1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Khảo sát hiện trạng thành phần loài thủy sản và dự báo các ảnh hưởng của công trình ngăn mặn đến nguồn lợi thủy sản bắc Bến Tre

11 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 424,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu và đánh giá tác động của các công trình ngăn mặn dự án Thủy lợi Bắc Bến Tre đến nguồn lợi thủy sản để phục vụ cho phát triển bền vững được thực hiện từ tháng 4/2015 đến 4/2016 tại 20 trạm khảo sát với 26 ngư dân tham gia quan trắc thành phần loài và sản lượng khai thác hàng ngày, kết hợp với việc thu mẫu định kỳ hàng tháng qua 5 loại ngư cụ khai thác thủy sản phổ biến ở địa phương.

Trang 1

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG THÀNH PHẦN LOÀI THỦY SẢN

VÀ DỰ BÁO CÁC ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TRÌNH NGĂN MẶN

ĐẾN NGUỒN LỢI THỦY SẢN BẮC BẾN TRE

Nguyễn Nguyễn Du1*, Nguyễn Văn Phụng1, Vũ Vi An1, Nguyễn Văn Trọng1

TÓM TẮT

Biến đổi khí hậu và nước biển dâng, điển hình là vấn đề ngập lụt và xâm nhập mặn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động canh tác nông nghiệp, thủy sản và đời sống của cộng đồng Hiện nay, Bến Tre đang tiến hành chuẩn bị triển khai dự án xây dựng các công trình thủy lợi ngăn mặn cho toàn khu vực Bắc Bến Tre Nghiên cứu và đánh giá tác động của các công trình ngăn mặn dự án Thủy lợi Bắc Bến Tre đến nguồn lợi thủy sản để phục vụ cho phát triển bền vững được thực hiện từ tháng 4/2015 đến 4/2016 tại 20 trạm khảo sát với 26 ngư dân tham gia quan trắc thành phần loài và sản lượng khai thác hàng ngày, kết hợp với việc thu mẫu định kỳ hàng tháng qua 5 loại ngư cụ khai thác thủy sản phổ biến ở địa phương Kết quả khảo sát cho thấy hiện trạng thành phần loài thủy sản ở địa phương rất đa dạng và phong phú với 253 loài cá được xác định trong đó có 188 loài được định danh từ thu mẫu và 178 loài từ việc theo dõi ghi chép của ngư dân Bên cạnh đó, có 30 loài động vật thủy sản khác cũng được xác định như tôm, cua, ốc hến và mực Họ cá chép và họ cá bống có

tỉ lệ thành phần loài cao nhất với lần lượt là 17,8% và 13% tổng số loài Thành phần loài cá được chia làm 3 nhóm: nhóm cá nước ngọt xuất hiện vào mùa lũ (tháng 7-12) gồm Cyprinidae, Siluridae, Pangasidae, Notopteridae, Botidae, Cobiidae, Anabantidae, Channidae, Osphronemidae…, nhóm

cá nước mặn xuất hiện vào mùa khô (tháng 1-5) gồm Clupeidae, Engraulidae, Leiognathidae, Lut-janidae …, và nhóm cá nước lợ xuất hiện quanh năm gồm Gobiidae, Mugillidae, Polynemidae…

Cá cháy bẹ (Tenualosa thibaudeaui) nằm trong danh sách đỏ cũng được tìm thấy trong nghiên cứu

này Hầu hết các loài cá thu được trong giai đoạn thành thục sinh dục đều ở giai đoạn 1 – 3 Điều này cho thấy vùng dự án Bắc Bến Tre không phải là vùng sinh sản tập trung của các loài cá Việc đề xuất xây dựng c ác cống, đê ngăn mặn trong khu vực dự án chưa cho thấy những tác động nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản, sự đa dạng của khu hệ cá ở ĐBSCL, nhưng sự thay đổi của môi trường nước lợ thành môi trường nước ngọt sẽ ảnh hưởng đến các loài cá biển và cá nước lợ do mất môi trường sống của chúng.

