Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam. Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ.
Trang 1TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM
CHÂN TRẮNG Ở VIỆT NAM
Lê Hồng Phước1*, Nguyễn Diễm Thư1, Hứa Ngọc Phúc2, Phạm Thị Yến3 TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ Các thông tin trong phiếu điều tra chủ yếu liên quan đến các loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, tần suất sử dụng và hiệu quả phòng trị Ở miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong nuôi tôm như oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin, florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), Cloxit (chloramphenicol), erythromycin và trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin) Trong đó oxytetracycline, tetracycline
và enrofloxacin là 3 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất Tại miền Trung, có 71,2% nông hộ cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline, ciprofloxacin, doxycycline là ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Trung Tại miền Nam, có 68,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline, doxycyline và enrofloxacin là ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Nam Về hiệu quả sử dụng kháng sinh, có 20-50% hộ nuôi cho biết sử dụng kháng sinh có hiệu quả, 30% cho biết không có hiệu quả và 20%
không biết được hiệu quả mang lại khi sử dụng kháng sinh Các loại kháng sinh nhạy đối với Vibrio parahaemolyticus là gentamicin, flofenicol, oxytetracycline, doxycycline và tetracycline.
Từ khóa: AHPND, tôm, kháng sinh.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
2 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III
3 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I
* E-mail: lehongphuoc@yahoo.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2010, trên tôm nuôi xuất hiện hội
chứng chết sớm (Early Mortality Syndrome-
EMS) hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp
tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease
- AHPND) được ghi nhận tại Trung Quốc,
Malaysia và Thái Lan Ở Trung Quốc EMS
xuất hiện đầu tiên năm 2009 nhưng chưa được
người nuôi chú ý đến Đến năm 2011 bệnh trở
nên trầm trọng hơn ở những trang trại nuôi trên
5 năm và gần biển (Panakorn, 2012) Các trang
trại nuôi tôm ở Hainan, Guangdong, Fujian
và Guangxi bị thiệt hại trong 6 tháng đầu năm
2011 với khoảng 80% Ở Malaysia, bệnh xuất
hiện lần đầu vào giữa năm 2010 tại 2 bang
Pahang và Joho sau đó lan rộng sang các vùng
khác Sự bùng phát EMS đã làm giảm sản lượng đáng kể của tôm thẻ chân trắng (khoảng 60%) Năm 2013, ở Thái Lan, bệnh xuất hiện ở 2 tỉnh phía đông vịnh Thái Lan Bệnh được ghi nhận
và gây thiệt hại nặng trên cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn sau 15-40 ngày sau khi thả nuôi Tôm bệnh có dấu hiệu giảm ăn, khối gan tụy có nhiều biến dạng bất thường như trương to và nhũn hoặc teo nhỏ, màu sắc nhợt nhạt, dấu hiệu khác cũng được ghi nhận bao gồm mềm vỏ, sậm màu Tỷ
lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong vài ngày hoặc kéo dài hơn Theo Lightner và ctv., (2013)
bệnh hoại tử gan tụy cấp tính do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra
Trang 2Hiện nay, thuốc và các loại kháng sinh được
sử dụng rất thường xuyên trong nuôi trồng thủy
sản ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu về
vấn đề này vẫn còn rất hạn chế Theo báo cáo
của Mai Văn Tài và ctv., (2004), kháng sinh được
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu thuộc
nhóm oxytetracycline bao gồm: Oxytetracycline,
tetracycline và doxycycline Trong đó, có khoảng
32 loại kháng sinh được sử dụng trong các qui
trình nuôi tôm thịt, 39 loại được sử dụng trong
sản xuất tôm giống, 14 loại được sử dụng trong
ương nuôi các loại cá biển, 41 loại trong nuôi
