Nghiên cứu được thực hiện ở vùng rừng ngập mặn ven biển Mỏ Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhằm xác định thành phần loài và mức độ đa dạng thành phần loài cá bống ở các thủy vực khác nhau làm cơ sở cho hoạt động quản lý và bảo tồn. Mẫu cá được thu bằng vợt ở ba hệ sinh thái chính là Rừng, Bãi bồi và Kênh, sau đó được định danh và ghi nhận số lượng mẫu.
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những
hệ sinh thái quan trọng và có năng suất cao nhất
trên thế giới (Lê Xuân Tuấn và ctv., 2008) Hệ
sinh thái này không chỉ là nơi sinh trưởng và
phát triển của nhiều loài sinh vật mà còn có vai
trò rất hữu ích đối với con người Tuy nhiên,
diện tích RNM đang bị thu hẹp rất nhanh,
giai đoạn 1980-1995, các tỉnh ĐBSCL đã bị
mất 72.825 ha RNM (Thành Lâm, 2015), mà
nguyên nhân được quan tâm nhiều nhất là phá
RNM phát triển nuôi tôm ồ ạt Mất RNM thì
nguy cơ mất đa dạng sinh học là không thể tránh
khỏi Qua tổng hợp từ các nguồn tài liệu, trong
các họ cá phân bố ở vùng ven biển và rừng ngập
mặn, Họ cá bống (Gobiidae và Eleotridae) có số
lượng loài lớn nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các họ cá còn lại Họ cá bống là họ cá đặc hữu
ở RNM (Murdy, 1989) Chúng phân bố và thay đổi thành phần loài khác nhau ở các thủy vực khác nhau trong RNM (Nursall, 1981) Nghiên cứu của Polgar (2008) về mối tương quan giữa
họ cá bống và RNM đã chỉ ra rằng có sự tương quan giữa họ cá bống và mức độ dày đặc của rừng, nghiên cứu cũng đề xuất một số loài cá bống có thể làm sinh vật chỉ thị cho sức khỏe RNM Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần các loài cá bống đặc trưng của từng hệ sinh thái (HST) trong rừng ngập mặn ít được nghiên cứu
Do đó, việc thực hiện nghiên cứu đánh giá sự
đa dạng sinh học của họ cá bống ở các thủy vực khác nhau trong rừng ngập mặn ven biển Mỏ
ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA HỌ CÁ BỐNG Ở CÁC THỦY VỰC KHÁC NHAU TRONG VÙNG RỪNG NGẬP MẶN VEN BIỂN MỎ Ó, HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
Trang Lâm Ngân Hà1, Trần Xuân Lợi1* TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện ở vùng rừng ngập mặn ven biển Mỏ Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhằm xác định thành phần loài và mức độ đa dạng thành phần loài cá bống ở các thủy vực khác nhau làm cơ sở cho hoạt động quản lý và bảo tồn Mẫu cá được thu bằng vợt ở ba hệ sinh thái chính là Rừng, Bãi bồi và Kênh, sau đó được định danh và ghi nhận số lượng mẫu Đường cong lũy tuyến,
hệ số Simpson, Jaccard, và Bray-Curtis được sử dụng để phân tích, so sánh mức độ đa dạng sinh học giữa các thủy vực Tổng số mẫu thu được là 581 mẫu thuộc 23 loài, 16 giống Đường cong lũy tuyến cho thấy nghiên cứu đã thu đại diện các loài cá bống trong vùng nghiên cứu Về cơ cấu thành phần loài, giống Butis chiếm tỉ lệ cao nhất với 13,64%, kế đến là ba giống Acentrogobius, Periophthalmodon và Periophthalmus cùng chiếm 9,09% Hệ số đa dạng Simpson không có sự khác biệt giữa ba hệ sinh thái, dao động từ 3,34 đến 3,37 Tuy nhiên, mức độ giống nhau giữa các hệ sinh thái là rất thấp (Rừng-Bãi bồi là 0,5; Rừng-Kênh là 0,38; Bãi bồi-Kênh là 0,29) Phân tích cụm cho thấy hệ sinh thái Rừng và Bãi bồi được nhóm thành một nhóm với độ khác biệt là 43% Trong khi
đó, Kênh được tách biệt với 2 hệ sinh thái còn lại với hệ số khác biệt là 90,7% Có 7 loài cá thòi lòi thu được trong nghiên cứu, trong đó hệ sinh thái Kênh có số lượng loài ít (4 loài) và mức độ phong phú cũng rất thấp (26 cá thể) so với hai hệ sinh thái còn lại Ba loài cá thòi lòi tìm được ở hệ sinh thái Kênh là loài thích nghi cao Từ đó cho thấy, hệ sinh thái Kênh bị suy thoái so với 2 hệ sinh thái khác Nhóm cá thòi lòi đang đối mặt với những nguy cơ lớn từ việc thu hẹp diện tích rừng đến tăng nhu cầu thực phẩm Do đó, cần có biện pháp bảo vệ rừng và có những nghiên cứu sâu hơn về sinh sản của nhóm loài này phục vụ cho mục đích sản xuất và bảo tồn.