Từ khóa: Bắc Bến Tre, thành phần loài, ngăn mặn, ảnh hưởng.

1 Phòng Sinh thái Nghề cá và Tài nguyên Thủy sinh vật, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

*Email: didzu72@yahoo.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước

biển dâng, Việt Nam đã có kế hoạch thích ứng

với biến đổi khí hậu (giải pháp công trình và

phi công trình) để phát triển nông nghiệp bền

vững ở các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông

Cửu Long (ĐBSCL) Các công trình ngăn mặn

trong mùa khô là một trong những giải pháp

quan trọng đã được xác định Một số công trình

ngăn mặn đã có, một số đang xây dựng và một

số đang trong giai đoạn đề xuất thực hiện

Về mặt Thủy lợi – Nông nghiệp – Nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012 ÷ 2020, định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại quyết định số 1373/2012/QĐ-TTg với mục tiêu “Hoàn chỉnh

hệ thống đê bao ngăn mặn ven biển và dọc sông nhằm phục vụ cho phát triển nông nghiệp, dân sinh và thủy sản,… Xây dựng các hệ thống cống ngăn mặn, giữ ngọt, tăng cường khả năng cấp nước ngọt từ các sông,… Đẩy nhanh xây dựng các công trình kiểm soát lũ để tạo điều kiện cho

Trang 2

chuyển dịch thời vụ và phát triển thủy sản…”,

và chiến lược phát triển nông nghiệp vùng của

Bộ Nông nghiệp và PTNT

Riêng tỉnh Bến Tre, Chính phủ đã phê duyệt

báo cáo tiền khả thi dự án thủy lợi Ba Lai tại quyết

định số 567/CP-NN ngày 09/06/2000 và Bộ NN

& PTNT đã phê duyệt Dự án đầu tư XDCT Hệ

thống thủy lợi Bắc Bến Tre giai đoạn 1 số 824/

QĐ-BNN-XD ngày 02/4/2010, sử dụng nguồn

vốn trái phiếu Chính phủ Hiện nay dự án đang

được triển khai xây dựng, tuy nhiên do hạn hẹp

về nguồn vốn nên các công trình đầu mối như

cống An Hóa, Bến Tre, Thủ Cửu, Tân Phú, Bến

Rớ có vốn đầu tư lớn, tuy đã được thiết kế nhưng

chưa có kinh phí để xây dựng

Việc xây dựng các công trình này sẽ ngăn

chặn đường di cư của cá và các động vật thuỷ

sản khác (di cư bắt mồi và di cư sinh sản), đặc

biệt là các loài có đường di cư xa và loài đang

bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng như cá hô

(Catlocarpio siamensis), cá bông lau (Pangasius

kempfi), cá cháo (Megalop cyprinoides), cá măng

(Channos chanos), cá mòi (Anodontostoma

chacunda), cá trà sóc (Probarbus julliieni), cá

cháy bẹ (Tennualosa thibaudeaui), cá chình

hoa (Anguilla marmorata), tôm càng xanh

(Macrobrachium rosenbergii) v.v Việc xây

dựng các công trình ngăn mặn này sẽ tác động trực tiếp đến nguồn lợi thuỷ sản và đời sống ngư dân, đặc biệt là những người đang phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản này

Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên

cứu “Hiện trạng thành phần loài thủy sản

và dự báo các ảnh hưởng của các công trình ngăn mặn đến nguồn lợi thủy sản Bắc Bến Tre“ nhằm phục vụ cho phát triển bền vững.