cá lồng nước ngọt và 67 loại trong nuôi cá ao
nước ngọt Ngoài ra, theo nghiên cứu về sự tồn
dư của 4 loại kháng sinh trimethprim (TMP),
sulfamethoxazole (SMX), norfloxacin (NFXC)
và oxolinic acid (OXLA) trong nước và trong
bùn ở các ao nuôi tôm thuộc bốn khu vực khác
nhau bao gồm Thái Bình, Nam Định, Cần Giờ
và Cà Mau cho thấy cả bốn loại kháng sinh này
đều được phát hiện trong các ao nuôi tôm với
nồng độ cao nhất là TMP = 1,04 ppm, SMX =
2,39 ppm, NFXC = 6,06 ppm và OXLA = 2,5
ppm và trong bùn với nồng độ cao nhất là TMP
= 734,61 ppm, SMX = 820,49 ppm, NFXC =
2.615,96 ppm và OXLA = 426,31 ppm Trong
đó, không có sự khác biệt về sự hiện diện của
các loại kháng sinh này giữa các ao nuôi quảng
canh cải tiến và quảng canh nhưng lại có sự khác
biệt khá lớn giữa các vùng nuôi tôm được khảo
sát Đối với loại kháng sinh NFXC, nồng độ cao
nhất được ghi nhận trong các ao nuôi quảng canh
ở Nam Định và trong bùn ở các ao quảng canh
ở Cần Giờ và Cà Mau (Le và Munekage, 2004)
Cũng theo thông tin từ nghiên cứu này, kháng
sinh và các loại hóa chất khác thường được sử
dụng trong tháng nuôi đầu tiên và được sử dụng
với hàm lượng cao khi tôm có triệu chứng bệnh
Các loại kháng sinh thường ở dạng bột và được
trộn chung với thức ăn thương mại
Trong năm 2016, thực hiện chỉ đạo của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú
y đã chủ trì triển khai phòng, chống dịch bệnh
trên tôm (tại Sóc Trăng và Bạc Liêu) và trên cá
tra (tại Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang) trong
đó có nội dung khảo sát trực tiếp tại các hộ nuôi
trồng thủy sản về tình hình sử dụng kháng sinh Kết quả điều tra tại 218 hộ nuôi thâm canh và bán thâm canh tại 64/66 ấp của 12/12 xã phường/thị trấn thuộc huyện Hòa Bình và Thành phố Bạc Liêu cho thấy có 66,97% (146 cơ sở) hộ nuôi
sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, chỉ có 23,4% hộ không sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, còn lại 9,63% hộ không biết là mình
có sử dụng kháng sinh hay không Trong số những cơ sở sử dụng kháng sinh thì có 19,86%
hộ sử dụng thuốc kháng sinh trên người, 8,91%
hộ nuôi sử dụng đồng thời cả nhân y và Thú
y, 42,47% hộ không rõ là mình sử dụng thuốc Thú y hay nhân y Nếu loại bỏ các hộ sử dụng kháng sinh nhưng không rõ nhân y hay Thú y thì tỷ lệ hộ sử dụng thuốc nhân y là 34,52%, hộ dùng cả Thú y và nhân y là 15,48%, số hộ chỉ dùng thuốc thú y là 50% Một số cơ sở nuôi đã
sử dụng chloramphenicol 250mg, doxycycline 100mg, tetracycline 500mg trong nhân y để điều trị bệnh Trong 146 hộ sử dụng kháng sinh,
có 61,64% hộ sử dụng kháng sinh để phòng bệnh, 14,38% hộ sử dụng cả phòng và trị, chỉ
có 23,97% hộ chỉ sử dụng kháng sinh khi tôm
có dấu biệu bị bệnh Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định hiện trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) của các hộ nuôi tôm tại ba miền Bắc, Trung, Nam qua điều tra nông hộ
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Đối tượng, phạm vi và quy mô điều tra
Điều tra trên mô hình nuôi tôm thâm canh
và bán thâm canh trên phạm vi 7 tỉnh trong cả
3 miền Bắc và Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trên vùng thường xảy ra dịch bệnh hoại tử gan tụy tôm nuôi + Miền Bắc và Bắc Trung bộ: 57 hộ nuôi được điều tra tại Hải Phòng và Nghệ An, trong
đó Hải Phòng 23 hộ, Nghệ An 34 hộ, các hộ nuôi này đều có quy mô nuôi thâm canh và bán thâm canh
+ Nam Trung bộ: 60 hộ nuôi tôm tại hai tỉnh Quảng Nam và Ninh Thuận, mỗi tỉnh 30 hộ nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh
Trang 3+ ĐBSCL: 90 ao/phiếu điều tra trên 3 tỉnh
Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu
2.2 Thông tin điều tra
Dựa vào phiếu điều tra theo biểu mẫu chuẩn
bị sẵn để thu thập các thông tin, số liệu liên quan
đến tình hình bệnh tôm và việc sử dụng kháng sinh
trong vụ nuôi của các hộ nuôi tôm Điều tra được