Từ khóa: thành phần loài cá bống, rừng ngập mặn, Sóc Trăng.
1 Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.
* Email: txloi@ctu.edu.vn
Trang 2Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng là cần thiết
nhằm cung cấp thêm thông tin cơ bản cho việc
quản lý và bảo tồn đa dạng HST RNM của tỉnh
Sóc Trăng nói riêng và của khu vực ĐBSCL nói
chung
Khảo sát đa dạng thành phần loài cá bống
ở các thủy vực khác nhau trong rừng ngập mặn
ven biển Mỏ Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
để xác định:
- Hiện trạng thành phần loài cá bống ở rừng
ngập mặn
- So sánh đa dạng sinh học các loài cá bống
giữa các thủy vực, qua đó xem xét những ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm gần bìa RNM lên
đa dạng sinh học RNM
- Phân tích vai trò của cá thòi lòi trong chỉ thị sức khỏe của hệ sinh thái
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện vào mùa khô
từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2016 tại vùng rừng ngập mặn ven biển Mỏ Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (Hình1)
2.2 Phương pháp thu mẫu
Mẫu được thu ở 3 thủy vực khác nhau: bãi
bùn, trong rừng ngập mặn và các kênh nhỏ dọc
các ao nuôi tôm gần bìa rừng Nghiên cứu đã
thực hiện 5 đợt thu mẫu tại địa điểm nghiên cứu
Dựa vào mức độ bao phủ rừng, chế độ thủy văn và điều kiện cụ thể của mỗi thủy vực nghiên
cứu (Cowardin và ctv., 1979) chia thành 3 loại
hình thủy vực như sau: bãi bùn, rừng ngập mặn
và kênh rạch
Hình 2: A: Rừng ngập mặn, B: Bãi bồi, C: Kênh gần vuông nuôi tôm
- Bãi bùn là nơi có nền đáy bùn, độ dốc
thấp, ít được bao phủ bởi rừng ngập mặn và ảnh
hưởng rất lớn bởi thủy triều Vùng này có rất
nhiều loài cá thòi lòi (phân họ Oxudercinea)
chiếm ưu thế
- Rừng ngập mặn là vùng kế cận bãi bồi và
bờ, có rừng ngập mặn bao phủ và có một số loài
cá bống đen chiếm ưu thế
- Kênh rạch trong nghiên cứu này chỉ những kênh kế cận và dẫn nước vào các ao nuôi tôm
Hình 1: Vị trí địa lý tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 3Các kênh này trước đây là rừng ngập mặn và bãi
bồi, nhưng được đào để phục vụ cho phát triển
nuôi tôm
Phương pháp thu: dùng vợt tay với cùng
nỗ lực (60 phút) tại mỗi thủy vực để xác định
mức độ phong phú và thành phần loài các loài
cá bống Đồng thời ghi nhận lại điều kiện thủy
vực nơi thu mẫu
2.3 Phương pháp phân tích mẫu
Mẫu được cố định bằng formaline (10%)
và được định danh theo sách hướng dẫn phân
loại của Trần Đắc Định và ctv., (2013) và các tài
liệu phân loại khác như Đa dạng các loài cá ở
Campuchia (Rainboth, 1996), Đa dạng các loài
cá ở Lào (Kottelat, 2001) Số lượng cá thể của
mỗi loài cũng được ghi nhận để tính các chỉ số
đa dạng sinh học và các phân tích khác
2.4 Phương pháp tính toán
- Kiểm tra hiện trạng thành phần loài thu
được bằng cách vẽ đường cong lũy tiến (Colwell