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của điều tra là thu thập thông tin

về các loài thủy sản ở trong khu vực dự án để phục vụ công tác nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của việc xây dựng cống điều tiết nước đối với nguồn lợi thủy sản và là cơ sở để phục vụ cho việc phát triển bền vững

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại các thuỷ vực tỉnh Bến Tre, trong đó tập trung nghiên cứu tác động của các công trình ngăn mặn đang xây dựng đã đề xuất, cụ thể ở 8 cống ngăn mặn (Hình 1) với mục đích của các công trình này là

dự trữ nước ngọt phục vụ cho trồng cây ăn quả, trồng lúa v.v

Hình 1: Vị trí các điểm thu mẫu

Trang 3

2.3 Nội dung thực hiện

Nghiên cứu này được thiết kế với hai nội

dung sau:

i Quan trắc thành phần loài và sản lượng

mẻ khai thác: chọn một số ngư dân trong khu

vực nghiên cứu để quan trắc thành phần loài và

sản lượng khai thác thuỷ sản theo sổ nhật ký

ngư dân Trước khi tiến hành quan trắc, những

ngư dân này được tập huấn

ii Thu mẫu cá để xác định các đặc điểm

sinh học: định kỳ thu mẫu để xác định thành

phần loài và các đặc điểm sinh học

2.4 Thời gian thực hiện

Thời gian thực hiện bắt đầu từ ngày

15/4/2015 đến 15/4/2016

2.5 Phương pháp thực hiện

2.5.1 Quan trắc thành phần loài và sản

lượng khai thác thủy sản

Chọn 20 ngư dân chuyên nghiệp/có kinh

nghiệm, những người hoạt động đánh bắt gần

các vị trí cống đề xuất xây dựng: điểm 1 đến

8 và một số điểm ở vùng ven biển (điểm 9 đến

12) và một số điểm vùng nội đồng (điểm 13 đến

20) (Hình 1) Ngư cụ quan trắc gồm các loại

như sau: Cào sông, Đăng mé, Lưới bén, Lợp bát

quái, Đáy

Thành phần loài và sản lượng khai thác của

các ngư dân này được quan trắc thông qua ghi

chép hàng ngày trong sổ nhật ký ngư dân

Ngư dân được cung cấp: cân, thước, sổ nhật

ký, tập, viết, và bộ Atlas hình màu các loài cá để

giúp ngư dân nhận diện được chính xác thành

phần loài cá mà họ khai thác được

Trước khi triển khai hoạt động nghiên cứu

này, ngư dân được tập huấn để nhận diện các

loài cá, cách cân, đo cá và cách ghi chép tất cả

các thông tin khai thác vào sổ nhật ký

2.5.2 Thu mẫu định kỳ

Tổng cộng 20 điểm thu mẫu (Hình 1) được

xác định để thu mẫu cá và các loại động vật thuỷ

sản khác

Thời gian và tần suất thu mẫu: Mẫu được thu từ tháng 5/2015 đến tháng 4/2016, mỗi tháng thu 2 lần ở tất cả các vị trí nghiên cứu Quy trình thu mẫu và phân tích mẫu được miêu tả theo các trình tự như sau: thu mẫu ngoài thực địa, cố định mẫu bằng hóa chất và đưa về phòng thí nghiệm, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: định loại – cân – đo – giải phẫu Phương pháp hình thái được sử dụng

để định loại các loài cá và động vật thuỷ sản khác Một số tài liệu chính được sử dụng để phân tích hình thái như Tran et al., (2013), Kano et al., (2013), Vidthayanon (2008), MFD (2003), Kottelat (2001), Rainboth (1996), và Vidthayanon (1993) Đối với mỗi loài cá, chiều dài và trọng lượng của tất cả các cá thể được xác định, nếu số lượng cá thể quá nhiều thì lấy ngẫu nhiên 30 cá thể để xác định chiều dài và trọng lượng Chiều dài tổng cộng được xác định nếu

là loài có đuôi tròn/bằng/nhọn và các dạng đuôi còn lại thì đo chiều dài forked length Đối với tôm – tép: đo từ đuôi đến hốc mắt Đối với cua/ ghẹ: đo chiều rộng của mai (Carapace)

2.5.3 Cơ sở đánh giá loài cá bị đe dọa

• Sách đỏ Việt Nam (2007)

• Danh mục đỏ IUCN www.redlisst.org

2.5.4 Lưu trữ và phân tích số liệu

Lưu trữ số liệu: tất cả số liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu được thiết kế trong Microsoft Access và được phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel

III KẾT QUẢ 3.1 Thành phần loài thủy sản

Kết quả nghiên cứu đã xác định được tổng cộng 253 loài cá thuộc 75 họ và 18 bộ phân bố trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Bảng 1) Trong đó,

188 loài được xác định thông qua việc thu mẫu định kỳ và 178 loài thông qua việc ghi quan trắc của ngư dân

Trang 4

Bảng 1: Thành phần loài cá phân bố ở tỉnh Bến Tre

Bên cạnh đó, 30 loài động vật thủy sản khác như tôm tép, cua, ốc cũng được xác định (Bảng 2)

Bảng 2: Thành phần loài động vật thủy sản khác phân bố ở tỉnh Bến Tre

Trang 5

Hình 2: Phần trăm (%) thành phần loài cá trong họ

Nhìn chung, các loài cá thu được trong

vùng dự án có thể được phân thành 3 nhóm:

(i) Nhóm cá nước ngọt: có 52 loài xuất

hiện, hầu hết chúng được ghi nhận phổ

biến trong mùa lũ (tháng 7-12) bao gồm

các họ: Cyprinidae, Siluridae, Pangasidae,

Notopteridae, Botidae, Cobiidae, Anabantidae,

Channidae, Osphronemidae…

(ii) Nhóm cá nước mặn có 73 loài nhưng

chỉ xuất hiện trong vùng dự án Bến Tre một thời

gian trong suốt mùa khô (tháng 1-5) bao gồm

các họ: Clupeidae, Engraulidae, Leiognathidae,

Lutjanidae …

(iii) Nhóm cá nước lợ có 86 loài xuất hiện

quanh năm trong vùng dự án Bến Tre bao gồm

các họ: Gobiidae, Mugillidae, Polynemidae…

Trong số đó, một số loài cá di cư đường

dài được xác định như cá cháy (Tenualosa

thibaudeaui), cá bông lau (Pangasius krempfi)

di cư từ biển lên thượng nguồn để đẻ trứng và

tôm càng xanh (Macrbrachium rosenbergii) di

chuyển từ khu vực nước ngọt ra các cửa sông để

đẻ trứng Tuy nhiên, hầu hết trong số các loài cá

này di chuyển lên và xuống trong dòng chính;

do đó các cống đề xuất không có tác động trên

chúng

Trong trường hợp xây dựng đê bao, cống thì điều này sẽ làm thay đổi môi trường nước lợ thành nước ngọt, dẫn đến những tác động tiêu cực đối với các loài cá nước mặn và cá nước

lợ Tuy nhiên, những loài cá này là rất phổ biến

và có phân bố rộng ở những vùng ven biển ở ĐBSCL, không chỉ ở tỉnh Bến Tre

3.2 Tần suất xuất hiện của cá tại nơi cư trú theo mùa tại tỉnh Bến Tre

Tần suất xuất hiện của các loài cá theo mùa

đã được lấy mẫu tại ba vùng sinh thái trong 12 tháng Trong đó, mùa mưa (5-11) và mùa khô (12-4) Tần suất xuất hiện của các loài cá được cho thấy ở Bảng 3

Kết quả cho thấy rằng có 157 loài cá được tìm thấy trong vùng nước ngọt thông qua việc thu mẫu hàng tháng và được phân tích trong phòng thí nghiệm với tỷ lệ cao nhất 83,5%, thứ hai là vùng nước lợ với 123 loài cá với 65,4%

và là cuối cùng vùng nước mặn với 102 loài cá chiếm 54,3% của các loài cá

Hơn nữa, có 53,6% tổng số các loài cá xuất hiện cả ba vùng sinh thái, tiếp theo là 30,4% xuất hiện ở hai vùng sinh thái và chỉ có 19,9% tổng số các loài cá xuất hiện ở một môi trường

Trong tổng số 253 loài cá thuộc 75 họ thì

trong đó hai họ cá chép (Cyprinidae) và cá bống (Gobiidae) chiếm tỉ lệ cao nhất trong cấu trúc thành phần loài lần lượt là 17,8% và 13,0%

Trang 6

Bảng 3: Tần suất xuất hiện của 20 loài cá cao nhất theo mùa tại Bến Tre

Vùng nước ngọt Vùng nước lợ Vùng nước mặn

Tổng Mùa

mưa Mùa khô Mùa mưa Mùa khô Mùa mưa Mùa khô

Đặc biệt họ cá chép (Cyprinidae) đã được

tìm thấy ở cả ba môi trường sinh thái trong mùa

mưa nhưng tuy nhiên một số loài trong họ này

như chi cá mè vinh (Barbonymus gonionotus),

cá linh (Henicorhynchus siamensis), cá dảnh

(Puntioplites proctozysron), và cá thiểu

(Paralaubuca typus) được ghi nhận với tần số

cao nhất xuất hiện ở vùng nước lợ vào mùa khô

Điều này có thể xảy ra trong giai đoạn triều thấp

khi lưu lượng nước ngọt chiếm ưu thế

Bên cạnh đó, họ cá da trơn (Pangasiidae)

cũng đã được lấy mẫu tại ba môi trường sinh

thái, trong đó tần số cao nhất của sự xuất hiện là

vùng nước lợ: 83 lần trong mùa mưa và 68 lần

vào mùa khô nhưng chỉ duy nhất 2-4 lần trong

các vùng sinh thái khác trên địa bàn tỉnh Bến

Tre

Ngoài ra, có năm họ cá xuất hiện trong vùng nước ngọt như Akysidae (9 lần), Callionymidae (23 lần), Helostomatidae (1 lần), Siluridae (6 lần) và Trichonotidae (1 lần) Ba họ cá xuất hiện ở vùng nước lợ như Moringuidae (1 lần), Notopteridae (1 lần), và Pristolepididae (6 lần) Ba họ cá xuất hiện ở vùng nước mặn như Chanidae (1 lần), Megalopidae (2 lần), và Serranidae (2 lần)

Đặc biệt, có một loài nguy cấp cá cháy

(Tenualosa thibaudeaui) (VU) được tìm

thấy trong ba vùng sinh thái, trong đó xuất hiện phổ biến nhất ở khu vực nước lợ (21 lần) nhưng ít hơn ở vùng nước mặn (8 lần) và vùng nước ngọt (2 lần) Như đã đề cập ở trên, loài này chủ yếu là di cư theo mùa trong dòng chính

Trang 7

3.3 Chiều dài và trọng lượng cá

Cấu trúc về chiều dài và trọng lượng cá

được thu mẫu tại 3 vùng sinh thái được thể hiện trong Bảng 4

Bảng 4: Cấu trúc chiều dài và trọng lượng của 10 loài cá cao nhất trong vùng khảo sát

Lớn nhất Nhỏ nhất Trung bình Lớn nhất Nhỏ nhất Trung bình

3 Doryichthys boaja 65,3 7,2 22, ± 6,9 197,5 0,8 14,1 ± 23,5

4 Muraenesox bagio 44,5 22 28, ± 6,5 164,7 10,4 40,0 ± 45,5

6 Mastacembelus favus 40,5 6,6 16, ± 11, 210,5 0,9 36,9 ± 76,7

8 Ophisternon bengalense 40 16,2 26, ± 5,8 59,4 3,8 20,1 ± 14,4

9 Lepturacanthus savala 38,5 21,3 28, ± 8,7 53,3 3,6 18,0 ± 23,5

Bảng 4 cho thấy rằng hầu hết các loài cá là

loài cá nhỏ Mức trung bình của chiều dài là 6,5

± 01 cm và trung bình của trọng lượng là 33,7

± 84,6 gam Điều này chỉ ra rằng khu vực dự

án đã đề xuất có thể là một vùng sinh trưởng

cho các loài cá nước mặn và nước lợ phổ biến

ở ĐBSCL

3.4 Sự thành thục của cá

Các giai đoạn phát triển và sự thành thục của cá được thể hiện trong Bảng 5:

Bảng 5: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục của 10 loài cá phổ biến

Ghi chú: GĐ (Giai đoạn) Tuyến sinh dục 0: Không trưởng thành; Tuyến sinh dục 1: chưa trưởng thành; Tuyến sinh dục 2: Phát triển; Tuyến sinh dục 3: Trưởng thành; Tuyến sinh dục 4: chín; Tuyến sinh dục 5: Đang đẻ; Tuyến sinh dục 6: Đã đẻ xong.

Trang 8

Bảng 5 cho thấy rằng hầu hết các loài cá

được lấy mẫu là cá nhỏ với tuyến sinh dục từ

giai đoạn 1 (21,8%) đến giai đoạn 3 (32,9%),

riêng chỉ có loài cá ngưa xương (Doryichthys

boaja) được tìm thấy ở giai đoạn 5 & 6, và các

họ Gobiidae và Cyprinidae được tìm thấy phổ

biến ở giai đoạn 2 -3 Điều này cho thấy rằng

khu vực dự án Bắc Bến Tre không là vùng sinh

sản chính của loài cá ở ĐBSCL

3.5 Loài nguy cấp

Thành phần loài cá ở vùng ĐBSCL rất đa

dạng và phong phú với 255 loài cá (Mai Đình

Yên và Nguyễn Văn Trọng, 1985) vì đa dạng

loại hình thủy vực như hệ thống sông kênh rạch

dày đặc, vùng đồng bằng ngập lũ, vùng cửa

sông và ven biển Một số nghiên cứu gần đây ở

vùng ĐBSCL đã miêu tả chi tiết được hơn 360

loài và danh sách của 461 loài ở vùng ĐBSCL (Vidthayanon, 2008) Bên cạnh đó, Tran và ctv, (2013) đã miêu tả chi tiết 322 loài cá ở vùng ĐBSCL và nhiều loài cá khác đang được kiểm tra và chuẩn bị công bố Đáng chú ý là tổng

số loài cá ở hệ thống sông Mê Công ước tính khoảng 1.200 loài, trong đó số loài ở vùng đồng bằng Campuchia đạt gần 500 loài (Rainboth, 1995)

Dựa trên thành phần loài từ nghiên cứu này (bảng 1) và tiêu chí là các loài đang bị đe dọa trong các chuyên mục của IUCN cho cá sông

Mê Công, nghiên cứu này đã xác định 1 loài có nguy cơ tuyệt chủng tại đã bắt gặp trong quá trình nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre đó là cá cháy

(Tenualosa thibaudeaui) Các đặc điểm của

Tenualosa thibaudeaui được cho thấy ở Bảng 6.

Bảng 6: Các đặc điểm của cá cháy tại Bắc Bến Tre

Vùng sinh thái Mùa Giai đọan phát triển đoạn Giai

trứng

Số

cá thể

Trọng lượng (gram) Chiều dài (cm) Max Min Max Min

Vùng nước mặn Khô Cá con, trưởng thành 0 28 43,6 4,8 17,3 7,9

Hình 3: Cá cháy (Tenualosa thibaudeaui) được

thu mẫu ở Bến Tre

Mặc dù, chúng tôi đã thu được mẫu cá cháy

và ghi nhận ở ba môi trường sống khác nhau của

tỉnh Bến Tre nhưng loài này là loài di cư chủ

yếu là dòng chính của sông Mê Công Chúng

đẻ trứng vào đầu mùa mưa (chủ yếu trong tháng

6) ở thượng nguồn Trứng và ấu trùng được đưa

vào vùng ngập do nước dâng cao Cá con và

cá trưởng thành sử dụng dinh dưỡng tự nhiên ở vùng ngập

Trong nghiên cứu này, có một số cá thể được ghi nhận phía bên trong cống với kích thước nhỏ (5,7-8,3 cm) và số lượng cá đánh bắt được rất thấp, chỉ có 3 cá thể Điều đó cho thấy sự xuất hiện của cá cháy ở dòng nhánh là

sự di cư ngẫu nhiên Vì vậy, chúng có lẽ không thể bị ảnh hưởng về việc xây dựng cống mặn

ở dòng nhánh vì chúng chủ yếu là di cư trên dòng chính

Do vậy, các cống, đê xây dựng đề xuất trong khu vực dự án không có tác động nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản về sự đa dạng của khu hệ cá ở ĐBSCL, nhưng sự thay đổi của môi trường nước lợ thành môi trường nước ngọt sẽ ảnh hưởng đến một số loài cá nước mặn và cá nước lợ do mất môi trường sống của chúng

Trang 9

Hình 4: Vùng phân bố của cá cháy nam (Tenualosa thibaudeaui)

Nguồn: Poulsen et al., (2004)

Chúng di cư lên thượng nguồn để sinh sản,

sau đó cá bột và cá con trôi dạt xuôi dòng xuống

hạ nguồn và sinh trưởng ở vùng đồng bặt ngập

lụt gần hệ thống sông Mê Công như vùng ngập

lụt ở vùng ĐBSCL của Việt Nam, Campuchia

và Thái Lan (Poulsen et al., 2004)

Thực tế cho thấy cá cháy nam phân bố khá

nhiều ở vùng cửa sông ven biển Trong thời gian

nghiên cứu của đề tài đã xác định được 170 cá

thể chỉ ở vị trí nghiên cứu vùng ven biển (điểm

#9 và #11), không ghi nhận bất kỳ cá thể nào ở

các vị trí nghiên cứu khác của đề tài Trong khi

đó, các vị trí đề xuất xây dựng cống điều tiết

của dự án lại tập trung ở dòng nhánh trong vùng nước ngọt Do đó, tác động được đánh giá là khá thấp Tuy nhiên,việc vận hành hệ thống sau này cũng cần được xem xét để cho phép chúng

di cư

V KẾT LUẬN

Tổng cộng có 253 loài cá được xác định trên vùng dự án Bắc Bến Tre Trong đó, có 188 loài được xác định thông qua các hoạt động lấy mẫu và 178 loài được xác định bằng cách ghi sổ nhật ký của ngư dân

Các loài cá ở Bến Tre có thể được phân loại thành ba nhóm: (i) các loài cá nước ngọt phổ

IV THẢO LUẬN

Loài quý hiếm có tính di cư cao gồm: cá

bông lau (Pangasius krempfi), cá cháy nam

(Tenualosa thibaudeaui), cá duồng (Cirrhinus

microlepis) Nhìn chung tác động của các công

trình làm ngăn cản đường di cư đối với nhóm cá

này ở mức rất cao, đặc biệt là đối với các công

trình thủy điện thủy lợi trên dòng chính

Di cư là một đặc trưng quan trọng của cá

vùng ĐBSCL Sự di cư này có mối liên hệ mật

thiết đến chế độ thủy văn sông Mê Công Hầu

hết các loài cá tham gia di cư lên thượng nguồn

để sinh sản vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 6), khi

đó mực nước và lưu lượng nước bắt đầu tăng lên Trong khi đó, vào cuối mùa mưa (tháng

11 – 12) khi mực nước và lưu lượng nước giảm xuống thì các loài cá di cư ngược ra hệ thống sông kênh rạch

Cá cháy nam (Tenualosa thibaudeaui) là

loài có tính di cư cao Vùng phân bố chủ yếu

ở vùng Hạ lưu sông Mê Công, chúng có thể di

cư lên tới vùng thượng lưu của sông Mê Công (Poulsen et al., 2004)

Trang 10

biến được ghi nhận trong mùa lũ (tháng 7-12),

bao gồm Cyprinidae, Silruidae, Pangasidae,

Notopteridae, Botidae, Cobiidae, Anabantidae,

Channidae, Osphronemidae, ; (ii) các loài cá

nước mặn phổ biến trong mùa khô (tháng 1-5)

như: họ Clupeidae, Engraulidae, Leiognathidae,

Lutjanidae, ., và (iii) cá nước lợ được tìm

thấy trong cả năm: Gobiidae, Mugillidae,

Polynemidae,

Một số loài cá di cư đường dài loài như

cá cháy (Tenualosa thibaudeaui), cá bông lao

(Pangasius krempfi) di chuyển từ biển lên

thượng nguồn để đẻ trứng; và tôm càng xanh

(Macrbrachium rosenbergii) di chuyển từ khu

vực nước ngọt ở Campuchia và ĐBSCL đến

các cửa sông để đẻ trứng Trong số đó, cá cháy

(Tenualosa thibaudeaui) được coi là loài đang

bị đe dọa trong „danh sách đỏ“ theo IUCN Tuy

nhiên, loài này chủ yếu phân bố trong dòng

chính, do đó, nó có thể không bị ảnh hưởng

nghiêm trọng bởi các công trình xây dựng cho

việc ngăn nước mặn ở tỉnh Bến Tre

Hầu hết các loài cá được lấy mẫu trong

vùng dự án trong thời gian khảo sát là ở giai

đoạn còn non với kích thước nhỏ, tuyến sinh

dục của chúng là từ giai đoạn 1 đến giai đoạn

3 Điều này chỉ ra rằng khu vực Bắc Bến Tre là

vùng dinh dưỡng cho các loài cá nước lợ và cá

nước mặn ở ĐBSCL, không phải là vùng sinh

sản của chúng

Vì vậy, các cống, đê xây dựng đề xuất trong

khu vực dự án chưa cho thấy những tác động

nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản về sự đa

dạng của khu hệ cá trong ĐBSCL, nhưng sự

thay đổi của môi trường nước lợ và nước mặn

thành môi trường nước ngọt sẽ ảnh hưởng đến

các loài cá biển và các loài cá nước lợ do mất

môi trường sống bình thường của chúng Tất

nhiên, sự đa dạng của các nguồn tài nguyên cá bên trong cống được đề nghị sẽ ít hơn do thay đổi chất lượng nước và hạn chế di cư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Mai Đình Yên & Nguyễn Văn Trọng , 1995 Định loại cá nước ngọt ở miền Nam Việt Nam Báo cáo khoa học, Viện NC NTTS2, Tp Hồ Chí Minh

Tài liệu tiếng Anh

Baran, E., 2006 Fish migration triggers in the Lower Mekong Basin and other tropical freshwater systems MRC Technical Paper No

14, Mekong River Commission, Vientiane 56 pp

Hogan, Z., Baird, I.G., Radtke, R., and Vander Zanden,M.J , 2007 Long distance migration and marine habitation in the tropical Asian

catfish, Pangasius krempfi Journal of Fish

Biology (2007) 71, 818–832

Rainboth, W J , 1996 Fishes of the Cambodian Mekong FAO species indentification field guide for fishery purpose Rome, 265pp Tran, D.D., K Shibukawa, P.T Nguyen, H.P Ha, L.X Tran, H.V Mai, and K Utsugi , 2013 Fishes of the Mekong Delta, Viet Nam Can Tho University Publishing House, Can Tho,

174 pages

Vidthayanon, C , 2008 Field guilde to fishes of the Mekong Delta Mekong River Commission, Vientiane, 288pp

Poulsen, A.F., K.G Hortle, J Valbo-Jorgensen,

S Chan, C.K.Chhuon, S Viravong, K Bouakhamvongsa, U Suntornratana, N Yoorong, T.T Nguyen and B.Q Tran (2004) Distribution and Ecology of Some Important Riverine Fish Species of the Mekong River Basin MRC Technical Paper No 10 ISSN: 1683-1489

Ngày đăng: 07/12/2020, 12:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w