tiến hành qua việc sử dụng phiếu điều tra soạn sẵn
gồm đặc điểm ao nuôi và các kỹ thuật quản lý ao
và dịch bệnh và việc sử dụng thuốc kháng sinh
2.3 Phương pháp điều tra
Kết hợp với Chi cục Nuôi trồng Thủy sản
(hoặc Thú Y) để nắm tình hình và diện tích ao
nuôi, xác định vùng dịch bệnh hoại tử gan tụy
hay xảy ra, điều tra trực tiếp bằng cách phỏng
vấn người nuôi Trên cơ sở số lượng ao và vùng
nuôi tôm đã xác định, điều tra viên được phân
công đến vùng nuôi để phỏng vấn trực tiếp chủ
cơ sở nuôi hoặc người đại diện trả lời phỏng
vấn để ghi vào phiếu điều tra Điều tra được
thực hiện trên những ao nuôi thường xảy ra dịch
bệnh Sau khi phỏng vấn lần đầu, người phỏng
vấn có thể hỏi thông tin về quản lý ao nuôi bằng cách điện thoại để bổ sung vào phiếu điều tra
2.4 Phương pháp kháng sinh đồ
Thử nghiệm kháng sinh đồ trên V parahaemolyticus được thực hiện theo phương
pháp khuếch tán đĩa thạch (Ruangpan & Tendencia, 2004) Trước hết, vi khuẩn được nuôi cấy tăng sinh trên môi trường thạch Tryptic soy agar (TSA) khoảng 18-24 giờ Sau đó khuẩn lạc của vi khuẩn được hòa tan vào nước muối 2% cho đến khi đạt nồng độ 108 CFU/ml bằng cách
so sánh độ đục với ống 0,5 McFarland Dịch
vi khuẩn này được trải lên đĩa thạch Mueller-Hinton Agar (MHA) với thể tích 1000 µl, để khô
tự nhiên rồi đặt các đĩa kháng sinh lên, ủ 18-24 giờ ở 30°C Kết quả được xác định bằng cách
đo đường kính vòng vô khuẩn (mm), dựa theo bảng chuẩn đường kính vòng vô khuẩn xác định loại kháng sinh nhạy, kháng trung bình và kháng Kết quả ghi nhận kháng hay nhạy với kháng sinh được xác định bằng đo đường vô khuẩn theo phương pháp của CLSI (2014) (Bảng 1)
Bảng 1 Giới hạn đường kính vùng ức chế các loại kháng sinh theo CLSI (2014)
STT Tên kháng sinh Hàm lượng Giới hạn đường kính vùng ức chế (mm)
16 Amoxicillin/Clavulanic acid 20/10 µg ≥ 18 14-17 ≤ 13
(Ghi chú: Ciprofloxacin tại thời điểm khảo sát chưa nằm trong danh mục cấm sử dụng)
Trang 42.5 Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu được nhập trên Excel 2010 và phân
tích thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 (SPSS
Inc., USA)
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
Tại miền Bắc và Bắc Trung bộ, nghiên
cứu đã thu thập thông tin từ 57 hộ nuôi trong
đó Hải Phòng 23 hộ (40,4%), Nghệ An 34 hộ
(59,6%) Có 56,1% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 31,25% sử dụng kháng
sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra
tại ao nuôi và 68,75% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh Qua điều tra cho thấy có 11
loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong
nuôi tôm như oxytetracycline (33,0%), Osamet
(sulfadimethoxine + ormetoprim) (16,5%),
tetracycline (11,3%), enrofloxacin (9,3%),
doxycycline (8,2%), ciprofloxacin (8,2%),
florfenicol (7,2%), biosultrim (trimethoprim +
sulfadimidine) (2,1%), Cloxit (chloramphenicol) (2,1%), erythromycin (1,0%) và trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin) (1,0%) (Hình 1) Ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong phòng trị bệnh tôm ở miền Bắc và Bắc Trung bộ là oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) và tetracycline Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Mai Văn Tài và ctv., (2004) với oxytetracycline và doxycycline là 2 loại kháng sinh được sử dụng chủ yếu trong nuôi trồng thủy sản Điều đáng lưu ý là enrofloxacin là loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng đang được sử dụng khá nhiều Ciprofloxaxin vẫn được hạn chế sử dụng tại thời điểm điều tra năm 2015, đến tháng 6/2016 thì kháng sinh này cũng bị Bộ NN & PTNT cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 18,8% nông hộ đánh giá loại kháng sinh
họ đang sử dụng có hiệu quả, 81,3% nông hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả
Hình 1 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
3.1.1 Tại Nghệ An
Có 70,6% nông hộ sử dụng kháng sinh,
trong đó 16,7% sử dụng kháng sinh với mục
đích trị bệnh và 79,2% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh, 4,2% sử dụng kháng sinh
cho cả phòng và trị bệnh Tám loại kháng
sinh được sử dụng là oxytetracycline (37,5%), tetracycline (22,5%), enrofloxacin (12,5%), doxycycline (10,0%), Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) (5,0%), florfenicol (5,0%), Biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine) (2,5%), và chloramphenicol (5,0%) (Hình 2)
Trang 53.1.2 Tại Hải Phòng
Có 34,8% nông hộ sử dụng kháng sinh,
trong đó 75,0% sử dụng kháng sinh với mục
đích trị bệnh và 25,0% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh Có 10 loại kháng sinh
được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các
loại kháng sinh như oxytetracycline (28,9%), osamet (26,3%), ciprofloxacin (15,8%), doxycycline (7,9%), florfenicol (5,3%), enrofloxacin (5,3%), tetracycline (2,6%), biosultrim (2,6%), erythromycin (2,6%) và trifamet (2,6%) (Hình 3)
Hình 3 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Hải Phòng 3.2 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại Nam Trung bộ
Tại khu vực Nam Trung bộ đã thu thập
thông tin tại 60 ao nuôi tôm thương phẩm
(100% ao nuôi tôm thẻ) tại Quảng Nam và
Ninh Thuận Có 71,2% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 90% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 10% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Hơn 10 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra như oxytetracycline (57,6%), ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%), osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) (5,1%), enrofloxacin (2,0%), amoxicillin (2,0%), cefotaxime (1,0%), cotrim
Hình 2 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Nghệ An
Trang 6(Sulfamethoxazol và Trimethoprim) (1,0%),
streptomycin (1,0%), cefotaxime (1,0%) và
kháng sinh không nhãn mác (1,0%) (Hình 4) Ba
loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng
trị bệnh tôm tại Nam Trung bộ là oxytetracycline
(57,6%), ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%) Cũng giống như ở khu vực Bắc và Bắc Trung bộ, mặc dù enrofloxacin và ciprofloxacin
là loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng đang được sử dụng tại miền Trung
Hình 4 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại NamTrung bộ
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh
giá của nông hộ có 47,6% đánh giá loại kháng
sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 52,4% nông
hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả
3.2.1 Tại Quảng Nam
Có 86,2% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 87,5% sử dụng kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 12,5%
ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Năm loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra là oxytetracycline (64,7%), ciprofloxacin (13,7%), doxycycline (13,7%), osamet (3,9%),
và enrofloxacin (3,9%) (Hình 5)
Hình 5 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Quảng Nam
Trang 73.2.2 Tại Ninh Thuận
Có 56,7% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 11,7% ao cho biết sử dụng
kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh
Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều
tra nông hộ tại Ninh Thuận là oxytetracycline
(50,0%), osamet (6,3%), amoxicillin (4,2%), ciprofloxacin (29,2%), cefotaxime (2,1%), cotrim (Sulfamethoxazol và Trimethoprim) (2,1%), streptomycin (2,1%) và kháng sinh không nhãn mác (2,1%) (Hình 6)
Hình 6 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Ninh Thuận 3.3 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại ĐBSCL
Nghiên cứu đã thu thập thông tin 90 hộ