và Coddington, 1994)
- Tính toán đa dạng thành phần loài ở các
thủy vực bằng chỉ số Simpson = ∑ 2
1
i p
đó pi = số lượng cá thể của loài thứ i thu được
- So sánh sự giống nhau của từng cặp
hệ sinh thái bằng chỉ số Jaccard coefficient
S c
CC j = / , trong đó c là số lượng cá thể giống nhau giữa 2 thủy vực và S là tổng số cá thể của 2 thủy vực
- Phân tích cụm giữa các thủy vực sẽ được tính thoán theo công thức Bray-Curtis
+
−
−
=
∑
∑
=
=
p
i ij ik
p
i ij ik ij
y y
y y S
1
1 ' 100 1 , trong đó yij là
mức độ phong phú của loài thứ i trong thủy vực thứ j; yik là mức độ phong phú của loài thứ i trong thủy vực thứ k; Sij là mức độ giống nhau giữa thủy vực j và tổng giá trị n
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hiện trạng thu mẫu cá ở khu vực nghiên cứu
Trước khi thực hiện phân tích số liệu trong các nghiên cứu về đa dạng thành phần loài, người ta thường đánh giá mức độ thu mẫu có đại diện cho vùng được nghiên cứu hay không Hay nói cách khác, kết quả của nghiên cứu chỉ
có giá trị khi thành phần loài thu được đại diện cho khu vực nghiên cứu Để đánh giá hiện trạng thu mẫu, người ta thường sử dụng đường cong lũy tuyến Thông thường, tổng số mẫu đủ để thể hiện đường cong lũy tuyến là 500 mẫu
Hình 3 Đường cong lũy tuyến thể hiện hiện trạng thu mẫu
Trong nghiên cứu này, đường cong lũy
tuyến biểu diễn 581 mẫu thu được ở vùng RNM
ở Sóc Trăng và đường cong đã tiệm cận trục x
với 23 loài ở khoảng 300 mẫu (Hình 3) Điều đó
cho thấy, mẫu thu đủ đại diện cho hệ sinh thái và
có thể tiến hành các phân tích tiếp theo
3.2 Thành phần loài cá bống ở vùng rừng ngập mặn Sóc Trăng
Nghiên cứu đã thu được 581 mẫu thuộc 23 loài, 16 giống và 2 họ (Gobiidae và Eleotridae)
Về cơ cấu giống loài, giống Butis chiếm tỉ lệ cao nhất với 4 loài (13,64%) Cùng chiếm
Trang 49,09% với 2 loài là các giống Acentrogobius,
Periopththalmonodon, Periophthalmus và Pseudogobius Các giống còn lại có 1 loài chiếm 4,55% (Hình 4)
Hình 4: Cơ cấu thành phần giống loài cá bống
Về cơ cấu họ, họ Gobiidae chiếm ưu thế
với tỷ lệ 86,36% với 14 giống, 19 loài Trong
khi đó họ Eleotriedae có 4 loài thuộc 2 giống
chiếm 13,64% Xét về mức độ phong phú
tương đối giữa các loài, thì có 4 loài chiếm ưu
thế (trên 70% tổng số mẫu) là Periopthalmus
chrysospilos (27,2%), Acentrogobius
viridipunctatus (22,0%), Caragobius urolepis
(15,3%) và Boleophthalmus boddarti (10,0%)
Các họ còn lại chiếm khoảng 28% tổng số mẫu
(Bảng1)
Xét về cơ cấu thành phần loài theo hệ sinh
thái thì có 14 loài (60,8%) là loài sống ở hệ sinh
thái nước mặn và lợ, 4 loài (17,4%) sống ở môi
trường nước lợ, 2 loài sống ở môi trường nước
lợ ngọt (8,7%) Đặc biệt, có 3 loài (13,1%) có
độ rộng muối cao với môi trường sống cả ngọt,
lợ và mặn (Butis butis, Butis koilomatodonvà
Glossogobius aureus) (Bảng 2) Hầu hết các
loài cá bống ít được quan tâm và đánh giá về
biến động quần đàn trong Sách đỏ của IUCN Đối chiếu với nghiên cứu của Nguyễn
Huỳnh Ngọc Châu và ctv , (2013) thống kê
được 14 loài cá bống và kết quả nghiên cứu của
Diệp Anh Tuấn và ctv., (2014) chỉ tìm thấy 9
loài cá bống cùng nghiên cứu về thành phần loài
cá ở vùng của sông Hậu (Sóc Trăng) thì nghiên cứu này tìm được nhiều loài hơn (23 loài) Kết quả nghiên cứu này có số loài cao hơn
kết quả của Tống Minh Tám và ctv., (2014) thực
hiện ở rừng ngập mặn Cần Giờ (14 loài thuộc
họ Gobiidae và 3 loài thuộc họ Eleotridae) và
ít hơn so với nghiên cứu của Phan Văn Mạch
và ctv., (2014) cũng ở rừng ngập mặn Cần Giờ
cho kết quả 21 loài thuộc họ Gobiidae So với nghiên cứu của Polgar (2008) được tiến hành
ở Malaysia thì nghiên cứu này thấy được chỉ
có 4 loài trùng lắp là Boleophthalmus boddarti, Periophthalmodon schlosseri, Periophthalmus schrysospilos, Periophthalmus gracilis.
Trang 5Bảng 1: Mức độ phong phú tương đối của các loài cá bống thu được
ở vùng rừng ngập mặn Sóc Trăng
Từ các phân tích trên có thể thấy thành phần
loài cá bống ở Sóc Trăng tương đối phong phú
và có sự khác biệt so với các vùng khác (Cần
Giờ và Malaysia) Sự khác biệt về số lượng loài
có thể do hệ sinh thái ở Sóc Trăng đặc trưng hơn những nơi khác với tác động của sông Hậu hoặc
do phương pháp thu mẫu chưa đồng nhất giữa các nghiên cứu
Bảng 2: Danh mục thành phần loài cá bống RNM.
thái
Kích cỡ
2 Acentrogobius
Trang 66 Butis humeralis Cá bống trân M, L 10,7 N/A
7 Butis koilomatodon Cá bống lưng cao M, L, N 7,5 N/A
8 Caragobius urolepis Cá kèo huyết M, L 7,2 LC - stable
10 Glossogobius sparsipapillus Cá bống cát L 9,3 N/A
13 Oxyeleotris urophthalmus Cá bống dừa M, L 20,0 N/A
15 Parapocryptes serperaster Cá bống kèo vảy to M, L 17,3 N/A
16 Periophthalmodon schlosseri Cá thòi lòi M, L 21,0 N/A
17 Periophthalmodon
18 Periophthalmus chrysospilos Cá thòi lòi chấm
19 Periophthalmus gracilis Cá thòi lòi vạch M, L 4,5 N/A
23 Stigmatogobius pleurostigma Cá bống mít L, N 6,4 N/A
Chú thích: CE: Cực kỳ nguy cấp; E: Nguy cấp; V: Đe dọa; NT: Có nguy cơ đe dọa; LC: Ít được quan tâm; N/A: Không có truy cập Với mức độ tuyệt chủng được xếp giảm dần như sau:
CE > E >V>NT>LC>N/A Nguồn: The IUCN Red List of Threatened Species Version 2016-3 www.iucnredlist.org Hệ sinh thái: M: mặn; L: lợ; N: ngọt Nguồn: Trần Đắc Định và ctv., (2013)
3.3 Đa dạng thành phần loài cá bống
giữa các thủy vực
3.3.1 Đa dạng thành phần loài cá bống
giữa các thủy vực (hệ số Simpson)
Kết quả phân tích đa dạng thành phần loài cho thấy, chỉ số Simpson (1/D) ở ba thủy vực không có sự khác biệt lớn Điều này cho thấy mức độ đa dạng thành phần loài giữa các thủy vực là gần như nhau (Bảng 3)
Bảng 3: Chỉ số đa dạng Simpson ở mỗi hệ sinh thái.
Tuy nhiên, chỉ số Simpson không phải
tuyến tính (linear) khi so sánh giữa các hệ sinh
thái Điều này có nghĩa là, chỉ số Simpson có
thể không khác biệt nhau nhiều, nhưng mức độ
đa dạng thực có thể rất khác Do đó, không thể
chỉ dựa vào hệ số Simpson mà phải xem xét đến
mức độ đa dạng thực, mức độ giống và khác nhau để có phân tích đúng về hệ sinh thái Phần này sẽ được thảo luận sâu hơn ở phần sau
3.3.2 Mức độ giống/khác nhau về thành phần loài cá bống giữa các thủy vực (hệ số Jaccard)
Trang 7Chỉ số này là tỷ số giữa số loài giống nhau
giữa hai thủy vực và tổng số loài giữa hai thủy
vực Kết quả phân tích hệ số Jaccard cho thấy
mức độ giống nhau về thành phần loài giữa các thủy vực cho thấy có sự khác biệt lớn về thành phần loài
Bảng 4: Ma trận Jaccard coefficient cho mỗi cặp hệ sinh thái.
Kênh rạch
Chỉ số Jaccard của Rừng so với Bãi bồi và
Rừng so với Kênh rạch lần lượt là 0,50 và 0,38,
trong khi chỉ số này của Kênh rạch so với Bãi
bồi là 0,29 Điều này cho thấy, các thủy vực có
sự khác biệt rất lớn về thành phần loài (Bảng 4)
3.3.3 Phân tích cụm (Bray-Curtis) về
thành phần loài cá bống giữa các thủy vực
Hệ số Bray-Curtis xem xét chi tiết hơn hệ
số Jaccard khi xem xét cả về số lượng cá thể của
mỗi loài Vì vậy, một số hệ sinh thái có cùng chỉ
số Simpson và Jaccard, nhưng khi xem xét đến
số lượng cá thể của mỗi loài thì lại rất khác biệt
Hình 5: Sơ đồ so sánh các cụm hệ sinh thái.
Kết quả phân tích cho thấy, hệ sinh thái Rừng và Bãi bồi có mức độ giống nhau là 57%
và được nhóm lại thành một nhóm Nhóm này
có mức độ giống nhau so với hệ sinh thái còn lại (Kênh) là 9,3% (Hình 5).Từ kết quả có thể thấy
hệ sinh thái Kênh rất khác biệt so với hai hệ sinh thái còn lại Điều này tốt hay xấu còn tùy thuộc vào thành phần loài khác biệt là những loài chỉ thị cho sự khỏe mạnh của hệ sinh thái hay là những loài chỉ thị cho sự suy thoái của hệ sinh thái để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn hay giảm thiểu tác động suy thoái hệ sinh thái
3.3.4 Đa dạng thành phần loài cá thòi lòi
và tiềm năng trong sử dụng như chỉ dấu cho sức khỏe môi trường
Cá thòi lòi (họ phụ Oxudercinae của họ Gobiidae) là những loài có một phần vòng đời sống trên cạn và thường được dùng như sinh vật chỉ thị trong các đánh giá về sinh học và
độc chất trong môi trường (Polgar et al., 2010)
Chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ với hệ sinh thái rừng ngập mặn và bãi bùn RNM là hệ sinh thái ưa thích của những loài này Nếu rừng ngập
mặn bị phá hủy, nơi sinh sống, bãi đẻ và nguồn thức ăn của chúng bị ảnh hưởng và quần đàn sẽ
bị suy giảm nghiêm trọng (Kruitwagen et al.,
2007)
Một nghiên cứu được thực hiện ở rừng ngập mặn ở Malaysia bởi Polgar (2008) đã chỉ ra rằng
với sự tác động của con người HST RNM đang
bị suy thoái và thu hẹp nghiêm trọng Mức độ suy thoái rừng ngập mặn càng cao thì số lượng loài cá thòi lòi càng ít Nghiên cứu ở rừng ngập mặn Sóc Trăng cũng cho kết quả tương tự Hệ sinh thái Rừng và Bãi bồi có số lượng loài cá
Trang 8thòi lòi cùng là 5 loài, cao hơn hệ sinh thái Kênh
với 4 loài (Bảng 5) Xét về mức độ phong phú,
hệ sinh thái Rừng và Bãi bồi có số lượng mẫu
lần lượt là 108 và 122, cao hơn nhiều so với hệ
sinh thái Kênh với chỉ 26 cá thể Điều này cho
thấy rằng hệ sinh thái Rừng và Bãi bồi còn giữ
được độ đa dạng thành phần loài cá thòi lòi so với hệ sinh thái Kênh bị tác động rất nhiều bởi hoạt động nuôi tôm Tuy nhiên, để có kết luận
rõ và cụ thể hơn cần có những nghiên cứu cụ thể hơn tập trung vào cá thòi lòi ở các thủy vực này
Bảng 5: Thành phần các loài cá thòi lòi hiện diện tại mỗi hệ sinh thái.
