bờ và dưới sông, tuy chỉ có nơi nhóm chợ trên bờ Khi các nhà nghiên cứu để mắt tới, cũng như sự

Trang 18

hấp dẫn của cung cách mua bán trên mặt sông, thu hút ngày càng nhiều tour du lịch, lúc

đó mô hình chợ nổi mới được đề cập nhiều [Nhâm Hùng, 2009: 21]

Theo Nguyễn Như Ý thì “Chợ nổi” là chợ họp trên thuyền, xuồng ở trên mặt sông, rạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long [Nguyễn Như Ý, 2013: 345]

Cũng có nhiều định nghĩa khác viết về “Chợ nổi”, nhưng có thể giải thích một cách dễ hiểu: “Chợ nổi là kiểu cách nhóm chợ trên mặt sông Người mua kẻ bán đều giao thương trên ghe, tàu, xuồng, bè trong một khoảng thời gian nhất định Trên mặt chợ nổi có đủ chủng loại hàng hóa và dịch vụ, nhưng chủ lực là nông sản Đây là một sáng tạo, nét văn minh thương nghiệp độc đáo của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long” [Nhâm Hùng, 2009: 22]

Có thể nói “Chợ nổi” là nét văn hóa vô cùng độc đáo của mảnh đất “Chín Rồng” Chợ thường họp vào lúc tờ mờ sáng đến khoảng 8, 9 giờ là tan chợ Giới thương hồ ở chợ thường là những người dân địa phương cũng có nhiều trường hợp là thương buôn từ các vùng lân cận khác đến Giữa một vùng sông nước bao la có hàng trăm ghe tàu họp chợ để buôn bán trao đổi hàng hóa, xen lẫn vào không gian đó là tiếng rao, tiếng chào mời, tiếng cười nói, gọi nhau ư a của cả người bán lẫn khách mua tạo nên một không gian vô cùng sống động mỗi lần họp chợ Chợ bán đủ các loại nông sản trái cây: xoài, bưởi, mận,… bên cạnh đó cũng không thiếu các sản phẩm từ vùng sông nước như tôm, cua, cá,… Cách đơn giản và thuận tiện mà dân thương hồ lựa chọn để giới thiệu cho các mặt hàng của mình là hình thức “bẹo hàng” tức treo những thứ mình cần bán lủng lẳng trên thân cây (gọi là “bẹo”) hay gắn nơi bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi ghe, xuồng mình Ngoài ra, các loại hình dịch vụ vô cùng đa dạng khác như: ăn uống, hớt tóc,… cũng hòa theo nhịp độ phát triển của chợ nổi mà tồn tại Tất cả phục vụ hầu như mọi nhu cầu sinh hoạt trong đời sống của người dân nơi đây

1.1.2 Khái niệm tập quán sinh hoạt

Trước khi hiểu tập quán sinh hoạt là gì thì trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái niệm thế nào là tập quán?

Tập quán là thói quen hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo [Nguyễn Như Ý, 2013:1443] Tập quán của mỗi vùng, miền thì có thể sẽ khác nhau, vì điều kiện sinh sống, ăn ở có quyết định sâu sắc tới việc hình thành tập quán riêng cho mỗi nơi Tập quán ở mỗi địa phương đều được tôn trọng như những giá trị truyền thống

Trang 19

của địa phương đó Có thể nói tập quán được hình thành và tồn tại lâu dài phải trải qua quá trình thử nghiệm rồi tìm ra cách giải quyết mới có hiệu quả nhất trong hoàn cảnh nào đó Hoặc cũng có thể hiểu tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính ổn định, bền lâu, khó thay đổi Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính

tự động hoá Tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và

ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt

Tập quán sinh hoạt có thể hiểu đơn giản là những thói quen được hình thành trong quá trình sinh hoạt hằng ngày của một cá nhân hay cộng đồng Theo thời gian, những tập quán sinh hoạt ăn sâu vào trong mọi mặt của đời sống con người và như một lẽ dĩ nhiên nó dần trở thành nếp sống Tập quán sinh hoạt tồn tại lâu dài với đời sống con người có thể là theo thói quen, bởi lẽ theo tính cố kết cộng đồng cao của người Việt thì cái gì thuận tiện, nhanh gọn thì làm và truyền miệng hay chia sẻ nhau bằng những hình thức nào đó rồi dần dần trở thành quen, được chấp nhận và tồn tại Cũng có nhiều trường hợp những tập thể nhỏ trong một cộng đồng người có những tập quán sinh hoạt riêng, điển hình là trường hợp của những hộ gia đình trong một làng, xã,…chưa tính đến những mặt được và chưa được của nó và càng khó hơn để thay đổi những tập quán xấu mà thay thế bằng những cách thức khả quan hơn

1.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn

Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ), trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là

Trang 20

con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”

Hay còn các định nghĩa khác về môi trường: “Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật sự kiện bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường Khái niệm chung về môi trường như vậy được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và từng mục đích nghiên cứu Đối với cơ thể sống thì “môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài

có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [Lê Văn Khoa, 1995: 13]

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh

học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ

và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những

luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo [25]

Tóm lại, môi trường là những gì tồn tại xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển Tuy nhiên môi trường luôn phải đối mặt với nhiều nguy cơ ô nhiễm do tác động của nhiều nhân tố mà mà đặc biệt là con người Vậy ô nhiễm môi trường là gì và

nó có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng cuộc sống?

Có nhiều khái niệm về ô nhiễm môi trường, dưới đây chúng tôi xin trình bày một

số khái niệm “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất lí học, hóa học, sinh vật

Trang 21

học của môi trường , vi phạm tiêu chuẩn môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật và làm suy giảm chất lượng môi trường [Trường Đại Học Y Khoa Thái Nguyên, 2007: 29]

Hoặc “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi không mong muốn tính chất vật lí, hóa học, sinh học của không khí, đất nước của môi trường sống gây tác hại tức thời hoặc trong tương lai đến sức khỏe và đời sống con người” (Nguyễn Như Ý, 2013: 1222]

Có các dạng ô nhiễm chính như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm đất, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm sóng Mỗi loại ô nhiêm tuy khác nhau về tên gọi nhưng có ảnh hưởng xấu trong việc làm suy giảm chất lượng cuộc sống, ít nhiều phá hoại sự tồn tại và phát triển của môi trường tự nhiên, mất cân bằng sinh thái và là nguyên nhân của nhiều vụ thiên tai lớn

1.2 Tổng quan về vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Cần Thơ

1.2.1 Tổng quan về vùng Đồng bằng sông Cửu Long

“Về Đồng bằng sông Cửu Long có lẽ không ai lạ lùng gì một vùng đất có tiếng cây lành trái ngọt; con người hào phóng cởi mở” [Nhâm Hùng, 2009: 7] Vì thế mà chúng ta cần tìm về lịch sử hình thành và phát triển vùng đất này để hiểu rõ tại sao tác giả Nhâm Hùng lại nhận định như thế

Trong dân gian, người ta gọi sông Cửu Long là “sông Lớn”, từ khoảng ngã tư Phnôm Pênh trở lên Lào Mỗi khúc mang một tên riêng: sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Cổ Chiên Quen gọi sông Cái, khúc sông Tiền hoặc sông Hậu chảy ngang qua địa phương [Sơn Nam, 2008: 13]

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố: Long An, Đồng Tháp,

An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Thành phố Cần Thơ,

Cà Mau, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Kiên Giang Phần đất liền trải dài từ 110-8030’ vĩ độ Bắc (từ Long An đến Cà Mau) và từ 103050’-106050 kinh độ Đông (từ Kiên Giang tới Bến Tre), phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh (vùng Đông Nam Bộ), phía Tây và Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông

Đây là một vùng châu thổ rộng phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của cả

Trang 22

nước Vùng có bờ biển dài hơn 700km, với khoảng 360.000km2 vùng đặc quyền kinh tế, giáp Biển Đông và vịnh Thái Lan có điều kiện thuận lợi phát triển vận tải biển (đặc biệt

là phát triển khai thác thủy sản, công nghiệp khai khoáng dưới lòng biển, xuất nhập khẩu, du lịch biển…)

Đồng bằng sông Cửu Long nằm giữa một khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam , bên cạnh các nước Đông Nam Á, giáp Campuchia, gần Tây Nguyên là những vùng đất có nguồn tài nguyên khoàng sản, rừng phong phú, thuận lợi cho việc giao lưu và hợp tác kinh tế

Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái của

cả khu vực Nam Bộ và tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) Trên địa bàn có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như vườn quốc gia Tràm Chim, U Minh Thượng, Mũi Cà Mau, Phú Quốc, khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi, Vàm Hồ, Thạch Phú… chứa đựng những đặc trưng về tự nhiên và đa dạng sinh học, với các loài sinh vật quí hiếm

Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới ẩm cận xích đạo, nhiệt và nắng là một trong những lợi thế của Đồng bằng sông Cửu Long để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều loại cây trồng tạo nên sự đa dạng sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt, mang lượng nước dàn trải hầu như khắp đồng bằng mà lớn nhất, chủ yếu là hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Vàm Cỏ Ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long có hệ sinh thái rừng ngập mặn với hơn 80 nghìn ha, là tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn, ngoài ra nơi đây còn có khả năng nuôi thủy sản nước ngọt [Trung Minh Nguyễn, Thế Long Hoàng, Văn Thiên Đinh, 2010: 9-16]

Dân ta đến Đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ XVII với trình độ lạc hậu trâu

bò không đủ làm sức kéo, dụng cụ thô sơ, phần lớn làm bằng “thảo mộc”, trừ cây dao, cây búa [Sơn Nam, 2008: 20] đã từng bước khai phá mãnh đất “Chín Rồng” này, thế mà đến nay Đồng bằng sông Cửu Long từ một vùng hoang dã, sình lầy đã bật dậy những tiềm năng của thiên nhiên, trở thành một vùng châu thổ mạnh nhất, nhanh nhất trong số các vùng châu thổ của Việt Nam, là vùng sống xen kẽ với các dân tộc khác nhau nhưng vẫn giữ được cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là vùng nhiều tôn giáo nhưng vẫn theo truyền thống dân tộc khoan dung là tôn giáo., là vùng có dân ca, phương ngữ đặc thù

Trang 23

nhưng vẫn là ngôn ngữ Việt Nam, tâm lí Việt Nam, là vùng độc canh lúa nước nhưng từ đầu đã phát triển nền kinh tế hàng hóa, là vùng thuần nông nghiệp nhưng vẫn gắn chặt với các đô thị lớn của đất nước như Thành phố Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ như là một cấu trúc hoàn chỉnh nhất đất nước Việt Nam., là Vùng ở cực nam Việt Nam nhưng cũng tiêu biểu cho sự giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với nước ngoài Nông sản hàng hóa, đô thị hải cảng, buôn bán với nước ngoài là chân dung của Đồng bằng sông Cửu Long, của Nam Bộ nói chung từ lúc khở đầu [Nguyễn Công Bình, 2008: 120-121]

Qua đó, có thể khẳng định rằng, Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đồng bằng rộng phì nhiêu có nhiều điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực cho cả vùng và là vùng có đóng góp lớn cho công công cuộc hướng đến mục tiêu phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, ổn định kinh tế và tạo tích lũy cho tăng trưởng của đất nước

1.2.2 Tổng quan về Thành phố Cần Thơ

1.2.2.1 Vị trí địa lý

Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung – hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2 , chiếm 3,49% diện tích toàn vùng Phía Bắc giáp tỉnh An Giang; phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang

Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38” - 105050’35” kinh độ Đông và

9055’08” - 10019’38” vĩ độ Bắc Đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận ( Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện ( Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ( 5 thị trấn, 36

xã, 44 phường) Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 492/QĐ-TTg Thành lập Vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm

4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng và từng bước phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành một trong những vùng phát triển lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước

Trang 24

Trong đó, thành phố Cần Thơ là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long [31]

1.2.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo, địa chất

Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nữa mở và đồng bằng châu thổ Cao trình phổ biến từ +0,8-1,0m, thấp dần

từ Đông Bắc sang Tây Nam Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng

trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long

Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi lắng hàng thiên niên kỷ nay và hiện vẫn còn tiếp tục được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu Địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư nghiệp `Cao độ trung bình khoảng 1,00 – 2,00m dốc từ đất giồng ven sông Hậu, sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng (từ Đông Bắc sang Tây Nam) Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch khá dày Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập

Địa mạo bao gồm 3 dạng chính: Ven sông Hậu hình thành dải đất cao (đê tự nhiên) và các cù lao ven sông Hậu Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếp hàng năm Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ

Địa chất: địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50m có hai loại trầm tích: Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ) [28]

1.2.2.3 Khí hậu

Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới - gió mùa Khí hậu điều hoà dễ chịu,

ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng

11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28ºC, số giờ nắng trung bình cả năm : 2.249,2 giờ

Lượng mưa trung bình năm: 1600 mm (năm 2000 khoảng 1.911, năm 2004 khoảng 1.416mm)

Độ ẩm trung bình năm: 82% - 87% (thay đổi theo các năm)

Trang 25

Gió có 2 hướng chính: Hướng Đông Bắc: từ tháng 12 đến tháng 4 (mùa khô ) Hướng Tây Nam: từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa mưa), Tốc độ gió bình quân 1,8 m/s Ít bão nhưng thường có giông, lốc vào mùa mưa

Thuận lợi: Chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm Các lợi thế này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra 1 hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Hạn chế : Mùa mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố ; mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời vụ cũng như nhu cầu dùng nước không đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp [24]

Sông Cần Thơ bắt nguồn từ khu vực nội đồng tây sông Hậu, có chiều dài khoảng

16 km, chiều rộng từ 280-350m, đi qua các quận Ô môn, huyện Phong Điền, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều và đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông

Sông Cái Lớn dài 20 km, chiều rộng cửa sông 600 - 700 m, độ sâu 10 - 12 m nên

có khả năng tiêu, thoát nước rất tốt

Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn

158 sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố nối thành mạng đường thủy

Trang 26

Các sông rạch lớn khác là rạch Bình Thủy, Trà Nóc, Ô Môn, Thốt Nốt, kênh Tham Rôn và nhiều kênh lớn khác khác tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất [29]

1.2.3 Tên gọi Cần Thơ

Danh từ Cần Thơ đã có từ lâu Xưa kia là huyện Phong phú, phủ Tuy Biên, nay đổi thành Phong Dinh Hai tiếng Cần Thơ trong sử không có ghi chép rõ ràng như các tỉnh khác Tương truyền Chúa Nguyễn Ánh vào Nam và đã đi qua nhiều vùng châu thổ sông Cửu Long Một hôm, đoàn thuyền của Chúa đi theo sông Hậu vào địa phận thủ sở Trấn Giang (Cần Thơ xưa) Đêm vừa xuống, thì đoàn thuyền cũng vừa đến Vàm sông Cần Thơ (bến Ninh Kiều ngày nay) Đoàn thuyền đang lênh đênh trên mặt nước ở ngã

ba sông này, Chúa nhìn vào phía trong thấy nhiều thuyền bè đậu dài theo hai bờ sông, đèn đóm chiếu sáng lập loè Giữa đêm trường canh vắng, vọng lại nhiều tiếng ngâm thơ,

hò hát, tiếng đàn, tiếng sáo hoà nhau nhịp nhàng Chúa thầm khen về một cảnh quan sông nước hữu tình Chúa mới có cảm nghĩ ban cho con sông này một cái tên đầy thơ mộng là “Cầm thi giang” tức là con sông của thi ca đàn hát Dần dần 2 tiếng “Cầm thi” được lan rộng trong dân chúng và nhiều người nói trại ra là Cần Thơ Tên Cần Thơ nghe thấy hay và đẹp nên được người trong vùng chấp nhận và cùng gọi là sông Cần Thơ Còn một truyền thuyết khác nữa do các bô lão địa phương kể lại rằng sông Cần Thơ ngày xưa ở hai bên bờ, dân chúng trồng rất nhiều rau cần và rau thơm Ghe thuyền chở nhiều loại rau cần, rau thơm qua lại rao bán đông vui từ năm này qua năm khác Vì vậy từ xa xưa, còn truyền lại những câu ca dao:

“Rau cần , rau thơm xanh mướt, Mua mau kẻo hết chậm bước không còn”

“Rau cần lại với rau thơm Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều”

Cũng có thể từ đó mà người địa phương lại gọi sông này là sông Cần Thơm, nói trại là Cần Thơ Hai giả thuyết này không biết giả thuyết nào đúng, hoặc giả một địa danh mà có hai sự kiện xảy ra trùng nhau? “Cầm thi” đọc trại là Cần Thơ, tỷ dụ Sài Côn đọc trại là Sài Gòn, Sóc Tre đọc là Bến Tre, Pô Léo đọc là Bạc Liêu… Cần Thơ trở thành một địa danh từ thời bấy giờ

Trang 27

Ngày 16/9/1958 tỉnh Cần Thơ đổi tên thành tỉnh Phong Dinh, để nhắc lại cái tên

cũ thời xưa cũng như Mỹ Tho đổi thành Định Tường, Rạch Giá thành Kiên Giang, Bến Tre thành Kiến Hòa… nhằm gợi lại ý nghĩa cao đẹp của nó tự ngàn xưa và làm sống lại tinh thần dân tộc Đến năm 1966 Cần Thơ lại được mệnh danh là Tây Đô văn vật [Huỳnh Minh, 2001: 41-43]

1.2.4 Quận Cái Răng

1.2.4.1 Lịch sử hình thành

Về lịch sử thì Cái Răng là quận của tỉnh Cần Thơ, được thành lập ngày

14-12-1932, do đổi tên từ quận Châu Thành, gồm tổng Định Bảo của quận Châu Thành cũ và tổng Định An của quận Trà Ôn cũ Ngày 27-06-1934, quận được đổi tên lại là Châu Thành Sau 30-04-1975, Cái Răng là thị trấn huyện lỵ của huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang Từ ngày 26-12-1991, thị trấn Cái Răng thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Cần thơ

Ngày 02-01-2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP,

về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương Theo đó, quận Cái Răng được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của phường Hưng Phú, xã Hưng Thạnh (thuộc thành phố Cần Thơ cũ); toàn bộ 246,37 ha diện tích tự nhiên và 13.968 nhân khẩu của thị trấn Cái Răng, 1.035,81 ha diện tích tự nhiên và 10.431 nhân khẩu của xã Đông Thạnh, 2.013,29

ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Đông Thạnh, 2.013,29 ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Phú An, 806,66 ha diện tích tự nhiên và 6.386 nhân khẩu của xã Đông Phú thuộc huyện Châu Thành; 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6.339 nhân khẩu của xã Tân Phú Thạnh thuộc huyện Châu Thành A Quận Cái Răng có 6.253,43 ha diện tích tự nhiên và 74.942 nhân khẩu, có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Lê Bình, Thường Thạnh, Phú Thứ, Tân Phú, Ba Láng, Hưng Phú, Hưng Thạnh [32]

Bảng 1: Danh mục các phường trực thuộc quận Cái Răng Phường Diện tích (ha) Số nhân khẩu Trực thuộc

Lê Bình 246,37 13.968 Thị trấn Cái Răng

Thường Thạnh 1.035,81 10.431 Huyện Châu Thành

Phú Thứ 2.013,29 12.781 Huyện Châu Thành

Trang 28

Tân Phú 806,66 6.386 Huyện Châu Thành

Ba Láng 531,52 6.339 Huyện Châu Thành A Hưng Thạnh 867,15 8.249 Thành phố Cân Thơ cũ Hưng Phú 752,63 16.788 Thị trấn Cái Răng

1.2.4.2 Địa lí tự nhiên

 Diện tích: 62,53 km2

 Dân số: 74.942 người (số liệu thống kê 02/01/2004)

 Tốc độ tăng trưởng GDP: 14,94%/năm

 Thu nhập bình quân: 9,525 triệu đồng/người/năm

 Đơn vị hành chính: 7 phường ( Lê Bình, Hưng Phú, Hưng Thạnh, Ba Láng, Thường Thạnh, Phú Thứ, Tân Phú) (Cục thống kê Thành phố Cần Thơ ngày 16/06/2009)

Quận ở phía Đông Nam của thành phố Cần Thơ; Bắc giáp quận Ninh Kiều, ranh giới là sông Cần Thơ; Nam giáp huyện Châu Thành của tỉnh Hậu Giang; Tây giáp huyện Phong Điền và một phần của huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Long Về hành chánh, quận bao gồm 7 phường

là Hưng Phú, Hưng Thạnh, Tân Phú, Phú Thứ, Lê Bình, Ba Láng, Thường Thạnh

Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang, có con cá sấu rất lớn dạt vào đây, răng của nó cắm vào miệng đất này Cuốn “Tự

vị tiếng Việt miền Nam” của Vương Hồng Sển cho biết: Cái Răng có nguồn gốc từ chữ Khmer “karan” nghĩa là “cà ràng” (ông táo) Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn) làm rất nhiều karan đi bán khắp nơi Lâu dần, mọi người phát âm karan thành Cái Răng

Đặc sản nổi tiếng của quận là nem Cái Răng Nem Cái Răng nổi tiếng khắp Nam

Kỳ từ những năm 1950, bắt đầu với món nem nướng Thuở ấy Cái Răng có một vài thương hiệu nem đến giờ vẫn còn dấu ấn trong lòng người Cái Răng và Cần Thơ như:

Bá Lộc, Tư Khem, Giáo Minh, Tư Uẩn Sau này, có một thời, nem Cái Răng bị thất truyền, không cạnh tranh lại với nem Lai Vung Khoảng 20 năm trở lại đây, nem Cái Răng bắt đầu xuất hiện trở lại [32]

Qua khỏi cầu Cái Răng về hướng Sóc Trăng, du khách sẽ bắt gặp nhiều sạp nem bên đường bày bán nem Cái Răng chính hiệu Đến với Cái Răng, du khách còn được tham

Trang 29

quan chợ nổi Cái Răng, chùa Phước Long, khu du lịch Ba Láng Đặc biệt, hiện nay cầu Cần Thơ đã xây xong nối đôi bờ đông sông Hậu, quận sẽ càng có điều kiện phát triển tiềm năng kinh tế của mình, đặc biệt là du lịch

1.2.4.3 Tình hình kinh tế-xã hội

Về Kinh tế, Cái Răng Là quận nằm ở cửa ngõ phía Nam của thành phố, có quốc

lộ 1A đi qua, ngay từ khi mới thành lập, quận Cái Răng đã được xem là trọng điểm phát triển kinh tế của thành phố Cần Thơ Thế mạnh kinh tế của quận là công nghiệp, trên địa bàn quận có các khu công nghiệp Hưng Phú I, Hưng Phú II, khu dân cư mới Nam sông Cần Thơ, khu chế biến dầu thực vật Cái Lân, cảng biển Cái Cui

Ngành thương mại - du lịch cũng có bước phát triển mạnh Năm 2004, giá trị ngành thương mại - dịch vụ tăng 6,74% so với năm 2003, chiếm 34,6% GDP của quận

Để đẩy mạnh tốc độ phát triển trong lĩnh vực này, chính quyền quận đang phối hợp với

Sở Thương mại thành phố hoàn thành thủ tục thành lập chợ đầu mối nông sản ở khu vực Yên Thượng (phường Lê Bình), mở thêm hành lang cho thương mại Cái Răng phát triển

Nông nghiệp ven đô là thế mạnh của các phường vành đai quận Cái Răng, theo

kế hoạch phát triển đến năm 2010, quận sẽ quy hoạch vùng lúa cao sản, vườn cây ăn trái đặc sản Đồng thời hình thành vành đai xanh, phục vụ rau tươi, rau sạch cho thành phố Cần Thơ Ngoài ra còn đẩy mạnh chăn nuôi cá, phát triển cây kiểng

Về mặt xã hội, trong năm 2004, quận đã triển khai nhiều dự án phát triển hệ thống giao thông, trong đó nổi bật là tiến hành tráng nhựa tuyến đường Trần Hưng Đạo nối dài đến đường Hàng Gòn (phường Lê Bình), tuyến nối đường Lê Bình - Phú Thứ (giáp với tỉnh lộ 924), đường từ trung tâm quận đến sông Ba Láng, cùng với việc vận động nhân dân xây dựng và nâng cấp các tuyến giao thông nông thôn kết hợp với các tuyến đê bao chống lũ,

Trên cơ sở kết hợp nhiều nguồn lực như nguồn vốn ngân sách của Trung ương, thành phố, phát hành trái phiếu, đặc biệt là huy động sự đóng góp của nhân dân, trong năm 2004, quận đã nâng cấp, sửa chữa, mở rộng và làm mới 94,73 km đường giao thông các loại và thi công hoàn thành đưa vào sử dụng 15 cây cầu Với tổng kinh phí trên 36,6 tỷ đồng, trong đó phần đóng góp của nhân dân trên 28,4 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994, nếu tính theo giá thị trường là 200 tỷ đồng), qua hình thức hiến hoa

Trang 30

màu, đất đai và sức lao động, Cái Răng trở thành mô hình đột phá của thành phố về huy động sức dân trong phát triển kết cấu hạ tầng

Về công tác giáo dục đào tạo, quận đã chú trọng đào tạo nghề bậc cao đẳng, đại học đáp ứng nguồn nhân lực cho quận và thành phố Phấn đấu đến năm 2010 sẽ có 20% dân số của quận trong độ tuổi lao động đạt trình độ đại học Công tác chăm sóc sức khỏe đảm bảo chất lượng khám và điều trị; xây dựng bệnh viện đa khoa quận 50 giường, 7/7 trạm y tế đạt 10 tiêu chuẩn quốc gia về y tế; vận động các gia đình trong toàn quận không sinh con thứ ba Từ ngày 05-05-2005, ngành y tế quận Cái Răng bắt đầu thực hiện khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi theo Nghị định 36/2005/NĐ-CP của Chính phủ [32]

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, bên cạnh việc trình bày những khái niệm về chợ nổi, ô nhiễm môi trường, tập quán sinh hoạt,…làm cơ sở khoa học cho đề tài, chúng tôi tập trung phác họa toàn cảnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ nhiều góc nhìn khác nhau Đồng bằng sông Cửu Long là một khu vực rộng lớn, màu mỡ có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp mà đặc biệt nông nghiệp lúa nước vì thế mà nơi đây trở thành vựa lúa lớn nhất cả nước và đảm bảo nguồn lương thực cung cấp cho quốc gia và xuất khẩu ra nước ngoài Nằm trong mảnh đất “Chín Rồng” này, Thành phố Cần Thơ, Thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại I, là trung tâm kinh tế lớn nhất vùng Tây Nam Bộ, nơi có điều kiện tự nhiên vô cùng ôn hòa, có vị trí địa lí thuận lợi cho giao thương, kinh tế, được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, thủy văn, sông ngòi,…đã tạo cho nơi đây nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Là một trong những quận được biết đến nhiều nhất của Thành phố Cần Thơ, nơi có tình hình kinh tế xã hội khá ổn định cũng như là điển hình cho tính chất đô thị của Thành phố loại I này, quận Cái Răng ngày càng khẳng định vị thế của mình trong xu hướng phát triển chung của toàn tỉnh Cần Thơ

từ việc từng bước nâng cao phát triển kinh tế vườn rẫy, cho đến chú trọng phát triển và hoàn thiện hóa các vấn đề an sinh xã hội Và đặc biệt hơn, đây cũng là nơi mà chợ nổi Cái Răng đã được hình thành Nguồn gốc tên gọi Cái Răng cũng ẩn chứa nhiều vô cùng thú vị, gắn với những điều hết sức dân dã, bình dị đậm chất miền Tây, điều đó góp phần tạo nên nét đặc trưng độc đáo quận Cái Răng cũng như là chợ nổi Cái Răng

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CỦA CHỢ NỔI CÁI RĂNG

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.1.1 Đôi nét về mạng lưới chợ xưa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Là người có nhiều trải nghiệm bằng quá trình sinh sống lâu dài ở khu vực chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long, Nhâm Hùng cho rằng: “Nghiên cứu về chợ nổi không thể bỏ qua việc tìm hiểu về mạng lưới chợ xưa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trước khi thực dân Pháp chiếm giữ Nam kì lục tỉnh” Từ hình thức chợ truyền thống thường thấy như ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là chợ trên bờ luôn gắn liền với sông rạch theo lối “trên bến dưới thuyền”.Một ngôi chợ được coi là sung túc, hoàn chỉnh sẽ được cấu trúc theo kiểu: nhà lồng chợ - phố xá – bến sông

Chợ xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long ra đời khá sớm gắn liền với nền văn minh nông nghiệp Cùng với sự phát triển nông nghiệp nhu cầu buôn bán trao đổi hàng hóa của nguời dân trong vùng theo đó cũng tăng lên Sự hình thành chợ xưa cũng bắt đầu từ

đó Hàng trăm năm trước đã có những chợ dinh, chợ huyện (quận), chợ tổng, chợ làng rồi biết bao cái tên quen thuộc khác như: chợ lớn, chợ nhỏ, chợ cũ, chợ chồm hổm, chợ trời, chợ gạo, chợ cá,…

Nhìn lại khoảng thời gian trước, từ những buổi đầu hình thành mạng lưới chợ xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long, khi Mạc Cửu đến khai thác vùng Hà Tiên vào thế kỉ XVII để lập phố chợ, nơi đây đã sớm phát đạt Sau đó, từ Nông Nại Đại phố (Biên Hòa) đến Mỹ Tho Đại phố (Định Tường) được hình thành, mở đầu cho sự phát triển thương mại mạnh mẽ vùng Đồng Nai_Cửu Long Năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định thì hàng loạt các chợ Bến Thành, Sài Gòn (thuộc vùng Chợ Lớn ngày nay) bước vào thời kì phồn thịnh Khi các dinh trấn được thành lập với hệ thống huyện, tổng, làng, thôn thì cũng là lúc mạng lưới chợ ra đời Từ chợ cấp dinh, trấn tới những chợ cấp huyện như Cái Bè (Định Tường), chợ Trà Vinh (lỵ sở huyện Trà Vinh, chợ Sa Đéc gần huyện lỵ Vĩnh An nối tiếp nhau ra đời tạo sự trù phú cho địa phương

Năm Gia Long thứ 12 (1813) vùng Trấn Giang (Cần Thơ ngày nay) lập thành huyện Vĩnh Định, sau đổi thành huyện Phong Phú Tuy vậy lúc này chưa phải là huyện, Cần Thơ là nơi trù mật với ba khu chợ rất nhộn nhịp là chợ Sưu ở gần bến sông Cần

Trang 32

Thơ, chợ Tân An ở gần bến sông Bình Thủy và chợ An Thái Đông ở gần sông Ô Môn

Ở miệt dưới: huyện Long Xuyên (Cà Mau) trước lỵ sở phố chợ là nơi các thương nhân Trung Quốc đến làm ăn, Sóc Trăng xưa thì có chợ Bảy Xàu chủ yếu mua bán lúa gạo với tàu buôn nước ngoài, chợ Rạch Giá mua bán xuất cảng các loại mật ong, lông chim,

cá khô,… còn các chợ làng miệt Bạc Liêu, Cà Mau thì luôn có mặt hàng thú rừng thủy sản quý như kỷ đà, rắn hổ, các loại chim rừng,…

Qua đó, có thể thấy rằng sự ra đời của mạng luới chợ xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long đi liền với công cuộc Nam tiến Các thư tịch của triều Nguyễn đều ghi nhận sự ra đời, qui mô của chợ như một dấu ấn phát triển của một vùng đất Sau này khi thực dân Pháp chiếm trọn Nam kì vẫn tiếp tục chủ trương lập chợ đi đôi với đào kênh, xây phố,

Sức thu hút nông sản từ các đô thị ngày càng tăng, các thương cảng Sài Gòn, Hà Tiên luôn tìm nguồn hàng về để xuất sang các nước lân cận, lúa gạo dần trở thành mặt hàng chủ lực trong giao thương

Nghề thương hồ đường dài rất cần có điểm để cung cấp hàng hóa thường xuyên, giá cả hợp lí để đưa về tiêu thụ vùng sâu, vùng xa, thị tứ

Nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long sau thời kì lập nghiệp khá khó khăn nhưng sau đó cuộc sống dần ổn định Do đó, cư dân không chỉ giải quyết nhu cầu: ăn, mặc, ở,…mà họ còn rất cần các hàng hóa công nghiệp thiết yếu từ thành thị

Nghề thương hồ đường dài rất cần có điểm, nơi cung cấp hàng hóa thường xuyên, giá phải chăng để đưa về tiêu thụ ở vùng sâu, vùng xa trung tâm thị tứ

Nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long sau thời kì đầu lập nghiệp khó khăn, cuộc sống dần ổn định nên người dân rất cần các loại hàng hóa công nghiệp thiết yếu từ các

đô thị lớn cung cấp [Nhâm Hùng, 2009: 16-19]

Những yếu tố trên đã thúc đẩy sự ra đời của mạng lưới chợ trên khắp vùng sông nước Cửu Long, từ chợ cấp dinh cho đến chợ làng Có thể thấy cùng với sự phát triển

Trang 33

của hệ thống chợ ngành thương nghiệp ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh chóng, tạo mối liên kết, tác động phát triển giữa nông nghiệp và thương nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế toàn vùng phát triển

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nói đến chợ miền Tây sông nước là nói đến các hoạt động buôn bán trên bờ và dưới nước mặc dù có chợ chỉ họp ở trên bờ Tên gọi “chợ nổi” chỉ xuất hiện khoảng ba mươi năm trở lại đây Chợ nổi là một sự sáng tạo, nét văn minh thương nghiệp độc đáo của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Khi nghiên cứu về chợ nổi, rất nhiều vấn đề được đặt ra: ai là người sáng lập chợ nổi, chợ nổi có từ khi nào,…cho đến nay câu trả lời cho vấn đề này vẫn chưa rõ ràng, cụ thể

Tuy nhiên có thể tìm hiểu manh mối về sự hình thành và phát triển chợ nổi qua một số cứ liệu lịch sử Khoảng đầu thế kỉ XVII, vùng đất dọc hai bờ sông Tiền về cơ bản đã được khai phá Dân cư về tập trung sinh sống ngày càng đông đúc Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí có viết: “chợ Long Hồ ở phía Đông trấn thự cách một dặm, hai mặt trong xuống sông, chợ này được thành lập từ năm Nhâm Tý Túc Tông thứ 8 (1732), phố xá nối liền, bách hóa tụ tập dăng dài năm dặm, thuyền, ghe suốt bến…” Cụm từ “thuyền ghe suốt bến” cho thấy chợ đã lan đến bến sông Tuy Trịnh Hoài Đức chưa đề cập đến vấn đề chợ nhóm trên sông hay hàng hóa buôn bán trên ghe, thuyền như thế nào nhưng phần nào có thể coi đây là sự manh nha của việc buôn bán trên sông [Nhâm Hùng,2009: 21-22]

Đến khi đề cập đến chợ Hưng Lợi (Định Tường) thì các đặc điểm của chợ nổi dần dần hiện ra như là hàng hóa liền nhau, chợ gần sông cái, trên sông có nhiều thuyền bán thức ăn Đây là chi tiết miêu tả về dịch vụ ăn uống trên sông Và đó cũng có thể là một trong những yếu tố góp phần hình thành chợ nổi [Nhâm Hùng,2009: 23]

Các cư liệu trên cho thấy chợ nổi bắt đầu manh nha ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long khoảng đầu thế kỉ XIX Thời này, cung cách buôn trên sông còn đơn giản, sơ khai và khá nhỏ lẻ, phương thức còn thô sơ, chủ yếu buôn bán các mặt hàng phục vụ nhu cầu ăn uống của người dân

Một thế kỉ sau, khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam kì và tiến hành khai thác khu vực bờ Tây sông Hậu trên quy mô lớn và với chủ trương: đào kênh, lập chợ, mở lộ xe

Trang 34

Việc làm này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại phát triển Trong đó phải kể đến khu vực chợ Cái Răng (Cần Thơ) với thế mạnh công nghiệp xay xát đã trở thành chành lúa vĩ đại tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ đứng sau Chợ lớn ở thành Gia Định (Sài Gòn ngày nay) Bên cạnh đó, chợ Cái Răng sung túc cả trên bờ lẫn dưới sông bởi lẻ chợ này nằm ở vị trí chiến lược nối Sài Gòn – Cần Thơ xuống vùng Cà Mau – Rạch Giá

Theo các vị cao niên ở quận Cái Răng thì cho đến giữa thế kỉ XX nhiều nhà bè như trên vẫn tồn tại Chủ bè là người Hoa mở tiệm bán tạp hóa ngay trên đó Bên cạnh tiệm bán tạp hóa nổi đáng chú ý là một khu chợ trên sông cũng được ra đời với hàng trăm tàu, ghe ngang dọc ngày đêm buôn bán và trao đổi hàng hóa: ghe hàng người Việt bán trái cây, rau củ, ghe hàng người Hoa bán tạp hóa còn ghe thương hồ (ghe buồm) của người Khmer thì bán cà ràng – ông táo…Lúc này dù ở tỉnh lị nhưng những người dân ở nội thành Cần Thơ vẫn thường đến chợ Cái Răng để mua sắm và thưởng thức món ngon

Cụm kinh Ngã Bảy ở phía Nam Cái Răng – Cần Thơ khoảng 30 km là địa điểm phát sinh khu chợ nổi tiếng Từ khu tuyến đường từ Cái Răng thông đến đây khu chợ càng trở nên sung túc từ trên bờ xuống bảy ngã sông Tàu đò chở khách, ghe hàng nông sản cùng đội quân thương hồ khắp nơi tụ về, nhộn nhịp ngày đêm Và từ đó, chợ Ngã Bảy đương nhiên trở thành chợ nổi nổi tiếng với quy mô rộng lớn Chợ sung túc và nhộn nhịp đến mức viên quan chủ tỉnh người Pháp là Outrey dự định biến nơi đây thành một thương cảng Họ gọi vùng Ngã Bảy là “ngôi sao Phụng Hiệp”

Thời kì 1945 – 1975 nhiều chợ nổi ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tạm ngưng hoạt động Nguyên nhân đến từ nhiều phía, một mặt do chế độ cũ không khuyến khích vì nhiều ghe, thuyền qua lại nên khó kiểm soát về mặt an ninh Một mặt do do ruộng rẫy, vườn tược bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh hoặc bị bỏ hoang nên nguồn cung cấp nông sản trở nên ít ỏi, thưa vắng Tuy nhiên, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, đất - vườn một lần nữa được hồi sinh; sản xuất phát triển nhất là

từ khi có chủ trương đổi mới của Đảng và nhà nước Chợ nổi được khôi phục, cung cách buôn bán có phần chuyên nghiệp hơn, chuyên ngành hơn Dưới đây chúng tôi xin thống kê một số chợ nổi có thể gọi là “nức tiếng” gân xa thời bấy giờ

Trang 35

Bảng 2: Hệ thống các chợ nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long Tên chợ nổi Tỉnh/ thành Mặt hàng buôn bán chủ yếu

Trong những năm gần đây, do nhu cầu giao thương ngày càng tăng một số chợ nổi có quy mô vừa xuất hiện như chợ nổi Vĩnh Thuận (Kiên Giang), chợ nổi Ngang Dừa (Bạc Liêu), chợ nổi An Hữu (Tiền Giang),…nhưng do một số vấn đề phát sinh về

an tòa giao thông trên chợ nổi nên các nhà chức trách đã tiến hành di dời địa điểm nhóm họp của một số chợ Chợ nổi Ngã Bảy được dời ra địa điểm kinh Ba Ngàn thuộc xã Đại Thanh, chợ nổi Trà Ôn dịch qua đầu doi của cù lao Lục Sĩ Thành [Nhâm Hùng, 2009: 24]

Có thể đưa ra một số mốc thời gian về sự ra đời của chợ nổi như sau:

Thời kì chợ nổi manh nha, sơ khai là đầu thế kỉ XIX với các chợ dọc hai bờ sông

Tiền

Thời kì chợ nổi hình thành và hoàn thiện khoảng đầu thế kỉ XX với các chợ nổi

bờ Tây sông Hậu chủ yếu tập trung ở vùng Cần Thơ

Thời kì chợ nổi định hình và phát triển từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải

Trang 36

trên sông, mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Có thể rút ra một số nguyên nhân dẫn đến sự

ra đời của chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long như sau:

Nông nghiệp phát triển chính là nguyên nhân đầu tiên thúc đẩy chợ nổi hình thành Vì nông sản làm ra cần nơi tiêu thụ nhanh và đảm bảo giá cả Có thể thấy, chợ

nổi thường xuất hiện ở trung tâm hoặc gần kề những khu vực có ruộng rẫy Dải đất hai

bờ kinh xáng Xà No rất rộng đến hàng chục ngàn ha Miệt vườn Ba Láng, Bình Thủy, sung túc tạo điều kiện cho sự hình thành chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy Cạnh đó là những khu vườn bạc ngàn cây trái ở Châu Thành (Hậu Giang), Kế Sách (Sóc Trăng) góp phần cho sự sung túc của các khu chợ nổi

Nguyên nhân thứ hai: sự tác động, tính cạnh tranh của cơ chế thị trường Nhìn

chung chợ nổi có những ưu thế: mua bán trao đổi trực tiếp giữa nông dân và thương lái theo lối bán sỉ, không thông qua nhà vựa nhờ đó mà giảm chi phí, giá cả vừa phải Hàng hóa đưa ra thị trường khắp nơi đều có thể cạnh tranh được Hơn nữa, việc rút ngắn thời gian vận chuyển, khâu bốc vác, lưu kho (vựa) trung gian sẽ góp phần giữ gìn chất lượng sản phẩm, nhất là những loại sản phẩm tươi

Nguyên nhân thứ ba: do mật độ mua bán tăng lên, chợ trên bờ trở nên quá tải, chật vật không có nhiều không gian để nhà nông chất hàng tấn trái cây Vì vậy việc

giao thương phải lấn xuống bến sông Điều này đã gợi ý cho người nông dân về việc thành lập một khu chợ trên sông để vừa tiện, vừa lợi Vậy là chợ nổi hình thành một cách tự phát Dần dần chợ chiếm cả đoạn sông ra đến giữa dòng Thấy chợ nổi này mang lại hiệu quả, nơi khác lại hình thành chợ nổi tương tự

Nguyên nhân thứ tư: chợ nổi ra đời do tính năng động, sự đòi hỏi một phương thức giao thương mới trên vùng đồng bằng sông nước Hoạt động nông nghiệp ngày

càng nhiều khiến một bộ phận nông dân không có đất sản xuất phải chuyển sang làm nghề thương hồ Điểm này còn cho thấy sợi dây liên kết giữa nông nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp, giữa các khu đô thị và vùng nông thôn Đặc biệt, chợ nổi ra đời như những điểm trung chuyển có hiệu quả nhất từ các vùng sản xuất đến nơi tiêu thụ [Nhâm Hùng, 2009: 29]

Tóm lại, nguyên nhân ra đời cũng xuất phát từ lợi ích mà chợ nổi mang lại Cung cách mua bán mới, vừa là động lực phát triển kinh tế vừa là nét văn hóa đặc thù của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long từ xưa tới nay Hình thức chợ nổi thể hiện rất rõ sự tiến

Trang 37

bộ giao thương trên vùng đất mới Chợ nổi phản ánh đậm nét các yếu tố kinh tế thị trường cũng như đáp ứng được quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh

2.2 Chợ nổi Cái Răng trong bối cảnh chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của chợ nổi Cái Răng

Chợ Nổi Cái Răng cách cầu Cái Răng khoảng 500 mét chạy dọc theo con đường

Võ Tánh (thuộc khu vực Yên Thượng – Yên Thuận, phường Lê Bình, quận Cái Răng) đến kênh Ba Láng (thuộc quận Cái Răng) và hướng về huyện Phong Điền[UBND quận Cái Răng, 2012: 1] Chợ nổi Cái Răng là chợ trên sông Hậu, gần cầu Cái Răng, thuộc phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Chợ nằm cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 6 km đường bộ và mất 30 phút nếu đi bằng thuyền từ Bến Ninh Kiều Đây là chợ nổi chuyên trao đổi, mua bán nông sản, các loại trái cây, hàng hoá, thực phẩm, các dịch vụ ăn uống và là điểm tham quan đặc sắc của quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ Chợ nổi Cái Răng từ bao đời nay đã trở thành một biểu tượng đẹp của văn hoá sông nước miền Tây Vậy chợ nổi Cái Răng ra đời như thế nào?

Có nhiều tài liệu viết về sự ra đời của chợ nổi Cái Răng Trong “Cái Răng hình thành và phát triển” của Nhâm Hùng có đoạn miêu tả về chợ nổi Cái Răng như sau:

“Theo một tài liệu tiếng Pháp (1899) người ta thấy có nhiều nhà bè ở hai bên rạch Cái Răng và Cần Thơ Tất cả những ngôi nhà đó được làm bằng tre trên những mảng bè của người Trung Hoa và An Nam Phải chăng, những nhà bè này là tiền thân của chợ nổi bởi lúc đó mặt bằng chợ Cái Răng rất thấp, hẹp lại hay bị ngập vào mùa nước nổi, nên người ta cất nhà bè vừa tiện lợi cho việc an uống vừa làm cửa tiệm buôn bán Cho đến thập niên 40 của thế kỉ XX vẫn còn thấy tồn tại nhiều nhà bè là tiệm tạp hóa lớn Nhiều nhân chứng cao tuổi kể lại: đến thời điểm này chợ nổi đã định hình hết sức sung túc Ngày ngày có vài trăm ghe đậu lại mua bán vào dịp Tết, ngày rằm có khi

số xuồng ghe lên đến cả ngàn Chỉ riêng mặt hàng dưa hấu, đến vài trăm ghe Đặc điểm của chợ nổi Cái Răng là buôn bán sỉ Các ghe hàng gia dụng, gốm sứ từ Biên Hoà, Sài Gòn, Lái Thiêu chở xuống, các ghe lá lợp nhà, ghe chiếu, ghe than từ dưới miệt Cà Mau, Rạch Giá lên Các nhân chứng nói rằng thuở ấy chưa có nhiều mặt hàng trái cây…”

Một tài liệu khác mà chúng tôi được tiếp cận do sự cung cấp của Ủy ban Nhân dân quận Cái Răng cũng đề cập đến sự ra đời của chợ nổi Cái Răng Theo đó thì chợ

Trang 38

nổi Cái Răng được hình thành và phát triển từ rất lâu nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản của nhân dân trong vùng, họp chợ ngay trên nhánh sông Cần Thơ, đây là tuyến giao thông thủy quốc gia, phương tiện để sử dụng họp chợ là các loại ghe, xuồng từ các tỉnh lân cận trong vùng, hàng hóa trao đổi ở đây chủ yếu là các loại rau, củ, quả của bà con nông dân sản xuất được các thương lái tổ chức thu mua, vận chuyển, phân phối đến các nơi trong vùng, bán qua thi trường Campuchia, Trung Quốc… Hình thức hoạt động chợ nổi Cái Răng là nét văn hóa đặc trưng của vùng sông nước, đây cũng là điểm đến của khách tham quan du lịch khi kđến Cần Thơ, nhất là ,khách nước ngoài

Chợ nổi Cái Răng được hình thành một cách tự phát do nhu cầu mua bán trao đổi hàng hóa giữa bà con nông dân trong vùng Chợ nổi được hình thành trước năm

1975, đã trãi qua bao năm tháng thăng trầm, chợ vẫn giữ nguyên cái bản sắc rất mộc mạc và đời thường của bà con mỗi khi thu hoạch hay cần trao đổi mua bán hàng hóa

và đến nay chợ nổi ngày một đông đúc và đầy đủ hơn với nhiều loại mặt hàng

Chợ nổi Cái Răng được Ủy ban nhân dân quận Cái Răng giao Ban quản lý chợ Cái Răng (cũ) quản lý từ đầu năm 2008 Đến năm 2012 ban quản lý chợ cũ đã giải thể, việc thu phí sử dụng mặt nước đậu ghe tàu tại khu vực chợ nổi Cái Răng giao Công ty

Cổ phần Đầu tư xây dựng và Du lịch Mekông thực hiện thu [UBND quận Cái Răng, 2012: 2]

Ngoài ra, trong quá trình đi điền dã về khu vực chợ nổi Cái Răng, qua tiếp xúc

và trao đổi với những vị cao niên nơi đây chúng tôi được biết khoảng những năm 50,

60 của thế kỉ XX thì khu vực chợ nổi Cái Răng ngày nay đã có tồn tại nhiều nhà bè nổi, trên sông hình thành một khu chợ nhỏ với vài chục ghe tàu mua bán, trao đổi hàng hóa cả ngày lẫn đêm của những thương buôn người Việt và người Hoa Về sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chợ nổi Cái Răng dần nhộn nhịp và sung túc hơn, các hoạt động trao đổi mua bán diễn ra tấp nập hơn và thu hút nhiều thương buôn từ các nước láng giềng Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc,… sang làm ăn buôn bán

Theo đó, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi cũng tìm được một vài tài liệu nói về nguyên nhân ra đời của chợ nổi Cái Răng, điển hình là công trình “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch chợ nổi Cái Răng – Thành phố Cần Thơ” Theo tác giả, chợ nổi Cái Răng được hình thành là do các nguyên nhân sau:

Trang 39

Thứ nhất, là sự phát triển ngày càng nhanh của ngành nông nghiệp dẫn đến hàng

nông sản dư thừa cần có nơi tiêu thụ nhanh, đồng thời đảm bảo giá cả Những vùng đất sản xuất nông nghiệp như: Ba Láng, Phong Điền, Bình Thủy có liên quan trực tiếp đến

sự ra đời của chợ nổi Cái Răng;

Thứ hai, khúc sông nơi chợ nổi Cái Răng tọa lạc có nhiều yếu tố tự nhiên thuận

lợi (không quá sâu, không cạn, không quá rộng, không hẹp) lại là nơi hợp lưu của nhiều nhánh sông làm cho việc thông thương, mua bán trên sông dễ dàng hơn;

Thứ ba, nếu căn cứ vào thời gian lúc chợ nổi mới được hình thành thì điều kiện

đi lại, mua bán trên đường bộ thật sự chưa tiện lợi Lúc bấy giờ đường sá chưa phát triển, trong khi người dân Nam bộ đã có thói quen dùng ghe, xuồng và rất thành thạo trong việc dùng ghe, xuồng để đi lại và chuyên chở hàng hóa Đây cũng được xem là nguyên nhân góp phần làm nên chợ nổi Cái Răng

Thứ tư, hồi đầu thế kỉ XIX cho đến nay, phần lớn người dân sinh sống ở vùng

Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng Cần Thơ nói riêng là nông dân và tiểu thương Đối với nông dân, những hộ có nhiều ruộng đất để canh tác nông nghiệp họ có nhu cầu bán hàng sản xuất, còn những hộ không có đất canh tác phải làm đủ nghề trong

đó có nghề thương hồ và dịch vụ Riêng tiểu thương, họ mưu sinh chủ yếu dựa vào mua bán trong đó có người hành nghề trên sông Vì hoàn cảnh sống của cư dân như đã phân tích dẫn đến chợ nổi ra đời

Thứ năm, thông thường sông là nơi không thuộc quyền sở hữu của riêng ai Đây

là điểm thuận lợi cho những người mua và bán khi họ không xác lập được một địa điểm mua bán ở chợ trên bờ [Nguyễn Trọng Nhân, Đào Ngọc Cảnh, 2010: 63]

Từ khi ra đời cho đến sau ngày giải phóng chợ nổi ở vị trí cạnh chợ phố trên bờ, sát cầu Cái Răng Chợ nổi Cái Răng ngày nay có qui mô sầm uất nhất so với các chợ nổi khác trong vùng, bởi ưu thế trên trục đường thuỷ chiến lược trên kênh Xà No – sông Hậu, lại ở giữa trung tâm thành phố đô thị loại I nên khối lượng hàng hoá giao dịch rất lớn Gần chợ nổi cũng có nhiều làng nghề thủ công ra đời từ xưa như đan thúng, đóng xuồng, dệt chiếu, xóm lò bún, lò nem, lò tương,….đến nay vẫn tồn tại theo nhịp sống sung túc của vùng Cái Răng

Nằm trong tour du lịch sông nước của Công ty du lịch thành phố Cần Thơ và mỗi ngày chợ nổi Cái Răng đón hàng trăm lượt du khách, trong đó có cả du khách nước

Trang 40

ngoài Từ khi Cần Thơ trở thành Thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại I, lượng khách đến với vùng đất này cũng ngày một tăng lên [Nhâm Hùng, 2009: 110]

Đi chợ nổi Cái Răng vừa được ăn , uống một tô cháo lòng chẳng hạn hay một ly

cà phê, vừa được quan sát một khu chợ quy mô dài gần hai cây số, vừa được chứng kiến những cô gái lái máy nổ một cách điệu nghệ giữa một vùng sông nước mênh mông thì quả thật rất tuyệt vời

Theo quy hoạch và đề án phát triển quận Cái Răng, tương lai sẽ xây dựng một chợ nông sản lớn gần khu vực chợ nổi Một số cơ sở du lịch như nhà hàng khách sạn gắn liền với khu vực này cũng sẽ được hình thành Đặc biệt, do lượng tàu, ghe ngày càng tăng chợ nổi Cái Răng trở nên quá tải nên chính quyền địa phương đã, đang xây dựng kế hoạch sắp xếp lại nơi neo đậu, mua bán nhằm khắc phục các nhược điểm và mở

ra hướng phát triển mới cho chợ nổi Cái Răng sau này

2.2.2 Nét độc đáo của chợ nổi Cái Răng

Cũng như những chợ nổi khác ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chợ nổi Cái Răng có những đặc trưng rất độc đáo, khác biệt so với những chợ trên bờ từ không gian chợ, hàng hóa dịch vụ, phương thức buôn bán trao đổi đến không gian văn hóa chợ nổi Chợ nổi Cái Răng so với các chợ nổi vùng Tây Nam Bộ tuy khác nhau về tên gọi nhưng

có cùng những đặc điểm hết sức lí thú mang đậm phong vị miền quê sông nước bềnh bồng Dưới đây chúng tôi xin được thống kê hệ thống những thuật ngữ căn bản được sử dụng phổ biến ở chợ nổi

Bảng 3: Từ ngữ sử dụng ở chợ nổi

“Bẹo” Cây sào tre, dài từ 3 đến 5 mét, treo cao các thứ hàng hóa để chào mời

người mua Bẹo treo gì thì bán thứ ấy

“Khẳm” Dùng để chỉ trạng thái ghe, tàu của giới thương hồ khi chở quá nặng, quá

nhiều hàng hóa và không thể chở thêm được nữa

Ngày đăng: 07/12/2020, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w