nuôi tôm thương phẩm tại Cà Mau, Sóc Trăng
và Bạc Liêu Có 68,9% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 62% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng trị bệnh và 38% ao
nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Hơn
15 loại kháng sinh được các nông hộ sử dụng
như oxytetracycline (31,7%), doxycycline
(Sylimax) (12,7%), enrofloxacin (7,9%),
ciprofloxacin (6,3%), flophenicol (6,3%),
gentamicin (6,3%), cortrim (4,8%), amoxicillin
(4,8%), erythomycin (3,2%), ampicillin (3,2%),
clarithromycin (1,6%), rovamycine (1,6%),
lincomycin (1,6%), tetracycline (1,6%),
cefotaxime (1,6%), HT 9000 (amoxicillin,
oxytetracycline, enrofloxacin, acid citric, vitamin E) (1,6%) và kháng sinh không nhãn mác (3,2%) (Hình 7) Ba loại kháng sinh được
sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm là oxytetracycline (31,7%), doxycyline (12,7%)
và enrofloxacin (7,9%) Qua kết quả điều tra cho thấy có trên dưới 15 loại kháng sinh được người nuôi tôm sử dụng tại khu vực ĐBSCL Điều này cũng tương thích với các kết quả điều tra về số lượng và chủng loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm của Hùynh Thị Tú và ctv., (2006) Theo nhóm tác giả này thì có đến
19 loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm ở Bạc Liêu và Sóc Trăng Theo Tai (2012), có đến
28 loại thuốc Thú y thủy sản có chứa kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
ở Việt Nam
Trang 8Hình 7 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại ĐBSCL
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh
giá của nông hộ, 51,4% nông hộ đánh giá loại
kháng sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 32,4%
nông hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả và
16,2% nông hộ không rõ hoặc chưa rõ kháng
sinh đang sử dụng có hiệu quả hay không
3.3.1 Tại Sóc Trăng
54,5% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
sinh, trong đó 50% sử dụng kháng sinh với mục đích trị bệnh và 50% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Năm loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các loại kháng sinh như oxytetracycline (56,3%), enrofloxacin (12,5%), cotrim (sulfamethoxazol
và trimethoprim) (12,5%), ampiciline (12,5%)
và amoxicillin (6,3%) (Hình 8)
Hình 8 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Sóc Trăng
3.3.2 Tại Cà Mau
88,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
sinh, trong đó 70,0% sử dụng kháng sinh với
mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra tại ao nuôi
và 30% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng
bệnh Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua
điều tra nông hộ với các loại kháng sinh như oxytetracycline (29,6%), flophenicol (14,8%), gentamicin (14,8%), enrofloxacin (7,4%), doxycyline (7,4%), ciprofloxacin (7,4%), Erythomycine (7,4%), Cotrim (Sulfamethoxazol
và Trimethoprim) (3,7%) và kháng sinh không nhãn mác (7,4%) (Hình 9)
Trang 9Hình 9 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Cà Mau
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 41,7%
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử
dụng có hiệu quả, 37,5% nông hộ đánh giá
kháng sinh không hiệu quả và 20,8% nông hộ
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng
có hiệu quả hay không
3.3.3 Tại Bạc Liêu
Có 73,3% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 40,1% sử dụng kháng
sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra tại ao nuôi và 59,9% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh 9 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra là doxycycline (33,3%), oxytetracycline (16,7%), ciprofloxacin (11,1%), amoxicillin (11,1%), clarithromycin (5,6%), rovamycine (5,6%), lincomycin (5,6%), tetracycline (5,6%) và cefotaxime (5,6%) (Hình 10)
Hình 10 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Bạc Liêu