Chú thích: x: sự có mặt của cá thòi lòi tại hệ sinh thái nghiên cứu.
Nghiên cứu của Polgar (2008) cũng chỉ ra
rằng, cá thòi lòi là loài chọn lọc hệ sinh thái
để sống, với P spilotus và P novemradiatus
sống trên cạn nhiều hơn so với các loài khác
Tuy nhiên, càng lên cạn, sẽ dễ bị tác động bởi
hoạt động của con người Do đó, mật độ và sự
xuất hiện của 2 loài này có thể sử dụng làm chỉ
dấu cho tác động của con người lên hệ sinh thái
rừng ngập mặn Trong nghiên cứu ở rừng ngập
mặn Sóc Trăng cho thấy có 4 loài sống thiên về
môi trường nước là Boleophthalmus boddarti,
Periophthalmus chrysospilos, Scartelaos
histophorus và Oxuderces dentatus Có 3 loài
thích nghi cao có khả năng sống cả ở môi
trường nước và trên cạn là Periophthalmodon
schlosseri, Periophthalmus gracilisvà
Periophthalmodon septemradiatus và chúng
đều hiện diện trong hệ sinh thái Kênh, trong khi
đó Periophthalmus gracilis không tìm thấy ở
Bãi bồi và Periophthalmodon septemradiatus
chỉ tìm thấy ở Kênh (Bảng 5) Từ đó có thể nói
lên rằng, môi trường Kênh bị tác động nhiều bởi con người do đó chỉ những loài có tính thích nghi cao tồn tại
Loài Periophthalmodon septemradiatus
sống thiên về nước ngọt và được xem là loài có nguy cơ tuyệt chủng ở Malaysia (Polgar, 2008) nhưng trong nghiên cứu này chúng chỉ tìm thầy ở
hệ sinh thái Kênh Xét trên hệ sinh thái rừng ngập mặn, loài này cần được chú ý và có những nghiên cứu sâu hơn mặc dù ở ĐBSCL chúng rất phong phú và phân bố rộng đến 100km từ cửa sông
3.3.5 Các nguy cơ tuyệt chủng của cá thòi lòi
Cá thòi lòi có phạm vi phân bố rất hẹp chủ yếu ở vùng triều trong rừng ngập mặn do đó chúng rất dễ bị tác động nếu môi trường sống
bị thu hẹp Ở nhiều nơi như Trung Quốc, Nhật, Đài Loan và Hàn Quốc, đô thị hóa làm mất đi
hệ sinh thái rừng ngập mặn dẫn đến nguy cơ
tuyệt chủng của những loài này (Ansari và ctv.,
2014) ĐBSCL là nơi có thành phần loài và mức
độ phong phú của cá thòi lòi tương đối cao Tuy
Trang 9nhiên, những năm trở lại đây, hiện tượng đô thị
hóa và phá rừng làm ao nuôi thủy sản đã làm
suy giảm diện tích rừng đáng kể Do đó, những
nghiên cứu cụ thể về cá thòi lòi ở ĐBSCL cần
được quan tâm để bảo tồn nhóm loài này trước
khi bị tuyệt chủng
Cá thòi lòi là nguồn cung cấp dinh dưỡng
quan trọng cho cộng đồng dân cư ven biển Ở
Nigeria, cá thòi lòi được sử dụng rộng rãi do giá
thành rẻ và có nguồn cung quanh năm (Edun và
ctv., 2010) Ở Nhật, Trung Quốc, và Đài Loan,
chúng được nuôi thâm canh và khai thác quá
mức dẫn đến suy giảm nghiêm trọng quần đàn
trong tự nhiên Lấy ví dụ như ở Vịnh Isahaya
(Nhật) khai thác quá mức làm giảm 90% quần
đàn cá ở đây (Takegaki và ctv., 2005) Ở một số
nơi khác như Bangladesh và Thái Lan, chúng
cũng được sử dụng làm thực phẩm rộng rãi
và bắt đầu nuôi (Polgar và ctv., 2011) Do đó,
nguy cơ lớn cho nhóm cá thòi lòi là nhu cầu
thực phẩm tăng dẫn đến việc khai thác và nuôi
rộng rãi trong khi các đặc điểm sinh sản và sinh
học chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh Điều này
dẫn tới phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống
tự nhiên và nguy cơ tuyệt chủng là hiện hữu Ở
ĐBSCL, chưa có nghiên cứu về nuôi và sử dụng
cá thòi lòi như thực phẩm, nhưng cá thòi lòi bắt
đầu được quan tâm khai thác
Như đã thảo luận ở trên, nhóm cá thòi lòi ở
ĐBSCL hiện đang đối mặt với hai nguy cơ chính
là hệ sinh thái rừng ngập mặn bị thu hẹp và nhu
cầu làm thực phẩm tăng Để bảo vệ và sử dụng
bền vững những loài này thì bảo vệ môi trường
sống đặc hữu của chúng (rừng ngập mặn) là
giải pháp tốt nhất Bên cạnh đó, các nghiên cứu
cơ bản về sinh sản và sinh học cần được quan
tâm để có kiến thức hoàn thiện về vòng đời của
chúng phục vụ cho hoạt động nuôi, tránh phụ
thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
4.1 Kết luận
Thành phần các loài cá bống ở RNM Mỏ
Ó, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng (được thu
vào mùa khô từ tháng 2 đến tháng 4) tương
đối phong phú gồm 23 loài thuộc 2 họ, trong
đó họ Gobiidae chiếm ưu thế với 19 loài và họ Eleotriedae có 4 loài
Tại khu vực nghiên cứu, chỉ số Simpson không có sự khác biết lớn, chỉ số Jaccard và Bray-Curtis có sự khác biệt lớn, đa dạng thành phần các loài cá bống ở kênh gần vuông nuôi tôm thấp hơn so với hai hệ sinh thái còn lại và
hệ sinh thái kênh đang chịu ảnh hưởng không tốt từ hoạt động nuôi tôm
Cá thòi lòi ở RNM Sóc Trăng nói riêng và ở ĐBSCL nói chung đang đứng trước các nguy cơ lớn từ thu hẹp diện tích RNM và nhu cầu tăng cao cho thị trường thực phẩm
4.2 Đề xuất
Cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về các loài cá thòi lòi với vai trò là sinh vật chỉ thị sức khỏe RNM, về sinh học, sinh sản của các loài cá thòi lòi ở RNM ven biển Mỏ Ó, huyện Trần, tỉnh Sóc Trăng và các hệ sinh thái RNM ĐBSCL để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu và hoạt động nuôi/khai thác và bảo tồn loài cá này cũng như là bảo tồn hệ sinh thái RNM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Nguyễn Huỳnh Ngọc Châu và Trương Hoàng Minh, 2013 Thành phần loài tôm, cá phân bốở khu vực ven biển huyện Cù Lao Dung tỉnh Sóc
Trăng, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần
Thơ, Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 25 (2013): 239-246
Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn, 2014 Thành phần khu hệ cá khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ- TP Hồ Chí Minh, Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6, trang 685-688
Thành Lâm, 2015 Bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL, Hội nông dân Việt Nam http://mtnt.hoinongdan.org.vn/sitepages/ news/1098/36420/bao-ve-he-sinh-thai-rung-ngap-man-o-dbscl, truy cập ngày 7/1/2016
Tống Minh Tám, Nguyễn Thị Như Hân, 2014
Xây dựng dữ liệu về các loài cá ở rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM Số 61, trang 74-8
Diệp Anh Tuấn, Đinh Minh Quang, Trần Đắc
Trang 10Định, 2014 Nghiên cứu thành phần loài cá
họ Bống trắng (Gobiidae) phân bốở ven biển
tỉnh Sóc Trăng, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Tập 30, Số
3 (2014) 68-76
Lê Xuân Tuấn, Phan Nguyên Hồng, Trương
Quang Học, 2008 Những vấn đề môi trường
ven biển và phục hồi rừng ngập mặn ở Việt
Nam, Kỷ yếu hội thảo Quốc Tế Việt Nam học
lần thứ ba, 678 - 692
Tài liệu tiếng Anh
Ansari, A A., Trivedi, S., Saggu, S., and Rehman,
H., 2014 Mudskipper: A biological indicator
for environmental monitoring and assessment
of coastal waters, Journal of Entomology and
Zoology Studies 2014; 2 (6): 22-33
Colwell, R, K., Coddington, J, A., 1994
Estimating the extent of terrestrial biodiversity
through extrapolation Philos Trans R Soc
Lond 345:101–118
Cowardin, L M., Carter, V., Golet, F C., LaRoe,
E T., 1979 Classification of wetlands and
deepwater habitats of the United States
USFWS FWS/OBS-79/31, Washington DC
Edun, O.M., Akinrotimi, O.A., Uka, A., and
Owhonda, K.N., 2010 Patterns of mudskipper
consumption in selected fishing communitíe of
rivers state, Journal of Agriculture and Social
Research (10) 2:100-108
Kottelat, M., 2001, Fishes of laos 46 pp
Kruitwagen, G., Scheil, V., Pratap, H B., &
Bonga, S W., 2007 Developmental toxicity
in zebrafish embryos (Danio rerio) exposed
to textile effluents Ecology and toxicology of
mangrove fauna in Tanzania, 85 - 98.
Murdy, E O., 1989 A taxonomic revision and
cladistic analysis of the oxudercine gobies
(Gobiidae: Oxudercinae), Rec Aust Mus Suppl,
11, 1–93
Nursall, J R., 1981 Behaviour and habitat affecting the distribution of five species of
sympatric mudskippers in Queensland,Bull
Mar Sci, 31(3),730–735.
Polgar G, Sacchetti A, Galli P., Differentiation and adaptive radiation of amphibious gobies (Gobiidae: Oxudercinae) in semi-terrestrial habitats J Fish Bio 2010; 77:1645-1664 (DOI:10.1111/j.10958649.2010.02807.x) Polgar, G., 2008 Species-area relationship and potential role as a biomonitor of mangrove communities of Malayan mudskippers,Wetlands Ecology and Management 2008, 17(2): 157-164
Polgar, G., and Lim, R., 2011 Mudskippers: human use, ecotoxicology and biomonitoring
of mangrove and other soft bottom intertidal ecosystems, Chapter of the edited collection: Mangrove: Ecology, Biology and Taxonomy Research Gate
Rainboth, W J., 1996 Fishes of the Cambodian
Mekong Food & Agriculture Org
Takegaki T, Wada T, Kanemori Y, Natsukari Y.,
2005 Distribution and population density of
Boleophthalmus pectinirostris in estuaries
in Ariake and Yatsushiro Sound, western Kyushu, Japan Jpn J Ichthyol 52:9–16 (In Japanese with English abstract)
Tran, D D., Shibukawa, K., Nguyen, P T., Ha,
P H., Tran, X L., Mai, V H., and Utsugi, K.,
2013 Fishes of Mekong Delta, Vietnam, Can Tho University Publishing House, Can Tho,
174 pp