Trang 10Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 66,7%
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử
dụng có hiệu quả, 25,0% nông hộ đánh giá
kháng sinh không hiệu quả và 8,3% nông hộ
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng
có hiệu quả hay không
Tình hình chung cho cả 3 miền Bắc và Bắc
Trung Bộ, Nam Trung bộ và ĐBSCL là hầu
hết các người nuôi đều có sử dụng kháng sinh
không được phép sử dụng (chủ yếu thuộc nhóm
Fluoroquinolone) Mặc dù kháng sinh thuộc
nhóm fluoroquinolone đã bị cấm sử dụng ở Mỹ
và Canada nhưng trước đây đã được báo cáo
sử dụng ở Trung Quốc, Thái Lan (Love và ctv.,
2011) Uddin và Kader (2006) điều tra tình
hình sử dụng kháng sinh ở các trại sản xuất
tôm giống ở Bangladesh năm 2002-2003
cho thấy chloramphenicol, erythromycin,
oxytetracycline và prefuran là các loại
kháng sinh có hiệu quả cao trong kiểm soát
các bệnh do vi khuẩn Có 40% trại sản xuất
giống sử dụng chloramphenicol, 25% trại sử
dụng erythromycin, 20% sử dụng prefuran
và 15% trại sản xuất sử dụng oxytetracycline
để ngừa tôm bố mẹ nhiễm khuẩn sau khi cắt
mắt để cho đẻ Ở Ấn Độ các loại kháng sinh
thông thường được sử dụng để phòng và trị
bệnh trong thủy sản gồm oxytetracycline
Enrofloxacin, cephalexin, doxycycline (Mishra
và ctv., 2017) Ở Bangladesh, theo Chowdhury
và ctv., (2015) thì oxytetracycline là một trong
những kháng sinh có hiệu quả nhất trong kiểm
soát bệnh thủy sản với 80-90% hiệu quả mang
lại từ chữa trị
Các loại kháng sinh thường được sử dụng
trong nuôi trồng thủy sản để trị các bệnh
nhiễm khuẩn gồm oxytetracycline, florfenicol,
sarafloxacin và enrofloxacin (Roque và
ctv., 2001; Soto-Rodríguez và ctv., 2006)
Theo Holmström và ctv., (2003), các nhóm
kháng sinh thường được sử dụng trong thủy
sản bao gồm chlortetracycline, quinolones,
ciprofloxacin, norfloxacin, oxilinic acid,
perfloxacin, sulfamethazine, gentamicin
và tiamulin Oxytetracycline thuộc nhóm tetracycline được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn như Vibriosis và Furunculosis (Capone và ctv., 1996; Prescott
và ctv., 2000; Reed và ctv., 2006) Thông tin chính thức về việc sử dụng enrofloxacin trong nuôi tôm chân trắng rất ít, tuy nhiên có nhiều nghiên cứu về dược động học của kháng sinh
này trên tôm sú (Penaeus monodon), tôm he Trung Quốc (Penaeus chinensis) (Intorre và
ctv., 2000; Tu và ctv., 2008; Wen và ctv., 2007;
Xu và ctv., 2006) Florfenicol là loại kháng sinh
có hiệu quả trong trị các bệnh do Pasteurella piscicida, Aeromonas salmonicida, Vibrio anguillarum và Edwardsiella tarda (Yanong
và Curtis, 2005)
3.4 Tình hình kháng kháng sinh của
Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan
tụy cấp tính trên tôm nuôi nước lợ ở Việt Nam
Trong phạm vi của nghiên cứu này, kết hợp với điều tra thu thập thông tin về tình hình
sử dụng kháng sinh trong tôm nuôi nước lợ ở Việt Nam là việc thu mẫu tôm, nước và bùn
ao nuôi ở cả 3 vùng miền Bắc và Bắc Trung
bộ, nam Trung bộ và ĐBSCL Tổng cộng số mẫu thu được ở Bắc và Bắc Trung Bộ là 121 (101 mẫu tôm, 10 mẫu nước và 10 mẫu bùn),
ở nam Trung Bộ là 90 mẫu (30 mẫu nước, 30 mẫu bùn và 30 mẫu tôm), ở ĐBSCL là 90 mẫu (30 mẫu tôm, 30 mẫu nước và 30 mẫu bùn) Tất cả các mẫu thu được phân lập và định danh
V parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy
cấp tính trên tôm bằng test kít API20E kết hợp với phản ứng PCR theo quy trình của Han
và ctv., (2015) Kết quả thu được 2 chủng V parahaemolyticus ở Bắc và Bắc Trung bộ, 7
chủng ở Nam Trung bộ và 47 chủng ở ĐBSCL Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ trên tất cả các chủng vi khuẩn này đã tổng hợp được các loại kháng sinh kháng hoặc nhạy ở 3 miền Bắc, Trung và Nam (Bảng 2) làm cơ sở cho việc cảnh báo cũng như chọn lựa đúng kháng sinh trong trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính